1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề cơ bản về đối tượng điều chỉnh của luật dân sự việt nam

124 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 12,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự được ghi nhận tại điểu 1 như sau:" Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Tư PHÁP

T R Ư Ờ N G ĐAỈ a H O C LUÂT HÀ NÔI« ■ ■

TKƯÒ'NŨ ữh luâi-iiÀnọi

THƯVÍÊN GIÁO VIÊN

•ÌOLX L A Ỉ 1

Naưòi hư ớ na d â n : PTS Đinh Nqoc Hiên

HÀ NỘI - 1996

Trang 3

MỤC LỤC

***

Trang

Chưongl :Khái lược về pháp hiật dân sự Việt nam và đối tượng

điều chỉnh của nó trước khi ban hành Bộ luật dân sự Việt 7-52

1.3.1 Giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân (1945-1954)

1.3.2 Giai đoạn xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền-Bắc và đấu tranh

giải phóng miền Nam (1954-1975)

1.4 Đối tượng điểu chỉnh của luật dân sự Viột nam từ 1975 đến'trước ,4 -51

khi ban hanh Bộ luật dân sự 1995

Chưong 2:Đôi tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự

2.1 Cơ sở lý luật) và thực tiễn của việc xác định đối tượng điều chỉnh

2.1.1 Phân biệt đối tượng điều chỉiih của luật dân sự với đối tượng 52-66

điểu chỉnh của một số ngành luật khác

2.1.2 Đối tượng, phạm vi và mức độ điều chỉnh của Bộ luật dân sự 66-782.1.3 Truyền thống xây dựng pháp luật ở Việt nam và ảnh hưởng của 78-85

nó đối với việc xác định đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự

44-48

44-4646-48

2.2 Đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự 85-112

Trang 4

2.2.1 Về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

Trang 5

L Ờ I N Ó I Đ Ẩ U

1- Tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu của đề tài.

Công cuộc đổi mới và dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội do Đảng cộng sản Việt nam khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đấ mở ra một kỷ nguyên mới của sự nghiệp xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở nước ta Qua 10 năm phát triển nén kinh tế với cơ cấu

nhiểu thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhiều hình thức sở hữu mới ra đời, mọi năng lực sản xuất được giải phóng; quyền tự chủ trong sản xuất kinh

doanh của các đơn vị sản xuất kinh doanh được phát hay; cấc hình

thức kinh doanh và các loại hình dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của nhân dân

Tất cả các biến đổi đó đòi hoi hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện để ghi nhận và điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp trong lĩnh vực dân sự, tạo

ra một môị trường pháp lý an toàn và lành mạnh cho các quan hệ đó phát triển, tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tại các Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt nam đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ cấp hách của Nhà nước ta hiện nay là ban hành các văn bản pháp luật mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội hoạt động có hiệu quả [ 50, tr ll] Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [51 tr.9] Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bán pháp luật làm cơ sở cho tổ chức

Trang 6

và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp trước yêu cầu mới [52, tr 130],

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự hết sức đa dạng phong phú và ngày càng phát triển phức tạp hơn Đó là những quan hệ phát sinh hàng ngày, hàng giờ và hết sức thiết thực đối với mỗi người, mỗi tổ chức và toàn xã hội Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các loại quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đó có các quan hệ dân sự Tuy nhiên do việc ban hành đơn lẻ và chắp vá, nên các văn bản pháp luật này vừa chổng chéo, vừa thừa, vừa thiếu, thậm chí mâu thuẫn với nhau Việc ban hành Bộ luật dân sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ( được thông qua ngày 28-10-1995 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực pháp luật từ ngằy 1-7-1996) là một

sự kiện trọng đạỉ trong đời sống chính trị của đất nước ta, đánh dấu một bước phát triển mới của khoa học pháp lý nói chung, vằ khoa họe luật dân sự nói riêng, góp phần to lớn vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nướe ta trong giai đoạn hiện nay Bộ luật dân sự tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phổng mọi tiềm năng sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, quyén con người

về dân sự, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu " dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh , tất cả cho con người và vì con người” Bộ luật dân sự là kết quả của quá trình tổng kết, khái

quát hoá ở mức độ cao cả về lý luận và thực tiễn pháp luật dân sự ồ

nước ta trong máỷ chục năm qua, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, từng bước bổ /ăung và hoàn thiện các nội dung và quy định

Trang 7

của dân tộc và của nhân loại Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự được ghi nhận tại điểu 1 như sau:" Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng bảo đảm sự bình đẳng

và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý của cá Iihân, pháp nhân và các chả thể khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự"

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật là một vấn đề có nội dung rộng và phức tạp của khoa học pháp lý, đặc biệt đối với luật dân sự- một ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực rộng nhất và cũng là phức tạp nhất của đời sông xã hội Pháp luật dân

sự của mỗi nước xác định phạm vi đối tượng điều chỉnh của luật dân

sự rất khác nhau Trong khoa học pháp lý về đối tượng điều chinh của luật dân sự có rất nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa

học ở nước ta cũng như trên thế giới Xune quanh vấn đề này đã có

nhiều công trình cửa các nhà khoa học pháp lý nghiên cứu ở những góc độ khác nhau với những quan điểm không thống nhất Trong đó

có nhiều công trình khoa học của các học giả Xô viết và của các nước

xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây như: Gríbanốp v p , Coreski V.I, Vemhicốp V.G, I Ô Phê O.C.JVÍaxlốp V.E, Puskin A.A.VV

Ở nước ta, việc xác định mức độ và phạm vi đối tượng điều chỉnh của luật dân sự nói chung và Bộ luật dân sự nói riêng, là một vấn đề gây nên sự tranh cãi khá gay gắt trong suốt quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự giữa các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn, cũngnhư quần chúng nhân dân Đã có khá nhiều bài viết của các tác giả

I

Trang 8

đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề với những quan điểm không thống nhất Cho đến nay, mặc dù Bộ luật dân sự đã được ban hành và đã có hiệu lực pháp luật, nhưng xung quanh vấn để đối tượng điều chỉnh của luật dân sự vẫn còn nhiểu ý kiến rất khác nhau Bởi vậy việc tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề này có một ý nghĩa rất to lớn không chỉ về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn Nó là cơ sở khoa học để xác định đúng đắn vai trò và vị trí của luật dân sự ( và của Bộ luật dân sự) trong hệ thống pháp luật của nước ta và tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh cuả pháp luật dân sự đối với các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh và ổn định để cho các quan hệ trong lĩnh vực dân

sự phát triển phù hợp với lợi ích cuả mỗi công dân và của toàn xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tất cả những điểm nêu trên chính là lý do mà chúng tôi lựa chọn “Một số vấn đề cơ bản về đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Việt nam" làm đề tài luận án thạc sỹ luật học của mình-

2 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu.

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là một nội dung rất sâu rộng và phức tạp của khoa học luật dân sự, bởi vì các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân sự - một lĩnh vực rộng lớn nhất của đời sống xã hội vô cùng phức tạp, đa dạng, phong phú đặc biệt là trong điều kiện một xã hội phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường Bởi vậy, trong phạm vi của luận án này mục đích nghiên cứu của để

tài chỉ dừng lại ở phạm vi làm sáng tỏ một s ố vấn đề cơ bản của đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự Việt nam\ sự hlnh thành và

phát triển của luật dân sự Viêt nam và đối tượng điều chỉnh của nó qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước; các căn cứ lý luận và thực tiễn của việc xác định đối tượng điều chỉnh của luật dân sự và của

Trang 9

Bộ luật dân sự; Đối tượng điều chỉnh cụ thể của Bộ luật dân sự vịệì nam 1995.

Mac đích và phạm vi nghiên cứu nói trên đặt ra cho luận án giải quyết các nhiệm vụ cụ th ể dưới đây:

- Xem xét khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật dân sự Việt nam và đối tượng điểu chỉnh của nó qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước ( từ thời kỳ Nhà nước Văn lang-Âu lạc đến thời kỳ Bắc thuộc, Pháp thuộc và từ tháng 8-1945 cho đến ngày nay)

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Phân biệt đối tượng điều chỉnh của luật dân sự với đối tượng điều chỉnh của một số ngành luật khác và với đối tượng điểu chỉnh của Bộ luật dân sự

- Xem xét các đối tượng điều chỉnh cụ thể của Bộ luật dân sự

Trẽn cơ sở pháp luật so sánh để giải quyết các vấn đề về lý

luận, phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, nghiên cứu thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự trong những năm qua., tác giả đi đến kết luận rằng, sự ra đời của Bộ luật dân sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt nam là sự kết tính vĩ đại của cả một quá trình dựng nưổe và giữ nước, là sự kết hợp hài hoà sáng tạo giữa truyền thống văn hoá pháp lý, lịch sử của dân tộc với đặc điểm phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, là sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm điều chinh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự của các nước khác trên thế giới, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta

3- Phương pháp luân và phương pháp nghiên cứu.

Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu đề tài của luận án ỉà triết học Mác-Lê nin Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã dựa trêncác tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ

5

Trang 10

Chí Minh, các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam đề cập đến vấn để dân chủ hoá, hoàn thiện và đổi mới hệ thống phập luật, củng

cố pháp chế, cải cách hệ thống tư pháp ở nước ta Tác giả tham khảo pháp luật dân sự của một số nước về vấn đề đối tượng điều chỉnh của luật dân sự để so sánh với pháp luật dân sự của nước ta Tác giả nghiên cứu và phân tích có phê phán các quan điểm khác nhau trong sách báo pháp lý ở nước ta và của các nước khác về vấn đề nghiên cứu và các vấn đề có liên quan Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp khác nhau: so sánh pháp luật, lịch

sử, lô gíc pháp lý, hệ thống, phân tích tổng hợp v.v Phương pháp nghiên cứu đề tài là đi từ cái chung đến cái riêng, cái cụ thể Tác giả cũng đã nghiên cứu thực tiễn giải quyết các loại tranh chấp dân sự

trong những năm gần đây ở nước ta.

4- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận á n

Những luận điểm phát triển trong luận án dựa trên các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý của nước ta và của một số nước khác trên thế giới.Luận án này là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong sách báo khoa học pháp lý của Việt nam

về đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Việt nam Những kết luận và kiến nghị được đưa ra trong luận án có thể có ý nghĩa đối với hoạt động lập pháp dân sự và phát triển khoa học pháp lý nói chung và

khoa học luật dân sự nói riêng ở nước ta.

Luận án được thực hiện với khối lượng phù hợp với các quyđịnh chung của Nhà nước bao gồm :

- Lời nói đầu

- Chương 1: Khái lược sự hình thành và phát triển của pháp luật dân sự Việt nam và đối tượng điều chỉnh của nó

- Chương 2: Đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự Việt nam

- Kết luận

- Danh mục các tài liệu được tham khảo và sử dụng trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành luận án

Trang 11

Chương 1 KHẢI LƯƠC VỂ PHÁP LU Y i DẰN s ư VIẺT NAM VÀ

ĐỐI TƯONG ĐIỂU CHỈNH CỦA NÓ.

Trong Nhà nước La mã cổ đại có hai loại luật: một loại áp dụng

cho các công dân La mã gọi là JUS CIVILE, loại thứ hai áp dụng cho các người ngoại quốc gọi là JUS GENTIUM Sự phân biệt giữa JUS CIVIIE và JUS GENTIUM đã đưa đến sự phân biệt giữa Tư pháp và

Công pháp ở những nước theo hệ thống pháp luật lục địa

Theo tác giả Nguyễn Quang Quýnh thì thuật ngữ " luật dân sự"

hay " dân luật" được dịch ra từ tiếng Pháp DROIT CIVIL mà nguồn gốc của nó là tiếng La tinh JUSCFVILE song trong cổ luật La mã JUS CIVILE có nglũa rộng hơn dân luật Đối tượng của nó bao gồm tất cả

các n^ành luật nằm trong hệ thống tư pháp Cho tới thế kỷ XVIII, ở

Pháp người ta vẫn hiểu JUSCJVILE là Tư pháp Như vậy danh từ dân

luật được sử dụng với tư cách là một ngành luật độc lập, chỉ thực sự

có trong thời cận đại [40, tr 81 ]

Ở Việt nam lẩn đầu tiên khái niệm “dân fuật” được sử dụng từ khi ban hành các Bộ dân luật giản yếu (1883), Bộ dân luật Bắc (1931), Bộ dân luật Trung (1936).Trước đó, dân luật được ban hành xen kẽ với các ngành luật khác, không có sự phân bỉệt rõ rệt Vì vậy khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của luật dân sự Việt nam, chúng ta phải xem xét nó trên cơ sở của nền pháp luật Việt nam nói chung Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi không đi sâu nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt nam nói chung, mà chỉ trình bày khái quát về sự hình thành và phát triển của luật dân sự Việt nam và đối tượng điều chỉnh của nó từ thời đại Hùng vương-Nhà nước Văn lang - Âu lạc cho đến nay để dựa trên cơ sở " cái chung"

7

Trang 12

tức là nền pháp luật Việt nam qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước,

mà xem xét " cái riêng", cái đặc thù, đó là luật dân sự Việt nam và đối tượng điều chỉnh của nó

1.1 ĐỐI TƯỢNG ĐIỂU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN s ụ_ • • _ *

VIÊT NAM TRONG THỜI KỲ PHONG KIẾN.

1.1.1 Thời đại hùng vương-Nhà nước Văn Lang-Ảu Lac.

Thời đại Hùng vương- Nhà nước Văn lang, Âu lạc được các nhà

sử học đánh giá giữ vị trí quan trọng trong lịch sử nước ta Nhà nước Văn lang xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài hàng ngàn năm trước đó cuả nền văn minh sông Hồng Đây là thòi kỳ lịch

sử có thật, được các nhà sử học trong và ngoài nước thừa nhận Từ năm 1960 trở lại đây, nhiều hội thảo khoa học trong nước và nước ngoài khẳng định thời kỳ Hùng vương - An dương vương không phải

là truyền thuyết [47,tr.217] Tuy nhiên cho đến nay, chúng ta còn hiểu biết quá ít ỏi về tình hình pháp luật, tổ chức chính thể Nhà nước W cũng như lĩnh vực dân sự của đời sống xã hội thời kỳ này mà phải dựa vào tài lỉệu khảo cổ học, sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học, nhân chủng học để suy đoán Các nhà khoa hợc thừa nhận mối quan hệ giữa Nhà nước và công xã mang tính lưỡng hợp Nhà nước vừa đại diện cho Công xã vừa bóc lột Công xã Các từ " ruộng lạc" ( Lạc điền), " lạc dân" được chép trong thư tịch cổ cho thấy chế độ tư hữu về ruộng đất chưa phát triển Toàn bộ ruộng đất gồm ao, hồ, rừng, sông ngòi nằm trong phạm vi Công xã đều thuộc quyền sở hữu của Công xã Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của công xã được chia cho các gia đình thành ,viên cày cấy và họ được quyền chiếm hữu sản phẩm lao động của mình.Theo C.Mác, đây là nét đặc trưng

cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á [31, tr.334]

Trang 13

Từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ đến sự hình thành Nhà nước Văn lang là một quá trình chuyển biến lâu dài Đó là một Nhà nước

sơ khai, do đó pháp luật cũng sơ sài Theo lời tâu của Mã Viện với nhà Hán thì " luật Việt khác với luật Hán hơn mười việc" Hiện nay chưa có tài liệu khẳng định sự khác nhau đó là gì, song có lẽ đó là một thứ luật tục hay tập quán pháp Nhưng chắc chắn chưa phải luật riêng của một địa phương mà là luật chung của người Lạc Việt [47, tr.217-391] Luật tục chủ yếu điều chỉnh các quan hệ về sở hữu, xác nhận quyền sở hữu ruộng đất thuộc công xã, các gia đình thành viên chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng

Cách phân chia ruộng đất được thực hiện bằng tục lệ giản đơn mang t ính chất bình đẳng cộng đổng công xã Thời kỳ này chưa có chế độ tư hữu về ruộng đất nên có lẽ phổ biến là cách phân chia một lần Tài liệu khảo cổ học và truyền thuyết dân gian cho thấy thời Hùng vương ít nhiều đã có những quy định và sự phân biệt về trang phục, đã có những luật tục về hôn nhân, về tang ma ( chia tài sản cho người chết) cũng như một số luật tục khác trong sinh hoạt cộng đồng [47,tr 174-198]

Về tổ chức xã hội, đã có sự phân hoá xã hội nhất định, cơ cấu

xã hội gồm ba tầng lớp: tầng lớp quý tộc, tầng lớp nô lệ và thành viên công xãjtrong đó tầng lớp nô lệ có địa vị thấp nhất trong xã hội Lối bóc lột kiểu cống nạp, tạp dịch đã được hình thành VI vậy các quan

hệ nhân thân ( danh dự, uy tín^nhân phẩm ) trong thời kỳ đó có lẽ cũng mang tính đẳng cấp, tầng lớp bị trị chỉ là thân phận tôi đòi Tuy pháp luật thời đó còn mang tinh thần bình đẳng dân chủ thời xưa cộng với phép tắc tín ngưỡng cổ truyền, nhưng nó cũng đã thể hiện tính nghiêm khắc của chính quyền trung ương [27,tr.l0-16]

Tóm lai: ở thời kỳ Hùng Vương-An Dương Vương sự ra

9

Trang 14

đời của Nhà nước Văn lang -Âu lạc, đã đánh dấu sự phát triển vượt

bậc về mọi mặt của tiến trình lịch sử dân tộc từ thời đại mông muội

sang thời đại văn minh: một Nhà nước và pháp luật sơ khai xuất hiện

Đó là một trong những thành tựu có ý nghĩa lớn lao nhất của thời đại

dựng nước trong lịch sử Việt nam Các quan hệ dân sự phát triển rất

sớm, mặc dù rất giản đơn, cùng với sự phát triển của Nhà nước và

pháp luật đầu tiên Tuy nhiên, các quan hệ dân sự; quan hệ sở hữu

ruộng đất trong thời kỳ này được điều chỉnh bằng luật tục mang tính

cộng đồng công xã, chế độ tư hữu vể ruộng đất chưa xuất hiện, các

quan hệ dân sự còn đơn giản và chỉ bó hẹp trong phạm vi công xã, vì

vậy hệ thống pháp luật chưa được hình thành và cũng chưa thể có

ngành luật cũng như đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật

1.1.2- Thời kỷ đáu tranh chống Bác thuộc (179 trước Công nguyên - đầu thế kỷ X).

Từ năm 179 trước Công nguyên nước ta mất vào tay Triệu Đà

(truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thuỷ) Âu lạc bị sát nhập vào Nam

Việt và trở thành quận, huyện của các triều đại phong kiến phương

Bắc cho đến đầu thế kỳ X mói giành được nền độc lập tự chủ

[28.tr.30] Trong khoảng thời gian dài đó, nhân dân ta đã không

ngừng nổi dây đấu tranh chống chính quyển đô hộ Một số cuộc khởi

nghĩa đã giành được thắng lợi, nhưng kết quả là đã không duy trì và

giữ vững thành quả được bao lâu như cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng,

khởi nghĩa Lý Bí vv

Mặc dù, sau khi cướp được nước ta, kẻ thù đã thủ tiêu chủ

quyền quốc gia, xoá bỏ thể chế của các vua Hùng, vua Thục, nhưng

suốt một nghìn năm Bắc thuộc, chúng không thể nào làm biến đổi

được cơ cấu xóm làng cổ truyền của nhân dân ta,không thể nào kiểm

soát và khống chế được toàn bộ lãnh thổ nước ta Trên lãnh thổ

Trang 15

Âu lạc, ngoài việc thiết lập bộ máy thống trị, các triểu đại phong kiến Trung quốc vẫn phải sử dụng những hệ thống thiết chế của Nhà nước

Âu lạc ( đứng đầu Bộ lạc vẫn là các Lạc tướng người Việt) để phục

vụ cho sự thống trị của chúng Có thể nói rằng Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là hai mặt đối lập và đấu tranh quyết liệt, chi phối toàn bộ cuộc sống và tiến trình lịch sử Việt nam trong hơn mười thế kỷ [26, tr.313] Trong cuộc đấu tranh đó, nền văn hoá dân tộc từng bước bị phá vỡ, nền văn hoá Hán được du nhập và truyền bá vào đất nước ta vừa tự nhiên, vừa cưỡng bức, trong đó xu hướng cưỡng bức là chủ yếu Trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp và xóm làng, nhân dân ta

đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nền văn hoá Trung hoa Chính vì vậy, tiến trình văn hoá Việt nam giai đoạn này có hai khuynh huớng đối lập nhau: Hán hoá và Việt hoá, trong đó khuynh hướng Việt hoá là chủ yếu [27, tr.21-22]

Tình hình pháp luât nối chune của thời kỷ này theo nhân xét của các nhà sử hoc cố môt s ố đủc điểm sau:

v ể nguyên tắc, pháp luật thi hành ở nước ta thời kỳ này là phápluật của bọn phong kiến đô hộ ở những mửe độ khác nhau Trongnhững thế kỷ đầu của giai đoạn này, ở từng địa phương dưới sự cai tricủa các Lạc tướng, một mặt phải chấp hành mệnh lệnh cửa các quancai trị người Trung quốc, mặt khác các luật tục của người Việt cònchi phối rất mạnh, nhất là ở các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình vàcác mặt khác của đời sống xã hội Dưới thời thuộc Hán, bọn thống trị

đã áp đặt lối sống Trung hoa để đồng hoá dân Lạc Việt Từ việc lấy

vợ, lấy chồng phải theo lễ nghĩa Trung quốc đến việc mở trường dạy

lễ nghĩa, chế tạo mũ, giày, bắt dân Việt đổi cách ăn mặc theo y phụcTrung quốc, tổ chức khai thác nông nghiệp theo kỹ thuật Hán Chođến nay chúng ta chưa có tài liệu chứng minh về sự khác nhau giữaluật Việt và luật Hán như lời tâu của Mã Viện, nhưng về cơ bản

11

Trang 16

pháp luật thời Mã Viện vẫn là pháp luật Hán có chiếu cố đến luật tục Việt.

Ngoài ra, các luồng tư tưỏng tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo của Trung quốc, Ân độ đã thâm nhập vào Giao chỉ trở thành công cụ nô dịch Iihân dân ta về tỉnh thần và tư tưởng Pháp luật dân

sự thời kỳ này có đặc trưng sau: chính quyền đô hộ qua các triều đại khác nhau đã du nhập, áp đặt quan hệ sở hữu phong kiến Trung quốc vào Âu lạc Đất đai, toàn bộ lãnh thổ Âu lạc thuộc quyền sở hữu tối cao của các Hoàng đế Trung hoa Theo hậu Hán thư, chính quyền đô

hộ đặt lệ phong hầu cắt đất thưởng cho những kẻ có công trấn áp kẻ phản nghịch, do vậy chế độ sở hữu về ruộng đất tồn tại dưới hai hình thức: sở hữu của chính quyền đô hộ ( sở hữu Nhà nước ) và sở hữu tư nhân ( sở hữu đất đai của quan laị được phong cấp, ban thưởng), trong đó, chỉ có sở hữu Nhà nước mới có đầy đủ ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, còn sở hữu tư nhân về ruộng đất

chỉ tổn tại trong phạm vi hẹp, bị h,,n chế về quyền năng định đoạt

nhưng cũng được chính quyền đô hộ tôn trọng và bảo vệ trong một chừng mực nhất định

Sang đến thời thuộc Đường, các luật lệ của triều đình phongkiến Trung quốc được áp dụng rộng rãi hơn Các chế độ kỉnh tế, tàichính, thuế khoá tiền tệ được thi hành vào cuối thế kỷ VII đầu thế kỷVIII như tô, dung, điệu hay lưỡng thuế Theo phép tô, dung, điệu thìđinh nam có ruộng quân điền, mồi năm phải nộp tô hai thạch lúa ,phải chịu sai dịch 20 ngày; điệu: 2 tấm lụa, 2 trượng lĩnh the, 3 lượngbông Phép lưỡng thuế căn cứ vào chi xuất tài chính mà định tổngngạch thuế, dựa vào giầu, nghèo mà định bậc trưng thu theo hai vụlúa [27, tr.38].Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân

sự và hôn nhân-gia đình theo phương châm " dùng tục cũ mà cai trị" (chép từ cổ sử Trung quốc) Việc kết hôn được quy định phải tuân

Trang 17

theo hạng tuổi: nam 20 tuổi, nữ 15 tuổi và nhất thiết phải theo nghi lễ Nho giáo

Tóm lai: Luật dân sự thời kỳ này chủ yếu điều chỉnh quan hệ

sở hữu về ruộng đất nhằm xác lập, củng cố, bảo vệ quyền sở hữu đất đai của chính quyền đô hộ, của các địa chủ, các quan lại người Hán Đối tượng điều chỉnh còn hạn chế, tính hiệu lực của các qui định này mang tính áp đặt, việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân-gia đình có tính chất nội bộ ở các làng xã Âu lạc được thực hiện chủ yếu theo các tập quán cổ truyền [43, tr.15]

1.1.3- Thời kỷ độc lập đáu tiẽn(905-ĨQ09)*

Cuối thế kỷ IX triều đình phong kiến đô hộ đổ nát, quan lại địa phương cát cứ khắp nơi Nhân cơ hội đó, năm 905 nhàn dân Giao châu đã nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng đất Hồng châu ( Ninh giang Hải hưng) chiếm phủ thành Tống Bình (Hà nội) Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ, đẫ khéo léo lợỉ đụng

bộ máy và danh nghĩa của bọn đô hộ cũ để chuyển sang giành độc lập một cách vững chắc [26, tr.319] Tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường; nhưng về thựe chất, Khúc Thừa Dụ đẫ xây dựng một chính quyền tự chủ và kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn

1000 năm của bọn phong kiến phương Bắc Năm 907 Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo nối nghiệp cha tiếp tục chăm lo củng cố nền tự trị mới giành được, xây dựng cơ sở của nền độc lập thực sự và tiến hành nhiều cải cách quan trọng Nhưng chỉ đến chiến thắng Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền mới chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn 1000 năm của các triều đại phong kiến Trung quốc, mở ra một kỷ nguyênmới-kỷ nguyên độc lập và phái triển đất nước

1

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), trong triều xảy ra

13

Trang 18

nhiều biến loạn và xung đột làm cho chính quyền trung ương suy yếu Lợi dụng tinh trạng đó, các thế lực phong kiến ở các địa phương nổi dậy cát cứ tranh giành nhau quyết liệt Đó là thời kỳ loạn 12 sứ quân gây nhiều tổn thất và đau khổ cho nhân dân Trước yêu cầu cần sớm chấm dứt tình trạng cát cứ, Đinh Bộ Lĩnh đã đứng lên đánh bại các sứ quân, giang sơn thu về một mối, lập ra nhà Đinh đóng đô ở Hoa lư Ninh bình( Đại Việt sử ký toàn thư).

Dưới thời nhà Đinh, Nhà nước lấy đạo phật làm quốc giáo, các

sư tăng được định phẩm tước, có vai trò rất lớn và rất được coi trọng Nhưng triều đình nhà Đinh tồn tại không được bao lâu Năm 979 Đinh Tiên Hoàng bị ám hại Lê Hoàn đang giữ chức Thập đạo tướng quân được suy tôn lên làm vua Ông tổ chức lực lượng tiến hành kháng chiến chống Tống thắng lợi ( năm 981), tiếp tục khôi phục và củng cố chính quyền trung ương độc lập

Như vậy, xã hội Việt Nam trong thời kỳ từ khi giành được đỘG lập đến nhà Tiền Lê,về chính tộ, kinh tế, văn hoá-xã hội rất phức tạp Pháp luật thời kỳ này theo sử sách chép lại, đã quy địrth các hình phạt nặng nề để trấn áp những kẻ chống đối Thời Lế Hoằn đã có luật thành văn.Tuy vậy, trong giai đoạn này pháp luật dưới hình thức tục

lệ còn phổ biến và đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong các lĩnh vực hôn nhân gia đình và các quan hệ dân sự [27, tr.48] Đến thế kỷ

X chế độ sở hữu đã được xác lập trên danh nghĩa, bao trùm lằ sở hữu nhà nước và sở hữu công xã về ruộng đất Nhà nước tập quyền thời

ấy dựa trên nền tảng công xã nông thôn Nông dân công xã là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội và công xã là cơ sở nộp tô, thuế, cấp phu dịch và binh lính cho Nhà nước Đặc điểm lớn nhất của loại hình công xã này là " không có sỏ' hữu mà chỉ có việc chiếm hữu cá nhân riêng lẻ, kẻ sở hữu thực'tế và thực sự là công xã [31, tr.164] Từ thời nhà Đinh đã tiến hành đúc tiền " Thái bình thông bảo" (968)

Trang 19

và tiền " Thiên phúc" (984) để đảm bảo giao lưu hàng hoá Sự ra đời của đồng tiền đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong lĩnh vực dân sự [44, tr.164].

1.1.4- Thòi kỳ Lý-Trần- Hổ ( thế kỷ XI - đầu thế kỷ XV).

Sang thời nhà Lý, xã hội Việt nam có một bước tiến bộ mới Công cuộc xây dựng đất nước bước vào qui mô lớn, đặt nền tảng vững chắc, toàn điện cho sự phát triển của quốc gia Đí 1 Việt Sau khi

rời kinh đô ra Thăng long (1010) nhà Lý bắt đầu xây dựng chính quyền trung ương Đứng đầu Nhà nước là vua rồi đến các chức quan cao cấp văn và võ, chia làm chín phẩm cấp và một số quan chuyên trách Cùng với sự phát triển và hoàn chỉnh chính quyền trung ương, nền pháp luật của Nhà nước Đại Việt được hình thành.Nền pháp luật

đó, trước hết thể hiện trong việc ban hành Bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử Việt nam- đó là qưvển Hình thư (năm Nhâm ngọ thứ 4 (1042) [19, tr.360] Theo Phan Huy Chú, Hình thư là một bộ gồm ba quyển, được xây dựng trên cơ sở tiếp thu các thành tựu của hoạt động lập pháp thời kỳ dàỉ trước đó (thời Bắc thuộc) Trên cơ sở phát triển của những tập quán truyền thống của xã hội Lạc Việt và kết quả của

sự phân hoá giai cấp trong xã hội, người Việt đã có luật lệ riêng của mình [28, tr.31]

Dưới triều Lý, ngoài Bộ hình thư, một Bộ luật hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt nam, còn thấy cổ cả mốt hê thống

các văn bản đơn hành khác vé các lĩnh vưc hình SƯ hì dfì chính, thuế

khoá, dân sư, hồn nnân-gia đình Đáng chũ V là quvđinh ban hành năm 1071 vé mức tiền chuồc tối cu thể; chiếu cấm gia nổ và lính của quan lấy con gái của dân ( ban hành dưới dời vua LÝ Thần Tống), chiếu về viẽc cám đơ, tranh chấp đất đai (1142); chiếu cấm lơi dung

quyền thế tranh chấp ruồng ao (1143) Ĩ2Ì, tr.9-101.

15

Trang 20

Đến thời Trần, trẽn nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ đời Lý, chính quyền trung ương tập quyền được tăng cường về mọi mặt Năm 1230 nhà Trần ban hành sách Quốc triều thống chế gồm

20 quyển quy định tổ chức chính quyền và các quy chế hành chính Sau nhiều lần sửa đổi và bổ sung, năm 1341 Trần Dụ Tông trao cho Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng soạn ra HỊ ih thu [27, tr.69] Sau đó mỗi triều vua lên thống trị đều sửa đổi, biên soạn lại

Bộ luật của mình Như vậy, về luật pháp từ thời Lý chuyển sang thời Trần, rõ ràng có sự phát triển cao hơn các giai đoàn trước [19, tr.364] Tất nhiên sự tiến bộ đó cũng chỉ giới hạn trong khuôn khổ của pháp luật phong kiến Tuy nhiên có thể khẳng định rằng với Bộ hình thư thời Lý và sau đó là Hình luật thời Trần, chứng tỏ nền luật pháp Việt nam thời đó đã được xác lập và dạt đến trình độ khá cao Pháp luật thời Lý-Trần đã đề cập đến nhiều mặt, nhiểu lĩnh vực của đời sống xã hội và bao gồm nhiều ngành luật khác nhau

Trong lĩnh vực dân sự, trước hết pháp luật xác nhận và bảo vộ quyền sở hữu tối cao của Nhà nước và làng xã về ruộng đất- cơ sở vật ehất quan trọng của chế độ phong kiến trung ương tập quyền Công

xã được quyền quán lý và quyền tự định đoạt ruộng đất công của làng xã về nhiều mặt, được quyền phân phối cho các thành viên cày cấy, nhưng vẫn đặt dưới quyền sở hữu tối cao của nhà vua Nông dân cày cấy nộp tô, thuế cho Nhà nước thông qua làng xã Nhà vua có ' quyền đem một số ruộng đất của công xã và nông dân phong cấp cho giới quý tộc, quan lại thân vương Chính điều này đã dẫn đến việc hình thành điền trang thái ấp ( thác đao điền và các loại ruộng phong cấp) [36, tr.63] Tuy nhiên, những ruộng đất này vẫn thuộc quyền sở

hữu tối cao của Nhà nước Bên cạnh đó, sở hữu tư nhân về ruộng đất

cũng dần dần hình thành và phát triển Lần đầu tiên trong lịch sử Việt nam dưới thời Lý-Trần đã ban hành các văn bản pháp luật xác

Trang 21

nhận chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất Các khái niệm " dân điền,

tư điền, danh điền" được ghi nhận trong các sắc dụ của nhà vua và đượcdùng trong sử sách Đây cũng là các khái niệm nhằm phân biệt vói các loại ruộng thuộc sở hữu Nhà nước Cơ cấu sỏ hữu ruộng đất thời đại Lý-Trần gồm có các loại sau:

1- Sở hữu Nhà nước: quan điển ( quốc khố, cảo điền ), thác

đao điền và các loại ruộng phong cấp, một bộ phận ruộng chùa

2- Sở hữu làng xã: các loại ruộng công trong làng xã; một bộ

phận ruộng chùa

3- Sở hữu tư nhân: các loại ruộng tư nhân, điền trang, một bộ

phận ruộng chùa

Tuy nhiên, quyển sở hữu ruộng đất của Nhà nước đối với toàn

lãnh thổ vẫn là thiêng liẽng Lần đầu tiẽn ruộng đất tư hữu được coi

là đối tượng của hợp đồng mua bán và các loại hình thức chuyển dịch khác giữa tư nhân với nhau Năm 1135 Lý Thần Tông xuống chiếu:" Những người bán mộng, ao không được bội tiền lên mà chuộc lại, làm trái thì phải tội Năm 1142 vẫn theo nguyẽn tắc trên^Lý Anh Tông lại xuống chiếu quy định bổ xung " Những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa,làm trái xử 80 trượng Nhà nước còn quy định vể việc cầm

đợ ruộng đất như sau: “Ruộng đất đã từng cày cấy đem cầm đợ thì được phép chuộc về trong thời hạn 20 năm, quá hạn ấy thì không được chuộc nữa và người nhận cầm ruộng trở thành chủ sở hữu chính thức” Trong việc tranh giành kiện cáo ruộng đất kéo dài tới năm, mười năm không xong thì người chủ không được phép kiện nữa Thậm chí, ruộng có chủ hẳn fioi nếu để hoang bị người khác cày cấy thì chỉ được thưa kiện trons vòng mộr nửm, sau đổ“ không được

THI/VirN ÊIẨÍỊ'

Trang 22

phép kiện nữa, làm trái xử 80 trượng [10, tr.15].

Các quy định trên cho thấy rằng, Nhà nước khuyến khích sản xuất không để cho ai bỏ đất hoang, song mặt khác cũng phản ánh sự bao che việc chiếm mộng của người khác thành ruộng tư hữu Ngoài

ra chế định về hợp đồng đã có quy định cụ thể: " Văn tự bán đoạn ruộng hay cầm đợ ruộng đất phải làm hai bản giống nhau mỗi bên cầm một bản" Năm 1237 chiếu chỉ vua Trần quy định:" Chúc thư, văn khế nếu là giấy tờ về ruộng đất, vay mượn, thì người làm chứng

in tay ở 3 dòng trước, người bán in tay ở 4 dòng sau" (10, tr.15)

Qua các điều luật trên cho ta thấy các quan hệ tài sản trong lĩnh vực dân sự đã được pháp luật điều chỉnh bằng các chiếu chỉ, đạo dụ của nhà vua Ruộng đất là tài sản có giá trị nhất, nên các văn bản pháp luật chủ yếu tập trung quy định về vấn đề này như xác nhận các hình thức sử hữu về ruộng đất tổn tại trong xã hội, trong đó chế độ sở hữu nhà nước vể ruộng đất được khẳng định, chiếm ưu thế tuyệt đối Đây là cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền, các giao địch mua bán cầm, cố ruộng đất đã trở thành phổ bỉến và các tranh chấp xảy ra cũng rất phức tạp Do đó, pháp luật quy định chặt chẽ về hình thức, nội dung, thời hạn của từng loại nọrp đồng tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch dân sự về ruộng đất và là cơ sở pháp ly để giải quyết các tranh chấp đó Để bảo vệ các quan hệ dân sự có đối tượng là ruộng đất, Nhà nước quy định chế tài

có tính chất hình sự, buộc người có hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật phải gánh chịu, Đây là nét đặc trưng, điển hình của pháp luật phong kiến Việt nam và phần nào chịu sự ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung quốc

Về quan hệ nhân thân, pháp luật thời kỳ này khẳng định và duy trì sự phân biệt đẳng cấp Trong xã hội có 3 đẳng cấp chính là:

Trang 23

tầng lớp quý tộc tôn thất và quan lại trong chính quyền phong kiến; những người bình dân- chủ yếu là nông dân các làng xã, một số ít thợ thủ công và thương nhân, địa chủ và đẳng cấp cuối cùng là nô tỳ [19, tr.371] Đẳng cấp quý tộc được pháp luật bảo vệ các đặc quyền đặc lợi theo tinh thần " khoan " còn đối với nhân dân theo tinh thần " khắc", ( xử phạt nghiêm khắc nếu bị tội, có 10 trọng tội- thập ác).

Về hôn nhân và gia đình, tình trạng đa thê trong quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận Xuất phát từ tư tưởng phân biệt đẳng cấp, pháp luật cấm sự kết hôn giữa con gia nô và con cái nhà bách tính [53, tr.134] Tuy nhiến luật pháp cũng ngăn cấm những hiện tượng không lành mạnh trong xã hội về quan hệ hôn nhân Những quan hệ bất chính giữa nam-nữ bị pháp luật nghiêm cấm Thí dụ, pháp luật nbà Lý quy định " kẻ nào đêm vào nhà người ta gian dâm với vợ cả, vợ lẽ ngưòi ta, chủ đánh chết ngay lúc bấy giờ cũng không

bị tội" [10, tr.218]

Vào cuối thế kỷ XIV, đất nước ở trong tình trạng rối ren, triều

đình nhà Trần trở nến mục ruỗng, lung lay tận gốc Nhân hoàn cảnh

đó HỒ Quý Ly- một quý tộc có vây cánh và thanh thế trong triều đã lấn dần quyền lực nhà Trần và đến năm 1400 phế truất vua Trần lặp

ra triều Hồ v ề mặt pháp luật nói chung vẫn áp dụng pháp luật cũ của thòi Lý-Trần, song để khẳng định chính quyền Nhà nước, nhà Hồ chủ trưởng xây dựng hình thức pháp luật cho vương tr của mình Năm 1401, Hồ Hán Thương biên soạn " Đai ngu quan chế hình l u â t "( theo Cương mục chính biên)

Trong lĩnh vực dân sự-kinh tế, Hồ Quý Ly đã thực hiện một số cải cách Các chính sách " Hạn điền " (1347), theo đó, các đại vương, công chúa được quyển chiếm hữu ruộng đất vô hạn, còn thứ dân chỉ được quyền chiếm hữu, sử dụng không quá 10 mẫu Chính sách

19

Trang 24

"Hạn nô" (1341) được ban hành nhàm hạn chế thế lực của quý tộc nhà Trần, chính sách phát hành tiền giấy (1396) gồm 7 loại gọi là " Thông bảo hội sao" (1 quan tiền giấy bằng một quan tiền đổng), giúp cho giao lưu dân sự-kinh tế thuận tiện, thể hiện tính văn minh tiến

bộ Pháp luật trừng trị nghiêm khắc tội làm bạc giả và tàng trữ tiền đồng ( Nhà nước thu hồi đồng để làm vật tư đúc vũ khí) [ 53, tr.377]

Tóm lai: Ở Việt nam từ thế kỷ XI-XV Nhà nước và pháp luật

đã có nhiều tiến triển đáng kể Nhà nước trung ương tập quyền được củng cố vững chắc, tạo điều kiện ổn định cho các giao lưu dân sự- kinh tế phát triển Thông qua các quy định của pháp luật đương thời

về sở hữu ruộng đất chúng ta thấy, vấn để cơ bản của đời sống dân sự thời kỳ này gắn liền với sự phát triển của xã hội Chính sự ra đời và tiến triển của sở hữu tư nhân vể ruộng đất là động lực thúc đẩy sự phát triển của những quy định pháp luật dân sự thành văn, làm cho giao lưu hàng hoá phát triển mạnh mẽ, nhờ đó mà tầng lớp địa chủ, tá điền tăng nhanh Tuy nhiên, chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất vẫn luôn giữ địa vị thống tri Đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật dân

sự là các quan hệ tài sản phát sinh liên quan đến khách thể quan trọng nhất- đó là ruộng đất Các quan hệ hợp đồng về mua bán, cầm

cố ruộng đất, cho vay, cho mượn tài sản đã được điều chỉnh bằng các chiếu chỉ, đạo dụ của nhà vua quy định hình thức, nội dung, thM hạn, hiệu lực và chế tài mang tính chất hình phạt đối với từng loại hợp đồng Đây là các quy định có tính chất bắt buộc mà các chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh

Các lợi ích nhân thân trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân-gia đình

c ng đã được pháp luật đề cập đến Nhưng trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp thì chỉ các lợi ích nhân thân của tầng lớp quý tộc, quan lại thân vương được pháp luật bảo vệ tuyệt đối, còn thằn phận tôi đòicủa tá điển làm thuê và nô tỳ được coi như một loại tài sản có

Trang 25

thể chiếm hữu làm của riêng Đế bảo vệ quan hệ nhân thân của tầng lớp quý tộc, các điều luật quy định'có tính chất mệnh lệnh, cấm đoán hoặc cho phép người có lợi ích nhân thân bị xâm hại được tự bảo vệ bằng biện pháp mà có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của đối phương Đây cũng là mặt hạn chế đặc trưng của pháp luật phong kiến.

1.1.5- Thời kỳ Nhà Lẻ (1428-1527).

Trải qua 10 năm ( từ 1416-1427) Lê Lợi, một địa chủ vùng Thọ xuân Thanh hoá đã triệu tập quân sỹ, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam sơn trường kỳ gian khổ đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới; thời kỳ phát triển nhà nước phong kiến trung ương tập quyền [23, tr.71]

Trên ] inh vực kinh tế-dân sự đã có những chuyển biến quantrọng, trước hết là chế độ ruộng đất Thời kỳ này đã xoá bỏ về cơ bảnchế độ điền trang thái ấp, chế độ phong cấp ruộng đất của triều đạitrước được thay thế bằng chế độ cấp lộc điền Chế độ lộc điền đượcthực hiện từ thời Lý Thánh Tông (1067) phát triển đến suốt cả đời Lê

và các đời phong kiến sau này Khác với thời Lý-Trần, lộc điền đượccấp tạm thời và chỉ cấp ruộng chứ không cấp cả hộ nông dân sốngtrên đất ấy Những người được ban cấp đất có quyền thu tô làm lộc,còn những người cày cấy vẫn là thần dân tự do của Nhà nước phongkiến Cùng với chế độ lộc điền, chế độ quân điền ( 1429) là chínhsách lớn thứ hai đối với ruộng đất vào thời Hồng Đức ( Lê ThánhTông) được tiếp tục hoàn thiện Chính sách quân điền qua cả hai giai

đoạn là cơ sở pháp lý để Nhà nước can thiệp trực tiếp vào việc phân

chia đất công của làng xã Chế độ quân điền phân chia đất định kỳcho nông dân Diện được cấp là các quan lại từ hàng ngũ phẩm trởxuống, tất cả mọi người trong làng xã không có sự phân biệt Chiếuchỉ năm 1477 quy định: Quan lại trong hàng tam tứ phẩm, nếu

21

Trang 26

chưa được cấp đủ lộc điền sẽ được bổ xung bằng quân điền Tất cả mọi người trong làng xã, từ quan víèn đến cô quả tàn tật, trẻ mồ côi,

vợ của người bị tù, đồ, lưu đều được cấp như nhau Đây là một chính sách tiến bộ của nhà Lê, lần đầu tiên trong lịch sử, người nghèo nhất cũng được cấp đất

Để tạo điều kiện cho giao lưu dân sự mở rộng, pháp luật thời

Lê sơ cho phép chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng ruộng đất lâu năm thành quyền sở hữu, miễn thuế ruộng tư.Nhà nước nghiêm trị bằng biện pháp hình sự đối với những hành vi xâm phạm sở hữu tư nhân về ruộng đất, thực hiện triệt để chính sách trọng nông, khuyến thương, khuyến khích khai khẩn ruộng hoang Chính sách " Ngụ binh ư nông" thời Lý-Trần cũng được áp dụng triệt để, "lễ cày tịch điền" vẫn được duy trì củng cố Nghề thủ công đân gian được Nhà nước khuyến khích phát triển, thành lập cục Bách công để đảm bảo duy trì lưu thông dân sự và phát triển nội thương [19, tr 16] Năm 1439 nhà

Lê quy định thống nhất những đơn vị tiền tệ và các đơn vị đo lường trong cả nước ( cân, đấu, thước, thưng ) Dưới thời Lê Nhân Tông ( 1443-1449) ban hành đạo luật riêng gồm 14 điều quy định về việc công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, quyền thừa

kế, các quy định về hưởng hoả Đến đời vua Lẽ Thánh Tông (1460­1497) pháp luật Việt nam bắt đầu bước phát triển vượt bậc Vua Lê Thánh Tông quan tâm đến việc tăng cường quyền lực của nhà vua,

mô phỏng cơ cấu chính quyền theo thể chế nhà Minh và về mặt hệ tư tưởng dựa trên hệ tư tưởng Nho giáo Chính sách cửa Lê Thánh Tông nảy sinh từ sự gắn bó của ông với Nho giáo và quan tâm đến việc cải hoá thần đân của mình bằng đạo đức của nhà nho mà luân lý của gia đình là chủ đề chính trong giáo lý Khổng Tử [21, tr.94]

Phần lớn các điều luật ban hành trong thời kỳ này đều thấm nhuần ý tưởng ấy và thể hiệrr tập trung nhất trong Bộ luật Hồng

22

Trang 27

Đức năm 1483 Vào năm đó vua Lê Thánh Tông cho sưu tập và hệ thống toàn bộ chiếu chỉ, đạo dụ óủa các thời vua trước đó và sửa chữa, bổ sung, san định lại cho hoàn chỉnh thành Bộ luật Có thể nói, đây là Bộ luật thành văn hoàn chỉnh nhất trong lịch sử lập pháp của nước t a , Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt nam Nó không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó, mà còn đối với cả Bộ luật được soạn thảo vào đầu thế kỷ XIX- Bộ hoàng việt luật

lệ do Gia long ban hành năm 1812 [39, tr.17] Theo bản dịch ra chữ quốc ngữ xuất bản năm 1991, Bộ luật này bao gồm 722 điều, chia làm 6 quyển Đặc biệt những vấn đề về dân sự đã được quy định thành chương riêng biệt.Chương hộ - hôn điền sản được quy định ở quyền III của Bộ luật, phản ánh đậm nét phong tục, tập quán cổ truyền của dân tộc Việt nam Trước đây có một số nhà sử học cho rằng, Bộ luật Hồng đức sao chép luật của nhà Minh hoặc nhà Đường bên Trung quốc Nhưng theo InSun Y u, ( nhà Việt nam học nổi tiếng của Hàn Quốc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, pháp luật, kết cấu kinh tế xã hội, quan hệ quốc tế của Việt nam ),

đã nhận xét: “ Trcng 722 điều của Bộ luật đời Lê này có 315 điều mô phỏng luật Trung quốc ( trong đó có 261 điều từ luật Đường, 54 điều

từ luật Minh) còn 407 điều hoàn toàn Việt nam Tuy nb ên, Bộ luật nhà Lê còn một khía cạnh khác đó là tính đặc thù thể hiện trong các chương 6,7,8 nói về thừa kế, những vấn đề nẩy sinh từ điền sản,

về sở hữu, hương hoả [21, tr.94]

Phân tích các chương " Hộ hôn" và Điển sản " cùng một số điểu trong các chương khác của Bộ luật Hồng Đức thấy rằng những chế định về dân sự này có những đặc điểm chính sau đây:

- Về sở hữu: Đây là vấn đề cơ bản trong chính sách dân sự và

giao lưu hàng hoá, là chế định trung tâm có ý nghĩa nhất trong

23

Trang 28

Bộ luật Hồng Đức Theo các quy định của Bộ luật thì Nhà nước thừa nhận 3 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu làng xã và sở hữu

tư nhân Trong các hình thức sở hữu đó chỉ sở hữu nhà nước mới có

đầy đủ 3 quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, còn làng xã chỉ có quyền quản lý

Chương Điền sản (kể cả phần bổ sung thêm) gồm 59 điều

Ngoài một số quy định có tính chất hướng dẫn, ở chương này còn có các quy định cụ thể những hành vi nào bị coi là xâm phạm sở hữu

làng xã như: bán ruộng đất khẩu phần ( quân điền), ẩn lậu ruộng đất làng xã bị coi là tội phạm và bị nghiêm trị (các điéu

342,343,344,345 )- Quyền sỏ' hữu tư nhân ở một chừng mực nhất

định dược pháp luật bảo vệ Thí dụ: " bán trộm ruộng đất của ngườikhác thì xử tôi biếm, bán từ 10 mẫu trở lên thì xử tôi đồ, trả tiền cho• 7 é 7

người mua và phải trả thêm một lần mua nữa "( điều 382) " Nô tỳ

mà bán trộm ruộng đất của chủ thì xử phạt 90 trượng và thích vào mặt 6 chữ lưu đi châu gần / (điều 386) Qua các điều luật này ta nhận thấy, các biện pháp dân sự hướng dẫn hành vi xử sự cho các chủ thể rất hạn hẹp.Trách nhiệm dân sự của người bán trộm ruộng đất không được quy định, việc giải quyết các vi phạm quyền dân sự được

áp dụng bằng biện pháp hình sự.Theo quy định của Bộ luật Hổng Đức, cha mẹ giữ quyền làm chủ tài sản của gia đình và hưởng lợi tức

từ tài sản đó Pháp luật cũng thừa nhận con cái có điền sản riêng, khi chúng đạt đến một độ tuổi nhất định và được bố mẹ cho phép (điều 387) Nếu mẹ hoặc người trưởng họ xâm phạm điền sản riêng của con mồ côi cha ( hoặc cả cha lẫn mẹ) chưa thành niên, thì bị xử phạt ( điều 377, điều 379) Bộ luật quy định con cái từ 15 tuổi được phép tách rời tài sản của chúng để xây dựng gia đình riêng và khi chứng có gia đình riêng cha mẹ không có quyền đối với tài sản thuộc sở hữu cá nhân của các con mình Đồng thời từ đó bố mẹ không chịu trách nhiệm đối với các món n ợ 'm à con cái mắc phải, kể cả trường

24

Trang 29

hợp con cái không có khả năng trả được.

Việc con cái được tách khỏi cha mẹ và xây dựng gia đình riêng của mình ngay lúc cha mẹ còn sống là một biểu hiện tính riêng biệt của phong tục Việt nam Điều này trái với đạo lý Nho giáo đòi hỏi con cái phải tuyệt đối phục tùng và quên mình để phụng dưỡng cha

mẹ [21, tr.17] Trường hợp con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên nhưng còn ở chung với cha mẹ, vẫn đặt dưới sự giám hộ của cha

mẹ ( theo chế độ gia trưởng ).VÌ vậy, nếu con còn ở với cha mẹ mà

phạm tội trộm cướp, thì cha mẹ ngoài tội phạt về hình sự, còn phải bồi thường thay cho các con những tang vật ăn trộm, ăn cướp ( điều 457) Cơ sở của trách nhiệm này là lỗi cha mẹ không biết giáo dục trông nom con cái sống dưới thân quyền Do đó, điều kiện trách nhiệm là các con phải sống cùng với cha mẹ, bất kể con vị thành niên hay đã trưởng thành Điều luật này thể hiện chế độ giám hộ đã được luật nhà Lê gián tiếp quy định

Phân tích các điều: 374, 375, 376 Bộ luật Hổng Đức có thể phân chia tài sản thuộc sở hữu của vợ chổng thành ba loại:

- Tài sản của chồng do đưực thừa hưởng từ gia đình mình gọi là phu tông điền sản

- Tài sản của vợ được thừa hưởng từ gia đình vợ gọi là thê điềnsản

- Tài sản do hai vợ chồng tạo dựng nên trong quá trình hôn nhân gọi là tần tảo điền sản Nói đến tài sản của gia đình, các quy định của pháp luật nhà Lê chỉ đề cập đến điền thổ Theo tác giả Vũ Văn Mẫu thì "điểm này cũng dễ hiểu vì một nền kinh tế trọng nông, chỉ có điển thổ mới được coi ]à yếu tố tư bản chính yếu, các động

25

Trang 30

sản khác chỉ là những vật ít có giá trị " Khi gia đình còn tồn tại tất cả

các tài sản được coi là của chung của gia đình, và người gia trưởng có

quyền hành nhiều hơn đối với tài sản chung đó Mặc dù bị ràng buộc

bởi tư tưởng gia trưởng như vậy, nhưng người vợ trong gia đình

phong kiến thời Lê không hoàn toàn mất quyền đối với tài sản gia

đình Điều đó thể hiện rõ nét nhất trong việc bán, đổi tài sản đều phải

có chữ ký của cả hai vợ chồng Đây là điểm tiến bộ của luật nhà Lê

so với luật nhà Nguyễn sau này [32, tr.15]

Như vậy sở hữu tư nhân, không chỉ được phân định rõ theo

quan hệ huyết thống, thân thuộc ( giữa cha mẹ với con cái) mà cả

trong quan hệ hôn nhân người chổng không có quyền chiếm dụng tài

sản của vợ và ngược lại Nếu vợ chồng đã ly hôn thì mỗi người có thể

mang theo tài sản riêng của mình, sở hữu tư nhân trong gia đình

được pháp luật bảo vệ triệt để Việc ghi nhận sự bình đẳng của vợ

chổng đối với tần tảo điền sản, tài sản riêng là một quy định tiến bộ

vượt lên trên tư tưởns Nho giáo đương thời Tuy nhiên, nếu trong

quan hệ tài sản vợ chồng tương đối bình đẳng, thì trong quan hệ nhân

thân người vợ lại bị đối xử bất bình đẳng Sự bất bình đẳng về nhân

thân giữa vợ chồng trong pháp luật nhà Lê thể hiện rõ nhất ồ quy

định " thất xuất" (điều 310): bảy trường hợp chồng phải bỏ vợ nếu

không sẽ bị trừng trị (Trong bản 24 điều giáo hoá do Vua Lê Thánh

Tông ban hành và đoạn 164 Hồng Đức Thiện chính thư)

- Về ch ế định hợp đồng; Bộ luật điều chỉnh quan hệ mua bán,

cầm cố, chuyển nhượng ruộng đất chặt chẽ và cụ thể Một hợp đồng

mua bán ruộng đất chỉ được coi là có h iệu lực khi những người tham

gia quan hệ mua bán hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện Điều 355

quy định: " Người nào ức hiếp để mua bán ruộng đất của người khác

thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua"; điều 366 quy định" :

Hình thức hợp đồng mua bán tài sản là ruộng đất phải được viết bằng

văn bản ( văn khế) có thể tự mình viết hoặc nhờ quan trưởng trong

26

Trang 31

làng viết thay và chứng kiến"; điềụ 384 quy định về thời hạn cầm cố

ruộng đất Việc quy định này nhằm ổn định giao lưu dân sự về đất

đai Đối với các loại giao dịch dân sự khác như quan hệ vay nợ, pháp

luật quy định hình thức hợp đồng phải là văn tự và quy định cụ thể về

mức lãi xuất ( điều 587) Điều 588 quy định thời hạn trả nợ và đòi nợ

có phân biệt giữa người trong họ và người ngoài họ về thời hạn đòi

nợ Sự bảo lãnh trong quan hệ vay nợ được quy định tại điều 590

Bộ luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng thuê muợn ( điêù 603), trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng ( các điều 498,499,555,556,581,582,568)

- Về ch ế định thừa kế, Bộ luật Hồng Đức thừa nhận hai hình

thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo luật Cha mẹ, vợ,

chồng, con cái và những người thân thuộc khác có quan hệ huyết

thống đều đươc hưởng di sản thừa kế Luật Hồng Đức quy định: “

Cha mẹ luôn luôn ở hàng thừ kế thứ 2 khi thừa kế tài sản của con, các

con bao giờ cũng ở hàng thừa kế thứ nhất khi thừa kế tài sản của cha

mẹ” Các điều 374, 375,376 quy định cụ thể các trường hợp phát sinh

thừa kế theo luật Mặc dù bị ràng buộc bởi tư tưởng Nho giáo trọng

nam Khinh nữ, nhưng các quy định của pháp luật triều Lẽ về quan hệ

tài sản đã thể hiện sự bình đẳng tương đối, rõ nét nhất là ở các quy

C nh về quyền thừa kế tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ

chồng chưa có con mà một bên chết trước [điểu 375] Tác giả In Sun

Y u đã nhận xét rất khách quan rằng " Sự phân chia tài sản cho thấy

vị trí quan trọng của người vợ trong gia đình phong kiến Việt nam

Sở dĩ người vợ có được vị thế cao trong gia đình vì những hoạt động

của chính mình, và người vợ đuợc Bộ luật nhà Lẽ dành cho sự hợp

thức trong pháp luạt về quyền thừa kế tài sản Sự chuyển trả tài sản

của người vợ cho gia đình cha mẹ đẻ, chứng tỏ rằng người vợ Việt

nam không bị chi phối hoàn toàn bởi quyền lực của người

chồng "[21, tr 17]» Cần lưu V rằng, dù có chúc thư hay không

27

Trang 32

thì sau khi giành 1/20 tổng số ruộng đất để làm hương hoả, phần còn lại được chia đều cho con cái bất kể trai hay gái ( các điều từ 388 (Jến 398) Quyền thừa kế của người con nuôi cũng được Bộ luật ghi nhận ( điều 380).

Cùng với việc điều chỉnh các quan hệ về tài sản, một số quan

hệ nhân thân cũng đã được pháp luật quy định và bảo vệ Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến, pháp luật chủ yếu bảo vệ các lợi ích vể nhân thân của vua chúa, quan lại Thí dụ: " những người vào cung điện nói chuyện với cung tần thì phải tội chém^( điểu 61), " trong cung điện mà đùa cợt ngạo mạn, vô lễ thì bị xử tội biếm hay tội đổ" (điều 95), " Dâng thư hay tâu việc gì mà lại lầm phạm đến tên vua hay tên huý các vua trước thì xử phạt 60 trượng biếm hai tư Người nào cố ý đặt tên chính hay tên tự phạm vào chữ huý thì xử tội lưu, tội tử hình" ( điểu 125) Các quan hệ nhân thân trong gia đình ( giữa vợ chồng, giữa cha mẹ-con cái) đều thể hiện rõ nét tư tưởng Nho giáo ( các điều

511, 543) Nguyên tắc chuộc tội bằng tiền được quy định tại điều 16 của Bộ luật Mặc dù, trong xã hội cổ với nền quân chủ chuyên chế và

tổ chức phụ hệ, các uy quyền được tập trung trong tay những người

đại diện cho quyền binh của nhà vua ở tất cả các giai tầng và ở trong

tay người gia trưởng, nhưng tổ chức xã hội ấy không phải là khổng lưu tâm đến nhân quyền [32,tr 172] Tuy thời đó chế độ nô tỳ đã được sử dụng để trừng phạt một số tội nhân, nhưng thân phận nô tỳ chỉ là một chế tài về hình sự Các tư nhân không thể giao kết với nhau để mua bán nô tỳ Theo điều 453 Bộ luật Hồng Đức, những kẻ bắt người đem bán làm nô tỳ thì phải lưu đi châu xa, dỗ người đem bán làm nô tỳ thì bị tội kém mộí bậc.Trường hợp người gia trưởng đem bán những thân thuộc để tang từ một năm trở xuống, thì phải tội hơn bán người thường một bậc và phải bồi thường gấp đôi tiền bán trả cho người có con bị bán Điều luật này thể hiện chế độ nô tỳ của

ta thời trước chỉ là một hình phạt trong luật, khác hẳn chế độ mua bán nô lệ ở phương Tây và châu Phi

Trang 33

v ề việc bồi thường thiệt hại, pháp luật nhà Lê đã đề cập đến sự thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần do hành vi trái pháp luật hay hành vi không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng gây ra Nói cách khác, vấn đề trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại đã được nhà lập pháp thừa nhận cả trong lĩnh vực trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Trường hợp, trách nhiệm của người nhận tài sản ( súc vật, của cải) của người khác gửi

đã tiêu dùng đi thì phải đền tiền theo như số tổn thất,, hay nói dối là súc vật gửi đã chết hoặc đồ vật đã mất thì phải đền tiền gấp đôi ( điều 579) Đây là trách nhiệm dân sự theo hợp đồng Đối với thiệt hại

về tinh thần ( danh từ thiệt hại tinh thần luật không nói tới ) trong một số trường hợp đặc biệt đã được pháp luật quy định Các vụ đánh quan chức bị thương thì ngoài tiền đền thương tích còn phải đền tiền

tạ Trái lại nếu đánh người không phải quan chức chỉ phải đền tiền thương tổn ( điều 472) Trong trường hợp lăng mạ các quan chức pháp luật cũng đã dự liệu cả tiền tạ, ngoàỉ hình phạt Tiển tạ có thể được giảm một nửa trong trường hợp quan dưới lăng mạ quan trên, vì

đã bị quan trên lăng mạ trước hoặc trường hợp mắng vụng, chửi cạnh, sỉ nhục mày tao, cùng là vì say rượu mà lăng mạ ngườỉ ta ( điều 473) Tiền tạ cũng được đự liệu trong điều 474 đốỉ với các người trong Hoàng tộc từ cháu 5 đời nhà vua trở lên, nếu những người này

bị đánh có thương tích hay bị lăng mạ Có thể nói rằng, tiền tạ đối với các quan chức hay những người trong hoàng tộc có tính chất tiền bồi thường danh giá, nhiều, ít tuỳ theo địa vị xã hội.Song tiền tạ này không được nhà làm luật dự liệu nếu nạn nhân là người thường Ngoài ra sự bồi thường thiệt hại về tinh thần còn được pháp luật dự trong trường hợp từ hôn, nghĩa là đã nhận đồ sính lễ gả con gái rồi lại thay đổi ý kiến ( điều 315) Qua các điều luật này, thấy rằng sự thiệt hại chỉ được bồi thường trong những trường hợp cụ thể do pháp luật

Trang 34

quy định, nhà làm luật không dự4iệu nguyên tắc bổi thường tổng quát cho mọi trường hợp.

Các chủ thể tham gia quan hệ dân sự: có thể là vua chúa, quan

lại, thường dân tuỳ theo thứ bậc địa vị xã hội, mà có đặc quyền, đặc

lợi khác nhau trong quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân Nôtỳ là hạng người thấp hèn nhất trong xã hội, họ không có tư cách pháp lý tham gia các quan hệ pháp luật Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự tuy chưa được pháp luật quy định cụ thể, nhưng qua một số điều luật ta có thể nhận thấy rằng, người thành niên là người

từ 16 tuổi trở lên đối với con trai, 20 tuổi trở lên , đối với con gái ( điều 387) không bị thác loạn tinh thần,có điền sản riêng, tự mình tham gia các giao dịch dân sự và chịu trách nhiệm pháp lý ( hình sự

và dân sự) dối với hành vi của mình Đối với người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng còn ở chung với cha me, luật gián tiếp quy định người giám hộ cho họ là cha mẹ hoặc họ hàng ( người trưởng họ),nếu người vị thành niên không còn cha mẹ ( điều 377 và điều 379) Ngoài ra, làng xã cũng là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Các điều 294, 295 của Bộ luật quy định làng xã có ưách nhiệm chăm nuôi những người cô quả, tàn tật, đau ốm không nơi nương tựa Các điều luật này thể hiện tính nhân đạo cao cả vì con người Vấn đề hộ tịch, hộ khẩu, nơi cư trú của cá nhân chưa được pháp luật quy định cụ thể nhưng qua các điều 285, 286, 287, 293 thấy rằng Nhà nước quản

lý vấn đề này thông qua xã quan sở tại

Về tài sản, đối iượng của quan hệ sở hữu và các giao dịch dân sự chủ yếu bao gồm hai loại: bất động sản ( điền sản, nhà cửa, ao, hồ)

và động sản ( trâu, bò, ngựa, ghe, thuyền ).Đây là những tài sản có giá trì nhất trong một đất nước thuần nông thời bấy giờ Pháp luật nhà Lê đã quy định một số loại tài sản không được đem buôn bán

Trang 35

ra nước ngoài như ruộng đất,bò' cội, nô tỳ, ngựa, voi ( điều 74)>cấm bán binh khí, thuốc có thể chứa hoả pháo, đồng, sắt, da trâu, các thứ gân, sừng đề làm quân khí cho nước ngoài ( điều 75) Những giao dịch dân sự được xác lập với đối tượng là các tài sản này đều bị coi là

vô hiệu và bị xử phạt bằng biện pháp hình sự ( chém, lưu, đồ) tuỳ theo đối tượng giao dịch là tài sản có giá trị kinh tế hay có giá trị về

an ninh quốc phòng Pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản, chủ yếu tập trung vào quan hệ sở hữu điền sản của Nhà nước, làng xã, tư nhân, quan hệ thừa kế điền sản Các quan hệ hợp đồng mua, bán, cho thuê, cầm, cố cho vay, cho mượn tài sản ( ruộng đất, nhà cửa, trâu,

bò, ghe thuyền) đã được pháp luật quy định vể hình thức, nội dung, hiệu lực của hợp đồng Ngoài ra trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

và ngoài hợp đồng cũng đã được nhà làm luật dự liệu Tuy nhiên, kèm theo trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại vật chất và tỉnh thần, người gây thiệt hại còn phải chịu cả trách nhiệm hình sự ( chế tài hình phạt) Phạm vi quan hệ tài sản do pháp luật nhà Lê điều chỉnh mang tính tổng hợp Ngoài các quan hệ tài sản trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình ( chương hộ hôn và chương điền sản) đối tượng điều chỉnh của pháp luật còn có cả quan hệ buôn bán I thương mại với nước ngoài ( có lẽ quan hệ thương mại buôn bán vớỉ nước ngoài thời đổ đã phát triển, nên Nhà nước mới cấm bán một số loại tài sản ra nước ngoài như đã nêu trên)

Phạm vi quan hệ nhân tMn do pháp luật điều chỉnh và bảo vệ bao gồm quan hệ nhân thân trong các lĩnh vực hành chính ( thưởng tước cho người có công với nước ( điều 25), dân sự, hôn nhân gia đình Để bảo vệ quan hệ nhân thân nhà làm luật dự liệu cả ehế tài

hình sự và trách nhiệm dân sự Đặc biệt đã có sự bồi thường thiệt hại

về tinh thần cho người bị hại ( tiền tạ)

t

Từ những qui định của Bộ quốc triều hình luật cũng như

31

Trang 36

qua các văn bản pháp luật khác đươc ban hành dưới thời nhà Lê cho phép chúng ta có một vài nhận xét như sau vể lĩnh vực dân sự Pháp luật thời hậu Lê kế thừa thành tựulập pháp của thời đại Lý-Trần và các triềuvua Lê trước đó Có sự kết hợp sáng tạo luật pháp Trung quốc với phong tục tập quán Việt nam Nó thể hiện rõ nét nhất trong việc xác định đối tượng điều chỉnh là các quan hệ về quyền sở hữu, quyền thừa kế, các quan hệ hôn nhân gia đình, chế độ về hợp đồng,

về bồi thường thiệt hại,một số quyền về nhân thân Bên cạnh các qui định về hình sự, các vấn đề về dân sự cũng đã được coi trọng và ghi nhận rõ trong Bộ luật thành các phần riêng rất tiện lợi cho việc tra cứu, áp dụngvà điều chỉnh các hành vi sử sự của các chủ thể trong các quan hệ dân sự Nói tóm lại trong thời kỳ này đối tượng đỉều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về dân sự đã được mở rộng hơn rất nhiều so với pháp luật về dân sự của các giai đoạn trước

Tuy nhiên, hầu hết các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân, quan hệ hôn nhân gia đình bằng' các chế tài nghiêm khắc của luậ? hình sự ( xuy, trượng, đồ ) Các quv phạm mang tính hướng dẫn chưa được chú ý Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tuỳ tiện của eác chủ thể trong việc thực hiện quyền dân sự cũng như việc gi à quyết các tranh chấp Nhưng dù sao,

Bộ luật Hồng Đức vẫn là kho tàng vãn hoá pháp lý quý báu của dân tộc, là thành tựu rực rỡ của nền lập pháp nước ta, mà các thế hệ nối tiếp sau cần tìm tòi, nghiên cứu, khai thác

1.1.6- Thời kỳ nôi chiến phân liẽt ( thế kỷ XVI-XVIII).

Sau khi vua Lê Hiến Tông chết, các phe phái trong triều đình

tranh giành quyền bính gây nên những cuộc nội chiến kéo dài và

phân chia đất nước thành những miền, đặt dưới những chính quyền riêng biệt khác nhau.Trong hoàn cảnh đó, Mạc Đăng Dung đã nổidậy phế truất nhà Lê, lập ra triều Mạc (1527-1592) Với mục đích

Trang 37

khôi phục lại sự hưng thịnh của nhà Lê, Nhà Mạc tiếp tục sử dụng hệ thống pháp luật của nhà Lẽ, trong đó có Bộ luật Hồng Đức,để điều chỉnh các quan hệ về dân sự, hôn nhân-gia đình

Năm 1528 Bổ Thiên chính thư do Mạc Đăng Dung soạn thảo

đã ghi nhận hầu hết các điều luật liên quan đến sở hữu tài sản được ban hành từ thời Lê Thánh Tông, có bổ sung thêm một số điều cho phù hợp với chính sách cải cách điền địa Điều đó cho thấy mọi cải cách của nhà Mạc đều nhằm mục đích điều chỉnh, ổn định cơ sở kinh

tế bằng sự tác động của các biện pháp đân sự: biện pháp phạt tiền được sử dụng rộng rãi hơn biện pháp hình sự Đây là điểm tiến bộ của thời kỳ này

Năm 1592 nhà Mạc sụp đổ, bắt đầu thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, mà sử sách gọi là: Thời kỳ nội chiến phân liệt giữa Đàng trong

và Đàng ngoài

ở Đàng ngoài, pháp luật thời Lế căn bản vẫn được áp dụng với những sửa đổi và bổ sung cần thiết, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, tài

chính, văn hoá vv Đáng chú ý trong hoạt động lập pháp ờ Đàng

ngoài là lĩnh vực luật lệ về tố tụng tư pháp được ban hành cụ thể trong Bộ khám tụng diếu lê ( 1777) Các thủ tục phápj$iày đã có

tác dụng thúc đẩy việc giải quyết công bằng và nhanh chóng các vụ

kiện vi lợi ích của quần chúng nhân dân Một số luật lệ về đánh thuế ruộng công và ruộng tư, miễn thuế ruộng tư cho quan lại, một số luật

lệ về hôn nhân gia đình cũng được ban hành trong thời kỳ này

ở Đàng trong, Nhà nước có ban hành những luật lệ về kinh tế, tài chính nhằm củng cố trật tự kinh tế và tăng cường nguồn thu nhập cho Nhà nước như luật lệ vể sở hữu ruộng đất mới khai khẩn và thuếkhoá trên ruộng đất đó Theo quy định của pháp luật thì ruộng đất

33 '

Trang 38

do quan lại chiêu tập dân lưu vong và nô tỳ để khai phá thuộc quyềr

sở hữu của người đứng ra khai phá và có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhầ nước Pháp luật Đàng trong về cơ bấn theo chế độ pháp luật nhà Lể thế kỷ XV có đôi chút khoan nhượng thời kỳ đầu để thu phục dân chúng

Năm 1789-1802 triều đại Tây sơn thống nhất sơn hà Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng nhà Tây Sơn đã đạt được những thành tựu đáng kể về mọi mặt.Trong lĩnh vực pháp luật một sổ văn bản do Quang Trung ban hành như Chiếu lên ngồi H789): Chiếu cẩu hiền, Chiếu khuyến nống, Chiếu lâp hoc và một số quy định về thuế khoá ít nhiều đã giúp vương triều Tây sơn ổn định tình hình, xây dựng cơ sở kinh tế ban đầu, khắc phục hậu quả của cuộc nội chiến liên miên Tuy các đạo dụ không nhiều nhưng đã phản ánh đúng quy luật khách quan và gỏp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tóm lai: Thời kỳ nội chiến phân liệt,pháp luật nói chung và

pháp luật dân sự nói riêng kém phát triển, mà chủ yếu vẫn sử dụng pháp luật của thời nhà Lê (Bộ luật Hồng Đức) để điều chỉnh các quan

hệ xã hội Đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh eủa pháp luật

về dân sự thời kỳ này không có gì thay đổi đáng kể so với pháp luật

nhà Lê

1.1.7- Thòi kỳ Nguyễn Triều (1802-1858).

Sau khi nhà nước Tây sơn bị lật đổ, nhà Nguyễn xác lập sự thống trị của mình từ năm 1802 khi Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân ( thành phố Huế ngày nay) Vua Gia long và các triều vua tiếp theo đã thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế, tăng cường bộ máy đàn áp và các công cụ thống trị,

Trang 39

thi hành hàng loạt các biện pháp nhằm củng cố, bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ và quan lại '■

Về mặt kinh tế, do quá trình chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vào tay địa chủ đã bần cùng hoá giai cấp nông dân Gia Long đã ra lệnh tịch thu ruộng đất của những người theo Tây sơn trả lại cho chủ mộng đất mà trước đây phong trào Tây sơn đã thu của họ Nông dân vừa bị mất dần ruộng đất, vừa phải chịu tô, thuế, lao dịch nặng nề đã trở nên kiệt quệ và bần cùng hoá Kéo theo đó, mất mùa liên tiếp xảy

ra, hiện tượng ruộng đất bỏ hoang, dân tình phiêụ bạt, xóm làng xơ xác phổ biến khắp nơi Để khắc phục phần nào tình trạng đó, nhà Nguyễn đề ra chính sách khẩn hoang với những hình thức đồn điền, doanh điền Trong lĩnh vực công,thương nghiệp, nhà Nguyễn thi

hành chính sách " ức thương" với chế độ thuế khoá nặng nề làm cho

giao lưu hàng hoá ngừng trệ, kém phát triển Năm 1834 vua Minh

Mạng raf)ạo dụ " cấm họp chợ" ở nhiều nơi, cùng với chính sách " bế

quan toả cảng" làm cho thương nghiệp không phát triển được

Dưới triều Nguyễn, luật dân sự kém phát triển do ảnh hưởn^ của chính sách " trọng nông, ức thương" và lệ thuộc nhiều vào luật ỉệ nhà Thanh Bộ Hoàng Việt luật lệ được vua Gia Long công bố nãrn

1815 gồm 398 điều, trong đó các điều khoản về dân sự chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong Bộ luật và thiếu những quy định cụ thể(chỉ có

66 điều quy định về hộ hôn-điền sản).Đúng như nhận xét của tác giả Nguyễn Quang Quýnh,do được soạn thảo theo tinh thần Bộ luật của nhà Thanh (Trung quốc) nên Bộ luật Gia long đã bỏ qua những điểm tiến bộ của pháp luật triều Lê Mhững chế định của dân luật như thừa

kế, chúc thư, hôn sản, hương hoả đều không được qui định [40, tr.88]

Bộ luật Gia Long thừa nhận 3 hình thức sở hữu: sở hữu làng

35

Trang 40

xã, sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước về ruộng đất.Các quan hệ về mua bán, cho vay, thuê mượn, thừa kế được quy định rất ít Bộ luật

thừa nhận hai hình thức thừa kế: thừa kế theo luật và thừa kế theo di

chúc Diện thừa kế đượcquy định là các con, cháu và họ hàng thân thuộc Khác với Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long quy định quyền thừa kế chỉ có các con trai, con gái không có quyền thừa kế đối với tài sản thông thường Đối với tài sản là ruộng hương hoả mà khi người chết không có con trai, cháu trai, hoặc không có một người thân thuộc nam giới nào thì con gái mới được hưởng thừa kế Nét đặc trưng của Luật Gia Long là có nhiều lệ kèm theo, vì dưới mỗi một điều luật lại kèm theo những lệ để bổ xung cho sự chưa đầy đủ của nó

Trong lĩnh vực hôn nhân-gia đình Bộ luật Gia Long cũng dựa trên những nguyên tắc cơ bản theo quan điểm Nho giáo như hôn nhân không tự do, bất bình đẳng, đề cao vai trò của người cha, người chồng, vợ cả và con trưởng Đặc biệt trong Bộ luật Gia Long không

có quy định chế độ tài sản giữa vợ chồng Có thể nói, về hồn nhân gia đình những quy định tiến bộ của Luật Hồng Đức đối với người

phụ nữ đã không còn được kế thừa ở Bộ luật Gia long Tác giả Hoàng

Thế Lỉên có nhận xét rất đúng khi cho rằng so với pháp luật thời nhà

Lê, pháp luật thời Nguyễn là mộí bước lùi trong việc quy định quan

hệ tài sản giữa vợ và chồng £24, tr.44] Tính chất hướng dẫn trong các

quy phạm dân sự ( hộ hôn, điền sản) rất hạn chế, chủ yếu là cấm đoán, đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự bị thu hẹp Vì vậy để

bổ xung cho lỗ hổng của pháp luật, nhà Nguyễn phải ban hành bổ /iung nhiều lệ kèm theo

Mốt vài nhân xét về pháp luât dân sư Viêt nam qua các triều đai phong kiến:

Ngày đăng: 14/08/2020, 14:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w