+ Bản chất nhà nước Hèn quan đến các quan hệ pháp luật cụ thể :Đúng là quan hệ pháp luật được phát sinh, tổn tại trên cơ sở các quy phạm pháp luật thực định, nhưng bên cạnh đó nó còn phả
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO s ộ Tư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ V Ă N LO N G (LÊ VƯƠNG LONG)
Đê tài:
NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN
VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Tư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ V Ă N LON G (LÊ VƯƠNG LONG)
Đ ề tài:
NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN
VỂ QƯAN HỆ PHÁP LUẬT
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.PTS LÊ M INH TÂM
Q Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Hà Nội
H à Nội -1997
Trang 4Luận án Thạc sỹ Luật hoc
P H Ầ N M Ở Đ Ầ U
L Tính cáp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới một cách toàn diện hiện nay ở nước ta đã và đang nảy sinh nhiều loại quan hệ pháp luật với nhiều loại chủ thể tham gia Số hành
vi xã hội được pháp luật điều chỉnh ngày càng lớn đã làm đa dạng, phong phú đời sống pháp lý thực tiễn và làm phát sinh nhu cầu kiến giải vể mặt lý luận
Đứng trước đòi hỏi đó, khoa học lý luận chung về nhà nước - pháp luật cần đi sâu những phạm trù lý luận có tính cơ sở nền tảng nhằm phân tích, làm
rõ những vấn đề đang đặt ra hết sức bức xúc thuộc đối tượng nghiên cứu của mình một cách thống nhất và phù hợp
Quan hệ pháp luật là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước (đặc biệt là ở Liên Xô cũ) Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi lớn về tính chất và cơ cấu của các quan hệ xã hội đã kéo theo những thay đổi của pháp luật và quan hệ pháp luật Nhiều quan điểm
lý luận về quan hệ pháp luật dựa trên cơ sở của sự nhận thức và tư duy pháp lý
cũ không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay (ví dụ: vấn đề chủ thể, quan hệ hợp đổng, khách thể, lợi ích ) Hơn nữa các quan điểm đưa ra cũng chưa giải quyết một cách thoả đáng có sức thuyết phục về mặt khoa học các yếu tố như : khái niệm, cơ cấu của quan hệ pháp luật, đặc biệt là khách thể của quan hệ pháp luật Nhìn chung, việc nghiên cứu về quan hệ pháp luật ở nước ta còn tản mạn, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này Do vậy nhu cầu kiến giải đặt ra đối với quan hệ pháp luật mang tính bức xúc, nhằm đáp ứng phần nào sự “hụt hẫng” trầm trọng của hệ thống lý luận
cơ bản và lý luận chuyên sâu ở nước ta
Đây là một công việc khó khăn bởi bản thân vấn đề phức tạp và có phạm vi rộng, trong khi đó ở nước ta lĩnh vực khoa học này còn quá non trẻ, chưa hình thành các trường phái lý luận để có điều kiện trao đổi, cọ xát quan điểm khoa học và tài liệu, tư liệu lại hết sức nghèo nàn
1
Trang 5Luận án Thạc sỹ Luạt học
Chúnc tôi chon đề tài : "N hững ván đề lý luận cơ bán về quan hệ
p háp lu ật" làm luận án cho mình khỏrm có tham vọnsí là làm đưọ'c một việc gì
đó đáp ứng đòi hỏi quá lớn trẽn Với mong muốn có được một cách nhìn tons; quan, khách quan, khoa học về các khía cạnh của quan hệ pháp luật nhằm phục
vụ cho cổng tác chuyên môn giảng dạy, nghiên cứu lý luận và các hoạt động thực tiễn là ý tường của sự lựa chọn đó
II Tình hình nghiên cứu
Do nội dung để tài có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn vì vậy nó
đã thưc sự tạo ra được sự quan tâm nghiên cứu của khoa học pháp lv xã hội chủ nghĩa Các nhà luật học Xô Viết trước đây cho rằng khái niệm quan hệ pháp luật là khái niệm “nền tảng” trong các khái niệm pháp lý Họ nghiên cứu một cách tỷ mỉ cơ cấu của quan hệ pháp luật và đã có nhiều công trình chuyên khảo
- PTS Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Dân chủ Pháp luật, sô 12-1996, số 2-1997; chương “Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa” - Giáo trình môn học của Đại học Luật Hà Nội ; của Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh ; của khoa Luật - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn- Đại học Quốc gia Hà N ộ i; của Học viện Hành chính Quốc gia
III Muc đích, pham vi-nghiên cứu
Mục đích tòng quát của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện lý luận về quan hệ pháp luật, dồng thời phố quát vấn để nàng cao tính hiện thực của quan hệ pháp luật nói chung và ớ nước ta nói riêng Đế thực hiện mục đích trên Luân án đề ra các nhiệm vu cơ bản sau :
9
Trang 6Luận án Thạc s\ Luật học
- Nghiên cứu những vấn đế lý luận cơ bán về : Khái niệm, ban chất, đặc điếm, cơ cấu của quan hệ pháp Luật nhầm đưa ra được những kết iuận có
tính khoa học phục vụ cho việc nhận thức đúng đắn về các yếu tố đó
- Trên cơ sở lý luận, luận án đưa ra các tình huống, giải pháp gắn liền
với thưc tiễn nhăm chứng minh tính khoa học của các vấn đề đưa ra, giải quyết
những vướng mấc trong quá trình nghiên cứu và trong các hoạt động pháp lý
thực tiễn
- Trên cơ sở kết quả thu được, Luận án góp phần phục vụ cho thực tế
công tác chuyên môn giảng dạy, nghiên cứu
IV Phuơng pháp luân và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác
Lênin ; Lý luận chung về Nhà nước-Pháp luật nhằm tạo ra các căn cứ lý luận
cho việc kiến giải các vấn đề cơ bản như : quan hệ pháp luật, hành vi pháp luật,
năng lực chủ thể Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng như : phân
tích, tổng hợp, so sánh, logic biện chứng
V Đ óng góp của Luán án
- Luận án đã đi sâu nghiên cứu m ột cách có hệ thống, khoa học đối với
để tài, vì vậy đã phân tích các cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về những
yếu tố cơ bản của quan hệ pháp luật Thông qua đó Luận án đã nêu lên những
thuộc tính Dhức tạp của mỗi vếu tố trong nhận thức luận, nêu lên những điểm
chưa chính xác, phù hợp của các ý kiến đưa ra luận giải
- Nghiên cứu lý luận về tính hiện thực của quan hệ pháp luật, Luận án
đã gắn liền với thực tế nước ta, nêu lên được những bất hợp lý trong xây dựng,
thực hiện pháp luật và đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại đó
- Luận án được coi như một công trình chuyên khảo đầu tiên về quan hệ
pháp luật, có thể sử dụng phục vụ cho công tác nghiên cứu, giàns: dạy ở những
mức độ cần thiết nhất định
Vĩ Bỏ cuc cua Lưán án Luận án gồm phán mờ dầu ba chương, kết
luận, muc lục và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7Luận án Thạc SV Luật học
CHƯƠNG 1
K H Á I N I Ệ M C H U N G V Ể Q U A N H Ệ P H Á P L U Ậ T
1.1 Đ ỉnh n gh ĩa quan hẻ pháp luàt
Như chúng ta đã biết, quan hệ pháp luật tổn tại trong đời sống xã hội có giai cấp như là một tất yếu khách quan và trong hệ thống các quan hệ xã hội thì
cơ số quan hệ pháp luật là rất lớn Vậy quan hệ pháp luật là gì ?
Trước hết cần phải thấy pháp luật là một hình thức, một phương tiện quản lý xã hội có tính lịch sử - xã hội Điều này có nghĩa là pháp luật ra đời muộn hơn nhiều so với con người, so với nhu cầu và thực tiễn quản lý các hoạt động của con người Pháp luật được hiểu là hệ thống các các qui tắc xử sự do Nhà nước đặt ra nhằm đưa đến việc thiết lập, kiểm soát, đánh giá các hoạt động
xã hội của con người trong điều kiện có giai cấp Sự hình thành, tổn tại của pháp luật gắn liền với nhu cầu điều chỉnh xã hội và mất đi khi xã hội không còn nhu cầu đó Quá trình điều chỉnh pháp luật đưa đến việc tạo lập các quan hệ pháp luật cụ thể Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội nảy sinh trong đời sống xã hội được các qui phạm pháp luật điều chỉnh
Trong chủ nghĩa xã hội còn tổn tại nhu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, vì vậy việc tồn tại các quan hệ pháp luật với vai trò tích cực của nó là không thể thiếu được Điều chỉnh pháp luật là con đường kiến tạo quan hệ pháp luật, tuy vậy không phải.rọọi.mối qụạn hệ xã hội đều phải chịu sự điều chinh
đó Quá trình này phụ thuộc vào khả năng nhận thức hiện thực khách quan của giai cấp cầm quyển, khả năng đánh giá vai trò từng loại quan hệ xã hội trong dời sống chính trị - xã hội và quan hệ thống trị cùa giai cấp đó
Bán thân các qui phạm xã hội nói chung, các qui phạm pháp luật nói riéniĩ khỏng đề ra các quan hệ xã hội, các yếu tố này trước hết là dóc lập với nhau, nhờ có điều chinh pháp luật mà gán bó với nhau bãns quan hệ pháp luật
4
Trang 8Luận án Thạc sỹ Luật học
Như vậy quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội nay quan hệ
xã hội ìà nội dung vặt chất của quan hẹ pháp luật tương ứnơ
Pháp luật là hiện tượng lịch sử - xã hội có tính ổn định tươns dối do điều kiện kinh tế - xã hội qui định, vì vậy việc tạo lập các quan hệ pháp luật cũne chỉ là tươns đối Không có pháp luật bất biến cũng như không có quan hệ pháp luật vĩnh hằng, không thay đổi
Người ta vẫn thường nói quan hệ pháp luật là một dạng quan hệ xã hội dặc biệt, vậy tính đặc biệt của loại quan hệ này thể hiện ở chỗ nào ? Trước hết
đó là sự hình thành và tồn tại của nó trên cơ sở qui phạm pháp luật sau đó là cách thức xử sự của chủ thể, cơ cấu chủ thể, các biện pháp đảm bảo, thời gian tổn tại Quan điểm cho rằng quan hệ pháp luật là một bộ phận quan hệ xã hội cũng cần hiểu cho đúng với bản chất cấu trúc của nó Nếu coi quan hệ xã hội là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ gồm nhiều bộ phận thì mới có quan niệm quan
hệ pháp luật là một bộ phận hợp thành Trong một chỉnh thể thống nhất (về mặt
kỹ thuật) nếu thiếu một bộ phận nào thì bản thân cấu trúc đó không tồn tại hoặc
có tổn tại nhưne không là nó Kết cấu có tính Lôgíc này lại không phu hợp với
vị trí quan hệ pháp luật trong hệ thống quan hệ xã hội, vì nếu mất đi quan hệ pháp luật thì quan hệ xã hội vần tồn tại Do đó cách đặt vấn đề trên cần phải hiểu rõ bộ phận, như là m ột dạng, một phần có tính tương đối trong cơ số chung quan hệ xã hội chứ không phải là một bộ phận trong cấu tạo kỹ thuật của quan
hệ xã hội cụ thể
Quan hệ xã hội có qui luật vận động riêng của mình, điều chỉnh pháp luật chỉ tạo nên hình thức pháp lý, môi trường pháp lý cho quan hệ xã hội phát triển trong sự kết hợp giữa qui luật nội tại của nó với mục đích xã hội cần điều chính Điều chỉnh pháp luật chỉ có ý nghĩa và hiệu quả trên cơ sở tôn trọng qui luật khách quan vốn có của quan hệ xã hội Khả năng nắm bất nhay cảm của criai cấp cầm quyền trước qui luật đó là tiền đề cần thiết cho việc xây dựng pháp luật, tác động pháp luật, định hoá pháp lý quyền, nghĩa vu phù hợp với yêu cầu thực tiễn của nó
5
Trang 9Luận án Thạc sỹ Luật học
Tam thời cnúns ta phàn chia quan hệ xã hội iàm hai ỉoại tươnc ứnc với
nó co hai cách điểu chinh pháp luật khác nhau và kết quá tạo iập các quan hệ
pháp luật cũng khác nhau
- Loại quan hệ xã hội thứ n h ấ t: Đây là loại quan hệ xã hội có tính tích
cực có V n s h ĩa đối với sự tồn tại, phát triển của giai cấp thống trị, vì vậy họ
dùng pháp luật đế thúc đẩy sự phát triển và nhân rộng nó nhiểu hơn Thông
thường qui luật phát triển của loại quan hệ xã hội này được xã hội, nhà nước
chấp nhận Chúng ta thử mỏ hình hoá loại quan hệ này như sau :
ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
- Loại quan hệ xã hội thứ h a i: Tạm gọi là những quan hệ xã hội có
tính chất tiêu cực nảy sinh trong xã hội do nhu cầu không chính đáng của con
người do đó không được nhà nước, xã hội thừa nhận Bằng qui phạm pháp luật,
Nhà nước cũng như giai cấp cầm quyển ngăn cản sự phát triển, trói buộc hoặc
triệt tiêu loại quan hệ này ở loại quan hệ này bản thân nó không hình thành
nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật, giữa nó với pháp luật có sự xung đột do mục
đích trái ngược nhau :
ĐIỀU CHÍNH PHÁP LUẬT
6
Trang 10Luẩn án Thac s \ Luat hoc
Như vậy ờ hai loại quan hệ xã hội trên khi trớ thành sự kiện pháp [ý tươníi ứng đê phát sinh các quan hệ pháp luật đã có sự khác nhau Iìhất định Loại quan hệ xã hội thứ nhất khi trớ thành sự kiện pháp lý dưa đến việc thiết lập các quan hệ pháp luật có tính phổ biến Thông qua hoạt độns thực hiện pháp luật một cách tự giác của chủ thể hoặc từ hoạt động cụ thế hoá quyền, nshĩa vụ trong áp dụng pháp luật Loại quan hệ xã hội thứ hai trở thành sự kiện pháp lý khi có hành vi phạm pháp luật trên thực tế và Nhà nước áp dụng chế độ trách nhiệm pháp lý thông qua hoạt động cá biệt hoá chế tài qui phạm pháp luật Như vậy ở loại quan hệ pháp luật này Nhà nước đã không chấp nhận với hành vi cúa chủ thể, vì vậy đã áp dụng chế độ trách nhiệm pháp lý để khôi phuc trật tự quan
hệ xã hội
Ngoài hai loại quan hệ pháp luật được hình thành từ quan hệ xã hội trên thì còn có loại quan hệ xã hội ở dạng “trung tính”, nghĩa là nó không có lợi mà cũng vô hại hoặc là quan hệ xã hội không do pháp luật điều chỉnh, thông thường nó không là sự kiện pháp lý, không đem đến việc thiết lập các quan hệ pháp luật cụ the
Như vậy, quan hệ pháp luật là một bộ phận cấu thành của loàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội tổn tại trong đời sống xã hội có giai cấp Tuy nhiên có những quan hệ xã hội tổn tại là quan hệ pháp luật, ở loại quan hệ này không thể tón tại ngoài hình thức pháp lý, ngoài qui phạm pháp luật, (ví dụ : quan hệ tố tụng) Loại quan hệ chỉ tổn tại dưới hình thức pháp luật đã xác định cho chúng nếu khỏng tuân thủ hình thức pháp lý đó là vi phạm pháp luật Thưc tiễn có những quan hệ tồn tại không dưới hình thức pháp lý, mặc dù nội dung vật chất của quan hệ đó được pháp luật qui định Việc không tuàn thu hình thức pháp [ý trons trườnơ họp này khônơ phải là vi phạm pháp luật, các bèn tham gia quan
hệ đó không thể nhờ Nhà nước, pháp luật can thiệp (ví du : một công dân A cho
na ười bạn vay tiền nhưns đã khò 112 có một chứníỊ cứ nào đế lại khi xáy ra tranh chấp thì Nhà nước không thể giúp iZÌ cho còng dân A đươc mạc dù có véu cầu can thiệp) Tuy nhiên các bên tham gia có thế tự giải quyết nhưng trong trướng hợp này có thế coi các quan hệ đó là quan hệ pháp luật hay khỏng ?
7
Trang 11Hay : Quan hệ pháp luật là những quan hệ có sự gắn bó, tác động hữu
cơ giữa quy phạm pháp luật với những sự kiện pháp lý tương ứng, qua đó chủ thể đạt được những mục đích của mình phù hợp với pháp luật
1.2 B án ch á t của q u an hê pháp lu â t
Với quan niệm đời sống pháp lý là tổng thể các quan hệ pháp luật, có người đã cho rằng quan hệ pháp luật là quan hệ đời thường được điều chỉnh bởi qui phạm pháp luật Nhưng cho dù được hình thành bằng cách nào đi chăng nữa thì không có nghĩa mọi quan hệ xã hội dểu là quan hệ pháp luật được Vậy tất yếu ở đây phải có sự khác nhau nhất định giữa quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật, sự khác nhau cơ bản về bản chất, cách thức tổn tại của hai loại quan hệ đó
Bản chất của quan hệ pháp luật là những thuộc tính bên trong của nó để khẳnc định nó và phân biệt nó với các loại quan hệ xã hội khác Quan hệ pháp luật bị ảnh hường một cách trực tiếp bởi những yếu tố cơ bản sau:
+ Bản chất ciia pháp luật :
Có thể nói bản chất của pháp luật và những giá trị của nó được bộc lộ một cách trực tiếp thông qua hệ thống qui phạm pháp luật thực định và hệ thống quan hệ pháp luật cu thể Giả sử ở đây chỉ tổn tại riêng lẻ hệ thống qui phạm pháp luật thì thật sự khá nãng trẽn của nó bị hạn chế rất lớn, dó chi là sự ghi nhặn bán chát pháp lý mà thôi Vấn đề cơ bán là bộc lộ được bản chất thực tê của pháp luật băng cách nào, đây mới là vai trò của quan hệ pháp luật Với vị
X
Trang 12+ Điều kiện k in h tế - xã hội : Quan hệ pháp luật trong sự hình thành, tổn tại của mình chịu sự tác động, quy định của điều kiện kinh tế -xã hội từ những góc độ sau :
- Bản thân cơ sở kinh tế -xã hội quy định nội dung - phương hướng điều chỉnh của pháp luật nói chung, của quan hệ pháp luật cụ thể nói riêng Xuất phát từ nhu cầu thực tế của các quan hệ kinh tế - xã hội, nhà nước ban hành quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Hoạt động sáng tạo pháp luật phải tôn trọng các quy luật của kinh tế - xã hội Thực ra đó chẳng qua là sự ghi nhận các biến đổi của quan hệ kinh tế mà thôi Nội dung của quy phạm pháp luật phải phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội thì pháp luật mới “sống”
và có hiệu quả Nói cách khác sự phù hợp đó sẽ đem lại sự thống nhất của quan
hệ pháp lý với các quan hệ vật chất - pháp luật
- Những đảm bảo kinh tế - xã hội để quan hệ pháp luật được thực hiện trèn thực tế Đây là vếu tố quan trọns nhất vì nếu không được đảm bảo đầy đủ
về kinh tế xã hội thì các chủ thể không có khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ cùa mình đươc
Như vậy, khi các quan hệ pháp luật không được thực hiện trên thưc tế
do bất kỳ nuưvẻn nhàn đem lại đểu làm giảm vai trò, giá trị pháp luật, mất hiệu qua pháp luật và triệt tiêu thuộc tính ưu việt cùa bản chất quan hộ pháp luật như
là một phương tiện cơ bán nhằm cá thể hoá quyền, nghĩa vu Rõ ràng cơ sờ kinh
9
Trang 13+ Bản chất nhà nước Hèn quan đến các quan hệ pháp luật cụ thể :
Đúng là quan hệ pháp luật được phát sinh, tổn tại trên cơ sở các quy phạm pháp luật thực định, nhưng bên cạnh đó nó còn phải chịu sự quy định của nhà nước thông qua các chính sách cụ thể trong từng giai đoạn, đối với từng ĩĩnh vực quan hệ xã hội
Tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội mà nhà nước đưa r,a các quyết sách, giải pháp kịp thời nhất cho phù hợp Các quan hệ pháp luật phát sinh từ lĩnh vực nào đó cần đảm bảo tính hợp pháp từ hai góc độ phù hợp là quy phạm thực định tương ứng và chính sách, quy định của nhà nước có liên quan hiện hành Ví dụ : Theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp lệnh vể nhà ở thì công dân có quyền sở hữu về nhà ở của mình Tuy vậy những nhà ờ thuộc diện thu hổi trons cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam hoặc trong cải cách ruộng đất
ờ miền Bắc trước đây theo chính sách của Nhà nước là không xem xét lại, điều này có nghĩa là không có quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh trong việc hoàn trả nhà (trừ những trường hợp cho Nhà nước mượn nhà hoậc do Nhà nước trưng dung tạm thời mà vẫn sừ dụng
+ C ác vè 11 tỏ xã hội : Quan hệ pháp luật là nhữnơ quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điểu chinh Trẽn thực tế mỏi quan hệ xã hội lại chịu sự điều chinh của nhiều loại quv phạm xã hội khác nhau, nghĩa là có nhiều chuẩn mưc tiêu chí khác nhau đế đánh aiá Do vâv việc tao lập các quan hệ pháp luật, muc
Xcin hiên pháp 1980 của nước cỏniz hoa xã hội chu nghĩa Viêt Nam, Điéu 62.
iO
Trang 14Luận án Thạc sỹ Luật học
đích cua sự điều chinh nhà nước cần phái tính đẽn sự phu họp với các quv pham
xã hội khác, đống thời phải xem xét tính hữu ích tốt nhất cho các giá trị truvền
thống dân tộc Đặc biệt, các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình áp
dụng pháp luật thì rõ ràng tính quyền lực cùa nhà nước phải được xem xét tỉ mí,
cẩn thận đảm bảo hài hoà giữa hợp pháp, hợp lý và hợp tình thì hiệu quá mới
cao Việc thực hiện quan hệ pháp luật cũng không thể không chú ý đến các vếu
tố khác như : dư luận xã hội, khuynh hướng, trào lưu xã hội, tính phổ cập trong
xã hội vì quan hệ pháp luật được coi là dạng quan hệ xã hội đặc biệt
Như vậy, các yếu tố xã hội đã tạo nên môi trường, điều kiện xã hội cho
phép đánh giá các hiện tượng xã hội, hành vi xã hội và điéu này lại ảnh hưởng
trực tiếp tới các quan hệ pháp luật cụ thể Thông qua sự tác động hữu cơ đó, sự
ảnh hưởng đến các thuộc tírih bản chất của quan hệ pháp luật là tất yếu khách
quan
Nghiên cứu bản chất của quan hệ pháp luật chúng ta thấy :
- Quan hệ pháp luật luôn mang tính giai cấp: Quá trình điểu chỉnh
pháp luật, tạo lập các quan hệ pháp luật là quá trình tỏ rõ thái độ của giai cấp
cầm quyền đối với từng quan hệ xã hội cụ thể Tính giai cấp thể hiện rõ nét
thông qua quá trình này, đó là việc xác định phạm vi, cách thức kiến tạo quan
hệ pháp luật bảo đảm tính khả thi của quan hệ pháp luật Tính giai cấp của quan
hệ pháp luật cũng đã thể hiện ngay trong việc xác định cơ cấu chủ thể, quyền
nghĩa vụ pháp lý, các biện pháp đảm bảo thực hiện xử lý khi có vi phạm pháp
luật Quan hệ pháp luật suy cho cùng là cách thức cá thể hoá quyền lực của giai
cấp cầm quyền cách thức vận hành quyền lực trong quản lý xã hội của giai cấp
đó, Bản chất của quyền lực được thể hiện rõ trong việc xác định cơ số quyền
năng và phạm vi, nghĩa vụ, trong mệnh lệnh thức của Nhà nước (với rư cách là-
chủ thể) tron" một số quan hệ pháp luật cụ thể Tham gia quan hệ pháp luật chú
thế bi rànc buòc troniỉ sziới han của sư lưa chọn cách thức thưc hiên quyển, v_ V—■ • . . .
nghĩa vu pháp lv theo vèu cầu của pháp luật
Trang 15Luận án l hạc sy Luật học
Thực tiễn đã chứn<z minh ràng trorm quan hệ pháp luật, loại quan hệ nào
có sự thum líia trực tiếp cùa Nhà nước thì tính quyền lực, tính giai cấp mới được bộc lộ, thể hiện, còn các loại quan hệ khác không có đặc điếm đó Thực tê ở một số quan hệ, Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thế cụ thể nhưng Nhà
nước có quyền thừa nhận I1Ó hay k hông ? có tạo điều kiện cho quan hệ đó tồn
tại, phát triển hay không ? Nếu có hành vi xâm hại đến sự an toàn của loại quan
hệ đó thì Nhà nước can thiệp nhằm bảo đảm sự tổn tại phát triển của nó
Khi nói tới quan hệ pháp luật chúng ta thấy có hai yếu tố tương tác lẫn nhau đó là quan hệ xã hội (quan hệ vật chất) và sự điều chỉnh bằng pháp luật để tạo nên quan hệ pháp lý cụ thể Yếu tố thứ nhất quan hệ xã hội nó xuất hiện, tồn tại khách quan, bản thân nó chưa hàm chứa trước một yếu tố quyền lực Nhà nước nào Vậy tính quyền lực Nhà nước, quyền lực giai cấp được hiện hữu từ yếu tố tương tác thứ hai Nhưng quan hệ pháp luật - là quan hệ xã hội chỉ tổn tại trèn các qui phạm pháp luật thì tính quyền lực càng thể hiện rõ hơn kể từ thòi điểm quan hệ đó phát sinh
Trong chủ nghĩa xã hội, các quan hệ pháp luật cũng là phương thức truyền tải hoá quyền lực nhân dân lao động trên các lĩnh vực cụ thể Do đó nhận thức về vai trò cũng như quyền, nghĩa vụ của chủ thể là ý thức được trách nhiệm của công dân trước quyền lực nhân dân, trước yêu cầu xã hội Đổng thời, việc bảo đảm dựa trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, các điều kiện để các chú thể thực hiện tốt quvền, nghĩa vụ là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội
Như vậy, trong chủ nghĩa xã hội thông qua các quan hệ pháp luật thì quyền lực nhân dân phần nào đó cũng phản ánh, được kiểm tra, đánh giá việc mức độ hiện thực của nó, đổng thời khả năng và tính chất dân chủ cũng được bộc lộ Hình thành các quan hệ pháp luật tích cực, nàng cao tính hiện thực của các quan hệ hệ pháp luật là con dường quan trọng đưa đến việc củng cố, tăng cườn<z tính chất quyền lực nhân dân dưới chế độ ta Đây cũng là con đường đưa đến việc cung cố, tăng cường bán chất tốt đẹp của các quan hệ pháp luật nhầm phát huy vai trò cua nó trong việc trật tư hoá đời sống xã hội
12
Trang 16Luận án Thạc sỹ Luật học
- Ban chất xã hội cứa quan hè pháp luật: Quan hệ pháp luật là mỏt
danỈI quan hệ xã hòi đăc biêt, khi nó hình thành đều xuất phát từ nhu can hiên i • • • • 7 íthực cua đời sống xã hội có giai cấp Loại bò tính giai cấp của quan hệ pháp luật ra thì thực chất quan hệ pháp luật cũnơ là quan hệ của con nsười, thể hiện một hình thức nào đó của sự trao đổi, quản lý đối với đời sống cộng đổng con người phù hợp với từng mục đích và nội dung cụ thể Bản thân nội dung vật chất của các quan hệ pháp luật sẽ cộng với bản chất xã hội của pháp luật tạo nên một dung lượng “xã hội” trong các quan hệ pháp luật cụ thể
Thuộc tính xã hội của quan hệ pháp luật có mối quan hệ hữu cơ với tính khách quan, phổ biến, điển hình của quan hệ pháp luật Trong chủ nshĩa xã hội do tính xã hội của pháp luật ngày càng được mở rộng vì vậy hàm lượng “xã hội” trong các quan hệ pháp luật cụ thể càng được khẳng định Do cơ sở kinh tế
và kết cấu xã hội có tính đặc thù riêng khác với xã hội trước mà các thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội của pháp luật, quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ngày càng xích lại gần nhau để hoàn thiện dần đi đến tiêu vong Điều đó có nghĩa là khi quyền lực của nhân dân lao động được mở rộng thông qua các quan hệ pháp luật thì cũng có nghĩa là bản chất xã hội của quan hệ pháp luật đó được nâng cao Đó là một kiểu pháp luật mới vì con người, vì tiến bộ xã hội và tương ứng đó là hệ thống các quan hệ pháp luật vì sự bình ổn, phát triển, công bằng của con người Nó không ngừng hoàn thiện dần để pháp luật tự tiêu vong
và bản chất pháp lý của các quan hệ pháp luật cũng tự mất đi Sự tổn tại của pháp luật và quan hệ pháp luật trong điều kiện còn có sự khác biệt của xã hội xã hội chủ nghĩa là điều tất yếu khách quan
1.3 Đ ăc điếm của q uan hẻ pháp ỉuât
Trước hết phải khẳng định quan hệ pháp luật là một dạng quan hệ xã hội đặc biệt do vậy nó có đầy đủ những đặc điểm chung, cơ bản của quan hệ xã hỏi
n h ư :
- Quan hệ xã hội là quan hệ cùa con người gắn liền với điều kiện kinh tê
- xã hỏi và các hình thái tư tưởng
13
Trang 17Luận án Thạc sỹ Luật học
- Quan hệ xã hội m ans đặc tính tự nhiên - sinh học và đặc lính xã hội của
CUI1 i m ư ò i
- Quan hệ xã hội luôn luôn gắn liền với điều chính xã hội
Bên cạnh đó quan hệ pháp luật còn có nhữnơ đặc điếm riêng m ans tính đặc thù của minh :
1.3.1 Quan hệ pháp luật là những quan hệ x ã hội có ý chí
Khi tham gia quan hệ pháp luật các chủ thể phần lớn là có đầy đủ năng lực chủ thể Điều này có nghĩa là phần lớn các chủ thể đó có khả năng nhận thức vể quvền, nghĩa vụ và các điều kiện có liên quan, có khả nâng điều chỉnh
và kiểm soát hành vi của mình Các chủ thể ý thức được khả nâng mà pháp luật yêu cầu mình phải làm gì ? được làm gì ? không được làm gì ? khả năng lựa chọn cách thức xử sự cho phù hợp với điều kiện cho phép Các quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở các qui phạm pháp luật thể hiện ý chí của con người, kết quả hoạt động có ý thức của con người Các quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở qui phạm pháp luật thể hiện ý chí Nhà nước (quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự) hoặc trên cơ sở ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật được Nhà nước thừa nhận (quan hệ hợp đồng, quan hệ kết hôn)
T hôns qua ý chí, các quan hệ xã hội từ trạng thái vô định, chưa rõ ràng
đã chuyển sang trạng thái cụ thể có cơ cấu chủ thể cụ thể Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội cụ thể náy sinh giữa những chủ thể xác định Tham gia quan hệ pháp luật các chủ thể có quyền lựa chọn phương án thực hiện pháp luật phù hợp với mình, có hiệu quả nhất Đổng thời không cho phép một hành vi cản trở việc thực hiện quyền chủ thể, yêu cầu các chủ thể liên quan tôn trọng những cam kết
đã có hoặc các nghĩa vu theo qui định cùa pháp luật Trong những trường hơp quvền của mình bị vi pham thì chủ thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thám quvén can rhiep, giúp đỡ Những trường hợp khách quan đưa lại đã làm cho khá nán2 thực hiện imhĩa vụ chú thế khó khán thì họ cũng đươc quyén yéu cáu các chu thể khác cũnu như Nhà nước xem xét
14
Trang 18Luận án Thạc sỹ Luật học
Nếu phàn tích một cách đầy đủ, tỉ mi bằns cách nhìn toàn diện hoạt
độn2 của chủ thể ta sẽ thấv được V chí cùa chu thể, V chí của quan hệ p h á p luật
cụ thể đó Xét về mặt lý luận thì cái khó khăn nhất là việc chuyển nhu cầu nội
tại của chủ thể thành lợi ích, thành động lực thúc đẩy chủ thể hành động một
cách tích cực, có mục đích rõ ràng Điều này chỉ đạt được khi chủ thể có quá
trình nhận thức cảm tính và tư duy một cách nghiêm túc nhằm đối chiếu với qui
phạm pháp luật có liên quan Nhận thức và ý chí của chủ thể càng thể hiện rõ
nét khi họ tham gia những loại quan hệ pháp luật không có sự tham gia trực tiếp
của Nhà nước Bởi ở những loại quan hệ này chủ thể hoàn toàn độc lập, chủ
động trong mọi hành vi nhằm hướng tới mục đích của mình cũng như khách thể
chung của quan hệ pháp luật đó Ví dụ trong nền kinh tế thị trường hoạt động
kinh doanh đầy phức tạp và sống còn, có biết bao mối quan hệ chằng chịt đòi
hỏi chủ thể phải có khả năng kế hoạch, kinh doanh tốt mới dám tham gia các
quan hệ pháp luật về kinh tế, thương mại
1.3.2 Quan hệ pháp luật có cơ sở phát sinh, tồn tại là quy phạm pháp luật
Tham gia vào cơ chế điều chỉnh pháp luật, qui phạm pháp luật được coi
là cơ sở pháp lý, là tiền để pháp lý cho việc vận hành cơ chế, cũng như đình chỉ
sửa đổi, huỷ bỏ toàn bộ hoặc một phần các hoạt động của cơ chế đó Nhờ có qui
phạm pháp luật và hoạt động thi hành, áp dụng nó mà các quan hệ pháp luật cụ
thể xuất hiện hay nhờ có nó mà các quan hệ xã hội được mang bản chất pháp
lý nhất định Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật có mối quan hệ khăng
khít trong quá trình tồn tại chính hai yếu tố đó lại là tiền đề của nhau Qui
phạm pháp luật cần được quan hệ pháp luật kiểm tra tính xác thực, phù hợp của
nó ngược lại quan hệ pháp luật cần qui phạm pháp luật mó hình hoá nó phản
ánh trước những đặc điểm, yêu cầu cơ bản của nó
Lê-nin đã nhiều lần nhấn mạnh sư cần thiết phải xác định rõ ràng chính
xác chặt chẽ các qui phạm pháp luật, đổng thời đặc biệt lưu ý đến sự bảo đảm
cho các qui phạm pháp luật được thực hiện, việc diễn đạt các qui phạm pháp
15
Trang 19Luận án Thạc sỹ Luật học
luật thật rõ ràrm và chính xác, xác định đúng đối tượníi tác độne, sử dụnu mọi biện pháp, phươnc tiện kỹ thuật, pháp lý để đám bào được tính khá thi cùa qui phạm pháp luật Lè-nin cũng đã phán biệt khả nãng của pháp luật với khá năng của hoạt độns thực tiễn, nêu bật vấn đề có tính cơ sờ của quy phạm pháp luật và
sư cần thiết phải kiểm tra việc thực hiện nó thông qua các quan hệ pháp luật cụ thể'
1.3.3 Quan hệ pháp luật có nội dung cụ thể, xác định
Đây là đặc điểm cơ bản, quan trọng của quan hệ pháp luật vì chính đặc điểm này cho phép ta phàn biệt một cách rõ ràng nhất với các quan hệ xã hội khác, ở mỗi quan hệ pháp luật cụ thể có cơ cấu chủ thể khác nhau và điều tất nhiên là bằng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật (trong một số quan hệ) thì Nhà nước tính đến khả năng cá thể hoá quyển, nghĩa vụ pháp lý càng cao càng tốt Tham gia quan hệ pháp luật, phạm trù quyền, nghĩa vụ chủ thể phải được qui định giải quyết bằng pháp luật, thực hiện nó thông qua pháp luật, hạn chế nó (trong m ột số quan hệ) bằng pháp luật, bảo vệ nó cũng phải bằng pháp luật Mọi cơ chế hành vi pháp luật của chủ thể phải được qui định, kiểm tra, đánh giá bằng pháp luật, tránh hiện tượng tuỳ tiện lạm dụng quyền hoặc bỏ mặc nghĩa vụ
So với các quan hệ xã hội khác, các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật có được một phương thức xử sự cụ thể, rõ ràng hơn Điều thuận lợi đó bắt nguồn từ đặc điểm đặc thù của pháp luật, từ nhận thức pháp lý và các hoạt động pháp lý thực tiễn Tính chặt chẽ, cụ thế đó thể hiện trước hết ở các quy định hiện hành của pháp luật, trong các hoạt động cá thể hoá quyền, nghĩa vụ và cá biệt hoá chế tài pháp luật Ngoài ra có thể nhìn thấy rõ nét từ các yếu tố cơ bản tạo lập nên địa vị pháp lý của chủ thể trong các quan hệ pháp lu ậ t:
- Số lượng quyền, nghĩa vụ thực có đối với các chủ thể
- Phạm vi, giới hạn và mức dộ cán thiết của quyền, nghĩa vụ
Xem Lẽnin Toàn tập, tập 32, tr 40 Ban liếng Nga.
16
Trang 20Luận án Thạc sỹ Luật học
- Những tiêu chí, thước đo m ans tinh kỹ thuật - pháp lý nhãm đánh ma,kiếm tra việc thưc hiện quyền, nghĩa vụ của chủ thế
- Thời hạn, thời hiệu cần thiết cho việc thực hiện quyền, nshĩa vụ chính
và quyền, nghĩa vụ mới phát sinh
- Phương thức thực hiện quyền, nghĩa vụ, khả năng thừa nhận vô điều kiện quyền, nghĩa vụ (trong những điều kiện nhất định, ví dụ tron2 các quan hệ
sở hữu), khả năng đối lưu, chuyển đổi quyền, nghĩa vụ
- Các biện pháp khắc phục, xử lý khi có tranh chấp về quyển năns củachủ thể
- Sự phù hợp của quan hệ pháp luật (xét từ góc độ quyển năng) với hệ thống quan hệ pháp luật, quan hệ xã hội khác, với phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc
Nhìn chung, mỗi quan hệ pháp luật đều tổn tại trên hai phương diện : phương diện lý thuyết và phương diện thực tế Hai phương diện này có quan hệ hữu cơ với nhau, là tiền đề và kết quả của nhau
Phương diện lý thuyết thực chất là quan hệ pháp lý cần và đủ (theo quy định của pháp luật) cho quan hệ vật chất - pháp luật tương ứng Ở đây nó thể
hiện trên hai cấp độ :
- Cấp độ thứ nhất là căn cứ vào những quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan trực tiếp đến sự kiện pháp lý, quan hệ vật chất - pháp luật tương ứng
- Cấp độ thứ hai dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật “khung” đó thì các cam kết, thoả thuận bổ sung cần thiết được ghi nhận và bảo đảm tính pháp lý bắt buộc đối với các chủ thể
Ví dụ : Trong ly hòn, việc giải quyết các vụ án cụ thê đòi hỏi Toà án phải dựa trên các quy phạm pháp luật của Luật Hôn nhân Gia đình (Điều 40) Ngoài
ra Toà án còn phải xem xét "đến những cam kết, thoả thuận của đương sự trong việc phàn chia tài sản, nuôi dưỡng con, các nghĩa vụ có liên quan nêu thấy hợp lý thì ghi nhận trong quyết định ly hôn 1“ • ự Ị r
17
Trang 21Luận án Thạc sỹ Luảt hoc
Như vậy phươniĩ diện iv thuyết của quan hệ đã múp cho quan ỉlệ vật chất - pháp iuật đó cỏ cơ sờ phap lý cua sự tòn tại, đây là quá trình chuyên đối
từ trạng thái chung đến trạne thái xác định của quan hệ Quá trình nàv đòi hỏi phải đảm bảo tính khách quan, chính xác, tỷ mi thì khả năng thực tế của quan
ý kiến đã cho rằng, quan hệ pháp luật, ngoài yếu tố quyền - nghĩa vụ được coi
là nội dùng cơ bản thì điều kiện, môi trường, các tác nghiệp vật chất, kỹ thuật cũng phải được coi như là một yếu tố nội dung, thiếu nó thì quan hệ pháp luật không hình thành Ví dụ : Điều 60, 61 Hiến pháp 1980 của nước ta quy định công dân chữa bệnh, học tập không phải trả tiền nhưng trên thực tế không thực hiện được vì thực trạng kinh tế -xã hội không đảm bảo1 Trong khi đó, Hội đổng
Bộ trưởng cũ (Chính phủ ngày nay) lại có quy định thu viện phí và học phí Phải nói rằng tính định hướng của hai quy phạm này là tốt nhưng chính vì chủ quan mà chúng ta làm cho pháp luật “chết” trên giấy, bên cạnh đó thêm một hành vi vi hiến kéo dài
Phương diện thực tế của quan hệ pháp luật là việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể Hay nói đó là phương diện “sống” của pháp luật, quan
hệ pháp luật thông qua các hành vi pháp luật tích cực của chủ thể Đây là thước
đo đánh giá sự phù hợp giữa hai phương diện của một quan hệ pháp luật cụ thể Cần thấy rằng sự phù hợp giữa hai phương diện trên chỉ là sự phù hợp có tính
kỹ thuật, hiệu quả pháp iuật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tô khác trong mối quan hệ theo chiều dọc, chiều ngang Không phải cứ có phương diện lý thuyêt được chuẩn bị đầy đủ thì phương diện thực tế không có khó khăn Một ví dụ
1 Xem Hiến pháp nãm 1980 cùa nước CHXHCN Việt Nam, Điéu 60, 61.
1K
Trang 22Luận án Thạc sỹ Luat học
sinh Jộng ư nước La về quan hệ sử dụng đất đai cho ihấv có vỏ vàn quv phạm
pháp iuặt ừ các cáp độ quy định nhưng hiệu quá cứa việc quan lý dất dai vẫn rất
thấp, quyển sờ hữu chú đất đai cúa toàn dân vẫn bị vi phạm nghiêm trọng ờ
nhiều địa phươne
Phươns diện thực tế của quan hệ pháp luât là phương thức xử sự của các
chủ thể tronơ thực hiện pháp luật vì vậy nó là sự lựa chọn một cách tiết kiệm
nhất về thời gian, chi phí vật chất, sức người của chủ thể Phải mang tính cụ
thể, chính xác cao thì các hành vi pháp lý thực tiễn của chủ thể mới nói lên điều đó
1.3.4 Quan hệ pháp luật là loại quan hệ cơ bẩn, điển hình, p h ổ biến trong xã hội
Quan hệ pháp luật là một dạng đặc biệt của quan “hệ xã hội Trong đời
sống con người thì quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật đa dạng, biến động,
chuyển hốa lẫn nhau Điều này cho thấy, có những nội dung vào thời điểm đó,
với loại chủ thể đó là quan hệ pháp lý, nhưng đối với chủ thể khác, thời gian
khác lại là quan hệ xã hội và ngược lại
Quan niệm phiến diện, một chiều cho rằng pháp luật và các hoạt động
về pháp luật (hoạt động pháp lý) là kết quả, biểu hiện của nhận thức chủ quan,
do vậy tính điển hình, phổ biến của quan hệ pháp luật phụ thuộc vào yếu tố đó
tron2 điều chỉnh pháp luật Đúng là có nhận thức chủ quan nhưng phải trên cơ
sở tôn trọng quy luật khách quan về sự vận động của các quan hệ xã hội, phải
ơạt bỏ sự tuỳ tiện, duy ý chí, nhìn nhận quan hệ xã hội trong trạng thái tĩnh
Tính điển hình, phổ biến của quan hệ pháp luật được hợp thống bởi hai thuộc
tính cơ bản sau :
- Tính "nổi trội", vượt lên trên của quan hệ xã hội được coi là quan hẹ
vật chất - pháp luật so với mặt bằng các quan hệ xã hội khác và nhu cầu điều
chỉnh xã hội
- Tính được pháp luật xác nhận, ghi nhặn và điều chỉnh kịp thời
19
Trang 23Luận án Thạc sỹ Luật học
Rõ ràng ỉà khỏng phải mọi quan hộ xã hội đổu có thể trờ thành quan hệ pháp luật được mà chí những quan hệ nằm trong diện tác động cùa pháp luật mới có khá năng đó Khá năns này thực sự xuất phát từ chính quan hệ xã hội
đó Bản thân nó phải "chứng tỏ" vị thế, ý nghĩa,, nhu cầu của mình là hơn hẳn
so với mật bàng quan hệ xã hội tại thời điểm đó Khòng phải do một "hoạt động
cơ học" nào trợ giúp quan hệ xã hội làm được điều đó mà do nững quy luật vận động nội tại của quan hệ đem lại Trên một bình diện rộng lớn, đa dạng cuủa quan hệ xã hội thì quan hệ vật chất - pháp luật là đã tạo ra được một nhu cầu buộc xã hội phải quan tâm hoàn thiện nó Và như vậy, tính điển hình, phổ biến của quan hệ pháp lý tương ứng trước hết phải được xuất phát từ đặc điểm điển hình, phổ biến của quan hệ vật chất - pháp luật được hàm chứa trong các quan
hệ đó
Ví dụ: Từ 1986 ở nước ta thực hiện sự chuyên đổi cơ chế quản lý kinh
tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường Thực tế tính "thị trường hoá" các quan hệ xã hội ngày càng lớn và hợp quy luật nhưng nó vẫn bị ràng buộc bởi chế độ sở hữu theo quy định của Hiến pháp 1980 Như vậy, quan hệ sở hữu có tính nền tảng đã tỏ rõ vị thế, tầm quan trọng của mình, khẳng định một nhu cầu cần đổi mới và hoàn thiện nó một cách bức xúc để tạo tiền đề cho việc hình thành, vận hành các quan hệ khác Bằng việc ra đời Hiến pháp 1992 với quy định đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế đã đáp ứng sự đòi hỏi đó Đây
là cơ sở pháp lý quan trọng cho phép tạo lập các quan hệ pháp lý cụ thể đối với quan hệ vật chất - pháp luật tương ứng của nền kinh tế thị trường ở nước ta
Quan hệ vật chất - pháp luật (trong quan hệ pháp luật) có vai trò quan trọng trong việc xác định một sự quan tâm của xã hội như thê nào, một khả nâng điều chỉnh Nhà nước đến đâu, một sự hoàn thiện về nó ra sao Nếu không xem xét các góc độ đó thì việc tạo lập các quan hệ pháp lý tương ứng sẽ không
có sự phù hợp giữa hình thức với nội dung trong quan hệ pháp luật cụ thế
Việc điều chinh pháp luật và được pháp luật điều chính của quan hệ xã hội nơoài yếu tố cơ bản trên còn phụ thuộc vào mức độ nhạy cám, khá náng
2D
Trang 24Luận án Thạc sỹ Luật học
nhận thức chù quan trước auv luật khách quan, tất yếu của giai cấp rhống trị Con đường nhận thức chủ quan (gổm nhận thức cảm tính và lý tính) thường đi sau sự biến đổi của các quan hệ xã hội, vì vậy việc xây clựng các quy phạm pháp luật, việc lựa chọn phương pháp tác động pháp luật cho phù hợp là rất khó khăn
Thực tiễn cũng cho thấy đặc điểm điển hình, phổ biến của quan hệ pháp luật ngoài việc được bộc lộ qua hai thuộc tính hợp thống trên còn được thể hiện
cả trong mục đích, ý nghĩa xã hội, vai trò của nó trong đời sống pháp lý hiện thực Gắn liền vói đặc điểm này thì quan hệ pháp luật, trong bản chất của nó bao giờ cũng mang tính côns khai, đơn nghĩa và không ngừng thúc đẩy sự phát triển của các nhân tố chung
1.3.5 Quan hệ pháp luật có sự thống nhất giữa hình thức và nội dung
Quan hệ xã hội được điểu chỉnh bởi qui phạm pháp luật là quan hệ pháp luật Vậy thì bằng cách nào quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật ? Trong
xã hội có giai cấp thì có các quan hệ xã hội tổn tại dưới dạng quan hệ pháp luật Chính vì vậy mà có nhiều ý kiến đưa ra là qui phạm có xây dựng nên quan hệ pháp luật hay không ? qui phạm có “phát sinh” ra quan hệ pháp luật hay khôngv.v và v.v
Trong quá trình điều chỉnh bằng pháp luật, qui phạm pháp luật có thể đưa ra hình thức pháp lý cho quan hệ xã hội thực tế Qui phạm có thể xác định cách xử sự bắt buộc đối với dạng hành vi nhất định Do mở rộng phạm vi của việc điều chỉnh bằng pháp luật trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhiều quan hệ
xã hội được đưa vào dạng chỉ tồn tại bằng quan hệ pháp luật Như vậy quan hệ pháp luật là hình thức cần thiết của những quan hệ xã hội nhất định
Cần phân biệt quan hệ pháp luật với tính cách là quan hệ xã hội được điều chinh bàng pháp luật với hình thức pháp lý của một số dạng quan hệ xã hội rièna biệt Thuật ngữ “hình thức pháp lý” được áp dung theo nhiều nghĩa nó được hiểu là tổng hợp các qui phạm pháp luật, cũng có khi hiểu nó như là một
“chê định luật” trực tiếp xác định loại quan hệ kinh tê Chính ở nghĩa này mà
21
Trang 25Liiàn án TỈIŨC sỵ Ltiữi hoc
c Vlác dã sư (iunu "hình thức pháp lý" để thể hiện tính chát cua hợp đồng Khi nuhièn cứu về quan hệ trao đổi trong mối liên hệ của hànc hoá- tiền tệ C.Mác
đã chi ra ràng hợp đổng là hình thức pháp lý của các mối quan hệ đó1 Nói tóm lại “hình thức pháp lý “có nghĩa là có cơ sở tồn tại hoặc thể hiện bằng pháp luật, định chuấn các giá trị bằng pháp luật
Trên thực tế khái niệm hình thức pháp lý hoàn toàn khác với chế định pháp luật Chế định pháp luật thông thường gắn liền với ngành luật cụ thể là yếu tô cấu thành ngành luật Dấu hiệu nội dung các quan hệ xã hội được dùng
để phân chia chế định pháp luật, để phân tích pháp luật, hệ thống hoặc là xác định nhiệm vụ khác của khoa học pháp lý Khái niệm hình thức pháp lý của dạng quan hệ xã hội nhất định đựợc xây dựng xuất phát từ nội dung của chúng, cho nên khái niệm này gồm các qui phạm và chế định của các ngành luật khác nhau Khái niệm này cho phép lý giải đầy đủ hơn sự phù hợp của các phương tiện pháp lý được sử dụng với tính chất của quan hệ mục đích, hiệu quả và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh bằng pháp luật
Khái niệm hình thức pháp lý khác với khái niệm quan hệ pháp luật với tính cách là hình thức của quan hệ xã hội cụ thể ở phương diện trừu tượng Hình thức pháp lý của các dạng quan hệ xã hội nhất định vốn là tổng thể các qui phạm và chế định pháp luật là bộ phận hữu cơ của hệ thống pháp luật, nó là khái niệm trừu tượng Bản thân khái niệm quan hệ pháp luật cũng trừu tượng nhưng nó được dùng để chỉ quan hệ thực tế có quyền, nghĩa vụ pháp lý nhất định
Trong quan hệ pháp luật diễn ra bước đột biến về chất Các qui phạm qui định khả năng được thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi này hay hành vi khác đòi hỏi các hành vi thực tế phải phù hợp với chúng, ở đây diễn ra quá trình đó từ cái trừu tượns đến cái cụ thể, từ cái chung đến cái riêng Quan
hệ pháp luật với tính cách là hình thức của quan hệ xã hội cũng phải phù hơp với nội duns của nó
! Xem Mác - Ả ng ghen Toàn tập, tập 23 ĩr 94 Bán tiếng Nga.
22
Trang 26Luận án Thạc sỹ Luật học
Hình thức khỏim phải ià cái vỏ bọc mà cỏ thè Lách ròi nội duiiii, I1Ó có
thế can thiệp nội dunu, iàm biến dổi "chát" cùa nội đunỉĩ Không chi có nội
dung mà ngay cá hình thức cúa hiện tượng cũng thể hiện bán chất của nó Việc
xem xét hình thức tách rời nội dung cũns như nội dung độc lập với hình thức
chí có thế được áp dụng với tính cách là cách tiếp cận trừu rương về mặt khoa
học
Vấn để mối tương quan giữa hình thức và nội dung trong khoa học pháp
lý được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Trước hết là mối liên hệ giữa
hình thức và nội dung của chính bản thân pháp luật với tính cách là hình thức
của thực tế xã hội nhất định Đổng thời, pháp luật nói chung, với tính cách là
tổng hợp giữa nội dung và hình thức của các quan hệ xã hội
Trong khoa học pháp lý cũng đã nghiên cứu và nêu lên tính liên hệ
khăng khít, tính không thể tách rời của quan hệ pháp luật với quan hệ thực tế
Quan hệ pháp luật được coi như là hình thức của các quan hệ thực tế bị điều
chỉnh bởi các qui phạm pháp luật Trong quan hệ pháp luật, chúng ta luôn nhìn
thấy sự thông nhất giữa nội dung xã hội và hình thức pháp lý, tức là sự thống
nhất giữa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các thành viên tham gia quan hệ
với hành vi thực tế của họ nhằm đạt tới những lợi ích nhất định
Hình thức pháp lý của quan hệ thực tế được xác định không chỉ bởi nội
dung của quan hệ đó mà còn bởi ý chí của Nhà nước đối với các dạng quan hệ
cụ thể Khi lựa chọn hình thức pháp lý cho từng loại quan hệ, Nhà nước xuất
phát từ qui luật khách quan của quan hệ, từ khả nãng tác động của mình, khả
nảng khai thác, phát triển quan hệ đó
Như vậy trong quan hệ pháp luật, nội dung xác định hình thức Có thể
nêu ra hai vếu tố :
- Nội dung xác định hình thức bàng cách thông qua ý chí Nhà nước có quvền xác định hình thức pháp lý phù hơp với những qui luát của sư phát triển
nội dung
23
Trang 27Luạn án Thạc s V Luạt học
- Nội duns trực tiếp xác định hành vi của các chù thể tham da quan hệ từ
đó tương ứng các hình thức pháp lý nhất định
1.3.6 Quan hệ pháp luật được đảm bảo bang các biện pháp Nhà nước
Cưỡng chế Nhà nước là một thuộc tính của pháp luật nói chunơ, trong
chủ nghĩa xã hội còn có sự khác biệt nhất định, do vậv pháp luật cũng khôns
thể mất đi thuộc tính đó Tuy nhiên việc thực hiện các quan hệ pháp luật cụ thê
không phải bao giờ cũng cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế Trong đa số các
trường hợp thì cơ chế tự hoà giải, ý thức trách nhiệm cao của chủ thể, trạng thái,
môi trường pháp chế và trật tự pháp luật đã cho phép thực hiện pháp luật có
hiệu quả, giải quyết được nhiều các xung đột, tranh chấp pháp luật: Khác với
các đảm bảo xã hội, đảm bảo của pháp luật bằng con đường Nhà nước có tính
bắt buộc, chặt chẽ, gắn liền với các biện pháp cụ thể thông qua hoạt động cá
biệt hoá chế tài pháp luật
Đối với những hành vi vi phạm pháp luật (với dạng thực hiện không
đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ chẳng hạn ) xâm hại quyền, nghĩa vụ chủ
thế hoặc lợi ích Nhà nước thì chủ thể gây ra phải gánh chịu một hậu quả pháp
lý bất lợi mà Nhà nước sẽ áp dụng đối với họ Gắn liền chế độ trách nhiệm pháp
lý đối với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ thể là biện pháp cần thiết để nâng
cao tính khả thi của quan hệ pháp luật Tuy nhiên việc sử dụng các biện pháp
cưỡng chế Nhà nước đối với các chủ thể, nhằm khôi phục trật tự pháp luật là
cần thiết nhưng hết sức hạn chế, cần phải giáo dục, thuyết phục trước khi áp
dụng nó Bản chất bạo lực, trấn áp, bản chất của cưỡng chế là không tạo ra của
cải vật chất cho xã hội, đó là phương diện lý luận cần quan tâm
1.4 Điều kiên làm phát sinh, thav đòi và chấm dứt qưan hẻ pháp ỉuát
Trong khoa học pháp lý người ta đưa ra ba yêu tô cơ bản làm phát sinh
thay đổi và chấm dứt một quan hệ pháp luật gồm : qui phạm pháp luật, nang lực
chủ thể và sự kiện pháp lý ớ đây chi xin trao đối hai yếu tố sau :
24
Trang 28Luận án Thạc sỹ Luát học
1.4.1 Qui phạm pháp luật
Qui phạm pháp luật được coi là thành tố nho nhất của hệ thống pháp
luật Các qui phạm chứa đựng các thông tin khác nhau nhưng cùng một trật tự
hình thành giống nhau Đó là do con người trong qúa trình hoạt động nhận thức
hiện thực khách quan trên cơ sở đó mà hình thành qui tấc hành vi Như vậy qui
phạm là phương tiện để xác định các tình huống cụ thể của hành vi có thể xảy
ra trong cuộc sống Nó trở thành một trong những khả năng điều chỉnh hành vi
của con người
Qui phạm pháp" luật là quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung do
Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp cầm
quyền nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
Quan hệ pháp luật là hình thức mà ở đó qui phạm pháp luật được hiện
thực hoá, điều này đã nói rõ qui phạm pháp luật là tiền đề pháp lý cho các quan
hệ vật chất- xã hội tương ứng
Trước đây trong nhận thức xã hội thì qui phạm pháp luật được hiểu như
là một quy định để giải quyết một vấn đề cụ thể, việc nghiên cứu nó không gắn
liền với quan hệ pháp luật Ngày nay trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa
thì điều nàv hoàn toàn khác, qui phạm pháp luật được coi là một điều kiện cần
thiết để làm phát sinh thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật Nhiều nhà khoa
học cho rằng qui phạm pháp luật phản ánh qui luật của các quan hệ xã hội Chỉ
có thể nhận thức được các quan hệ pháp luật về bản chất, tính chất xã hội của
chúng bằng cách nêu ra mối liên hệ giữa ba yếu tố : quan hệ xã hội, qui phạm
pháp luật và quan hệ pháp luật
Trở thành một trong các điều kiện cơ bản để thiết lập - thay đổi - chấm
dứt quan hệ pháp luật, quy phạm pháp luật cần giải quyêt được mấy vấn đề lớn:
- Nêu rõ loại chủ thể có liên quan cùng với điều kiện, hoàn cánh thực tế
có thể xảy ra Đây là phần giả định của quy phạm pháp luật, phần nêu lên hoàn
cảnh thực tế (dự kiến) mà ớ đó quan hệ pháp luật có thể phát sinh, thay đòi
chấm dứt
25
Trang 29Luận án Thạc sy Luật hục
- Yêu cáu cùa Nhà nước và xã hội đối với CÍ1U thẻ dỏ troim hoàn canh
đã nêu [rén Đây ỉà phần quv định của quy phạm, nó nêu iẻn đòi hoi cua Nhà
nước (có thế là cho phép hoặc bắt buộc) đối với chủ thế là được làm sì ? khỏng
dược làm gì ? hoặc phải làm gì ? làm đến đâu Phần này thể hiện tính quyền lực
cua Nhà nước, làm xuất phát điểm cho việc cụ thể hoá quyền và nghĩa vụ trong
điều kiện đã nêu trên đối với chủ thể
Hậu quả pháp lý và cách khắc phục, phần này nêu lên những biện pháp
xử lý mà Nhà nước có thể áp dụng đối với chủ thể nhằm bảo đảm quyền và
nơhĩa vụ chủ thể hoặc bảo vệ quan hệ xã hội khỏi bị xâm hại thông qua hoạt
động áp dụng pháp luật
Bản thân quy phạm pháp luật không tự tạo được quan hệ pháp luật,
không tự mình gắn liền với quan hệ xã hội, mà cần phải có hoạt động thực hiện
và áp dụng pháp luật (áp dụng pháp luật theo nghĩa hẹp) Vấn đề hiệu lực của
các quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với các hoạt động thực hiện
và áp dụng pháp luật Nghĩa là nó có vai trò thực tế trong việc làm phát sinh,
thay dổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể
Như đã nêu ở trên, mặc dù quy phạm pháp luật là tiền đề cho việc hình
thành, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể nhưng không phải cứ có
quv phạm pháp luật là có quan hệ pháp luật Hoặc mọi quan hệ pháp luật đều
được phát sinh, thay đổi và chấm dứt trên cơ sở các quy phạm pháp luật Trong
một số trường hợp đặc biệt thì quan hệ pháp luật vẫn được phát sinh ngay cả khi
chưa hoặc không có quy phạm pháp luật (trường hợp áp dụng pháp luật tương tự)
Trong đời sống xã hội tồn tại nhiều loại quy phạm xã hội, tuy nhiên
trong lý luận và thực tiễn không hình thành một khái niệm tổng quát phù hợp
với các quan hệ được điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm Khái niệm đó chi áp
dụna đối với pháp luật, với tính cách là tổng thể các quy pham pháp luật Cũng
chính vì vậy mà tai sao ở đây lại hình thành và phát triển một khái niệm được
coi là một trong những khái niệm nền tảng của khoa học và thưc tiễn Điểu ấy
được quyết định bời vị trí của pháp luàt trong đời sòng xã hội và bời những đặc
~ 26
Trang 30độ kinh tế cùa xã hội quvết định Nhưng pháp luật cũng phản ánh sự nhận thức các quy luật phát triển của xã hội và các quy luật của thượng tầng pháp lý.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa khi hoạt động xây dựng pháp luật hoàn toàn dựa trên cơ sở của việc nhận thức các quy luật phát triển của tự nhiên, x ã hội đã tạo ra khả năng phản ánh vào quy phạm tổng hợp những yếu tố phức tạp nhất, điển hình nhất để từ đó có những biện pháp tác động có hiệu quả đến hành vi xã hội Quy phạm pháp luật không chí phản ánh các quy luật phát triển kinh tế m à còn phản ánh những yếu tố được xác định bởi kiến thức sâu rộng hơn về tâm lý cá nhân, về các quy luật vận động của thế giới vật chất Kết quả của việc thực hiện quy phạm, tính hiệu quả xã hội của nó là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ nhận thức các quy luật phát triển khách quan cũng như việc sử dụng chúng để đạt mục đích đặt ra Kết quả hoạt động của quy phạm pháp luật có thể được phản ánh dưới nhiều hình thức M ột trong những hình thức đó tuy rất quan trọnơ nhưng không phải duy nhất là đảm bảo cho các quan hệ xã hội tổn tại dưới hình thức quan hệ pháp luật
Mối liên hệ đươc nêu trên đây giữa quy phạm và quan hè pháp luật dược gọi là thực hiện quv phạm pháp luật Cũng chính vì lẽ đó mà hoàn toàn khòna được coi ráng quy pham chi có thế được thưc hiện trong quan hệ pháp luật
27
Trang 31ĩ ĩỉrì*ĩ án Thac » U ** ♦ Ã • ữ J m ~**r ềr%0%f%ể m •* f vởý hocW
Quan hệ pháp luật là kết qua hoạt độnơ của quy phạm pháp luật Quan điểm này cán được hiếu một cách chính xác, đặc điểm của việc thực hiện quy phạm pháp luật được xác định bới tính chất của các loại quan hệ cần điều chinh Việc thực hiện quy phạm nhằm tạo ra quan hệ pháp luật không phải là phương thức tác động duy nhất của quy phạm pháp luật Đến lượt mình các quy phạm pháp luật có thể tác động có hiệu quả trở thành động cơ hoá hành vi cả khi chính nó cản trở sự hình thành quan hệ pháp luật Ý nghĩa phòng ngừa chung
đó của các quy phạm xác định trách nhiệm đối với vi phạm pháp luật Một loạt các quy phạm khi quy định các nguyên tắc cơ bản không được thực hiện trựe tiếp trong những quan hệ pháp luật mà được thực hiện gián tiếp thông qua những quy phạm khác Chẳng hạn quyền hiến định về lao động được thực hiện trong các quan hệ pháp luật cụ thể thông qua các quy phạm của Luật lao động
Việc phân tích thực hiện quy phạm trong quan hệ pháp luật tạo ra khả năng xác định sự khác biệt về chất của việc thực hiện hành vi đúng pháp luật và hành vi trái pháp luật
Trong sách báo pháp lý, khái niệm quan hệ pháp luật được lý giải như một khái niệm thống nhất không tuỳ thuộc vào việc đã hình thành hay chưa hình thành quan hệ pháp luật bởi hành vi đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật Tuy nhiên, giữa những dạng quan hệ pháp luật đã có sự khác biệt đáng kể ở trường hợp thứ nhất các công dân tham gia vào các quan hệ mà pháp luật khuyến khích hoặc cho phép, họ thực hiện những quy định của pháp luật hoặc thể hiện ý chí của mình trong những giới hạn nhất định, ỏ trường hợp thứ hai
họ thực hiện những hành vi mà Nhà nước ngãn cấm, vi phạm pháp luật vì vậy phải gắn liền chế độ trách nhiệm pháp lý
Việc phân biệt các phương thức thực hiện quy phạm là khó bời lẽ trong đời sốnơ thườn.2 nhât viêc thưc hiện hành vi đúng pháp luật có thể vượt ra nsoài vẻu cầu cúa quy phạm Như vậy, việc thực hiện quy phạm pháp luật có nơhĩa là các hoạt dộng của chủ thể phù hợp với mô hình về cách xử sư mà pháp luật vẻu cầu Trong phần lớn các quan hệ, chú thế được quy định quyèn được
Trang 32Luận án Thạc sỹ Luật hoc
lựa chọn cách xư sự Khá năns lựa chọn cách xử sự được quyết định mối tương quan íiiưă các đièu kiện khách quan và yèú tố chủ quan Các điều kiện khách quan không hoàn toàn có tính quyết định luận đối với hành vi của chù thể Cho nên, việc lựa chọn cách xử sự của bất kỳ chủ thể nào cũng phải được điều chỉnh bời pháD luật Nhưns khi đã lựa chọn được cách xử sự cụ thể, các bên tham gia quan hệ phải đưa quan hệ của mình phù hợp với mô hình đã xác định cho loại quan hệ đó (chẳng hạn trong xây dựng, bên A phải ký kết hợp đồng vể tất cả các loại công việc đối với chủ thầu chính hoặc ký hợp đồng riêng biệt với những tổ chức chuyên môn nếu được chủ thầu chính đổng ý)
Bản thân mô hình về cách xử sự được quy định trong quy phạm có thể
là sự bất buộc phải thực hiện hoặc có thể là tạo khả nâng cho các bên đưa ra quyết định trong những giói hạn nhất định Trong quy phạm chủ yếu quy định một số điều kiện thực hiện nó trong quan hệ pháp luật, đồng thòi xác định khả nan? thực hiện quy định trons quy phạm đối với hành vi cụ thể
Việc thực hiện các quyền trong quan hệ pháp luật cũng như nghĩa vụ phu thuộc vào mức độ phản ánh trong quy phạm những nhu cầu của đời sống thực tế và các phương tiện đảm bảo nó cũng như vai trò của ý thức, thái độ chủ thể
1.4.2 S ự kiện pháp lý
Có thể nói sẽ không có các quan hệ pháp lý nếu không có các sự kiện pháp lý xảy ra Sự kiện pháp lý là cái cầu nối quan trọng giữa quy phạm pháp luật với quan hệ pháp luật Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế có ý nghĩa đối với pháp luật, tức là những sự kiện mà được pháp luật ghi nhận hoặc bảo vệ Hay nói cách khác, đó là những sự kiện mà khi nó xảy ra thì kéo theo sự hình thành, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể
Như vậy, sự kiện pháp lý chí là một phần nhỏ trong cơ số các sự kiện thực tế rộnc lớn diễn ra hàns ngày trẽn các lĩnh vực cùa đời sống xã hội Làm thế nào đế có thể phân biêt được giữa sự kiện pháp lý và sự kiện thực tế? cho đến nay vấn đề này cũng chưa đươc đê cập một cách cụ thế trong khoa học
Trang 33Luận án Thạc S V Luật hoc
pháp lv Tronu thực tiễn áp dụna pháp luật thì việc nhận diện và khẳng định
một sư kiện thực tế nào đó là sự kiện pháp lý nhiều khi phức tạp hơn nhất là
những sự kiện trái pháp luật, sự kiện đưa lại cấu thành hình thức trons truy cứu
trách nhiệm pháp lý
Có ý kiến cho rằng, sự kiện pháp lý là những sự kiện mà có ý nghĩa đối
với sự tổn tại của giai cấp cầm quyền, với quan hệ thống trị của giai cấp đó
Điều này cũng chưa hẳn vì trên thực tế có những sự kiện đem lại những lợi ích,
giá trị., nhưng cũng có những sự kiện gây phương hại về mặt vật chất, tinh thần
cho giai cấp thống trị và cho xã hội Hệ thống quy phạm pháp luật quy định
một cách chặt chẽ nhằm bảo đảm cho những sự kiện tích cực phát triển và bảo
vệ quan hệ xã hội khỏi bị xâm hại Những sự kiện ở dạng "trung tính" nghĩa là
không có lợi mà cũng vô hại tuỳ từng trường hợp mà có sự quan tâm bằng pháp
luật khác nhau Có thể khái quát những nét chính của sự kiện pháp lý như sau :
- Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà bản thân sự xuất hiện, tồn tại của nó được Nhà nước xác nhận hoặc pháp luật ghi nhận, bảo vệ Đây là dấu
hiệu pháp Lý quan trọng làm tiền đề cho việc xác định các sự kiện thực tế cụ thể
Nếu lchông có sự xác nhận của Nhà nước hoặc được pháp luật quy định trước
thì không coi đó là sự kiện pháp lý và sự kiện thực tế đó không có khả năng
thiết lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể Sở dĩ nói “được Nhà
nước xác nhận” là vì trên thực tế các sự kiện tự nhiên, xã hội xảy ra đa dạng,
liên tục, có những sự kiện có ý nghĩa đối với pháp luật đã được ghi nhận trong
pháp luật nhưng cũng có những sự kiện chưa được ghi Những trường hợp mà
pháp luật chưa có quy định nào cả thì Nhà nước sẽ xem xét cụ thể để có sự đánh
»iá chính xác về nó Nsay cả những sự kiện dược ghi nhận trước trong pháp luật
nhiều khi cũng cần phải có một sự xác nhận thực tế của cơ quan Nhà nước có
thẩm quvển mới có thể được coi là sư kiện pháp lý Ví dụ : Trong những trường
hợp có sư biến như : bão, lụt Nhà nước cần phái xem xét thực tế từng vùng đế
có thế miễn thuế nông nghiệp hoặc có nhữns giải pháp kịp thời khấc phục nó
30
Trang 34Luận án Thạc sỹ Luật học
Vièc xác nhận một sự kiện thưc tế nào đó là sư kiện pháp lý hay khònsz
'Hì H o \jiv> ni fnir* t i p p H' ipH ĩ H òpct P!!'* n h ' i n I n' i f
w i l l u w M1U i i u U O UV/ii i i i i i i i i i i i u i i g C j u u p l i u p i Licit.
Do sự kiện pháp lý CHỈ được xác định thông qua pháp luật nên khi những quy định của pháp luật thay đổi thì tính chất pháp lý của sự kiện đó cũng thay đối hoặc nó trở về với những sư kiện thực tế binh thường không có ý nghĩa đối với pháp luật (Ví dụ : Trước đây hành vi thông dâm được coi là sự kiện pháp lv làm phát sinh quan hệ pháp iuật tố tụng hình sự nhưng ngày nay thì không) Sự kiện pháp lý là những điều kiện hoàn cảnh, tình huống của đời sống thực tế được ghi nhận trong phần giả định của qui phạm pháp luật mà nhà làm luật gắn sự xuất hiện, thay đổi, chấm dứt của quan hệ pháp luật với sự xuất hiện và tổn tại của nó
Với tư cách là cơ sở của sự xuất hiện, biến đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật, sự kiện pháp ỉý có ý nghĩa quan trọng trong điều chỉnh pháp luật Sự thừa nhận hoặc không thừa nhận ở chủ thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định phụ thuộc vào vấn đề có tổn tại hoặc không tổn tại những sự kiện
pháp lý tương ứng Do vậy, việc xác định một sự kiện pháp lý, đánh giá đúng
mức độ ảnh hưởng, hậu quả thực tế của nó là rất phức tạp
Trên thực tế, một sự kiện pháp lý có thể đưa đến việc thiết lập, thay đổi, huỷ bỏ nhiều quan hệ pháp luật hoặc một quan hệ pháp luật cụ thể Trong xã hội xã hội chủ nghĩa khả năng điều chỉnh của pháp luật được mở rộng do vậy
sự kiện pháp lý đa dạng Việc phân loại nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc nơhiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật cũng như phàn tích bản chất của quan
hệ pháp luật
Căn cứ vào ý nghĩa và hậu quả pháp lý người ta phân ra hai loại có tính chát tươnc đối là sự kiện pháp lý tích cực và sự kiện pháp lý tiêu cưc Sự kiện pháp lý tích cực là nhũng sự kiện mà khi nó xảy ra thì mang lại những giá trị hữu ích nhát định cho chủ thế và xã hội Loại sự kiện pháp lý này luỏn có tính hợp pháp, phố biến, được Nhà nước, xã hòi thừa nhận và tạo điểu kiện cho nó phát triến Ví dụ như : Ký kết hợp dồng mua bảo hiểm, đăng ký két hỏn Sư
31
Trang 35Luản án Thac sỹ Luảt học
kiện pháp lý tiêu cực là những sự kiện xuất hiện ngoài sự mong đợi của Nhà nước, xã hội, thông thường là bất hợp pháp, đem lại hậu quả xấu cho xã hội Loại sự kiện pháp lý này thường không mang tính phổ biến, Nhà nước áp đụng các biện pháp bắt buộc, cưỡng chế nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi bị xâm hại phu thuộc vào sô lượng những hoàn cảnh, điều kiện làm nảy sinh hậu quả pháp lý, có thể chia sự kiện pháp lý làm hai loại : sự kiện pháp lý đơn giản và sự kiện pháp lý phức tạp Nếu căn cứ vào những loại quan hệ pháp luật có liên quan thì có thể chia làm : sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật và sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật
Căn cứ vào tiêu chuẩn ý chí, sự kiện pháp lý được phân thành hai loại là
sự biến và hành vi
Sự biến là những hiện tượng tự nhiên xảy ra ngoài ý chí chủ quan con
người trong những trường hợp nhất đinh theo quy định của pháp luật thì nó gắn
liền với việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể Đối với những sự biến trở thành sự kiện pháp lý thì việc ghi nhận bằng pháp luật trước đó không phải là quyết định Hậu quả xấu thực tế của nó đến đâu, xàm hại loại quan hệ xã hội nào mới là quan trọng Đ iều này không chỉ là thực tiễn pháp lý ở nước ta mà một số nước cũng có cách xem xét trên (V í dụ : ở nước Đức, việc thiên tai lụt, bão gây m ất mùa cho nông dân thì không được trợ cấp của nhà nước liên bang nhưng thực tế vừa qua do hậu quả lụt, bão ở một số bang là trầm trọng nên Nhà nước đã xem xét và trợ cấp khó khăn cho vùng bị ảnh hưởng đó) (Tin Đài truyền hình Việt nam- chương trình thời sự ngày 08/08/1997)
Việc nghiên cứu sự biến pháp lý thường đơn giản hơn hành vi pháp lý, thônơ thường sự biến xáy ra nhanh chóng hơn, đơn lẻ và hậu quả bao giờ cũng bộc lộ rõ ràng cho phép đánh giá đúng bản chất pháp lý của nó
32
Trang 36Luận án Thạc SV Luật học
Hành vi là những xử sự của con nsười bằng hành dộng hoăc khòng hành động Hành động là cách xử sự chủ động, còn không hành động là cách
xử sự thụ động của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật
Theo Mác sự phụ thuộc của con người đối với pháp luật là ở hành vi của họ, ngoài sự phụ thuộc đó con người tồn tai độc lập đối với pháp ỉuật và không còn là đối tượng của pháp luật1 Tham gia quan hệ pháp luật chi có thể là những hành vi pháp luật mà thôi, tức là những hành vi do pháp luật quy định, xuất phát từ pháp luật Những hành vi pháp luật mới có thể trở thành sự kiện pháp lý tức là mới có khả nâng đưa đến việc thiết lập, thay đổi, huỷ bỏ các quan
hệ pháp luật cụ thể Hành vi pháp luật bao gồm hai dạng: Hành vi bất hợp pháp và hành vi hợp pháp Lâu nay trong khoa học lý luận chung vể Nhà nước
pháp luật người ta thường nghiên cứu loại quan hệ được phát sinh, thay đổi,
chấm dứt bởi những sự kiện pháp lý là những hành vi hợp pháp Loại quan hệ thứ hai được phát sinh từ những sự kiện pháp lý là hành vi bất hợp pháp chủ yếu được nghiên cứu sâu sắc, tỉ mỉ từ các khoa học pháp lý chuyên ngành
Một vẩn đề đật ra là làm sao xác định được ranh giới, sự khác biệt giữa
hành vi pháp luật và hành vi không do pháp luật điều chỉnh? Vấn đề này liên quan đến đối tượng điều chỉnh của pháp luật, v ề mặt pháp lý, mọi yếu tố của hành vi pháp luật phải được quy định trong các quy phạm pháp luật, v ề mặt khách quan thì hành vi pháp luật phải được bộc lộ ra ngoài thế giới khách quan, con người có thể nhận thấy được, v ề mặt chủ quan đó là hoạt động nội tâm lý pháp lý biểu hiện thái độ chủ thể, năng lực nhận thức và điều khiển hành
có khả nãng đưa đến nguy cơ xàm hại các quan hệ xã hội nào đó thì pháp luật
1 Xem M ác - Á ng ghen Toàn tập, tập 1 N xb Sự thật, 1980, tr 19.
33
Trang 37Luận án Thạc sỹ Luật học
chưa thể tác động, can thiệp trực tiếp mà bằng cách quy định cấm đoán, bảo vệ quan hệ xã hội đó Những hành vi “nói” bằng lời cũng có thê được pháp luật điều chỉnh, đây là dạng đặc biệt của hành vi vì việc dùng lời nói đưa lại những hậu quả pháp lý trên thực tê là rất ít và khó có khả năng kiểm soát nó
Hành vi pháp luật, đó là một trong những hình thức của hành vi xã hội
mà chủ thể của nó là các cá nhân và tổ chức thực hiện Hành vi pháp luật còn biểu hiện hai mức độ, mức độ hành vi pháp lý (tức là những dấu hiệu do pháp
luật quy định) và mức độ hành vi thực tế Hai mức độ này thể hiện mối quan hộ
giữa hình thức với nội dung, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, giữa cái cần phải
và cái hiện thực Hành vi pháp luật phản ánh hiện thực khách quan của xã hội
và hiện trạng tâm lý xã hội và các yếu tố chủ quan khác
Hành vi pháp luật do những chủ thể nhất định thực hiện, có những biểu hiện khách quan và phạm vi về chủ quan Như vậy hành vi pháp luật khác với hành vi đạo đức và những hành vi xã hội bởi các ranh giới pháp lý của nó Đó cũng là biểu hiện của tính xác định đặc trưng cho hành vi pháp luật
Phân biệt hành vi hợp pháp với hành vi bất hợp pháp không phải chỉ để thoả mãn yêu cầu về nhận thức đơn thuần mà nó đòi hỏi được tính có căn cứ pháp lý của hành vi, nó liên quan đến vấn đé cá thể hoá quyền, nghĩa vụ và chế
độ trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể v ề mặt xã hội thì sự phân biệt này nhằm chỉ ra những phương thức hợp lý nhất, hiệu quả nhất cho sự ứng xử của con người, cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội nhất đinh Nghiên cứu các hành vi hợp pháp nhằm chỉ ra những điều kiện cần thiết cho việc hình thành và thực hiện các hành vi ấy (về khách quan và chủ quan) hướng hoạt động của chủ thể vào m ột quĩ đạo tích cực hợp pháp Hành vi hợp pháp gồm những hành vi
tích cực, hành vi tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, nói chung là không vi
phạm pháp luật, có tính phổ biến trong xã hội
Những hành vi bất hợp pháp ià những hành vi không phù hợp pháp luật, không được Nhà nước thừa nhận nhưng nó vẫn còn tồn tại như là một thực tế không thể tránh khỏi trong điều kiện còn tổn tại giai cấp và còn có sự khác biệt
34
Trang 38Luận án Thạc sỹ Luật học
Tuy nhiên, cũng có những hành vi không phù hợp với pháp luật nhưng trong một số trường hợp vẫn được chấp nhận liệu có đúng không? Ví du : Trong trường hợp chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình (bất hợp pháp ngay thẳng trước đây) nếu có người thứ ba khởi kiện thì buộc người bán trả lại cho người mua, vậy không có kiện tụng thì sao? phải chăng đó là sự chấp nhận việc chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình?1
Thực ra nói hành vi pháp luật là những hành vi do pháp luật quy đinh xuất phát từ pháp luật cũng không phải đúng một cách tuyệt đối trên thực tế có những sự kiện pháp lý là hành vi nhưng chưa được quy định trong pháp luật mà phải giải quyết bằng con đường áp dụng pháp luật tương tự hoặc dùng tập quán thì không có dấu hiệu trên2
Hành vi hợp pháp là những hành vi có ý nghĩa xã hội rất cao, việc dùng pháp luật quy định, bảo vệ và nhân rộng nó là hết sức cần thiết Cái khó nhất nhưng cũng là cái cần nhất là làm sao pháp luật trở thành động cơ hoá hành vi của chủ thể Hành vi hợp pháp được coi như những nấc thang giá trị xã hội và
có ý nghĩa tích cực trong việc động cơ hoá hành vi đó Nó như là tấm gương soi sáng cho các chủ thể hướng tới, tán đổng thực hiện và phổ cập hoá trong xã hội Thực tế ở nước ta có nhiều hành vi hợp pháp, tích cực nhưng khả năng nhân rộng trong đời sống xã hội lại không có, điểu này không do chủ thể đó mà do
xã hội chưa làm tốt điều kiện để có khả nâng hành vi hoá (Ví dụ : Hành vi ngăn chặn trộm cắp, cướp giật trên xe buýt)
Một hành vi hợp pháp sẽ là những hành vi tích cực nhưng không phải lúc nào nó cũng phù hợp với tổng thể các hành vi trong xã hội, phù hợp với sự đánh giá của các chuẩn mực xã hội khác
Nghiên cứu sự kiện pháp lý chúng ta cần xác định được những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chủ thể trong quá trình hình thành các hành vi và những yếu
tố cản trở quá trình đó tạo nên các hành vi vi phạm pháp luật Đó là :
1 Xem thêm Đ iều 190-195 Bộ Luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam.
2 Xem thẻm Điều 14 Bộ Luật dân sự nước CHXHCN V iệt Nam
35
Trang 39Luận án Thạc sỹ Luật học
- Các yếu tố về đặc điểm của cá nhân con người, các mối quan hệ xã
hội, quan hệ sinh hoạt gia đình
- Sự phù hợp giữa pháp luật với thực trạng kinh tế - xã hội
- Thái độ của chủ thể đối với những quy đinh của pháp luật và các giá
trị của pháp luật
- Hiệu lực và hiệu quả của pháp luật
- Điều kiện đảm bảo thực tế cho chủ thể, cho sự tổn tại của hành vi
- Môi trường xã hội có liên quan, kể cả môi tnrờng pháp lý
Có thể nói rằng các yếu tố này đều có thể ảnh hưởng ngay cả đối với chủ thể quan hệ pháp luật không là cá nhân, con ngựời Ngoài ra, cũng có thể
thấy những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện một hành vi hợp pháp nằm
ngay trong bản thân mô hình pháp lý của hành vi tức là trong bản thân các quy phạm pháp luật (thông thường ở các quy phạm diễn giải)
Xem xét một hành vi hợp pháp trên thực tế cần phải xác định được tính họp pháp của hành vi Đây là một đòi hỏi, là một dấu hiệu quan trọng trong quá trình tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt cần chú ý đối với các hoạt động tố tụng, hoạt động cá biệt hoá chế tài quy phạm pháp luật Nguyên tấc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi cần phải thực hiện hết sức cẩn thận (nguyên tắc : Hành vi của chủ thể luôn được coi là hợp pháp nếu chưa chứng
minh được điều ngược lại)
Hành vi hợp pháp cũng có thể tổn tại dưới những dạng khác nhau căn
cứ vào thái độ của chủ thể đối với hậu quả Điều này có những hành vi mà hậu
quả pháp lý mang lại nằm trong dự tính của chủ thể, có những hành vi mà hậu
quả pháp lý nằm ngoài dự tính mong muốn của chủ thể (ví dụ : Tìm được kho báuvật)
Đối với hành vi bất hợp pháp cũng có thể là bất hợp pháp nằm ngoài
nhận thức chủ thể (bất hợp pháp ngay thẳng - Ví dụ : Mua xe nhưng không biết
36
Trang 40mà thôi Như vậy, theo họ không có không hành động hợp pháp mà trở thành sự kiện pháp lý vì trong những trường hợp đó thì chính chủ thể đã tuân thủ pháp luật Việc thực hiện pháp luật bằng hình thức tuân thủ pháp luật không hình thành các quan hệ pháp luật cụ thể trong thực tế Tuy nhiên, đây còn là một nội dung còn chưa có sự thống nhất tuyệt đối.
Việc nghiên cứu cơ chế hành vi không hành động thực sự phức tạp hơn
cơ chế hành vi hành động vì nó biểu hiện trạng thái thụ động của chủ thể Loại hành vi này mặc dù mang ý thức chủ quan của chủ thể nhưng nó không bộc lộ
ra bên ngoài thế giới khách quan m à vẫn đem lại hâu quả pháp lý xấu đối với xã hội (hành vi không tố giác tội phạm, hành vi không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng)
Như vậy, vi phạm pháp luật chỉ tồn tại ở dạng hành vi, người ta không coi là vi phạm pháp luật đối với ý niệm suy nghĩ, hoặc là những đặc tính cá nhân nếu nó chưa được bộc lộc ra bên ngoài Đây là dấu hiệu quan trọng, khi nghiên cứu nó cần chú ý cả đặc điểm cá nhân và đặc điểm xã hội để có sự đánh giá chính xác đối với việc cá thể hoá trách nhiệm sau này Ngoài ra, vi phạm pháp luật còn có những dấu hiệu khác cơ bản như tính trái pháp luật của hành
vi, lỗi, m ối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả