1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật lao động trong nền kinh tế thị trường những vấn đề lý luận và phương hướng hoàn thiện

110 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 10,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song trong trừơng hợp không biết kinh doanh, kinh doanh không có lợi bằng đi làm thuê, hoặc trong điều kiện sản xuất lớn, qui luật lợi ích không cho phép ngừơi lao động tiến hành sản xuấ

Trang 2

TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHÁP LU Ậ T LAO ĐỘNG TRONG NEN k i n h T E T H Ị t r ư ờ n g

Trang 3

n - M ối quan hệ giữa th ị trường L Đ và lu ật L Đ 14

1 Những yêu cầu cơ bản đối với luật LĐ trong nền kinh tế thị trường 14

2 Đặc điểm của thị trường LĐ ở Việt nam và s ự đĩêu tiết của luật LĐ 19

Chương n : Những nội dung cơ bản cua sự điều chỉnh các quan hệ

I - Đ ôi tượng - phương pháp - nguyên tấc cơ bản của lu ậ t L Đ 29

1 Quan hệ hình thành trên cơ sở HĐLĐ - Đối tượng của luật LĐ 31

2 Thoả thuận, mệnh lệnh, sự tham gia của Công đoàn

-Những phương pháp điều chỉnh của luật LĐ 39

II - Luật LĐ và vấh đ ề g iả i quyết cấc lợ i ích 52

1 Lợi ích các bên trong quan hệ LĐ và vai trò điểu tiết của pháp luật 54

2 Việc giải quyết lợi ích các bên theo luật LĐ Việt Nam 59

III - Luật LĐ với vấn đ ề cơ c h ế ba bên 67

Chương III : Những suy nghĩ bước đầu nhằm hoàn thiện

I Phảp luật LĐ Việt Nam từ kh i chuyển đổi cơ c h ế kinh t ế

II - Phác họa hướng hoàn thiện pháp luật LĐ

1 M ở rộng quyền tự do, tự nguyện cho các bên 78

2 Đảm bảo giải quyết hợp lý lợi ích của các bên 87

3 Xúc tiến việc xác lập cơ chế ba bên ở Việt Nam 103

Trang 4

Tính cẩp thiết và từih hmh nghiôn cứu đè tài

Việc làm, lao đông, tiền lương là những vấn đề có tính thời sự ở nước ta từ nhiều năm nay và cũng là vấn đề mang tính toàn cầu Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt các chủ trương, chính sách lao đông, xã hôi của Đảng và Nhà nước ta trong những nãm qua và trong thời gian tới là chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, phát huy nhân tố con người, đặc biệt là người lao đông, với tư cách vừa là đông lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển Bên canh đó cũng cần phải có chính sách hợp lý để khuyến khích đầu tư, phát huy thế mạnh của mọi thành phần kinh tế để giải quyết việc làm và tăng trưởng

Thực hiện mục tiêu đó, vai trò của pháp luật, đặc biệt là luật lao đông trở nên rất quan trọng Pháp luật lao động phải có những định hướng, mở đường, tạo điều kiện cho các quan hệ lao đông mới phát triển và điều tiết các quan hệ đó trên cơ sở kết hợp các quy luật khách quan của kinh tế thị trường và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đây là vấn đề phức tạp và khó khăn vì nó không chỉ liên quan đến lao động sản xuất mà còn chứa đựng những yếu tố chính trị, xã hôi rộng lớn

Pháp luật lao đông ở nước ta trong những năm qua đã có bước chuyển đổi và phát triển quan trọng Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao đông của nền kinh tế thị trường, Bô luật đã được thực hiện từ 1 tháng 1 năm

1995 Từ đó đến nay, qua quá trình điều chỉnh các quan hệ lao động trong xã hội,

Bô luật lao đông đã góp phần quan trọng giải phóng các tiềm năng lao động, mở mang ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Song, thời gian đó cũng đủ để thấy rằng vẫn còn những vấh đề chưa thật hợp lý, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới của việc điều chỉnh các quan hộ lao đông, quan hệ quan trọng nhất quyết định đời sống vật chất và tinh thần trong xã hôi

Muốn có được hệ thống pháp luật phù hợp, phúc đáp được yêu cầu của nền kinh tế thị trường thì việc nghiên cứu pháp luật dưới góc độ lý luận là rất quan trọng

và cần thiết Từ thực tiẻn điều tiết các quan hê lao đông sinh đông, phong phú, đang vận động để chuyển đổi, phát triển ở nước ta và từ kinh nghiêm của các nước trong khu vực và trên thế giới, các vấn đề cốt lõi, có tính quy luật cần phải được khái quát, nâng lên thành lý luận pháp lý để xây dựng, hoàn thiện pháp luật cho phù hợp

ở nước ta hiện nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ kinh tế lao đông, quản ]ý lao đông hoặc thống kê chưa đầy đủ các vấn để lao đông

và xã hôi Một số công trình khác và các tạp chí chuyên ngành trong thời gian gần đay chủ yếu phân tích, bình luạn, giải thích các quy định cụ thể của pháp luạt hiện hành Vì vậy, cho đến nay dường như chưa có một công trình nào nghiên cứu pháp luật lao động dưới góc độ lý luận và đặt ra vấn để hoàn thiện pháp luật, đáp ứng đày

đủ yêu cầu điều tiết các quan hệ lao đông trong nển kinh tế thị trường

Trang 5

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Pháp luật lao động trong nên

kinh tẽ'thị trường - những vấn đề lý luận và phương hướng hoàn thiẹrì'' để viết

luạn án với mong muốn góp phần vào quá trình nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiên pháp luật lao động ở nước ta

Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiùn cứu

Đây là đề tài khó và rất rộng nên không dẻ gì giải quyết được một cách hoàn chỉnh Chúng tôi không thể tham vọng nghiên cứu tất cả mọi vấn đề có tính lý luận

về luật lao đông mà chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất, phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành dưới góc đô lý luận để từ đó phác hoạ hướng hoàn thiện pháp luật lao động ở nước ta

Vì vậy, chúng tôi xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu là :

- Nghiên cứu một cách hệ thống về tầm quan trọng, tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao đông trên thị trường, đặc điểm, bản chất, yêu cầu và các quy luật khách quan của thị trường sức lao đông

- Trên cơ sở đó, nêu bạt lên mối quan hộ giữa thị trường sức lao động và luật lao đông, xác định những nôi dung phù hợp và sự tác động trở lại của luạt lao đông nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường trong lĩnh vực lao động

- Nghiên cứu những vâh đề lý luận cơ bản của luật lao đông trong nền kinh tế thị trường như đối tượng, phương pháp, các nguyên tắc chủ yếu Đổng thời chỉ ra vấn đề quan trọng nhất của quá trình điều chỉnh các quan hệ lao động trong nển kinh tế thị trường là giải quyết hợp lý các lợi ích trong lao động

- Nghiên cứu cơ chế ba bên trên bình diện pháp luật và thực tế, góp phần điều tiết hiệu quả các quan hệ lao động và hoà nhập với pháp luật lao động quốc tế

- Trên cơ sở những vấn đề lý luận nói trên, sơ lược đánh giá hệ thống pháp luạt hiên hành, đề xuất những nôi dung cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luạt lao đông Việt Nam, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của quá trình điều chỉnh pháp luật lao động trong nền ldnh tế thị trường

Phương pháp nghiên cứu và những đóng góp chính của luận án

Để thực hiện đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác và những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế thị trường, lao đông và các vấn đề xã hôi liên quan Đồng thời, các quy định của Hiến pháp, của luật lao đông được sử dụng với tư cách là cơ sở pháp lý của quá trình nghiên cứu Phương pháp luân của chủ nghĩa Mác-Lênin được kết hợp với phương pháp hẹ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh để chọn lọc những tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiẽn trong và ngoài nước để đưa vào luận án

Là cồng trình đáu tiên nghiên cứu pháp luật lao đồng dưới góc đô lý luận một cách tương đối hệ thống, luận án đã nêu lên và giải quyết có lồgic mối quan hẹ giữa

Trang 6

thị trường sức lao đông và nội dung của luật lao động Luận án cũng làm rõ thêm một sỏ' vấn đề lý luận về pháp luật lao đông như đối tượng, phương pháp, nguyên tắc của luật lao động và vấn đề lợi ích trong lao đông Lần đầu tiên ở Việt Nam, luận án đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm vể cơ chế ba bên, làm rõ vai trò của cơ chế ba bên trong việc điều chỉnh các quan hê lao đông Đặc biệt, đây là công trình đầu tiên đề cập đến và đưa ra nội dung hoàn thiện pháp luật lao động kể từ khi có

Bô luật lao đông 1994

Kết cấu của luận án

Ngoài lời nói đầu, kết luận , được chia làm ba chương

Chương ỉ : Mối quan hê giữa thị trường sức lao đông và luật lao động.

Chương ũ : Những nội dung cơ bản của sự điều chỉnh các quan hê lao động trong

ra sẽ khổng tránh khỏi những thiết sót nhất định Rất mong nhận được và cảm ơn các ý kiến chỉ dẫn, góp ỷ quý báu của các thày cô giáo và các bạn

Hà Nội, tháng 8 năm 1996

Trang 7

CHƯƠNG I MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRỪƠNG s ứ c LAO ĐỘNG

VÀ LUẬT LAO ĐỘNG.

I - THỊ TRÙƠNG s ú c LAO ĐỘNG, MỘT BỘ PHẬN CỦA NÊN k in h t ế t h ị

TRÙƠNG

1 Thị trừơng và kinh tế thị trừơng.

Lịch sử lòai ngừơi đã trải qua một số hình thức kinh tế cơ bản, khởi đầu là kinh

tế tự nhiên Kinh tế tự nhiên là lọai hình kinh tế trong đó sản phẩm đựơc sản xuất ra không phải để trao đổi kiếm lời mà để thỏa mãn những nhu cầu nội bộ, chủ yếu là những nhu cầu cá nhân ngừơi sản xuất, ở thời kỳ này lao động mang tính cá nhân, đơn lẻ nên trình độ phân công lao động xã hội còn thấp

Trong quá trình phát triển tất yếu của sự phân công lao động và sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa ra đời đối lập về bản chất với nền kinh tế tự nhiên nói trên Khi kinh tế hàng hóa trở thành hình thức kinh tế phổ biến và chiếm địa vị thống trị thì tòan bộ họat động sản xuất trong xã hội chủ yếu để kiếm lời và hàng hóa sản xuất ra với mục đích để bán, để trao đổi Vì vậy, nền sản xuất hàng hóa cũng hình thành song song với sự hình thành và phát triển của địa điểm, không gian diễn ra sự trao đổi mua bán Đó là thị trường Song hiện nay, thị trừơng không chỉ đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, chuyển dịch hàng hóa từ ngừơi sản xuất sang ngừơi tiêu dùng mà sự trao đổi đó phải đựơc tổ chức theo các qui luật của lưu thông hàng hóa và tiền tệ Dứơi góc độ của kinh tế học, thị trương là sự thể hiện thu gọn của quá trình mà, thông qua đó, các quyết định của ngừơi tiêu dùng (tiêu dùng mặt hàng nào, mức độ, phẩm chất của nó .), ngừơi sản xuất (sản xuất cái gì, như thế nào .)

và ngừơi công nhân (làm gì, cho ai, trong bao lâu .) đều đựơc dung hòa bằng sự điều chỉnh của giá cả theo quy luật cung cầu

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác, thị trừơng là yếu tố gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, song thị trừơng và kinh tế thị trừơng là hai khái niệm khác nhau Nền kinh

tế hàng hóa chỉ trở thành kinh tế thị trừơng khi các quan hệ kinh tế xã hội và các sản phẩm xã hội đều mang hình thái quan hệ hàng hóa - tiền tệ một cách căn bản; phổ biến và chiếm địa vị thống trị Các quan hệ hàng hóa, tiền tệ thâm nhập vào tất

cả các khâu, các lĩnh vực của nền kinh tế, thậm chí vào cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Như vậy, khái niệm kinh tế thị trừơng đựơc sử dụng để chỉ một nền kinh tế mà các yếu tố cơ bản của nó như vốn, sức lao động, hàna; hóa, dịch vụ, chất xám đểu có giá và các qui luật của thị trừơna là yếu tố điều tiết các họat động kinh tế Đó là quá trình vận động vô cùng phức tạp của các quan hệ mua bán, cạnh tranh, hạn chế và kích thích, giải quyết các mâu thuẫn về khả năng cung cấp và nhu

Trang 8

cầu xã hội, về cơ cấu sản xuất, chi phí, giá cả theo một cơ chế nhất định để đạt đựơc và dung hòa các lợi ích kinh tế.

Như vậy, kinh tế thị trừơng vừa là hình thức vận hành của nền kinh tế hàng hóa vừa là phương pháp quản lý kinh tế Còn thị trừơng là môi trừơng chuyển tải, môi trừơng thực hiện những họat động của kinh tế thị trừơng

Thực tế đã chứng minh rằng : do có qui luật giá trị và qui luật cung cầu tác động nên khi phát triển kinh tế thị trừơng các lọai hàng hóa, dịch vụ trên thị trương phong phú về chủng lọai, đảm bảo về chất lựơng, đáp ứng đựơc mọi nhu cầu đa dạng của thị trừơng Thêm nữa, dứơi sự tác động của qui luật cạnh tranh, kinh tế thị trừơng đảm bảo cho các họat động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt đựơc năng suất, chất lựơng và hiệu quả kinh tế cao, khuyên khích việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Đó

là mặt mạnh, mặt tích cực của kinh tế thị trường

Song, bẽn cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường còn có mặt trái của nó " Bàn tay vô hình" của thị trừơng mang tính tự phát cao và không phải bao giờ cũng tạo ra

cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu xã hội Sự tự phát của thị trừơng thừơng gây ra

sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế và có thể có lãng phí trong các họat động kinh tế

Sự vận động tự phát này cũng luôn chứa đựng các khả năng lạm phát, thất nghiệp, khủng hỏang, suy thóai, độc quyền Hơn nữa, sự chênh lệch quá mức về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong kinh tế thị trừơng cũng tạo nên nhiều vấn

đề xã hội phức tạp, làm lu mờ sự công bằng và tính nhân đạo xã hội Vì vậy Đảng

ta đã chủ trương phát triển kinh tế thị trừơng kết hợp đúng mức với vai trò quản lý Nhà nước và tính định hướng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng này đã được thể hiện trong các văn kiện chủ yếu của Đảng tại Đại hội VII và VIII Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu Đảng và Nhà nứơc ta chủ trương phát triển nền kinh tế mở, có nhiều thành phần kinh tế cũng tham gia bình đẳng Các họat động kinh tế diễn ra dứơi sự tác động của các qui luật khách quan trong thị trừơng và sự điều tiết của Nhà nứơc chủ yếu bằng pháp luật Sự phát triển kinh tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích của ngừơi sản xuất kinh doanh, ngừơi lao động ; gắn tăng trửơng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ; đặt con ngừơi vào vị trí trung tâm của sự phát triển Thực hiện chủ trương đó cũng

có nghĩa là thừa nhận trong xã hội tồn tại nhiều loại hình thị trừơng tạo khả năng phát triển năng động cho các họat động kinh tế như thị trừơns hàng hóa, thị trừơng vốn, thị trừơng sức lao động Tính đa dạng của thị trừơng phụ thuộc vào tính phức tạp và năng động của kinh tế thị trừơng Nhìn dưới góc độ hoạt động sản xuất thì thị trừơng bao 2ồm hai lọai cơ bản : thị trừơng hàng hóa, dịch vụ và thị trừơnơ các yếu

tố san xuất Trong thị trừơna các yếu tố sản xuất lại bao gồm thị trương sức lao độnií, thị trương vốn công nghệ và thị trừơna tài nguyên Tron? đó, quan trọna nhất

Trang 9

là thị trừơng sức lao động vì sức LĐ liên kết các yếu tố vốn, công nghệ, tài nguyên để tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.

2- Thị trừơng sức ỉao động.

Muốn có thị trừơng sức lao động thì sức lao động phải đựơc coi là hàng hóa

Các Mác đã nêu ra hai điều kiện cơ bản để sức lao động trở thành hàng hóa, đó là : Thứ nhất, ngừơi có sức lao động hòan tòan tự do về thân thể có nghĩa là ngừơi

đó phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và có quyền đem bán nó như một hàng hóa Như vậy, hàng hóa sức lao động không thể có đựơc trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến Nó cũng không thể xuất hiện trong một nền kinh tế mệnh lệnh

Thứ hai, nơừơi có sức lao động không có tư liệu sản xuất để mưu sinh, do đó,

họ buộc phải bán sức lao động của minh

Hai điều kiện trên đây xuất hiện ở giai đọan đầu của chủ nghĩa tư bản, trong nền kinh tế cạnh tranh tự do Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn thì điều kịên thứ hai có những thay đổi nhất định Không phải chỉ những ngừơi mất hết tư liệu sản xuất hoặc hòan tòan không có tư liệu sản xuất mới bán sức lao động của mình Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế, năng suất lao động và kết quả lao động ngày càng cao Ngừơi công nhân cũng có tài sản và trở thành chủ sở hữu nhỏ Họ có ba khả năng để lựa chọn : tự mình sản xuất kinh doanh theo qui mô nhỏ, đi làm thuê (bán sức lao động) hoặc vừa là cổ đông sở hữu một phần nhỏ các công ty vừa là ngừơi làm thuê Trong điều kiện của một nền sản xuất nhỏ, sự lựa chọn thứ nhất có khả năng mang lại hiệu quả vì sản xuất xã hội chưa phát triển, kinh tế thị trừơng chưa ổn định thì kinh doanh theo qui mô nhỏ đựơc chấp nhận như là một mô hình phù hợp bởi nó dễ thay đổi dễ thích nghi với sự biến động của thị trừơng Song trong trừơng hợp không biết kinh doanh, kinh doanh không có lợi bằng đi làm thuê, hoặc trong điều kiện sản xuất lớn, qui luật lợi ích không cho phép ngừơi lao động tiến hành sản xuất kinh doanh bằng số tài sản ít ỏi của mình, không đủ sức cạnh tranh trên thị trừơng thì họ sẽ lựa chọn khả năng thứ hai hoặc thứ ba để có thu nhập cao hơn

Như vậy, ở thời hiện đại ngòai điều kiện ngừơi lao động có quyền tự do bán sức lao độns của minh, để sức lao động trở thành hàng hóa, còn phải có thêm điều kiện ngừơi lao động vì một lý do nào đó họ có nhu cầu bán sức lao động của mình.Hàng hóa sức lao độns là một khái niệm thông dụng trong kinh tế học và đựơc

sử dụní rộng rãi tronìỉ những nước có nền kinh tế thị trừơng Khái niệm này không thế có tron 2 nền kinh tế tư nhiên và ngay cả ở nhữns nứơc có nền kinh tế tập trung cũns khồns thừa nhận sức lao độntĩ là hàng hóa Trứơc đây, một thời dan dài do suy

Trang 10

nghĩ bất cập, chúng ta từng quan niệm rằng hàng hóa sức lao động là một phạm trù riêng có của chủ nghĩa tư bản Dứơi chủ nghiã tư bản, ngừơi công nhân không có tư liệu sản xuất nên họ buộc phải bán sức lao động cho chủ tư bản để duy trì cuộc sống

Vì vậy, sự thuê mứơn (bán sức lao động) chỉ là hình thức và nó đồng nghĩa với bóc lột Vả lại, về mặt lý luận, chủ nghĩa xã hội đựơc xây dựng trên cơ sở công hữu về

tư liệu sản xuất ; ngừơi lao động vừa là chủ sở hữu tư liệu sản xuất vừa là ngừơi lao động vì thế họ là các lao động tự nguyện cùng hợp tác với nhau và với các công chức quản lý để thực hiện nhiệm vụ chung dứơi sự quản lý của Nhà nứơc Trong thời kỳ này sức lao động không đựơc thừa nhận là hàng hóa nên hầu như không có thị trừơng lao động, hoặc nếu có cũng chỉ là hình thức tự phát, không được đối xử đúng mức

Như vậy, muốn hình thành thị trừơng sức lao động thì điều kiện đầu tiên là sức lao động phải trở thành hàng hóa Điều kiện này cần, nhưng chưa đủ bởi vì, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, các quan hệ mua bán sức lao động cũng đã diễn ra lẻ tẻ và chủ yếu trong khu vực kinh tế cá thể hay dịch vụ gia đình

nhims không hình thành nên thị trừơng lao động một cách rõ nét Chỉ khi nào cấc quan hệ lao động trong xã hội phát triển đến mức đầu mang màu sắc hàng hóa - tiên

tệ, hay nói cách khác, tất cả các quan hệ này hình thành trên cơ sở hợp đồng lao

độn 2 - hợp đồng mua bán sức lao động và tiền lương (tiền công) chẳng phải là cái

gì khác hơn là giá cả sức lao động thì thị trừơng lao động mới có thể hình thành Với tư cách là giá cả của hàng hóa sức lao động, tiền lương phải phản ánh giá trị sức lao động đựơc hình thành trên thị trừơng và chủ yếu do tưcmg quan cung - cầu trên thị trừơng quyết định Thừa nhận sức lao động là hàng hóa là một tất yếu khách quan của nền kinh tế hàng hóa - Thị trừơng sức lao động cũng là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trừơng, đó là mặt tích cực đánh dấu sự đổi mới tư duy quản

lý kinh tế nói chung và quản lý LĐ nói riêng của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây Sự đổi mới này được phản ánh trong sự đổi mới tư duy pháp lý cũng như sự điều chỉnh pháp luật trong nền kinh tế thị trường, sẽ được xem xét ở những

phần sau Cũng như các lọai thị trừơng khác, thị trừcmg sức lao động bao gồm các yếu tố cấu thành : các bên tham gia thị trường (ngừơi bán và ngừơi mua), hàng hóa

trong thị trừơng (sức lao động) và cơ chế vận động của thị trừơng

Ngừơi bản trong thị trừơng sức lao động là ngừơi lao động Như trên đã phân

tích, ngừơi lao động phải là ngừơi đựơc tự do về thân thể và có nhu cầu bán sức lao động Nếu như có một lý do nào đó, ví như có nguồn viện trợ để đảm bảo cuộc sống hoặc khônơ thỏa mãn với mức tiền lương của thị trừơng (những ngừơi thất nghiệp

tự nsuyện) họ khônơ có nhu cầu bán sức lao độnơ thì họ cũns không trở thành một bên trong quan hệ thị trừơng Trons nền kinh tế tập trung, khi lao động đựơc coi khòng những; là quyền mà còn là nghĩa vụ công dàn đối với Nhà nứơc và quản lý lao động là quản lý hành chính tập trung thi xét đến cùng, xã hội không chấp nhận nhu

Trang 11

cầu bán sức lao động của họ Học sinh, sinh viên ở các trừơng Đại học, Cao đẳng, dạy nghề, sau khi tốt nghiệp hầu như không có quyền chọn lựa noi làm việc mà chủ yếu phải theo sự phân công của Nhà nứơc Ngừơi lao động sẽ bị coi là có lý lịch không tốt và sẽ không đựơc hửơng đầy đủ phúc lợi xã hội nếu họ không gia nhập vào kinh tế quốc doanh hay tập thể Nhu cầu lao động bị hạn chế bởi chỉ tiêu tuyển dụng của Nhà nứơc (được quy định trong NĐ 24 CP ngày 13/03/1963 và một số văn bản khác) hay bởi nguồn tư liệu sản xuất hạn hẹp, năng suất lao động thấp trong các hợp tác xã, do đó thị trừơng sức lao động không thể hình thành Hoặc giả các thành phần kinh tế không đựơc đối xứ bình đẳng đến mức phần lớn ngừơi lao động có nhu cầu vào làm việc ở khu vực kinh tế quốc doanh thì thị trừơng lao động cũng không

tồn tại với đúng nghĩa của nó Như vậy, trong kinh tế thị trừơng ngừơỉ bán sức lao động là ngừơi đang đi làm thuê cho ngừơi khác hoặc có nhu câu đi làm thuê và nhu

cầu đó phải có khả năng thực hiện, đựơc xã hội chấp nhận và được pháp luật bảo đảm Điều 16 BLLĐ (1994) quy định : “Người LĐ có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng LĐ nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm” và “mọi hoạt độnơ LĐ tạo ra nguổn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm .” (Đ 13 - BLLĐ) Những quy định có tính nguyên tắc này cùng với một số cơ chế pháp lý vể đảm bảo việc làm, học nghề, xuất khẩu LĐ, chế độ hộ khẩu đã từng bước tạo điểu kiện cho người LĐ chủ động bán sức LĐ của mình

Ngừơi mua trên thị trừơng là ngừơi sử dụng lao động Đó là tất cả các doanh

nghiệp, công ty, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân cần thuê mứơn lao động Ngừơi

sử dụng lao động cần sức lao động như là một trong những yếu tố chủ yếu và quan trọng của quá trình sản xuất Điều 57, Hiến pháp (1992) quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh” Điều 8 - BLLĐ cũng cụ thể hoá thêm “Người sử dụng LĐ

có quyền tuyển chọn LĐ, bố trí điều hành LĐ theo nhu cầu sản xuất kinh doanh” Như vậy, quyền tự do kinh doanh, tự chủ vê tài chính là điều kiện đé họ tham gia thị trừơng với tư cách là ngừơi sử dụng lao động - ngừơi mua Với những quyền này, ngừơi sử dụng mới có thể chủ động tuyển chọn LĐ phù hợp với quá trình sản xuất kinh doanh (mua sức ngừơi lao động), sắp xếp điều hành, phân công, giao chỉ tiêu, định mức lao động (sử dụng lao động), trả lương phù hợp (trả giá lao động) và có thể cho thôi việc khi cần thiết (gia nhập, rời khỏi thị trừơng và quyết định mức, lọai, lựơng sức lao dộng phù hợp) Một loạt các quyền theo cơ chế mới này đã phần nào

lý giải nguyên nhân tại sao trong nền kinh tế tập trung, khi Nhà nứơc hầu như độc quyền giao kế họach sản xuất, vật tư và giao luôn cả chỉ tiêu biên chế thì thị trừơng sức lao đôns không đươc hình thành.o o

Hàng hóa trên thị trương Ino động chính là sức lao động Đây là một yếu tố

cơ bản của chi phí sản xuất, là một dạng côns năng, là sức của cơ bắp, thần kinh và trí tuệ trong con ngừơi Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao độne

đều có giá trị và giá trị sử dụng Để đo giá trị sức lao động, ngừơi ta căn cứ và thời

Trang 12

gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao động Nghĩa là trong thời gian đó phải tiêu dùng một lựơng của cải vật chất nhất định nhằm sản sinh, nuôi đữơng và đào tạo con ngừơi từ khi còn trong bụng mẹ đến khi họ có khả năng LĐ Trong xã hội, chi phí này thừơng đựơc gọi là chi phí để nuôi dạy con cái song xét trên góc độ giá trị sức LĐ, thì đó chính là chi phí để tạo ra năng lực LĐ Các Mác coi đây là chi phí để duy trì vĩnh viễn sức lao động trên thị trừơng (tái sản xuất sức lao động) : "Những ngừơi sở hữu sức lao động đều có thể chết đi Muốn luôn luôn có những ngừơi lao động trên thị trừơng như sự chuyển hóa không ngừng của tư bản đòi hỏi thì phải làm cho họ sống vĩnh viễn như mỗi cá nhân sống vĩnh viễn bằng cách sinh con đẻ cái" (1)

Trong quá trình lao động, ngừơi lao động phải tiêu hao sức lực của cơ bắp và thần kinh Để bảo tồn và khôi phục sức lao động đã hao phí đó, con ngừơi phải đựơc

ăn uống, nghỉ n°;ơi hợp lý, phải tiêu dùng một lựơng tư liệu sinh họat cần thiết "Nếu ngừơi sở hữu sức lao động đã lao động ngày hôm nay càng nhiều thì chi phí tiêu dùng để sản sinh, bù đáp lại sức lao động càng lớn và do đó giá trị sức lao động càng cao thì anh ta phải có thể lại bắt đầu lao động ngày mai trong những điều kiện cừơng tráns như cũ Vậy tổng số tư lịêu sinh họat phải đủ để giữ anh ta ở trạng thái sinh họat bình thừơng" (2) Qua đó chúng ta thấy tiêu hao lao động càng nhiểu thì chi phí tiêu dùng để sản sinh, bù đắp lại sức LĐ càng lớn và do đó, giá trị sức LĐ càng cao Mặt khác, sức lao động là năng lực họat động của con ngừơi bao gồm cả thể lực và trí tuệ Vì vậy, sản xuất sức lao động không chỉ khôi phục lại sức lao động đã hao phí về mặt thể lực mà cần tạo cho con ngừơi có khả năng hiểu biết nhất định cả về văn hóa và chuyên môn Mác đã đánh giá quá trình đó Để cho sức lao động phát triển theo hứcmg nhất định phải có sự giáo dục nào đó mà chính sự giáo dục này lại tốn một lựơng hàng hóa ngang giá" (3)

Như vậy, giá trị sức LĐ bao gồm giá trị những tư liệu sinh họat càn thiết để

bù đắp lại sức LĐ đã hao phí trong qúa trình sản xuất, giá trị của những chi phí để nuôi dữơng con ngừơi trứơc và sau tuổi LĐ, giá trị những chi phí cằn thiết cho việc học hành, tích lũy kiến thức phổ thông, xã hội và chuyên môn Những chi phí này

không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và tâm sinh lý của con ngừơi mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và trình độ văn minh đạt đựơc Giá trị sức LĐ không phải là yếu tố cố định, mà nó thay đổi giữa các giai đọan phát triển của lịch sử Nó có thể khác nhau siữa các nứơc, các vùng Tuy vậy, trong mỗi giai đọan nhất định và ở những địa điểm xác định, giá trị sức LĐ có thể xác định đựơc một cách tương đối Trong nền kinh tế thị trừơng, giá cả sức LĐ có thể dao độns quanh giá trị của nó tùy thuộc vào quan hệ cung cầu sức LĐ

(1) (2) (3) : Tư bán - Các Mcik -9.1 - Trang 238 -240 - NXBST -HN -ỉ 962

Trang 13

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức LĐ chỉ thể hiện rõ trong quá trình ngừơi chủ

sử dụng sức LĐ của ngừơi làm thuê hay nói cách khác, đó là quá trình tiêu dùng sức

LĐ, quá trình ngừơi làm thuê LĐ Tuy có đủ hai thuộc tính của hàng hóa thông

thừơng nhưng sức LĐ là một lọai hàng hóa đặc biệt bởi nó có những thuộc tính riêng Đặc điểm riêng quan trọng nhất của hàng hóa sức LĐ là khi tiêu dùng nó sẽ tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị ban đàu đã tiêu hao Sức LĐ là một yếu tố chủ

yếu của quá trình sản xuất nhưng không giống với các tư liệu sản xuất ở chỗ nó đưa các yếu tố khác của sản xuất vào họat động, cải biến hình thức, tính chất cơ lý hóa của đối tựơng lao động và biến chúng thành sản phẩm Ngừơi tiêu dùng sức LĐ sau khi bán sản phẩm, trừ đi mọi chi phí còn lại một khỏan dư là lợi nhuận Lợi nhuận này rõ ràng là do sức LĐ tạo ra bởi các công cụ LĐ và đối tựơng LĐ không thể tự

liên kết, vận động Như vậy, sức LĐ là yếu tố chi phí của quá trình sản xuất đòng thời củng là yếu tô' mang lại lợi ích cho quá trình đó.

Sức LĐ còn là một lọai hàng hóa đặc biệt bởi nó luôn gắn liền với người bán

và không thể trông thấy như các hàng hóa thông thừơng Bởi vậy xác định giá trị sức

LĐ (đo đếm các chi phí 2;iáo dục và giá trị các tư liệu sinh họat cần thiết để phát triển và khôi phục năng lực LĐ của con ngừơi) một cách chính xác là điều khó có

thể làm đựơc Tuy sức LĐ nằm trong con ngừơi nhưng nó không đòng nhất với con ngừơi xét về nhiều mặt : nhàn cách, đạo đức, văn hóa, ý thức, tư tửơng, tình cảm

Vì vậy, trên thị trừơng, con ngừơi bán sức LĐ (năng lực LĐ) của mình có thời hạn nhất định, thông thường bằng việc ký các hợp đồng LĐ, chứ không bán bản thân con ngừơi một cách vĩnh viễn như chủ nô bán nô lệ ngày xưa Mặt khác, sức LĐ

không tách ra khỏi bản thân con ngừơi và ngừơi mua chỉ đựơc quyền sử dụng nó

chứ không có quyền sở hữu nó Sự sử dụng sức LĐ thông qua quá trình LĐ, chấp

hành mệnh lệnh kỷ luật của ngừơi LĐ nên không thể coi nhẹ tính nhân văn của

lọai hàng hóa đặc biệt này Do vậy BLLĐ của nước ta có quy định rằng người sử dụng LĐ “phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người LĐ” (Đ 8 - k3)

Như vậy, thị trừơng lao động là tòan bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực mua bán một thứ hàng hóa đặc biệt - sức lao động - giữa các bên - ngừơi lao động cần việc làm để có thu nhập và ngừơi sử dụng lao động cần thuê nhân công bằng cách trả công để tiến hành sản xuất kinh doanh Các quan hệ kinh

tế này muốn thực hiện đựơc phải thông qua một cơ chế nhất định gọi là cơ chế thị

trườnơ Cơ chế thị trừơng là sự tác động tổng hợp của các nhăn tố, quan hệ, môi trừơng, động lực và qui luật, thông qua đó thị trừơng có thể tự vận động, tự điều chỉnh đựợc.

Cũng như các thị trừơna khác, thị trừơng sức lao động cũng chịu sự tác động của 3 qui luật cơ bản : qui luật giá trị, qui luật cung cầu và qui luật cạnh tranh Các

Trang 14

qui luật kinh tế này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó qui luật giá trị giữ vai trò cơ bản Song giá trị của sức lao động đựơc thể hiện thông qua giá cả và giá cả lại đựơc xác định bởi các yếu tố cung và cầu Ngựơc lại, qui lụật cung cầu muốn thể hiện yêu cầu của mình lại phải thông qua cơ chế vận động của qui luật giá trị là giá cả trên thị trừơng Do mối quan hệ đó nên sự vận động của hai qui luật này rất phức tạp, biểu hiện qua các yếu tố cung - cầu và giá cả sức lao động.

Nếu cung và cầu cân bằng nhau thì tiền lương, giá cả sức lao động phản ánh tương đối đầy đủ giá trị của nó Song trong xã hội, cung và cầu thừơng xuyên biến động, không phải lúc nào cũng cân bằng Đối với những nứơc kinh tế phát triển, có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất nhưng nguồn lao động tăng chậm, dẫn đến thiếu sức lao động, cung nhỏ hơn cầu Ngựơc lại, đối với các nứơc chưa phát triển, khả năng mở rộng sản xuất còn hạn chế tức là cầu trên thị trừơng còn yếu thì trạng thái mất cân bàng sẽ là cung lớn hơn cầu, một bộ phận lao động muốn làm việc nhưng không có việc để làm đó là thất nghiệp Tỉ lệ thất nghiệp là biểu hiện rõ nét nhất của quan hệ cung cầu Trong kinh tế thị trừơng, với sự thay đối của cung, cầu

và với sự cạnh tranh gay gắt thì thất nghiệp là một tất yếu khách quan, ngừơi ta chỉ

có thể hạn chế thất nghiệp chứ khổng lọai bỏ nó đựơc VI vậy, tỉ lệ thất nghiệp còn

là một trong các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, là mối quan tâm của Nhà nước và tòan xã hội Điều này cũng phần nào cắt nghĩa tại sao pháp luật LĐ của không ít nước có chế định việc làm và giải quyết việc làm

Ỵhạtn chị ở một số nước trong đó có Việt Nam thì vấn đề giải quyết việc làm

là vấn đề có tính chiến lược, “quốc sách” Việc làm cũng trở thành một chương khá quan trọng trong BLLĐ hiện hành

Điều đáng bàn đến ở đây là tương quan và sự biến động của cung cầu trên thị trừơng luôn luôn ảnh hửơng tới tiền lương, giá cả sức lao động và ngựơc lại, sự thay đổi của tiền lương cũng có ảnh hửơng đến mức cung, cầu lao động Vào thời điểm thỏa thuận, nếu trên thị trừơng, cung lao động lớn hơn cầu (số ngừời muốn có việc làm lớn hơn khả nãng thu hút lao động) thì tiền lương thấp và ngựơc lại, nếu cung lao động nhỏ hơn cầu thì tiền lương đựơc nâng cao Như vậy, tiền lương cũng như giá cả các hàng hóa khác trên thị trừơng, nó phụ thuộc vào cung cầu ở mỗi thời điểm nhất định

Song tiền lương còn phản ánh giá trị sức lao động ( gía cả các tư liệu sinh họat

và các chi phí giáo dục cho trình độ lao động hiện có) và phụ thuộc vào hao phí lao động thực tế Sự tăng giảm tiền lương nói trên chỉ dao động xung quanh giá trị sức lao động Mặc dù căn cứ vào giá trị sức lao động để xác định mức lương nhưng tiền lương mà ngừơi lao độn2 thực sự nhận đựơc lại căn cứ vào mức lao động thực tế đóng góp Ngừơi thuê mứơn lao động chỉ trả lương cho ngừơi lao động khi họ đã tiêu dùng sức lao động một cách hữu ích và mức lương phụ thuộc vào giá trị mới đựơc tạo ra Sự chấp nhộn của thị trừơns hàng hóa đối với sản phẩm mà sức lao

Trang 15

động tạo ra và các qui định của pháp luật cũng là những yếu tố làm thay đổi mức tiền lương của ngừơi lao động Vì vậy, tiền lương tuy phụ thuộc vào tương quan cung cầu nhưng không chỉ chịu sự tác động của tương quan đó mà nó còn có sự tác động ngựơc trở lại : nếu mức tiền lương cao thì số ngừơi có nhu cầu lao động sẽ lớn hơn, cung sẽ có thể lớn hơn cầu và ngựơc lại, nếu mức tiên lương thấp thì nhiều ngừơi không muốn đi làm nhưng nhu cầu sử dụng lao động lại tăng lên và cầu có thể

sẽ lớn hơn cung Như vậy, cung cầu và mức lương tác động qua lại lẫn nhau điều khiển thị trừơng lao động

Qui luật cạnh tranh cũng tồn tại tất yếu trong thị trừơng lao động do các chủ thể tham gia thị trừơng độc lập về kinh tế và đối lập về lợi ích Mối liên hệ giữa cung, cầu của hàng hóa sức lao động và sự tách rời giá trị khỏi giá cả của chúng là

cơ sở quan trọng cho các họat động cạnh tranh Trong thị trương lao động, bao giờ cũng có sự cạnh tranh giữa ngừơi bán với ngừơi bán để ổn định việc làm và có mức thu nhập ngày càng cao, có sự cạnh tranh giữa ngừơi mua với ngừơi mua để thu hút,

ổn định những lao động tốt nhất, phù hợp nhất cho sản xuất kinh doanh của đơn vị Giữa các nhà sản xuất, họ không chỉ cạnh tranh về lao động mà còn về tất cả các yếu tố khác trong sản xuất kinh doanh như công nghệ, sản phẩm, giá cả, thị trừơng tiêu thụ mà những yếu tố này bao giờ cũng liên quan đến lao động Sự cạnh tranh

về lao động của họ hầu như không phụ thuộc vào tương quan cung cầu, có nghĩa là ngay cả trong điều kiện cung lao động lớn hơn cầu thì cạnh tranh về lao động giữa

họ vẫn xảy ra Vì vậy, để duy trì và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, đỏng lực của sự tồn tại thị trừơng và phát triển kinh tế, lý luận về kinh tế hiện đại cho rằng : một môi trừơng cạnh tranh lý tửơng trên thị trừơng lao động là cung lớn hơn cầu một chút,

duy trì tỉ lệ thất nghiệp dứơi 6% ở tỉ lệ này, sự cạnh tranh giữa những ngừơi lao

động về trình độ, kinh nghiệm, ý thức kỷ luật sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển

Song thị trừơng lao động là một thị trừơng cạnh tranh không hòan hảo Sự không hòan hảo này thé hiện đâu tiên ở việc thuê mứơn lao động thừơng trong một thời gian dài với mức tiền công tương đối ổn định Vì vậy mà tiền công, giá cả sức lao động ít có khả năng phản ứng linh họat khi cung cầu biến động như các hàng

hóa khác Mặt khác, thị trừơng lao động ít nhiều có sự độc quyền bởi hai lý do : Thứ nhất, số lựơng ngừơi mua luôn luôn ít hơn rất nhiều so với số lựơng ngừơi bán Thứ hai, số ngừơi bán thừơng tồn tại theo hai nhóm : nhóm đang có việc làm và nhóm

không có việc làm, thất nghiệp Hai nhóm này đối lập nhau về quyền lợi : nhóm đang có việc làm không muốn giảm lương để tạo việc làm cho nhóm thất nghiệp và điều đó gần như một sự độc quyền của một số ngừơi bán Một lý do nữa của sự không hòan hảo, đó là hàng hóa sức lao động luôn 2ắn với ngừơi bán, ngừơi ta không thể mang nó ra mua bán tại các chợ hay theo hình thức đấu giá tại các sở giao dịch

Trang 16

Các nhà kinh tế cho rằng sự cạnh tranh hòan hảo chỉ có thể có đựơc khi trên thị trừơng hàng hóa đựơc phân phối có hiệu quả thông qua giá cả Vì vậy, khi thị trừơng không hòan hảo (hay không có sự cạnh tranh hòan hảo) thì giá cả - tiền công - không phải hòan tòan do các lực lựcmg cạnh tranh quyết định Còn các nhà lập pháp thì lại chú ý đến cái gọi là “mặt bằng pháp luật” , “hành lang pháp lý” Điều này có nghĩa là pháp luật vừa phải điều tiết thị trường, vừa phải đảm bảo quyển tự

do cho các chủ thể và duy trì cạnh tranh lành mạnh Bên cạnh luật LĐ còn phải có nhiều loại quy phạm khác như luật cạnh tranh hay luật chống độc quyển

Tóm lại, thị trừơng lao động là tòan bộ những quan hệ kinh tế pháp lý hình thành trong tĩnh vực thuê mứơn lao động Nó là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị

trừơng bởi hàng hóa sức lao động là một lọai hàng hóa đặc biệt vừa là yếu tố chi phí của sản xuất vừa mang lại lợi ích cho quá trình đó Đối tương tham gia thị trừơng là những ngừơi làm thuê, có nhu cầu làm thuê và ngừơi đang sử dụng sức lao động của ngừơi làm thuê Thị trừơng lao động cũng bị chi phối của qui luật cung cầu về lao động và có ảnh hửơng trực tiếp tới tiền lương, tiền công lao động Ngựơe lại, sự thay đổi mức tiền lương cũng ảnh hửơng tới hai yếu tố cung cầu Qui luật cạnh tranh là động lực của sự vận động phát triển trên thị trừơng và trong thị trừơng lao động không bao giờ có cạnh tranh hòan

hảo Nói cách khác, thị trừơng lao động còn là không gian của sự trao đổi tiến tới thỏa thuận giữa ngừơi sở hữu sức lao động và ngừơi cằn có sức lao động để sử dụng Kết quả

của quá trình trao đổi thỏa thuận đó là tiền công đựoc xác lập cùng với điều kiện lao động cho một công việc cụ thể Thị trừcmg lao động khác với thị trừơng hàng hóa thông thừơng bởi đối tựơng trao đổi ở đây là sức lao động của ngừơi lao động chứ không phải sản phẩm của lao động làm ra

Kinh tế thị trừơng là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế hàng

hóa Thị trừơng sức lao động là một bộ phận không thể thiếu đựơc của kinh tế thị trừờng

Sự phát triển của thị trừơng lao động ảnh hửơng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh

tế và ngựơc lại, trình độ phát triển kinh tế sẽ kèm theo sự phân công lao động xã hội trên

thị trừơng Nghiên cứu thị trương sức lao động không nhằm mục đích gì khác ngòai vấn đề hiểu đúng bản chất và các qui luật nội tại của nó Thông qua đó đánh giá đúng thực trạng thị trương sức lao động ở nứơe ta để có thể điều tiết, định hứơng cho phù hợp với qui luật khách quan và đừơng lối phát triển kinh tế, trong đó quan trọng nhất là sự điều chỉnh của luật LĐ

II- MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRỪƠNG LAO ĐỘNG VÀ LỤÂT LAO ĐỘNG

1- Những vêu câu cơ bản đối với luật LĐ trong nền kinh tế th ị trừơng.

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, họat động theo cơ chế thị trừơng, pháp luật kinh tế nói chung và luật lao động nói riêng phải tuân thủ các qui luật của thị trừơng mới có tính khả thi Vì vậy, sự tồn tại của nền kinh tế thị trừơns, các qui luật kinh tế của thị trừơng là cơ sở cho việc xác định nội dung của pháp luật lao

Trang 17

động Mạt khác, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một bộ phận của kinh tế thị trừơng, nó phải đồng bộ, hòa nhập, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với các bộ phận khác Đó là điều kiện để pháp luật có thể điều tiết, định hứơng cho thị trừơng

Do đó, pháp luật lao động phải căn cứ vào bản chất, qui luật của thị trừơng lao động và đáp ứng những yêu cầu nội tại của nó Nhìn chung, kinh tế thị trường đòi hỏi pháp luật lao động phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản như sau :

- Tạo môi trừơng pháp lý cho sự vận động phát triển của thị trừơngsức LĐ.

Khi sức lao động là hàng hóa và thị trừơng lao động là bộ phận quan trọng trong kinh tế thị trương thì điều đầu tiên, pháp luật lao động phải tạo môi trừơng pháp lý cho thị trừơng lao động vận động và phát triển Như cương lĩnh của Đảng ta

đã nêu : “Hình thành thị trường hoàn chỉnh bao gồm cả sức LĐ, vốn và tiền tệ”

“Đảm bảo cho mọi người làm chủ sức LĐ của mình trong khuôn khổ pháp luật, mọi người được tự do học nghề và hành nghề, lựa chọíiviệc làm và nơi làm việc, thuê mướn nhân công” (1) Vấn đề tạo môi trừơng khác với sự can thiệp trực tiếp của pháp luật bàng các quyết định mệnh lệnh hành chính chi tiết Kinh tế thị trừơng đòi hỏi phải phát huy đựơc vai trò năng động của các chủ thể nên pháp luật cũng phải

mở rộng quyền tự do dân chủ cho các chủ thể phù hợp với các điều kịên kinh tế xã hội nhất định Trong xã hội, ngừơi sử dụng lao động phải có quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền tự do kinh doanh, quyền thuê lao động phù hợp với kế họach sản xuất kinh doanh của mình Điều 57 HP 1992 ghi nhận : “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Pháp luật LĐ khuyến khích thuê mứơn lao động và sử dụng lao động làm thuê một cách có hiệu quả Theo qui định tại

Đ 5 - BLLĐ : “Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút nhiều LĐ đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ” Các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế đựơc bình đẳng với nhau về quyết định phương hứơng sản xuất kinh doanh và hạch tóan kinh tế, về vay vốn tạo việc làm, về thu hút, lựa chọn lao động trên thị trừơng Nếu thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo thì phải hiểu rằng đây là sự chủ đạo về mặt nội dung : tiền lương cao do năng suất lao động cao, tổ chức lao động có hịêu quả, công nghệ tiên tiến chứ không phải do đựơc bao cấp hay độc quyền trong lĩnh vực nào đó Đậc biệt, trong lĩnh vực lao động, các doanh nghiệp Nhà nứơc phải đi đầu trong việc bảo đảm điều kiện lao động và giải quyết các vấn đề xã hội tại doanh nghiệp như : dân chủ trong quản lý ; công bằng hợp lý trong phân p h ố i, đời sống của ngừơi lao động đặc bịêt là lao động

nữ, lao động tàn tật và con em họ ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, đi học đựơc doanh nghiệp quan tâm Như vậy, khác với trứơc kia, việc phát triển doanh nghiệp Nhà nứơc không chỉ chú ý đến số lựơng (về số lựơng thời gian đầu phát triển kinh tế thị

(ỉ ) Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000 - NXBSTHN -1991 - trang 23

Trang 18

trừơng có thể bị giảm sút) mà phải chủ ý đến chất lựơng và các họat động có tính chất chủ đạo để hứơng dẫn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

Về các họat động kinh tế và lao động, tất cả các doanh nghịêp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau đều bình đẳng với nhau về pháp lý

Mặt khác, lợi ích của các doanh nghiệp và ngừơi lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau cũng phải đựơc pháp luật lao động bảo vệ như nhau Tất cả các doanh nghịêp đều có quyền vay vốn và chịu mức lãi suất như nhau, chịu thuế như nhau Lợi ích của doanh nghiệp phải do các họat động kinh tế của họ quyết định Nhà nứơc khuyến khích và tạo điêu kiện cho các doanh nghịêp đạt đựơc và nâng cao các lợi ích chính đáng của họ

Trong kinh tế thị trừơng, sức lao động là hàng hóa nên ngừơi lao động có quyền tự do quyết định về sức lao động của mình Họ có thể tự tạo việc làm, tự sử dụng sức lao động của mình (làm ăn cá thể hoặc theo mô hình kinh tế hộ gia đình) hay liên kết với những ngừơi khác để cùng lao động (thành lập hoặc gia nhập các hợp tác xã) hoặc bán sức lao động cho ngừơi khác (tham gia quan hệ lao động) Ngừơi lao động phải đựơc quyền tự do lựa chọn công việc, nơi làm việc, bên đối tác (Đ 16 - BLLĐ) Khi tham gia quan hệ lao động các bên có quyền căn cứ vào giá trị sức lao động, điều kịên tiêu hao sức lao động (mức độ nặng nhọc, phức tạp của công việc và điều kiện làm việc) cũng như giá cả sức lao động trên thị trừơng

để cùng nhau thỏa thuận tiền công, tiền lương Pháp luật không những ghi nhận quyền tự do như những thuộc tính vốn có của kinh tế thị trừơng (Đ 55 - BLLĐ) mà còn phải tạo điều kiện cho họ thực hiện những quyền đó Pháp lụât quy định nguyên tắc chung xác định mức cống hiến và hửơng thụ của người LĐ để tạo sự bình đẳng trong mọi thành phần kinh tế, giữa mức độ hao phí sức lao động và tiền lương Trong các qui định của các văn bản pháp luật khác cũng phải có sự đồng bộ để ngừơi lao động thực sự có quyền tự do cư trú, tự do đi lại, đựơc hửơng chế độ bảo hiểm xã hội, đựơc bình đẳng vê lợi ích và về địa vị xã hội nếu họ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau

Khác với thời kỳ kinh tế tập trung, pháp luật lao động trong kinh tế thị trừơng không thể chỉ chú ý đến khu vực Nhà nứơc mà phải quan tâm đến tòan bộ lực lựơng lao động xã hội Tất cả các qui định trong pháp luật lao động đều phải trở thành những qui định chung cho mọi đối tựơng lao động và ngừơi sử dụng lao động của các thành phần kinh tế Cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền tự do cho các bên là họp đồng lao động Vì vậy trong cơ chế thị trừơng các bên có quyền tự do thiết lập hợp đồng, tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng phù hợp với những qui định chung của pháp luật (Đ 26, 29, 30 - BLLĐ)

- Bảo vệ sức lao dộng - Ngừơi lao động.

Trang 19

Như đã phân tích ở phần trên, trong nền kinh tế thị trừơng sức lao động không chỉ là hàng hóa mà còn là một lọai hàng hóa đặc biệt nên pháp luật lao động cũng phải có những qui định phù hợp Là một lọai hàng hóa đặc biệt, sức lao động không những là yếu tố chi phí mà còn là yếu tố mang lợi cho quá trình sản xuất nên pháp lụât LĐ tạo điêu kiện cho ngừơi lao động vừa đựơc trả công, vừa đựơc tham gia vào quá trình phân phối lợi nhuận (Đ 64 - BLLĐ) Mặt khác, tuy xác định ngừơi lao động tham gia vào quan hệ lao động chỉ là để bán sức lao động nhưng sức lao động lại là yếu tố không tách khỏi bản thân con ngừơi nên pháp luật phải bảo vệ sức lao động thông qua các qui định bảo vệ ngừơi lao động Xét trên góc độ quản lý Nhà nứơc, sức lao động phải đựơc bảo vệ và sử dụng hợp lý bởi đây là nguồn lực quốc gia, có tác động đến sự tăng trửơng hay lạc hậu của mỗi quốc gia ở góc độ sản xuất, sức lao động cũng đòi hỏi phải đựơc bảo vệ vì đây là yếu tố quan trọng nhất, liên kết các yếu tố khác trong quá trình sản xuất để tạo ra lợi nhuận Đối với ngừơi lao động, sức lao động không chỉ là yếu tố liên quan đến thu nhập của bản thân và gia đình họ mà nó còn liên quan đến sức khỏe, tính mạng của họ Quan trọng hơn nữa, sức lao động tồn tại trong mỗi con ngừơi còn là yếu tố quyết định đến vịêc tái sản xuất sức lao động cho xã hội Xét trên góc độ của quan hệ LĐ, người sử dụng

LĐ là người sở hữu vốn, tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh Họ cũng có quyển quản lý, điều hành LĐ nẻn người LĐ bị phụ thuộc vào người sử dụng LĐ cả

vể kinh tế, cả vể tổ chức quản lý Vì vậy tất cả qui định của luật lao động đều phải quán triệt tinh thần bảo vệ sức lao động, bảo vệ ngừơi lao động trong lao động sản

xuất và trong đời sống Tuy nhiên, trong kinh tế thị trừơng, vấn đ'ê bảo vệ ngừơi lao động ở mức độ nào lại phụ thuộc vào điêu kiện kinh tế của từng quốc gia, từng

doanh nghiệp và trong từng thời kỳ nhất định Bộ luật LĐ nước ta đã đáp ứng yêu

cầu này thông qua các chế định tiển lương, an toàn - vệ sinh LĐ, chế độ LĐ đặc

thù và hầu hết các chế độ khác

- Tác động đến tiên lương - Giá cả sức LĐ

Là giá cả sức lao động, tiền lương lao động phải do giá trị sức lao động và tương quan cung cầu lao động trên thị trương quyết định Pháp luật không thể qui định mức tiền lương cho từng công việc hay từng đối tựơng cụ thể bởi vì mức tiền lương phải trả cho các định mức lao động lại tùy thuộc vào rất nhiều vấn đề như sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trừơng, điều kiện làm việc, các chế độ xã hội của doanh nghiệp đối với ngừơi lao động Còn ngừơi lao động sẽ cãn cứ vào trình

độ, sức khỏe, kinh nghiệm và khả năng tìm kiếm việc làm để thỏa thuận tiền lươrm với ngừơi sử dụng lao động Nếu ngừơi lao động đòi hỏi mức tiền lương quá cao thì sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm cao và sản phẩm đó sẽ không đủ sức cạnh tranh trên thị trừơng Cuối cùng, doanh nghiệp phải thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh hoặc phá sản và như vậy ngừơi lao động sẽ thất,nghiệp, Ngựợc lại, nếu ngừơi

sử dụng lao độnơ trả mức lương quá thấp thì sẽ khôrig à'ô công nhản và doanh

! T ' 1 ' I r \ r r - ! , - ■ : I

í r h ư V / F NOiÁũ VIÊN;

04

Trang 20

nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh được Vì vậy, cả hai bên, ngừơi sử dụng lao động và ngừơi lao động đều phải dựa vào nhau để tồn tại và họ sẽ thỏa thuận đựơc với nhau một mức tiền lương hợp lý Điều 55 - BLLĐ nước ta quy định

“tiền lương của người LĐ do hai bên thoả thuận trong hợp đổng LĐ và được trả theo năng suất LĐ, chất lượng và hiộu quả công việc” Điều đó phản ánh sự chi phối của các qui luật trong nền kinh tế thị trừơng Nếu Nhà nứơc can thiệp quá sâu vào vấn đề này thì hoặc là thị trừơng không chấp nhận (cả ngừơi sử dụng lao động và ngừơi lao động không tuân theo) hoậc sẽ làm cho thị trừơng sức lao động không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nó Tuy nhiên, như trên đã phân tích, vấn đề bảo vệ ngừơi lao động là yêu cầu quan trọng đối với mỗi quốc gia ; hơn nữa trong quan hệ lao động, ngừơi lao động luôn luôn ở trong tình trạng yếu thế hơn Vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nứơc bàng pháp luật vào vấn đề tiền lương một cách phù hợp Trong nền kinh tế thị trừơng, pháp luật lao động chỉ qui định mức tiền lương tối thiểu để ngăn ngừa và hạn chế việc bóc lột quá đáng sức lao động của ngừơi làm thuê (Đ 56 - BLLĐ), hòan tòan không sử dụng mức lương tối thiểu để khống chế mức lương do thị trừơng lao động quyết định Vì vậy, mức lương này nên thấp hơn mức lương trung bình của lao động phổ thông trên thị trừơng Mặt khác, nếu có sự khác biệt lớn trong gía sinh họat giữa các vùng thì có thể có lương tối thiểu theo vùng Tư tưởng này đã được thể hiộn trong Điều 56 - BLLĐ nước ta, tuy chưa được cụ thể trên thực tế nhưng nếu có quá nhiều mức lương tối thiểu theo nhiều vùng nhiều ngành nghề lại rất dễ có xu hứơng quay trở lại thời kỳ kinh tế tập trung, tiền lương không

do thị trừơng quyết định Ngòai mức lương tối thiểu, pháp luật lao động có thể xác định các nguyên tác trả lương công bằng song mọi qui định đó đêu phải căn cứ vào thị trương Nếu pháp luật qui định mức lương thấp hơn mức lương thị trừơng thì qui định đó trở nên vô nghĩa và không bảo vệ đựơc ngừơi lao động Còn nếu qui định cao hơn thì sẽ không khuyến khích sản xuất phát triển, và như vậy thì không những lợi ích của Nhà nứơc (thuế) , ngừơi sử dụng lao động mà ngay cả lợi ích của ngừơi lao động cũng không đựơc bảo đảm (tỷ lệ thất nghiệp cao)

Tóm lại, pháp luật lao động cần phải có những qui định phù hợp với thị trừơng lao động thực tại Quan hệ giữa pháp luật và thị trừơng là quan hệ giữa kiến trúc thựơng tầng và cơ sở hạ tầng, do đó, thị trừơng sức lao động có vai trò quyết định đến nội dung của pháp luật Ngựơc lại, pháp luật cũng phải hứơng dẫn, điều tiết thị trừơng, khuyến khích thúc đẩy sự phát triển của thị trừcmg theo hứơng tích cực, tránh tình trạng tự phát, tùy tiện Phát triển kinh tế thị trừơng, pháp luật lao động đã chuyển những qui định trực tiếp, chi tiết, cứng nhắc trong thời kỳ kinh tế tập trung thành những qui định chunơ, định hứơng phù hợp với cơ chế thị trừơng, ngăn chặn việc tuyển chọn và sử dụng lao động bất hợp lý Níòai những căn cứ vầođặc điểm, bản chất chung của thị trừơng sức lao động, khi xây dựng và hòan thiện pháp lụât lao độns cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm từng khu vực, từng giai đọan phát

Trang 21

triển của thị trừơng để xác định những nội dung pháp luật phù hợp nhằm điều tiết thị trừơng đúng hứơng Điểu đó cũng góp phần lý giải tại sao rất nhiều quy định trong BLLĐ chỉ mang tính nguyên tắc, định hướng.

2- Đặc điểm của thị trừơnglao động ở Việt nam và sự điêu tiết của luật LĐ.

Trong một thời gian dài, nứơc ta duy trì nền kinh tế tập trung, xã hội chỉ có 2 thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, trong đó ngừơi lao động là ngừơi chủ Mọi ngừơi lao động đều muốn vào làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh, để đựơc bao cấp và có địa vị xã hội, tới mức trong các xí nghiệp cơ quan Nhà nứơc dư thừa tới hàng triệu lao động, ở khu vực kinh tế tập thể, công việc đựơc chia nhau cùng làm, cùng hửơng với năng suất lao động thấp Thời gian này trong

xã hội không hình thành thị trừơng lao động ; kinh tế hầu như không có tăng trửơng

vì không có động cơ cho sự phát triển

Từ sau Đại hội VI, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, quyển tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc đựơc mở rộng Do sự sắp xếp lại lao động và tổ chức lại sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Nhà nứơc, số lao động dư thừa trong cơ quan, xí nghiệp Nhà nứơc tăng lên, thêm vào đó là số ngừơi đến tuổi lao động có nhu cầu làm việc lớn do tỷ lệ tăng dân số cao Song song với qúa trình này, nhu cầu về sức lao động cho ngành mới, cho khu vực kinh

tế tư nhân khu vực liên doanh với nứơc ngòai cũng ngày càng tăng Trên cơ sở

đó thị trừơng sức lao động ở nứơc ta đã hình thành, vận động và phát triển, mang những đặc điểm sau :

- Mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu

- Mang tính tự phát và bị chia cắt, manh mún

- Các quan hệ LĐ trên thị trường đang trong quá trình phân hoá, biến đổi

Chúng ta sẽ xét từng đặc điểm trong mối quan hệ với sự điểu tiết của phápluật:

- Trên thị trường, cung lớn hơn cầu rất nhiều, trong khi vẫn thiếu lao động

qủan lý, công nhân kỹ thuật trong các dây chuyền công nghệ tiên tiến và lao động

có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao

Cung lao động trên thị trừơng gắn với nguồn nhân lực nằm trong dân số có qui

mô tương đối lớn Dân số nứơc ta đứng thứ 13 trong tổng số hơn 200 quốc gia trên thế giới Tốc độ tăng dân số cho đến nay vẫn là trên 2,2% Theo thông báo của UNFPA, năm 1995 nứơc ta có khỏang 74 triệu 410 ngàn ngừơi thì năm 2000 sẽ tăng lên tới 85 triệu và năm 2025 sẽ là 158 triệu ngừơi Trong đó,cơ cấu dân số trẻ lớn, tỉ

lệ trên độ tuổi lao động chỉ có 13 % Năm 1995, chúng ta có khỏang 38 triệu lao

Trang 22

động và với tốc độ tăng nhanh ( khỏang 3,3 % / năm ) thì đến năm 2000 chúng ta

có khỏang 45 triệu lao động (1)

Hiện nay, hàng năm chúng ta có tới 1,2 triệu ngừơi đến độ tuổi lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm Thêm vào đó là hàng triệu lao động dôi dư, hết hạn hợp tác lao động trở về, học sinh sinh viên tốt nghiệp các trừơng Đại học, Cao đẳng, bộ đội hòan thành nghĩa vụ quân sự Tất cả những số liệu trên đủ để thấy rằng thị trừơng lao động Việt nam đang đứng trứơc sức ép rất lớn của sức cung lao động Cho đến nay, ngừơi ta nhìn điều đó như một khó khăn cần phải giải quyết nhiều hơn

là một lợi thế cho công cuộc phát triển kinh t ế

Trong khi đó, cầu về sức lao động trên thị trừơng vẫn phản ánh một cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém phát triển : cho đến năm 1993 lao động nông nghiệp vẫn chiếm

72,6 % trong khi chúng ta chỉ có 6,9 triệu ha đất canh tác Lao động công nghiệp chỉ bàng 11 % (2) Do tốc độ phát triển kinh tế còn chậm nên khả năng tạo ra cầu

về lao động của các vùng công nghiệp còn yếu chỉ đủ sức thu hút khỏang 1/8 số ngừơi lao động tăng thêm hàng năm Vì vậy mà tỷ lệ thất nghiệp ở các thành phố vẫn từ 7% - 8% ( ILO cho rằng tỷ lệ thất nghiệp ở Việt nam từ 4 - 12% năm 1994)(3) Ở nông thôn có khỏang 1.300.000 lao động không có việc làm Số thời gian nhàn rỗi của người trong độ tuổi LĐ lên tới 1,2 tỷ công, tương đương với gần năm triệu LĐ (4) Chương trình " xóa đói giảm nghèo" tiến hành điều tra cho thấy 76% số lao động nông thôn có thu nhập thấp từ 16.000 đồng đến 60.000 đồng/tháng.Như vậy cầu về lao động trên thị trừơng rất yếu Sức hút của cầu còn thấp hơn cung rất nhiều Thị trừơng lao động nứơc ta thể hiện rất rõ nét trạng thái mất cân bằng và cơ cấu lạc hậu Đại bộ phận cầu nằm trong nông nghiệp nhưng nông nghiệp lại đứng trứơc trạng thái thiếu việc làm, năng suất thấp Tinh trạng đó gây lãng phí các nguồn nhân lực, kể cả nguồn đã có học vấn Sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu của thị trừơng lao động đang làm nảy sinh nhiêu vấn đề kinh tế xã hội, tạo lực cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế Thất nghiệp ở mức cao có nghiã là tổng sản phẩm quốc dân nhỏ hơn tiềm năng của nó Nền kinh tế không nằm trên đừơng giới hạn khả năng sản xuất là nền kinh tế lạc hậu và kém hiệu quả Mật khác, trên thị trừơng lao động, ngừơi lao động bị yếu thế, ngừơi sử dụng lao động có ưu thế hơn, những ngừơi có việc làm cũng phải chấp nhận một mức tiền công thấp Về mặt xã hội, không có việc làm tất sẽ dẫn đến tệ nạn xã hội, huỷ họai môi trừơng

ị I ) Báo nhân dân sô' 30 ngày 21 tháng 711996

(2) Niên giám thống kê Việt nam -1994

(3) Tạp chí lao động và xã hội sô'2 - 1996

(4) Diễn đàn doanh nghiệp số ngày 261411996 - trang 12

Trang 23

Hiện nay, để phát triển thị trừơng sức lao động ở nứơc ta Nhà nứơc cần có những qui định tác động cả vào cung và cầu sức lao động, tăng cầu nhiều và nhanh hơn nữa, giảm bớt sức ép của cung và dần dần làm cho cung cầu v'ê lao động đạt trạng thái cân bằng.

Việc giảm sức ép của cung chỉ có thể thông qua chính sách dân số thích họp nhưng chính sách dân số nếu có hiệu quả ngay thì cũng phải sau 20 năm mới phát huy tác dụng Vì vậy, trứơc mắt muốn tác động đến cung lao động , pháp luật phải chú trọng tới công tác đào tạo lao động hợp lý, tăng chất lựơng của cung để đáp ứng yêu cầu của thị trừơng Theo nhận xét của ILO, ngừơi thất nghiệp ở nứơc ta chủ yếu

là ngừơi không có nghề và số lao động giản đơn hay có nghề nghiệp không phù hợp dôi dư từ khu vực Nhà nứơc

Hơn nữa, không phải tất cả lao động có trình độ đều đáp ứng yêu cầu của công việc trên thực tế Vì vậy, hiện nay mặc dù cung lớn hơn cầu, nhưng số lao động kỹ thuật, thợ lành nghề và lao động quản lý vẫn rất thiếu Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ LĐ, đã có hơn 2 nghìn người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam với tư cách là các cố vấn, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật Như vậy, chất lựơng cung lao động nứơc ta chưa đủ đáp ứng yêu cầu để thu hút các nguồn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nứơc ngòai Tuy nhiên, bản chất của ngừơi lao động Vịêt nam là thông minh, có tinh thần học hỏi và khả nãng nắm bắt nhanh Nếu đựơc đào tạo chắc chán sẽ có đội ngũ lao động lành nghề không những đáp ứng yêu cầu của thị trừơng mà còn là một trong những nhân tố làm tăng mức cầu trong thị trương Mặt khác, cũng cần phải nhận thức rằng : trong kinh tế thị trừơng chất xám cũng là hàng hóa và việc đào tạo lao động cũng là một hình thức kinh doanh Tất nhiên vì mục tiêu tiến bộ của tòan

xã hội mà Nhà nứơc phải có trách nhiệm chính và phải hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo Việc đào tạo phải căn cứ vào yêu cầu của thị trừơng, hứơng vào thị trừơng để có

cơ cấu, qui mô, chất lựơng phù hợp Trong kinh tế thị trừơng, nhu cầu lao động của các ngành nghề thừơng xuyên biến động nên cân đối cung cầu đào tạo là rất khó Kinh nghiệm của các nứơc Đông Á cho thấy nền móng cho chiến lựơc phát triển nhân lực là tổ chức hệ thống dạy nghề có hiệu quả, có chất lựcmg giúp cho ngừơi lao động ổn định công việc dù có những thay đổi về công nghệ trên thị trừơng Vì vậy, pháp luật LĐ nước ta đã có một chương riêng vể “học nghề” nhằm giải quyết vấn đề này

Vấn đề cơ bản nhất vẫn là tìm mọi cách tăng cầu, tạo nhiều chỗ làm việc để sử dụng tối đa và có hiệu quả mọi nguồn lao động vì sức ép của cung vẫn rất lớn trong khỏang thời gian dài sáp tới Thực tế trong những năm gần đây, Nhà nứơc đã có nhiều hứơng giải quyết việc làm có hiệu quả như khuyến khích đầu tư nứơc ngòai, xuất khẩu lao động, hợp tác vay vốn nứơc ngòai, mở trung tâm dịch vụ việc làm, khuyến khích tự tạo việc làm, phát triển kinh tế hộ gia đình Trong nãm năm qua (91 - 95) thêm gần 5 triệu người có việc làm, trong đó, riêng năm 95 giải quyết việc

Trang 24

làm cho 1,3 triệu người Tỷ lệ LĐ không có việc làm ở thành thị giảm từ 9 - 10%

(91) xuống xấp xỉ 1% (95) Song, để bảo đảm phát triển kinh tế và ổn định xã hội thì

từ nay đến năm 2000, Nhà nước phải tạo việc làm cho 6,5 triệu LĐ, hạ thấp tỷ lệ

thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5 %, nâng thời gian LĐ ở nông thôn lên 80%

Nếu tính theo mức đầu tư cho một chỗ làm việc là 500 USD thì phải cần tới 3,25 tỷ USD (1) Vì vậy, trong thời gian tới, nếu nhìn tổng quát, cầu lao động vẫn lạc hậu, nông nghiệp vẫn là nơi thu hút nhiều lao động nhất Gần đây có sự thay đổi nền kinh tế nông thôn, các ngành nghề đã đựơc khôi phục và phát triển tốt nhưng nông dân chủ yếu chuyển thành ngừơi làm dịch vụ, thợ thủ công giải quyết thu nhập cho gia đình và bản thân ở mức độ chưa ổn định Chủ trương tự tạo việc làm

và phát triển kinh tế hộ gia đình chỉ giải quyết đựơc vấn đề trứơc mắt Với mức vốn

ít, trình độ lao động thấp và công nghệ lạc hậu nên một hộ gia đình chỉ đảm bảo công việc cho nhiều nhất là 4 lao động Vì vậy năng súât lao động thấp và ít có khả năng phát triển mô hình thuê lao động Nếu cứ duy trì hình thức này sẽ không mang lại mức tăng trửơng và phát triển kinh tế như các quốc gia thành công trong khu vực Vậy pháp luật kinh tế và pháp luật lao động nói riêng phải có những định hứơng khuyên khích sử dụng lao động làm công ăn lương để tập trung vốn, áp dụng công nghệ tiên tiến và nâng cao trình độ lao động Lao động có tổ chức cùng với công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn Tất nhiên, sự khuyến khích này chỉ ở tầm vĩ mô, tạo môi trừcmg thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển (đảm bảo quyền sở hữu về tư lịêu sản xuất, đơn giản trong thủ tục thành lập doanh nghiệp, tạo khả năng cho các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn tín dụng ), tạo

cơ chế thuận lợi cho việc thuê mứơn lao động (đào tạo lao động đáp ứng nhu cầu thị trừơng mà đặc biệt là cồng nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý, thủ tục thuê mứơn sa thải lao động hợp lý, phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm .) Với môi trừcmg

đó, bản thân các lao động cá thể hay hộ gia đình sẽ có nhu cầu tự liên kết tổ chức sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp và trở thành công nhân trong đó Chỉ có tổ chức và sử dụng lao động theo hứơng công nghiệp mới có tích lũy để từ đó có vốn đầu tư mở rộng tái sản xuất Trong khi khuyến khích mọi thànhphần kinh t ế , mọi công dân trong xã hội đều tham gia tạo vịêc làm, Nhà nứơc phải nhận thức đựơc lọai hình doanh nghịêp nào, thành phần kinh tế nào có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm để tạo điều kiện cho các lọai doanh nghiệp và thành phần kinh tế đó phát triển Thực sự kinh tế Nhà nứơc là thành phần quan trọng

và có vai trò chủ đạo nhưng số chỗ làm việc đang giảm dần trong chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nứơc Năm 1990 có 12.084 doanh nshiệp, sau quá trình sắp xếp lại đến năm 1995 chỉ còn 6.264 doanh nghiệp, giảm 48,2% (2) Kinh tế quốc doanh chỉ nên đảm nhiệm một số ngành then chốt và tạo điều kiện cho ngừơi

(ỉ) Diễn đàn doanh nghiệp, s ố ngày 261411996 - trang 12

(2) Chính sách phát triển doanh nghiệp - Đỗ Minh Cưcrng - Viện KHLĐ và XH

Trang 25

lao động ổn định công việc, nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất kinh doanh, đảm bảo đời sống và điều kiện lao động tốt hơn, hứơng dẫn các thành phàn kinh tế khác Kinh tế tập thể cũng đang thu hẹp dần vì hiệu quả thấp nên dần chuyển thành kinh tế

cá thể hoặc liên kêt với nhau theo nguyên tắc tự nguyện dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và lao động Vì vậy nơi có nhu cầu lao động nhiều nhất là kinh tế tư bản tư nhân Hiện nay hơn 200.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã giải quyết việc làm cho gần 5 triệu LĐ (1) Thành phần kinh tế này vẫn còn đang là một lực lương kinh tế ở dạng tiềm năng, chưa phát huy hết sức mạnh trên nhiều lĩnh vực Nếu đựơc phát triển đúng mức sẽ có khả năng thu hút thêm hàng triệu lao động làm

ra nhiêu của cải vật chất cho xã hội mà Nhà nứơc không cần đầu tư Vì vậy Nhà nứơc cần có những qui định hỗ trợ cho thành phần kinh tế này phát triển bằng cách đơn giản hóa các thủ tục thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân để tạo ra việc làm mới đồng thời nâng cao năng lực quản lý cho các chủ doanh nghiệp để họ có trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đứng vững trên thương trừơng và tạo nhiều chỗ làm việc ổn định Cân phải kiện tòan các qui định về thông tin, môi giới, dịch vụ việc làm giúp ngừơi lao động biết các nhu cầu về lao động, giá cả sức lao động trên thị trừơng và giúp các chủ doanh nghiệp thuê đựơc lao động phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh của mình Hiện nay nước ta có

126 trung tâm dịch vụ việc làm, chủ yếu chỉ dạy nghề (khoảng 200.000 người/năm)

và giới thiệu việc làm (100.000 người/năm) cho người LĐ (2) Các qui định về bảo hiểm xã hội cũng phải đựơc áp dụng ổn định trên thực tế với tất cả các lọai hình doanh nghiệp bất kể đó là thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể hay tư nhân để ngừơi lao động yên tâm làm việc, tạo môi trừơng pháp lý cho sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Bên cạnh đó, thu hút vốn bên ngòai để tăng trửơng kinh tế, có tích lũy, tạo động lực thúc đẩy từ bên trong cũng là hứơng giải quyết phù hợp Ngòai ra cần phải khai thác lợi thế nhân công rẻ, tìm kiếm các sản phẩm có nhiều triển vọng nhất

để lựa chọn sự chuyên môn hóa của Việt nam trên thị trừơng ngòai nứơc cũng là hứơng giải quyết việc làm ổn định và hịêu quả

Trong khi khuyến khích sử dụng lao động, pháp luật lao động cần phải bảo vệ ngừơi lao động, hạn chế cho họ những thiệt thòi về quyền lợi do thế cạnh tranh bất lợi trên thị trừơng cung lớn hơn cầu Pháp luật lao động phải đưa ra cơ chế về tiền lương vừa phản ánh tương quan cung cầu vừa phản ánh giá trị sức lao động của ngừơi lao động Đây là vấn đề không dễ gì có đựơc đáp số đúng nên khi áp dụng pháp luật cũng phải căn cứ vào những thay đổi trên thị trừơng để có những điều

( ỉ ) Diễn đàn doanh nghiệp sô'ngày 261411996- trang 12

(2) Diễn đàn doanh nghiệp - SĐD

Trang 26

chỉnh phù hợp, nhất là mức lương tối thiểu Trong tình hình hiện nay để tránh xảy ra khả nâng pháp luật lao động chỉ bảo vệ những ngừơi lao động đang có việc làm, mức lương tối thiểu nên qui định ở mức thấp Thực tế mức 120.000 đồng/tháng đang là mức quá thấp không đủ để đảm bảo đời sống tối thiểu cho ngừơi lao động cẩn phải tăng lên nhưng tăng đến mức độ nào thì phải tính tóan để vẫn tận dụng đựơc lợi thế là giá nhân công rẻ so với các nứơc trong khu vực Giữ cho giá cả sức lao động ở mức hợp lý cũng là một trong những biện pháp để tăng cầu lao động, khuyến khích đầu tư mở rộng nhiêu chỗ làm vịêc để giảm nhẹ sức ép của cung Vì vậy, pháp luật lao động khồng thể thái qúa bảo vệ ngừơi lao động bằng những qui định về mức tiền lương cao mà chỉ có thể bảo vệ họ thồng qua qui định về điều kiện lao động hợp lý, đảm bảo an tòan về sức khỏe, tính mạng cho ngừơi lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động Mặt khác, khi cung lớn hơn cầu, nhóm lao động khuyết tật về mặt thể chất và yếu về sức khoẻ như lao động nữ, lao động tàn tật sẽ khó có cơ hội tìm kiếm việc làm và khó có khả năng đựơc đối xử bình đẳng

Vì vậy, pháp luật lao động phải bảo vệ họ, tạo cho họ đựơc bình đẳng về cơ may và đối xử như các lao động khác tránh những hậu quả xấu về mặt xã hội

Bên cạnh đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngừơi sử dụng lao động không thể không đạt ra Khi quyền, lợi ích và điều kiện sản xuất kinh doanh, tuyển dụng lao động đựơc pháp luật bảo vệ, các nhà kinh doanh mới bỏ vốn đầu tư

và qua đó, tạo nhiều chỗ làm việc ổn định, góp phần tăng cầu lao động trên thị trừơng và thúc đẩy kinh tế phát triển

- Đặc điếm lớn thứ hai của thị trừơng lao động Việt nam là thị trừơng còn bị

chia cắt, manh mún và mang nặng tính tự phát, biểu hiện rõ nhất là việc thuê mứơn lao động theo kiểu dân sự giữa ngừơi có sức lao động và ngừơi cần sức lao động, thời gian thuê ngắn và không ồn định, điều kiện an tòan lao động, chế độ bảo hộ lao động không đựơc đảm bảo Hình thức thuê lao động theo hợp đồng lao động chưa nhiều, chủ yếu chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp lớn Theo thống kê hiện nay mới chỉ có khỏang 8 triệu lao động chiếm 21% lao động xã hội làm theo hợp đồng lao động Các lao động còn lại chủ yếu làm việc với hình thức thầu khóan, thuê công nhật, tuyển mộ nhân công, bửơng và cửu vạn, chợ lao động và lao động tự tạo việc làm trong các hộ gia đình Nguyên nhân chính của tình trạng này là sản xuất chưa phát triển, việc làm chưa ổn định nên chưa có nhiều cơ sở lớn sử dụng lao động ổn định Song ngay cả các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, về nguyên tắc cũng vẫn phải thiết lập quan hệ lao động theo pháp luật lao động Vì vậy, Nhà nứơc cần

có sự kiểm tra , xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật lao động, vi phạm chế

độ hợp đồng tạo ý thức chấp hành pháp luật lao động để mở rộng, phát triển thị trừơng lao động có tổ chức Vấn đề chủ yếu là nsay trong nội dung các qui định của pháp luật cũng phải khuyến khích ngừơi sử dụng lao động áp dụng các hình thức hợp đồng dài hạn , tương đối ổn định Ví dụ : ưu tiên cho vay vốn từ quỹ quốc gia

Trang 27

về việc làm , mức độ bảo đảm quyền lợi cho ngừơi lao động theo hợp đồng từ một năm trở lên thấp hơn so với hợp đồng theo mùa vụ Nên chăng cũng có thể qui định mức công nhật tối thiểu tương đối cao để hạn chế hình thức này vì chế độ làm công nhật không thể áp dụng những qui định chung về lương tối thiểu.

Hiện nay, do tác động của các yếu tố như điều kiện sống, khả năng tìm việc, mức tiền công và khả năng phát triển trong tương lai đã tạo ra các dòng di chuyèn lao động từ nông thôn ra thành phố, từ đồng bằng lên miền núi, từ miền Bắc vào miền Nam, từ khu vực kinh tế quốc doanh ra các thành phần kinh tế khác mà chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nứơc ngòai, từ trong nứơc ra nứơc ngòai thông qua xuất khẩu lao động Các dòng di chuyển lao động đã tuân theo qui luật thị trừơng góp phần điều chỉnh cung cầu từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm giảm sức ép việc làm trong cả nứơc Song nhìn chung thị trương còn chưa thống nhất biểu hiện

rõ nhất là các dòng lao động từ nông thôn ra thành phố, từ đồng bàng lên miền núi chủ yếu tập trung vào thời kỳ nông nhàn Các thành phố hầu hết đều hạn chế việc nhập hộ khẩu từ nơi khác vào Miền núi vẫn là nơi đất rộng ngừơi thưa kinh tế không phát triển Mức lương giữa miền Bắc và miền Nam vẫn chênh lệch rất lớn (tới 90% ) Nguyên nhân của tình trạng trên có thể có rất nhiều : mức tiền công có chênh lệch nhưng không bù đắp được những chi phí vận chuyển và thay đổi cuộc sống cũng như những rủi ro kèm theo ; do sự khác biệt về phong tục tập quán giữa các địa phương cũng như tâm lý không muốn ra khỏi biên chế Nhà nứơc hay rời quê cha đất tổ ; quyền sử dụng đất canh tác còn hạn chế chuyển nhựơng Những khó khăn này đòi hỏi phải đựơc giải quyết để thị trừơng lao động có thể thống nhất, ổn định và quyền tự do lựa chọn vịêc làm , nơi làm việc đựơc mở rộng Nhà nứơc phải giúp ngừơi lao động di chuyển đến những vùng phồn thịnh và tăng trửơng nhanh hơn thì mới dễ xóa bỏ sự không cân bằng giữa các vùng, phát triển tiềm năng kinh tế của mọi vùng và giải quyết thất nghiệp hữu hiệu Để giải quyết tình trạng trên, bên cạnh các chính sách đầu tư , di dân phát triển kinh tế mới của Nhà nứơc, pháp luật lao động cần nhanh chóng áp dụng trên thực tế chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sử dụng lao động có qui

mô tương đối lớn Bèn cạnh đó cần phải có cả chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của những đơn vị sản xuất nhỏ hay tự tạo vịêc làm Nếu giải quyết tốt vấn đề bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm sau quá trình lao động thì sự

di chuyển lao động giữa các ngành, các vùng, đặc biệt là từ khu vực Nhà nứơc sang các khu vực kinh tế khác sẽ tương đối thuận tiện vì bảo hiểm xã hội không chỉ là quyền lợi của ngừơi lao độn2 mà còn là một trong những yếu tố của môi trừơng pháp lý, bảo đảm cho thị trừcmg lao động hình thành và phát triển

Một đặc điếm nữa của thị trừơng lao động nứơc ta hịên nay là các quan hệ lao

động trên thị trừơng đan2 , trong thời kỳ phân hóa, chuyển đổi Pháp luật lao động

khôniỉ những phải xác định những nội duns phù hợp với quá trình này mà còn phải

Trang 28

tác động đến quá trình đó theo yêu cầu của cơ chế thị trường Trứơc kia, quan hệ lao động đã bị biến dạng thành các quan hệ hành chính, đồng nhất ngừơi công nhân với công chức Nhà nứơc, do Nhà nứơc quản lý, bao cấp nên ngừơi lao động chỉ quan tâm tới việc vào cho đựơc biên chế Nhà nứơc Sau đó họ đựơc hửơng các chế độ phân phối của Nhà nứơc cho đến hết đời mà các chế độ này hầu như không liên quan gì đến quá trình lao động sản xuất thực tế và sự đóng góp của họ trong quan

hệ lao động Cơ chế thị trừơng đã trả lại cho quan hệ lao động bản chất đích thực của

nó là quan hệ mua bán sức lao động Ngừơi mua chỉ trả tiền (tiền lương) cho ngừcd bán khi sức lao động đã chuyển thành giá trị hàng hóa của sản phẩm làm ra và mức trả nhiều hay ít phụ thuộc vào hiệu quả của hạch tóan kinh doanh Vì vậy, các bên phải xác lập quan hệ lao động trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và tự quyết định quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó Nhà nứơc không thể duy trì chế độ bao cấp đối với quan hệ lao động mà chỉ một nhóm trong đó như công chức Nhà nứơc, ngừcá thuộc lực lựơng vũ trang Những quan hệ này cần phải đựơc tách khỏi quan hệ làm công ăn lương Còn quan hệ làm công ăn lương dù thuộc thành phần kinh tế nào cũng là quan hệ mua bán sức lao động họat động bình đẳng trên thị trừơng Pháp luật lao động phải điều chỉnh nhóm quan hệ này như là một quan hệ mua bán đặc biệt trên thị trừơng cũng như phải góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi trong xã hội nhanh hơn, sâu sắc và tòan diện hơn Điều 9 - BLLĐ nước ta đã quy định : “Quan hệ LĐ giữa người LĐ và người sử dụng LĐ được xác lập và tiến hành qua thương lượng thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẩng, hợp tác tôn trọng quyển và lợi ích họp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết”

Đó là điều kiện để các bên thiết lập quan hệ LĐ phù hợp với kinh tế thị trường Song, cho đến nay vẫn còn không ít LĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước chưa chuyển sang chế độ HĐLĐ

Hiện nay, các thành phần kinh tế ngòai quốc doanh đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ, mở ra một hứơng phát triển mới cho lực lựơng lao động đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới cho pháp luật lao động Các quan hệ lao động trong thành phần kinh tế cá thể, tư bản đã chiếm vị trí quan trọng hơn và có tỷ trọng ngày càng lớn, thay đổi cục diện phân bố lao động xã hội Những ngừơi lao động ở khu vực này là lực lựơng đông đảo nhưng quyền lợi của họ hầu như bị thả nổi, trên thực tế hòan tòan do ngừơi sử dụng lao động quyết định Họ không đựơc hửơng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, các lọai phụ cấp Đó là một bất hợp lý cần phải xóa bỏ nên các cơ quan quản lý, thanh tra LĐ cần phải quan tâm đến đối tựơng lao động này Hơn nữa, Luật đầu tư nứơc ngòai, Luật phá sản doanh nghiệp ra đời

và sự thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung cùng với hình thức xuất khẩu lao động ra nứơc ngòai cũng làm nhiều mối quan hệ lao động mới xuất hiện Các quan hệ lao động này cũng rất đa dạng như quan hệ giữa ngừơi lao động Việt nam và chủ sử dụng lao động nứơc ngòai ở nứơc ngòai và ở Việt nam ; quan hệ

Trang 29

giữa ngừơi nứơc ngòai và tổ chức cá nhân Việt nam, giữa ngừơi lao động và tổ chức xuất khẩu lao động ; quan hệ lao động trong khu chế xuất, khu công nghiệp Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải có qui định của pháp luật lao động nhằm ổn định và giải quyết những quan hệ mới này Hiện nay, NĐ 07 CP (20/01/95) về đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Thông tư số 11 TTLĐ (03/05/95) và quyết định 385 LĐQĐ (01/04/96) hướng dẫn quy định về tiền lương trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài và một số quy định khác tuy chưa đồng

bộ nhưng đã phần nào tính đến những quan hệ đa dạng và đặc thù này

Thực tế khi cung lớn hơn cầu thì phải nhận thức rằng trứơc sức ép về việc làm đang thừơng trực và ngày càng gia tăng, ngừơi lao động càng rơi vào thế yếu Nhiều khi họ phải chấp nhận những điều bất lợi và khó tránh khỏi bị bóc lột quá đáng trên thị trừơng lao động Đồng thời nếu ngừơi sử dụng lao động quá ép buộc thì tất yếu

sẽ xảy ra tranh chấp, xung đột, đình công Điều đó bất lợi cho cả hai bên và cho sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, pháp luật lao động một mặt phải tạo cho ngừơi lao động một vị trí bình đẳng, hạn chế tối đa khả năng bị bóc lột cũng như việc bảo

vệ danh dự, nhân phẩm cho họ Mặt khác pháp luật phải xây dựng mối quan hệ lao động ổn định, hài hòa và có cơ chế giải quyết tranh chấp thích hợp Nhà nước ban hành các văn bản như NĐ 92 CP (19/12/95) về giải quyết quyền lợi cho người LĐ trong các doanh nghiệp bị phá sản, pháp lệnh về thủ tục giải quyết các tranh chấp

LĐ (20/04/96), NĐ 38 CP (25/06/96) về xử phạt hành chính các hành vi vi phạm pháp luật LĐ đã chứng tỏ rằng Nhà nước đã quan tâm điều chỉnh lĩnh vực này nhưng còn hơi chậm Cho đến nay vẫn chưa có các quy định về án phí LĐ nên việc giải quyết các vấn đề trên còn chưa đáp ứng yêu cầu

Như vậy, từ quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nứơc ; từ yêu cầu bức xúc của sự phát triển kinh tế mà thị trừơng lao động Việt nam đang hình thành và có sự thay đổi sâu sắc Pháp luật lao động cần phải có bứơc chuyển tương ứng, phải xây dựng đựơc hệ thống qui phạm đồng bộ, thống nhất, hòan chỉnh, chặt chẽ nhàm tạo mặt bằng pháp lý thuận lợi để quan hệ lao động ổn định, phát triển theo cơ chế thị trừơng và định hứơng của Nhà nứơc Nội dung cơ bản của pháp luật phải kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, quyền bình đẳng và quyền tự do ý chí của ngừơi lao động, ngừơi sử dụng lao động đựơc tôn trọng

*

* *Tóm lại, để phát triển kinh tế thị trừơng tất yếu phải có sự điều tiết của pháp luật, song pháp luật cần phải căn cứ vào bản chất, thực trạng, đặc điểm của thị trừơns để có hứơng điều tiết phù hợp Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất của pháp luật lao động Việt nam là phải mở rộng quyền tự do cho các bên tham gia thị trừơng

để phát huy tính nàng độne sáng tạo của các chủ thể, đồng thời thổng qua đó, tạo

Trang 30

điều kiện cho thị trừơng lao động họat động hữu hiệu Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa sức lao động và đặc điểm thị trừơng lao động Việt nam, pháp luật lao động phải bảo vệ ngừơi lao động đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngừơi sử dụng lao động, tạo điều kiện cho các quan hệ mua bán sức lao động có điều kiện phát triển, giải quyết tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu sức lao động trên thị trương Song hàng hóa sức lao động luôn gắn liền với bản thân ngừơi lao động nên quan hệ mua bán sức lao động diễn ra không chỉ một lần trao đổi mà là cả một quá trình, thông qua lao động sức lao động đựơc chuyển dần vào hàng hóa Trong quá trình đó, ngừơi lao động và ngừơi sử dụng lao động luôn phải duy trì quan hệ với nhau theo những qui định của pháp luật Trong nền kinh tế thị trừơng, các quan hệ này rất đa dạng và phong phú, cần phải có sự phân định để điều tiết đồng bộ, hợp

lý trên mặt bàng chung Xét về một mặt nào đó, thị trừơng lao động không đồng nghĩa với quan hệ lao động Pháp luật lao động tác động đến thị trương lao động chủ yếu thông qua việc điều tiết quan hệ lao động Trong kinh tế thị trừơng, phạm vi quan hệ lao động do Luật lao động điều chỉnh cũng như cách thức tác động, nguyên tắc tác động của pháp luật đến các quan hệ lao động và nội dung trọng tâm của nó hòan tòan thay đổi, phù hợp với các qui luật của thị trừơng và đé điều tiết thị trừơng theo định hứơng của Nhà nứơc Chúng ta sẽ phân tích vấn đề này ở chương tiếp theo

Trang 31

CHƯƠNG II NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA s ự ĐIÊU CHỈNH CÁC QUAN HỆ

LAO ĐỘNG TRONG NÊN KINH TẾ THỊ TRỪƠNG

I - ĐỐI TỤƠNG, PHƯƠNG PHÁP, NGUYÊN TẮC c ơ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG

Trong hệ thống pháp luật của nước ta ngành luật lao động giữ vị trí vô cùng quan trọng Luật lao động " tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa ổn định, phát huy trí sáng tạo và tài nãng của ngừơi lao động người quản lý lao động nhàm đạt năng suất, chất lựơng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ , hiệu quả trong sản xuất và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước vì sự nghiệp dân giàu nứơc mạnh, xã hội công bằng và văn minh” ( Lời nói đầu - Bộ luật lao động )

Như tất cả các ngành luật khác, ngành luật lao động cũng có đối tựơng, phương pháp và các nguyên tắc riêng Việc nghiên cứu, xác định đối tượng, phương pháp và nguyên tắc cơ bản của luật lao động khổng chỉ đặt ra trong công tác nghiên cứu khoa học pháp lý mà còn được đặc biệt chú ý trong quá trình xây dựng và hòan thiện hệ thống pháp luật nứơc ta Đây là những vấn đê tạo nền tảng tư tưởng và lý luận để hình thành các qui định và hệ thống các qui định, chế định về lao động Nó

là những nội dung có tính chất cốt lõi xuyên suốt và chi phối tòan bộ ngành luật lao động

Nhưng bản thân vấn đề đối tựơng, phương pháp và nguyên tấc của ngành luật không phải là vấn đ'ê đã có sẵn hay có thể áp đặt Về bản chất, đây là vấn đề tư tưởng, vấn đề lý luận pháp lý Nó cũng thuộc thựơng tầng kiến trúc và do hạ tầng cơ

sở xã hội chi phối và là sự phản ánh sự tồn tại và phát triển khách quan của xã hội Tùy theo quan điểm chính trị, tình hình kinh tế xã hội của từng thời kỳ lịch sử mà vấn đề này được xác định phù hợp Nói cách khác, việc xác định đối tượng, phương pháp và nguyên tắc của ngành luật phải tùy thuộc vào các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở ở thời điểm xác định Nó có ý nghiã cả về chính t r ị , khoa học và thực tiễn

Dưới góc độ chính trị, vấn đề đối tượng, phương pháp và nguyên tắc của luật lao động phản ánh ý chí và quan điểm chính trị cũng như chính sách về LĐ của Nhà nước Thông qua những nội dung này, Nhà nước xác định quan điểm, định hướng công tác quản ỉý trong lĩnh vực ỉao động xã hội, xác định địa vị pháp lý ngừơi lao động, ngừơi sử dụng lao động, xác định quan hệ giữa họ với nhau và với Nhà nước

Trang 32

trong lĩnh vực lao động và các vấn đề có liên quan như phân chia lợi nhuận, giải quyết tranh chấp

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, vấn đề đối tựơng, phương pháp và nguyên tắc của ngành luật lao động thể hiện sự phân định, sự kết hợp giữa các ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt nam Sự phân định và kết hợp này biểu hiện

kỹ thuật, trình độ lập pháp và cấu trúc khoa học của hệ thống pháp luật quốc gia Trên cơ sở đối tượng, phương pháp và nguyên tác của luật lao động có thể khẳng định sự độc lập và mối tương quan giữa luật lao động và một số ngành luật khác như luật dân sự hay luật hành chính

Sự xác định này còn mang lại ý nghiã thực tiễn to lớn Nó phản ánh thực trạng lĩnh vực lao động xã hội trong từng thời kỳ phát triển, thể hiện năng lực và trình độ quản lý Nhà nứơc trong lĩnh vực lao động xã hội, thể hiện tương quan kinh tế giữa lực lượng nám tư liệu sản xuất (ngừơi sử dụng lao động) và lực lựơng lao động làm thuê, đánh giá sự thay đổi, tiến bộ về chất cũng như về hình thức của quan hệ lao động trên toàn xã hội Trên thực tiễn ,lĩnh vực lao động rất phức tạp, liên quan tất cả

lĩnh vực kinh tế và xã hội Các yếu tố do chi phối tới quá trình xác định đối tựơng,

phương pháp và nguyên tắc cơ bản của luật lao động Đồng thời việc xác định các vấn đề này lại đánh giá tính hiệu quả và tính hợp lý của việc giải quyết các vấn đề

phức tạp 1 ĩin

Như vậy, đối tượng, phương pháp và nguyên tắc cơ bản của luật lao động là

những vấn đề rất quan trọng, nó vừa là yếu tố phản ánh, vừa là yếu tố chi phối quá

trình vận động, phát triển nội tại khách quan của ngành luật của đời sống chính trị

xã hội của đất nứơc Do đó, không thể tách rời sự phát triển pháp luật lao động ra khỏi sự phát triển chung của lịch sử đất nứơc, cũng không thể nghiên cứu tìm hiểu đối tượng, phương pháp và nguyên tác cơ bản của ngành luật tách khỏi mối tương quan chung với điều kiện lịch sử mà nó tồn tại Điều đó cũng góp phần lý giải tại sao cũng vấn đề này nhưng trong cơ chế quản lý hành chính lại được xác định khác với thời kỳ kinh tế thị trừơng hiện nay

Khi xác định đối tựơng, phương pháp và nguyên tắc cơ bản của luật lao động cũng cần phải dựa trên những lý luận chung về Nhà nứơc và pháp luật Theo hệ thống lý luận cơ bản đó, đối tựơng điều chỉnh của một ngành luật là nhóm quan hệ

xã hội cùng bản chất, đặc điểm trong một lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Trong xã hội, các quan hệ xã hội tồn tại khách quan, đan xen với nhau rất phức tạp Việc xác định phạm vi từng nhóm quan hệ phải dựa vào bản chất, đặc điểm của nó

mà những vấn đề này không phải bao giờ cũng nhận thấy ngay được Trong lĩnh vực lao động , đặc điểm và bản chất của quan hệ lao động phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và chế độ chính trị Nếu Nhà nứơc chủ trương đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế phát triển bình đẳng thì các quan hệ lao động sẽ mang yếu tố hàng

Trang 33

hóa - tiền tệ của nền kinh tế thị trường Ngựơc lại, nếu chỉ ưu tiên hình thức sở hữu Nhà nứơc và chủ trương chỉ phát triển kinh tế quốc doanh thì các quan hệ lao động hình thành trên cơ sở kế hoạch của Nhà nước Song dù phát triển theo hướng nào thì quan hệ lao động cũng thuộc các yếu tố của hạ tầng cơ sở xã hội và pháp luật lao động - yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc - muốn tác động có hiệu quả phải lựa chọn những cách thức, phương pháp tác động, điều chỉnh phù hợp Mặt khác, sự điều chỉnh của pháp luật lao động chỉ hiệu quả khi nó xác định được những nội dung đồng bộ trong một mối liên hệ thống nhất Vì vậy, những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cần phải được đặt ra vừa như một xuất phát điểm vừa bao trùm, xuyên suốt, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật lao động Đó là những phương hứơng chung điều tiết các quan hộ lao động hay những nguyên tắc cơ bản của ngành luật Yếu tố này cũng phải căn cứ vào bản chất của quan hệ lao động mà xác định những nội dung phù họp.

Như vậy, khi xác định các yếu tố trên cần phải nắm được mối tương quan giữa chúng Vấn đề cốt lõi quan trọng nhất là đối tựơng điều chỉnh Do vậy, mục đích của việc xác định các nguyên tấc, phương pháp điều chỉnh là để tác động đến đối tượng điều chỉnh, làm cho các quan hệ xã hội phát triển theo hứcmg đựơc điều chỉnh nên các yếu tố trên vừa phụ thuộc vào nhau, vừa tác động qua lại với nhau trong quá trình tồn tại

Xác định các yếu tố trên và mối quan hệ giữa chúng là một vấn đ'ê rất khó khăn Vì vậy cần phải nghiên cứu tìm hiểu trên những cơ sở hợp lý và khoa học nhất là trong giai đoạn chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1- Quan hệ hình thành trên cơ sở hợp đồng LĐ - Đối tượng của luật lao động.

- Quan hệ lao động - đối tượng điều chỉnh của luật lao động, đó là một điều

hiển nhiên Trứơc đây ngừơi ta thừơng hiểu quan hệ lao động một cách chung chung

là quan hệ giữa con người và con người trong quá trình hợp tác, phân công lao động

xã hội Trong xã hội hiện đại quan hệ LĐ có thể được hiểu cụ thể hơn Đó là quan

hệ giữa những người tham gia thực hiện việc làm để hửơng lương (ngừơi lao động)

và những ngừơi càn thực hiện việc làm, có khả năng trả lương cho người thực hiện việc làm đó (ngừơi sử dụng lao động) Khái niệm việc làm ở đây không trùng với khái niệm một công việc cụ thé mà được hiểu như là một phương thức kiếm sống,

một hoạt động nghề nghiệp của ngừoi lao động Đồng thời nó xác định chức năng, nhiêm vụ của một đơn vị, tổ chức sử dụng lao động hoặc nó cũng là một nghề, một lĩnh vực mà cá nhân ngừơi sử dụng lao động họat động kinh doanh ( may, dệt, giáo

Trang 34

viên, thư ký, dịch vụ ) hay nó xác định nhu cầu thường xuyên trong cuộc sống của

họ ( thuê gia nhân, thư ký ) Người sử dụng lao động có cãn cứ vào nhu cầu việc làm để tuyén lao động còn người lao động cân cứ vào sức khỏe, trình độ nghề nghiệp, mức lương để tìm việc làm Trong quan hệ này, ngừơi lao động làm việc cho ngừơi khác và theo sự chỉ đạo của bên có nhu cầu thực hiện việc làm (người

sử dụng lao động ) Như vậy, trong thời gian tham gia quan hệ, ngừơi lao động bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động, người tồ chức thiết kế và có nhu cầu thực hiện các công việc thuộc một việc làm nhất định Người lao động để được nhận

lương, họ thực hiện các họat động nghề nghiệp theo sự điều khiển của người sử dụng

lao động , họ bị người sử dụng lao động quản lý, phân công, điều hành, ra mệnh

lệnh, kiểm tra giám sát Do đó, người lao động được trả lương căn cứ chủ yếu vào lượng lao động đã tiêu hao, không phải bao giờ cũng căn cứ vào kết quả cuối cùng của công việc Nhìn chung, họ cũng không phải gánh vác rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phụ thuộc của người LĐ vào người sử dụng LĐ này có

thể sẽ ở những mức độ khác nhau ở từng thời kỳ, từng khu vực, từng chế độ xã hội

nhưng bao giờ cũng có và đó là đặc điểm cơ bản nhất của quan hệ LĐ, là căn cứ quan trọng bậc nhất để phân biệt một quan hệ LĐ với những quan hệ xã hội khác có

sử dụng LĐ

Đối chiếu với những đặc điểm trên các chủ sở hữu nhỏ, những gia đình nông dân canh tác trên ruộng đất Nhà nước giao cho mình, những người buôn bán, thợ thủ công tổ chức sản xuất kinh doanh theo cách của mình, sử dụng sức lao động của mình hay của những thành viên trong gia đình thì đó là họ cùng lao động chứ không phải tham gia quan hệ lao động

Cũng không thuộc khái niệm quan hệ lao động những lĩnh vực có sử dụng sức lao động như một cá nhân hay một chủ hộ nào đó thuê một vài người thợ đóng đồ gỗ

để sử dụng trong gia đình (không phải để sản xuất kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận) Giữa họ cũng có thể có thỏa thuận về thời gian làm việc, chất lựơng lao động, tiền công nhưng những thỏa thuận này không xác lập quan hệ lao động Đó

là quan hệ chỉ trong một công việc cụ thể Trong quan hệ này, hai bên quan hệ chủ yếu chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng của cồng việc và tiền công (đã thỏa thuận trước) Các bên hoàn toàn không tính đến điều kiện làm việc, lựơng lao động hao phí nhiều hay ít và nhất là không có sự quản lý điều hành trực tiếp của người thuê khoán Do vậy, những quan hệ này do luật dân sự điều chỉnh

Như vậy có thê hiểu quan hệ lao động - đối tượng của luật LĐ là quan hệ liên quan đến quyên và nghiã vụ của bên có sức lao động, có nhu càu việc làm và bên có nhu câu sử dụng sức lao động trong quá trình lao động Nó không phải là tất cả các

quan hệ có sử dụng lao độnơ, cũng không phải là tất cả quan hệ giữa con người và con ngừơi trong quá trình lao động

Trang 35

- Các quan hệ lao động trong xã hội và đặc điểm các quan hệ do luật lao động điêu chỉnh.

Trong kinh tế thị trường do có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và đa dạng về mục đích sử dụng lao động nên cũng tồn tại nhiều quan hệ lao động khác nhau Xét theo nghĩa rộng nhất mọi thành viên tham gia các họat động kinh tế xã hội đều là người lao động và quan hệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong quá tìn h lao động của họ đều là quan hệ lao động Với quan niệm này, quan hệ lao động có thể bao gồm LĐ trong lực lượng vũ trang, Tòa án, Kiểm sát, dân cử, lao động trong các đòan thể xã hội, hợp tác xã, trong các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ và trong khu vực kinh tế hộ gia đình Một thời gian dài pháp luật lao động nước ta cũng điều chỉnh hầu hết quan hệ lao động trên hình thức tuyển dụng vào biên chế Nhà nước Nghị định 24 CP quy định về vấn đề này đã là căn cứ quan trọng làm phát sinh quan hệ pháp luật LĐ suốt từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm 1980 Sự đồng hóa các quan hệ lao động như vậy đã làm cho sản xuất kinh doanh bị biến dạng, vì mục đích chính, không phải để thu lợi nhuận mà

để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước Trong cơ chế thị trường điều đó không the chấp nhận được cũng như cơ chế thị trường không thể chấp nhận được sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp Nhà nứơc và các doanh nghiệp khác Vì vậy, muốn xác định đối tượng điều chỉnh của luật lao động phải nhận thức đựơc tính chất khác biệt của các quan hệ lao động nói trên và nếu như giữa chúng không có cùng thuộc tính, đặc điểm thì không thể cùng do một ngành luật điêu chỉnh

Căn cứ vào tư cách của người lao động trong quan hệ, chúng ta có thể phân các quan hệ lao động trên thành ba nhóm Nhóm thứ nhất là quan hệ lao động xác lập để thực hiện các chức năng Nhà nước bao gồm quan hệ lao động của lực lựơng vũ trang, Tòa án, Kiểm sát, lực lượng dân cử và công chức Nhà nứơc Nhóm này có đặc điểm chung là nhóm quan hệ mang tính chất công quyền Vì vậy, sau khi tham gia quan hệ, người lao động đổng thời là người mang quyền lực Nhà nước Tiêu biểu nhất trong nhóm này là quan hệ lao động của các công chức Nhà nứơc Xét trên một phương diện nào đó thì công chức Nhà nước cũng thuộc giới những người lao động trong xã hội và quan hệ giữa họ và Nhà nước cũng là quanhệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Song quan hệ này khác với các quan hệ lao động thông thường ở chỗ sự phát sinh quan hệ LĐ không phải bằng việc giao kết một hợp đổng

mà chủ yếu bằng sự tuyển dụng, bổ nhiệm Hơn nữa, các bên tham gia không hoàn toàn bình đẩng mà mans tính chất quyền uy và phục tùng Trong quan hệ các bên khôns chỉ quan tâm đến công việc, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, đến sự hao phí lao động mà còn chú ý đến địa vị người lao động Việc thiết lập quan hệ lao động là việc xác định một địa vị khác của ngừơi lao động, một công chức Nhà nước, một nhân viên trong bộ máy Nhà nước Các công việc của họ không chi mang tính nghề nghiệp mà còn mang tính công vụ Vì vậy trách nhiệm của các công chức khi

Trang 36

thực hiện công việc không còn nguyên nghĩa là trách nhiệm nghề nghiệp mà là trách nhiệm của một nhân viên Nhà nứơc, thực hiện chức năng Nhà nứơc Do địa vị này,

họ không còn là người lao động bình thường làm việc cho người khác và hưởng lương theo sự thoả thuận giữa hai bên mà theo các thang bảng, mức lương được Nhà nước khống chế tương đối chặt chẽ, đơn phương quyết định khi tuyển dụng, thăng thưởng Nhà nước là người sử dụng lao động của công chức Nhà nứơc nhưng công chức Nhà nước lại nhân danh Nhà nước khi tiến hành công vụ Đại diện cho Nhà nước - ngừơi sử dụng lao động là thủ trưởng các cơ quan Nhà nước cũng có quyền quản lý, điều hành, kiểm tra công việc của các công chức Nhà nước nhưng chính thủ trưởng cơ quan Nhà nước đó cũng lại là một công chức Nhà nước, cùng chung chế

độ làm việc và chế độ hưởng thụ do Nhà nước đài thọ, cũng chịu sự quản lý của Nhà nước Do địa vị và tầm quan trọng trong công việc của họ, quyền và nghĩa vụ giữa các bên không chỉ liên quan đến quá trình lao động mà còn bị chi phối mạnh mẽ của yếu tố hành chính Những tranh chấp, bất đổng giữa họ cũng thường được giải quyết bằng thủ tục hành chính Quan hệ này vì vậy không còn là quan hệ lao động đơn thuần mà mang nặng màu sắc của quan hệ hành chính nên cần phải để luật hành chính điều chỉnh

Tương tự như vậy các quan hệ lao động của lực lượng vũ trang, lực lựơng Tòa

án, Kiểm sát và của các đại biểu dân cử cũng không phải là quan hệ lao động theo đúng nghiã của nó Các quan hệ này sẽ do các ngành luật khác điều chỉnh (luật hành chính, luật nhà nứơc, luật nghĩa vụ quân sự )•

Nhóm thứ hai là quan hệ lao động trong các hợp tác xã, các tổ chức xã hội Các quan hệ này hình thành bằng hình thức làm đơn gia nhập và kết nạp thành viên Người lao động trong các tổ chức này nếu đồng thời là thành viên của chính tổ chức mình thì quan hệ giữa họ (người lao động và tồ chức họ làm việc) cũng không phải

là quan hệ lao động đơn thuần, ở đây người lao động sau khi là thành viên họ có quyền cùng các thành viên khác quyết định các công việc chung của tổ chức Giữa các bên cũng có sử dụng sức lao động, có sự phân công, điều hành, quản lý, kiểm tra nhưng đó là sự tự quản lý phân công giữa các thành viên với nhau theo qui chế

mà tất cả các thành viên đều tham gia xây dựng Vì vậy, quan hệ giữa các bên (các thành viên trong tổ chức và tổ chức của họ thông qua người đại diện) là quan hệ nội

bộ, không chỉ liên quan đến quá trình lao động mà còn là tổng hợp các quan hệ sở hữu (tài sản chung của tổ chức) quản lý (xây dựng qui chế, nội qui, bầu ra các chức danh trong bộ máy điều hành) và phân phối (nếu có) Người lao động tham gia quan

hệ này với tư cách của một thành viên, không phải người có sức lao động cho người khác thuê mướn để nhận lương Đây là nhóm quan hệ nội bộ trong một tổ chức tự nguyện do luật các tổ chức xã hội, luật hợp tác xã và qui chế nội bộ của họ điều chỉnh

Trang 37

Nhóm cuối cùng là quan hệ lao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch

vụ của các thành phần kinh tế cũng như trong lĩnh vực kinh tế hô gia đình Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc để làm kinh tế hay phục vụ các sinh hoạt gia đình, các tổ chức, gia đình, cá nhân có nhu cầu nhân lực, nhu cầu sử dụng lao động thì thuê mứơn Quan hệ lao động phát sinh chủ yếu trên cơ sở giao kết hợp đổng LĐ Trong quá trình sử dụng người lao động bị phụ thuộc về tổ chức quản lý nhưng lợi ích mục đích giữa hai bên tương đối độc lập Người lao động chỉ là ngừơi

đi làm thuê cho người khác để hưởng lương Họ có thể có tài sản (thậm chí có tài sản

ở ngay doanh nghiệp sử dụng họ) hoặc không nhưng trong quá trình lao động bao giờ họ cũng bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động về mặt kinh tế, do vậy cũng bị phụ thuộc cả về mặt tổ chức, quản lý Sự phụ thuộc về tổ chức quản lý thuộc về bản chất quan hệ lao động còn sự phụ thuộc về kinh tế trên cơ sở tất cả tài sản trong sản xuất kinh doanh đều thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý sử dụng của người sử dụng lao động Người lao động chỉ có sức lao động đóng góp vào quá trình đó hay nói cách khác, sức lao động là phương tiện duy nhất để bảo đảm cuộc sống cho họ

và họ chịu sự quyết định về phân phối của người sử dụng lao động trong quá trình lao động đó Về địa vị trong một đơn vị, họ có thể là viên chức các loại (kinh tế, hành chính, pháp lý, thương mại, tài chính ) là thợ, là công nhân trực tiếp, công nhân phục vụ sản xuất, người làm thuê nhưng không bao giờ họ được quyết định các vấn đề quản lý điều hành công việc của đơn vị, mặc dù họ cũng có quyển tham gia vào một vài lĩnh vực nào đó trong quản lý, kinh doanh

Ngừơi sử dụng lao động là người chủ tư liệu sản xuất đồng thời là người quản

lý điều hành đơn vị Cũng có thể họ là người được chủ tư liệu sản xuất thuê mướn,

bổ nhiệm để trực tiếp thực hiện công việc quản lý điều hành đơn vị và được toàn quyền sử dụng và trả công cho ngừơi lao động Thông thường, họ là người đứng đầu một đơn vị (giám đốc) có quyên quyết định mọi vấn đề trong đơn vị đó, không phụ thuộc vào phía bên kia - người lao động

Tiền lương (công) trả cho người lao động do các bên thỏa thuận căn cứ vào yêu cầu việc làm, khả năng người lao động, điều kiện làm việc trong đơn vị và tình hình lao động và sử dụng lao động trong xã hội Trong quá trình tham gia quan hệ, người lao động bao giờ cũng chỉ là người có sức lao động cho người khác sử dụng để nhận lương, còn bên kia khồng với tư cách nào khác ngòai tư cách của người cần sức lao động, sử dụng sức lao động của người khác để thực hiện công việc của mình, trả lương cho người thực hiện công việc Với tư cách đó, nếu giữa họ có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến quá trình lao động thì hai bên đều có thể là nguyên đơn, bị đơn trứơc Tòa

Vì vậy quan hệ giữa họ đích thực là quan hệ mua bán sức lao động trcn thị trường lao động Quan hệ này xuất hiện một cách tự nguyên trên cơ sở nhu cầu, lợi ích của các bên Nó có thê hình thành giữa bất kỳ ngừơi lao động và người sử dụng

Trang 38

lao động nào trong xã hội và luôn mang màu sắc của quan hệ hàng hóa - tiền tệ Đây

là quan hệ lao động đặc trưng của nền kinh tế thị trường

Như vậy, họat động của con người trong xã hội rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực nên quan hệ lao động mà họ tham gia cũng có những đặc trưng khác nhau Tuy nhiên, khi phát triển kinh tế thị trường thì họat động quan trọng, bao trùm nhất trong xã hội là sản xuất kinh doanh dịch vụ nên quan hệ lao động giữa ngừơi làm công ăn lương và người sử dụng lao động là quan hệ lao động tiêu biểu

Nó được hình thành trên nền tảng của thị trường và mang đặc trưng của quan hệ kinh tế thị trường Các quan hệ này phải do luật lao động điều chỉnh theo hướng điều tiết thị trường : đảm bảo quyền tự do tự chủ và lợi ích chính đáng cho các chủ thể ; Nhà nước khuyến khích phát triển nhưng không can thiệp trực tiếp mà tạo hành lang hợp lý đủ cho các bên có thể vận động được theo qui luật thị trừơng và đủ để ngăn chận các hướng phát triển tiêu cực Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có quan

hệ lao động giữa người làm công ăn lương và người sử dụng lao động mới thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động Luật LĐ của hầu hết các nước phát triển, nhất là các nước ASEAN có điều kiện kinh tế xã hội gần giống nước ta cũng điều chỉnh theo hướng này

Trên thực tế, người ta có thể gọi những quan hệ này là quan hệ chủ - thợ, quan

hệ thuê mướn lao động, quan hệ mua bán sức lao động hay quan hệ hợp đồng lao động (trong luận án này, chúng tôi gọi tất là quan hệ lao động) Song, về bản chất, đây là mối quan hệ hình thành trong quá trình lao động giữa chủ tư liệu sản xuất (người sử dụng lao động) hoặc người do phân công lao động mà ở vị trí chủ sử dụng lao động, với người lao động trong đó ngừơi lao động làm việc với mục đích lấy tiền công và thuộc quyền điều hành của người sử dụng lao động trong thời gian làm việc Nhìn chung, quá trình lao động thực chất là quá tìn h kết hợp tư liệu sản xuất với sức

lao động dưới hình thức thuê mướn.

Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động này sẽ ngày càng phát triển bởi sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh đòi hỏi phải tập trung vốn ở một mức độ nhất định và vốn phải được giao cho người có khả năng và được đào tạo nghiệp vụ quản trị kinh doanh để kinh doanh có hiệu quả Những người có ít vốn cũng sẽ chọn hình thức kinh doanh gián tiếp (mua cổ phiếu để hửơng lãi) còn bản thân họ vẫn tham gia quan hệ lao động để hửơng lương, ở các vùng nông thôn, nông dân tuy có ruộng đất nhưng thiếu vốn hoặc thiếu kinh nghiệm làm ăn rồi cũng sẽ nhượng quyền sử dụng đất cho người khác để trở thành người làm công cho chính người đó hoặc chuyển sang làm nghề khác Theo các tác giả của đề tài "các vấn đ'ê lao động và xã hội đến năm 2000" thì đến năm 2000 nứơc ta có khỏang 11 triệu người tham gia quan hệ làm công ăn lương, chiếm tới 32% tổng số lao động đang làm việc trong xã hội Đây là con số khẳng định xu hướng " làm công ăn lương hóa" quan hệ lao động

Trang 39

Như vậy, quan hệ làm công ăn lương không chỉ là quan hệ tiêu biểu của nền kinh tế thị trường mà nó còn là quan hệ lao động chủ yêú trong xã hội Tất cả các nước phát triển, trong khu vực và trên thế giới đều khuyến khích phát triển quan hệ lao động này và đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới tăng trưởng kinh tế xã hội

"Làm công ăn lương hóa" quan hệ lao động cũng là biện pháp để "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" trong lĩnh vực lao động xã hội ở nứơc ta như mục tiêu Đại hội Đảng VIII đã đề ra Đó cũng là một trong những cơ sở xác định đối tượng điều chỉnh của luật lao động : chỉ điều chỉnh quan hệ làm công ăn lương theo hướng phù hợp và tạo điều kiện cho các quan hệ này ngày càng phát triển

- Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt nam.

Nhìn chung, đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động hiện hành cũng đã phản ánh được xu hướng và đáp ứng được những đòi hỏi của vấn đề lao động, sử dụng và quản lý lao động trong cơ chế thị trường Theo qui định của Bộ luật lao động và hệ thống các văn bản qui định chi tiết và hứơng dản thì đối tượng diều chỉnh của luật lao động đã được xác định tương đối cụ thể Đó là "quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động" Ngoài ra, để điều chỉnh đồng bộ, toàn diện, thống nhất quan hệ lao động này, luật lao động còn điều chỉnh cả " các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động" nói trên (điều 1 Bộ luật lao động)

Quan hệ lao động là đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động hiện hành được hình thành trên cơ sở hợp đồng lao động bao gồm :

- Quan hệ lao động giữa người làm công ăn lương Việt nam với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước

- Quan hệ giữa người lao động không phải là các nhân viên Nhà nứơc (công chức nhà nứơc, lực lựơng vũ trang, người được bầu, cử trong các cơ quan quyền lực) với các cơ quan Nhà nước

- Quan hệ giữa người lao động Việt nam với người sử dụng lao động trong các doanh nghiiệp có vốn đầu tư nứơc ngoài, trong các cơ quan tổ chức nước ngòai hoạt động hợp pháp tại Việt nam

- Quan hệ lao động giữa người nước ngoài với các tổ chức, cá nhân được phép

sử dụng lao động là người nước ngoài tại Việt nam

Như vậy, pháp luật lao động đã phân định tương đối rõ "chế độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ các chức vụ được bầu cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đòan thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội khác và xã viên hợp tác xã" (Đ 4 - BLLĐ) do các ngành luật khác điều chình Việc tách các quan hệ lao động

Trang 40

của các đối tượng trên ra khỏi đối tựơng điều chỉnh của Bộ luật lao động là một bứơc tiến dài, một bứơc thay đổi phát triển về chất của pháp luật lao động nói chung và lý luận về đối tượng điều chỉnh của luật lao động nói riêng Từ khâu cơ bản là xác định đối tượng điều chỉnh phù hợp, luật lao động hiện hành là pháp luật của nền kinh tế thị trường trên cơ sở và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đó.

Ngòai ra, pháp luật lao động hiện hành còn điều chỉnh một số quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động Đó là những quan hệ phát sinh từ quan hệ lao động, gắn liền với quá trình lao động và có ảnh hửơng trực tiếp đến quan hệ lao động, bao gồm :

- Quan hệ về việc làm và đào tạo nghề

- Quan hệ giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động (hoặc đại diện của giới sử dụng lao động)

- Quan hệ về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động

- Quan hệ về bảo hiểm xã hội cho người lao động

- Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động

- Quan hệ về quản lý, thanh tra Nhà nước về lao động và xử lý các vi phạm pháp luật lao động

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động đối với những quan hệ này cũng chỉ

ở những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, không phải tẩt cả các vấn đề giữa các chủ thể của các quan hệ đó Đây cũng là những quan hệ thực sự cần thiết trong lĩnh vực lao động Quan hệ lao động sẽ không thể phát triển và ổn định nếu không

có quan hệ về việc làm và đào tạo nghề Điều kiện lao động và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động sẽ không thể hợp lý nếu pháp luật lao động không điều chỉnh quan hệ giữa các đại diện, quan hệ về bồi thường, quan hệ vê bảo hiểm Quan hệ lao động cũng không thể phát triển bình thường hoặc các qui định của pháp luật, các thỏa thuận hợp pháp của các bên sẽ không có khả năng được thực hiện nếu không có quan hệ giải quyết tranh chấp, quan hệ quản lý thanh tra lao động Đáng chú ý nhất

là các quan hệ mới hình thành trong nển kinh tế thị trường, gắn bó chặt chẽ với quan

hệ hợp đồng LĐ như quan hệ việc làm, học nghề đã được luật LĐ điều chỉnh Các quan hệ khác như quan hệ bồi thường thiệt hại, Bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp LĐ cũng được điều chỉnh theo hướng m ớ i: tôn trọng quyền sở hữu của người

sử dụng LĐ và quyền tự do thoả thuận của các bên trong quan hệ bổi thường, mở rộng đối tượng tham gia bẳo hiểm, cân bằng giữa đóng và hưởng bảo hiểm, giải quyết tranh chấp LĐ chủ yếu bằng hoà giải và trọng tài có đại diện của các bên tham gia và quyền đình công của người LĐ được ghi nhận Pháp luật lao động điều chỉnh tất cả các quan hệ liên quan này theo hứơng xoay quanh một trục chính là quan hệ LĐ hình thành trên cơ sở hợp đổng lao động ; hay nói cách khác, quan hệ

Ngày đăng: 14/08/2020, 14:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w