Vì vậy, luận văn này với đề tài đã chọn sẽ cố gắng đưa ra nhũng điểm mới của việc nghiên cứu như sau: - Tiếp cận tài sản của vợ chồng trên hai phương diện: Tài sản thuộc quyền và tài sản
Trang 2LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC ■ • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Đinh Trung Tụng
THƯ VIỆNTRƯỜNG OAI HỌC LUẬT HÀ NÔI PHỎNG DOC-'
HÀ NỘI - 2002
Trang 3riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác.
Tác g iả luận văn
Trang 410
10
13
141617
KHÁI QUÁT CHUNG VỂ TÀI SẢN CỦA vợ CHỔNG
Khái niệm tài sản và tài sản của vọ chồng
Khái niệm tài sản
Khái niệm tài sản của vợ chồng
Tài sản của vợ chồng trong pháp Luật HN&GĐ của
một sô nước trên thc giói
Tài sẩn của vợ chồng được xác định trên cơ sở hôn ước -
Khái quát về tài sản của vợ chồng trong pháp luật
HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
Tài sản của vợ chồne trong c ổ luật Việt Nam
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ thời kỳ
Pháp thuộc
Tài sản của vợ chồìlệ trong pháp luật HN&GĐ từ sau Cách
mạng tháng Tám năm ỉ 945 đèn nay
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ thời kỳ tiến
hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân (1945 - 1954)
Trang 5Căn cí( xác định tài sản chung của vợ chồng 34
/ Xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp tài • \43 )
^ sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất 47Tài sản chung của vợ chồng phải được đăng ký theo quy 50định của pháp luật
Tài sản của vợ, chồng có trước khi kết hôn 53Tài sản của vợ, chồng được thừa kế, được tặng cho riêng 54trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản vợ chồng được chia trong trường hợp chia tài sản 56chung khi hôn nhân còn tồn tại
Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài 56sán riêng của vợ, chồng tronơ thời kỳ hôn nhân
C h ế đọ tài sán liêng của vợ, chồng 59
Trang 6696973
7476
7880
Nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồnẹ
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA vợ CHỔNG TRONG THỤC TlỄN
Công nhận sự thoả thuận của vợ chồng
Xác định thời điểm và nguồn gốc phát sinh tài sản của vợ
chổng
Định giá tài sản của vợ chồng
Xác định nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
Những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Toà
án trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến lài sản
của vợ chồng
Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng c h ế định
tài sản của vợ chồng trong đời sống xã hội
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Bộ Dân luật Bắc Kỳ
Bộ Dân luật Giản yếu Nam KỳHoàng Việt Trung kỳ Hộ luậtHội đổng Thẩm phán Toà án nhân dân tối caoHôn nhân và gia đình
Luật hôn nhân và gia đìnhNghị định số 70/2001/NĐ- CP ngày 3/10/200Lcủa Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luậthôn nhân và gia đình
Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết ve đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội khóa X về thi hành Luật hôn nhân và gia đình
Nghị quyết số 02/2000/NQ-IĨĐTP ngày23/12/2000 của Hội đổng Thẩm phán Toà ánnhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy địnhcủa Luật hôn nhân và gia đình năm 2000Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000của Quốc hội khoá X hướng dẫn thi hành Luậthôn nhân và gia đình năm 2000
Nhà xuất bảnToà án nhân dânToà án nhân dân tối cao
Xã hội chủ nghĩa
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN Sự đổi mới tích cực trong đời sống kinh tế, xã hội đã làm cho các quan hệ HN&GĐ có những thay đổi sâu sắc, đồng thời cũng chịu những tác động tiêu cực Một trong các thay đổi sâu sắc nhất, là việc thực hiện chức năng kinh tế trong gia đình Hiện nay, việc vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế đã trở thành một tất yếu khách quan, với mục đích không chỉ nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của gia đình mà còn nhằm làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Kết quả là, đời sống vật chất, tinh thần của vợ, chồng, của gia đình được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng vì thế ngày càng phức tạp và gay gắt, trở Ihành một hiện tượng xã hội dành được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Trong bối cảnh đó, Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khoá X thông qua ngày 9/6/2000 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 với nhiều qui định mới so với Luật HN&GĐ năm 1986, trong đó có các qui định về tài sản của vợ chồng; tạo
cơ sở lý luận mới cho việc nghiên cứu khoa học Luật HN&GĐ nói chung và chế định tài sản của vợ chồng nói riêng
Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế định tài sản của vợ chồng Ở mức độ nhất định, đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản của vợ chồng, tạo ra một cái nhìn khá đầy
đủ về vấn đề này Tuy nhiên, thực tế chưa có một công trình nghiên cứu độc lập
về tài sản của vợ chồng theo qui định của Luật HN&GĐ năm 2000 Bên cạnh đó, írong thực tiễn xét xử của Toà án các cấp, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, việc áp dụng các qui định về tài sản của vợ chồng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và thiếu sót Thực trạng nêu trên cho thấy, sự cần thiết phải có một công trình nghiên cứu sâu về những vấn đề còn bỏ ngỏ Đây cũng là lý do
để tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Xác định tài sản của vợ chồng - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Trang 92 MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI
Thông qua việc phân tích các căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ và thực tiễn nghiên cứu, áp dụng chế định này trong những năm gần đây, luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng chế định tài sản của vợ chồng, đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này, góp phần đưa Luật HN&GĐ năm 2000 thực sự đi vào thực tiễn đời sống xã hội
3 PH Ạ M VI NG H IÊN c ú u CỦA ĐỂ TÀI
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cụ thể sau:
- Những vấn đề lý luận liên quan đến tài sản của vợ chồng theo qui định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành;
- Việc xác định tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử của TAND các cấp trong những năm gần đây;
- Đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các qui định về tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ hiện hành
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về HN&GĐ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng chủ yếu, xuyên suốt để làm sáng tỏnhững nội dung trong phạm vi nghiên cứu của đề tài;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hoá các nội dungnghiên cứu một cách có hệ thống, ngắn gọn, súc tích
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng so sánh qui định của pháp luật về tài sản của vợ chồng trong lịch sử và giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các số liệu có liên quan đến xác định tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u VÀ NHŨNG ĐIỂM m ớ i c ủ a l u ậ n v ã n
Trong những năm qua, chế định tài sản của vợ chồng đã được nghiên cứu trong một số giáo trình giảng dạy thuộc các chuyên ngành Luật HN&GĐ và
Trang 10Luật dân sự (Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002; Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001 ) hoặc được nghiên cứu trong một số sách chuyên khảo, một số bài viết đăng trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Toà án nhân dân, báo Pháp luật Nhưng nhìn chung, các công trình nói trên mới chỉ đề cập tài sản của vợ chồng trong chế độ tài sản của vợ chồng nói chung hoặc nghiên cứu trong phạm
vi các qui định của Luật HN&GĐ năm 1986, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về tài sản của vợ chồng theo qui định của Luật HN&GĐ năm 2000 như là một công trình độc lập Vì vậy, luận văn này với đề tài đã chọn sẽ cố gắng đưa ra nhũng điểm mới của việc nghiên cứu như sau:
- Tiếp cận tài sản của vợ chồng trên hai phương diện: Tài sản thuộc quyền
và tài sản thuộc nghĩa vụ theo qui định của Luật HN&GĐ năm 2000;
- Phân tích thực tiễn xét xử các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng, qua đó chỉ ra được những vấn đề cần phát huy, những vấn đề cần khắc phục kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của Toà án;
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị cần thực hiện trong thòi gian tới để khắc phục những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm giảm hiệu quả áp dụng chế định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000
6 KẾT CÃU LUẬN VẪN
Luận văn được kết cấu thành 3 chương, với 8 mục lớn và 40 tiểu mục, được trình bày trong khuôn khổ 99 trang giấy khổ A4, cụ thể:
Phần mở đầu
C hương 1: Khái quát chung về tài sản của vợ chồng
C hương 2: Tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ hiện hành
Chương 3: Xác định tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử và một số
kiến nghị
Kết luận
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CỦA vợ CHồNG
1.1 KHÁI NIỆM TÀI SẢN VÀ TÀI SẢN CỦA v ợ CHỔNG
1.1.1 Khái niệm tài sản
Trong khoa học luật dân sự, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu và là khách thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự, vì vậy, tài sản luôn chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật dân sự của các nước trên thế giới Tuy nhiên, tài sản là một thuật ngữ phức tạp được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau, ở Việt Nam, thuật ngữ tài sản có thể được hiểu trên hai quan niệm: thông thường và phương diện pháp lý Tài sản hiểu theo quan niệm thông thường là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng [37, tr 853] Theo nghĩa hẹp này, tài sản chỉ là một bộ phận của thế giới vật chất - vật cụ thể, được con người sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Do đó, nếu đặt trong thực tiễn đa dạng và phong phú của các giao lưu dân sự thì quan niệm này không phù hợp Trong thực tiễn giao lưu dân sự hiện nay, tài sản không còn được hiểu đơn thuần ở dạng thức vật chất cụ thể như quan niệm thông thường, nó đã được biểu thị ở các dạng thức khác như tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, hoặc quyền tài sản Thực tế đó, đã yêu cầu các nhà làm luật phải đưa ra khái niệm về tài sản đầy đủ, cụ thể hơn với yêu cầu cơ bản nhất đặt
ra đối với tài sản là tài sản đó phái được trị giá được bằng tiền và được đưa vào giao lưu dân sự Trên phương diện pháp lý, tài sản được hiểu theo nghĩa rộng dưới nhiều dạng thức khác nhau, Điều 172 BLDS nước CHXHCN Việt Nam đã qui định tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản
Trang 12sự khi chúng là vật có thực Vật có thực trước hết ỉà một bộ phận của thế giới vật chất, có thể là vật tự nhiên (khoáng sản, đất đai, rừng, động vật hoang dã ) hoặc
do con người sản xuất, chế tạo ra (nhà ở, nông sản do trồng trọt hoặc chăn nuôi, tàu thuyền, ô tô, xe máy ) Những vật này phải đem lại lợi ích cho con người, được con người sử dụng để đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
và có thể đưa vào ỉàm đối tượng của quan hệ dân sự Ở góc độ này, vật có thực
được hiểu là của cải được con người sử dụng Bản thân khái niệm “của cải” luôn
biến đổi và tự hoàn thiện theo quan niệm của con người về giá trị vật chất Dưới thời chế độ chiếm hữu nô lệ, của cải gắn liền với ruộng đất, gia súc, mùa màng
và cả nô lệ, nhưng dưới xã hội hiện đại của cải không thể bao gồm nô lệ, đồng thời lại xuất hiện những tài sản đặc biệt như phần mềm tin học, năng lượng hạt nhân
Ngoài hai thuộc tính ỉà một bộ phận của thế giới vật chất và có ích cho con người, vật có thực phải là vật mà con người có thể chiếm giữ được Tức là có thể thuộc về riêng một người nào đó, một chủ thể nào đó trong quan hệ pháp luật dân sự Đây là một điều kiện quan trọng, trên thực tế rất nhiều vật trong thế giới vật chất có ích cho con người, nhưng không phải là tài sản trong giao lưu dân sự
vì con người chưa chiếm giữ được những vật đó Ví dụ, con người luôn sử dụng không khí nhưng nếu là không khí nói chung thì chưa thể coi đó là tài sản, nhưng khi thông qua sản xuất công nghiệp, con người đã nén Ô-xi vào bình phục
vụ cho y học, sản xuất hoá chất Ô xi đã trở thành tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự
* Tiền
Tiền hiểu theo nghĩa vật có thực ỉà “vậr đúc bằng kim loại hay in bằng giấy
do ngân hànẹ nhát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ” [37, tr 950] Dưới góc độ kinh
tế học, tiền là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hoá và là phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự Với giá trị và vai trò như vậy, tiền được xác định là tài sản đặc biệt và quí; đồng thời, tiền không đơn thuần ỉà tài sản, mà còn có tư cách đại diện cho chủ quyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nước, bởi vì chính Nhà nước là người bảo đảm sự cân bằng giữa tiền và trị giá của vật Với tư
Trang 13cách đại diện cho chủ quyền của một quốc gia, người có tiền (chủ sở hữu) không thể có toàn quyền định đoạt, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của Nhà nước [39, tr 89] Ví dụ: Trong một số giao dịch dân sự pháp luật yêu cầu thanh toán bằng tiền Đồng Việt Nam, nếu dùng tiền của nước ngoài (ngoại tệ) hợp đồng đó là vô hiệu
* Giấy tờ trị giá được bằng tiền
Giấy tờ trị giá được bằng tiền được hiểu là: “Giấy tờ có giá trị tương đương như tiền mà các chủ tlĩể dùng đ ể thanh toán trong giao dịch dân s ự ' [33, tr 63]
Như vậy, một giấy tờ chỉ trở thành tài sản khi đảm bảo được hai thuộc tính: Trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Nếu so sánh với tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền là phương tiện thanh toán tiện lợi và có hiệu quả hơn nên ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhất là trong điều kiện nền kinh
tế thị trường Trong thực tế hiện nay, đang lưu hành phổ biến các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền sau: thẻ tín dụng, sổ tiết kiệm, giấy uỷ nhiệm chi, trái phiếu, séc, cổ phiếu mà trong đó có xác định rõ giá trị của nó tương đương với một khoản tiền nhất định, ví dụ: sổ tiết kiệm trị giá 50 triệu đồng, cổ phiếu có mệnh giá 1 triệu đồng Cũng có loại vừa xác định giá trị của nó tương đương với một khoản tiền nhất định, vừa xác định quyền phát sinh kèm theo nó, như quyền hưởng lãi suất ngân hàng (sổ tiết kiệm), quyền hưởng lợi tức (cổ phiếu) Những giấy tờ trị giá được bằng tiền được coi là tài sản khi nó được bảo đảm bằng chính tài sản hay khoản tiền được xác định trong đó và được sử dụng như tiền nếu pháp luật có qui định, như: thẻ tín dụng, tín phiếu thanh toán Việc sử dụng các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền phải tuân theo qui chế pháp lý và thủ tục đặc biệt của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, theo pháp luật Việt Nam, cơ quan đó là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
* Quyền tài sản
Quyền lài sản hiểu theo tinh thần của Điều 188 BLDS là: “Quyền của chủ thể dối với tài sản, trị giá được bằng liền và có th ể chuyển giao trong giao lưu dân v//’[33, tr 107] Quyền tài sản trước hết là quyền sở hữu, ngoài ra còn có các
quyền liên quan đến tài sản hoặc được hưởng lợi từ tài sản (quyền được hưởng
Trang 14lợi tức của cổ phiếu, lãi suất tiết kiệm của sổ tiết kiệm, quyền đòi nợ, quyền cho thuê tài sản ), quyền hưởng lợi từ thành quả lao động sáng tạo (quyền hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, quyền nhận thù lao của chủ văn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, chủ của giấy chứng nhận kiểu dáng cồng nghiệp ), những quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng Ngoài ra, một quyền tài sản mang tính chất đặc thù trong pháp luật Việt Nam so với pháp luật dân sự của nước khác, đó là quyền sử dụng đất hợp pháp Quyền sử dụng đất cũng được coi là tài sản, vì nó bao hàm các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế Tuy nhiên, không như các quyền tài sản khác, đất là loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu của Nhà nước, do đó quyền này chỉ trở thành đối tượng của giao dịch dân sự trong trường hợp nhất định và trong phạm vi mà pháp luật qui định.
Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tài sản trong giao lưu
dân sự như sau: ‘T à i sản là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ th ể ’
[33, tr 114]
1.1.2 Khái niệm tài sản của vợ chổng
Trên cơ sở phân tích khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự, tài sản của vợ
chồng trong pháp luật HN&GĐ có thể được hiểu là: Vật và những lợi ích vật chất khác thuộc quyền của vợ chồng, bao gồm vật có thực, tiên, giâỳ lờ trị giá được bằng tiền hoặc quyền về tài sản Tuy nhiên, khái niệm tài sản nêu trên mới
chỉ bao hàm tài sản thuộc quyền sở hữu mà không bao gôm tài sản nợ thuộc nghĩa vụ tài sản của vợ chồng Vợ, chồng ngoài tư cách là chủ thể của quan hệ HN&GĐ còn là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự Do đó, họ có thể xác lập các quyền về tài sản nhưng đổng thời cũng phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản được phát sinh Những nghĩa vụ tài sản đó là nghĩa vụ chung hay là nghĩa vụ riêng của một bên vợ, chồng và việc thực nghĩa vụ về tài sản được bảo đảm bằng tài sản chung hay bằng tài sản riêng luôn là vấn đề đặt ra trong thực tế cuộc sống và trong thực tiễn pháp lý Như vậy, việc phát sinh và thực hiện các nghĩa vụ tài sản có ảnh hưởng rất lớn đến tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chổng Do đó, nói đến tài sán của vợ chông mù chỉ đề cặp đến vật và
Trang 15nhũng lợi ích vật chất khác thuộc quyền mà không đề cập đến các tài sản nợ mà
vợ, chồng phải có nghĩa vụ thanh toán cho người thứ ba là không đầy đủ
Việc qui định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ là một yêu cầu khách quan, nhằm cụ thể hoá các qui định về sở hữu trong BLDS và chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000 Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng vì thế không mang tính chủ quan của nhà làm luật, mà nó được gắn liền
sự vận động phát triển của gia đình, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, các giá trị truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người Việt Nam; đảm bảo vừa đáp ứng được ý nghĩa về chính trị, pháp lý, vừa có ý nghĩa về mặt xã hội
Quyền sở hữu của vợ chồng là đối tượng tôn trọng và bảo vệ của pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói liêng, với điều kiện hàng đầu-quyền sở hữu
đó phải hợp pháp Nghĩa là, quyền sở hữu của vợ chồng phải được xác lập trên
cơ sở những căn cứ do pháp luật qui định, nhằm mục đích xác định tính hợp pháp, hình thức sở hữu của tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân Trên cơ sở đó, Nhà nước xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng Đồng thời, giúp Nhà nước quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tài sản của vợ chổng, đưa chúng vào quĩ đạo chung mà Nhà nước đề ra, đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ và hài hoà các lợi ích, nhằm xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững
Qui định tài sản của vợ chồng cũng tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng thực hiện
sự dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ về tài sản Nó qui định và tạo điều kiện, khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm đối với gia đình của mình, cùng sát cánh bên nhau, đồng tâm hiệp lực xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc sống gia đình Vợ chồng cùng nhau thoả thuận bình đẳng, lựa chọn những hình thức quản
lý, sử dụng và định đoạt tài sản phù hợp nhất để xây dựng và củng cố gia đình, vì cuộc sống hạnh phúc của mỗi người, vì sự tiến bộ của mỗi thành viên trong gia đình Đồng thời, đảm bảo các tiền đề vật chất cho tính độc lập của vợ, chồng, giúp họ không chỉ thực hiện tốt vai trò của nsười vợ, người chồng trong gia đình,
mà còn thực hiện tốt vai trò của người công dân - thành viên của xã hội
Trang 16J à i sản của vợ chồng còn đóng vai trò rất lớn trong việc đảm bảo thực hiện chứờ kỉnh tế của gia đình Trong những năm qua, Nhà nước ta đã và đang tạo môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội thuận lợi, để các gia đình và cá nhân phát huy hết khả năng làm giàu cho mình và cho toàn xã hội Với sự khuyến khích đó, xuất phát từ lợi ích của gia đình hoặc vì lợi ích riêng của mình, vợ chồng đã tham gia tích cực vào các giao dịch dân sự hoặc kinh tế, từ đó làm phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản Điều này hoàn toàn phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi pháp luật phải giải quyết Qui định tài sản của vợ chồng là cơ sở để phân định quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc tham gia các giao dịch về tài sản; đồng thời, cũng xác định rõ trách nhiệm
và khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong các giao dịch đó.Mặt khác, khi vợ, chồng thiết lập các quan hệ dân sự, kinh tế bằng tài sản của mình, tất yếu sẽ liên quan đến quyền lợi của những người thứ ba Những người này khi có quan hệ về tài sản với vợ chồng, họ cần phải biết giao dịch mà
họ tiến hành liên quan đến tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó như thế nào? Qua đó, người thứ ba biết giao dịch được bảo đảm thực hiện bàng tài sản nào và ở mức độ bao nhiêu? Đó là tiền đề quan trọng tạo môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định cho vợ chồng thiết lập các quan hệ dân sự và kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần trong gia đình, qua đó cũng góp phần làm ổn định các quan hệ ngoài xã hội và đảm bảo quyền lợi của những người khác
Qui định tài sản của vợ chồng còn có ý nghĩa trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng Với bản chất cộng đồng, cuộc hôn nhân nào cũng nhằm xoá đi những chênh lệch, khác nhau và cả những ranh giới giữa
vợ và chồng Khi gia đình hạnh phúc, vấn đề tài sản chung, tài sản riêng thường không đặt ra Vợ chồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản trong gia đình, bao gồm cả tài sản riêng của một bên Nhưng khi quan hệ vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn gay gắt, thì vấn đề được nhắc nhiều nhất, vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của nhau nhiều nhất, đó là vấn đề tài sản Khi cần thiết phải phân chia tài sản, chế định tài sán của vc chồng là căn cứ pháp ]ý dể Toà án xác định tài
Trang 17sản nào là của chung hai vợ chồng, từ đó, xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi người trong đó; phân biệt tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng, để chia về cho người đó, hoặc chia cho những người thừa kế của họ, nhằm đảm bảo tính cồng bằng về quyền lợi của vợ, chồng khi hôn nhân không còn tồn tại.
1.2 TÀI SẢN CỦA VỢ CHỔNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA MỘT s ố NƯỚC TRÊN THÊ GIỚI
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng! Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng vãn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định)
1.2.1 Tài sản của vơ chổng đươc xác đ ịnh dưa trên cơ sở hôn ước - Chê độ tài sản ước định
Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chổng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân [17, tr 110] Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba
Xác định tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở hôn ước được xuất phát từ quan niệm của nhà làm luật ở các nước phương Tây Theo họ, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân
sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập (việc kết hôn phải
được đăng kv tại cơ quan nhà nước hoặc nhà thờ có thẩm quyền theo một nghi thức đặc biệt được qui định trong pháp luật) và trong việc chấm dứt (hôn nhân chỉ chấm dứt khi có sự kiện chết, có tuyên bố của Toà án một bén vợ, chồng đã
Trang 18chết hoặc khi có bản án hoặc quyết của Toà án về ly hôn có hiệu pháp luật, tất cả các trường hợp chấm dứt này phải tiến hành theo những thủ tục hành chính hoặc thủ tục tố tụng tại Toà án được pháp luật qui định) Bên cạnh đó, nhà làm luật ở các nước phương tây cũng đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng Với quan niệm trên, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở hầu hết các nước phương Tây.
Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chổng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để qui định chế độ tài sản của họ Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và qui định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965) đều qui định: Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các qui định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước
Như vậy, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật qui định mà do chính bản thân vợ chồng tự thoả thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng Vợ chồng có thể thoả thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được qui định trong pháp luật hoặc họ có thể chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo qui định của pháp luật
Các thoả thuận của vợ chồng trong hôn ước mang tính ổn định cao v ề
nguyên tắc, sau khi kết hôn việc thực hiện hôn ước là “bất di bất dịch”, Điều
1395 Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 qui định: Hôn ước không thể thay đổi sau khi đã kết hôn Tuy nhiên, nguyên tắc hôn ước không thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân có một hạn chế cơ bản là nó có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay của người thứ ba có quan hộ giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp, thu
Trang 19nhập; hoặc, chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn có Ihể chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, còn sau đó các qui định trong chế độ tài sản đã lựa chọn lại cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ họ, cũng như lợi ích của gia đình Để khắc phục hạn chế trên, hiện nay, pháp luật một số nước đã thừa nhận, các thoả thuận trong hôn ước có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ, Điều 1397 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965, Luật số 8 9 -1 8 ngày 13/1/1989) qui định:
Sau hai năm áp dụng ch ế độ tài sản tronq hôn nhân theo íhoả thuận hoặc theo Luật định, hai vợ chồng có thể, vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn ch ế độ tài sản trong hôn nhân bằng một chứng thư cố chứng thực cửa công chứng viên và được Toà án nơi
cư trú phê chuẩn [20, tr 369].
Bộ Luật Dân sự Nhật Bản không qui định cụ thể về vấn đề này, nhưng theo Điều 758, 759: Tài sản thuộc sở hữu chung có thể được thay đổi hoặc phân chia trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận hoặc trong trường hợp vợ, chồng quản
lý tài sản của nhau, nhưng người đó thực hiện quản lý tài sản không tốt và người kia đã yêu cầu Toà án HN&GĐ tước bỏ việc quản lý nói trên Việc thay đổi hoặc phân chia tài sản chung không được sử dụng để chống lại người thừa kế hợp pháp của chồng hoặc vợ, trừ khi việc này đã được đăng ký Như vậy, theo pháp luật Nhật Bản, những căn cứ xác định tài sản của vợ chồng được qui định trong hôn ước cũng có thể được thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản giữa vợ và chồng
Với việc thừa nhận các thoả thuận trong hôn ước có thể thay đổi trong thời
kỳ hôn nhân, pháp luật đã tạo cho vợ chồng quyền chủ động hơn trong việc qui định chế độ tài sản của mình Tuy nhiên, điều đó vẫn không thể khắc phục được một hạn chế cơ bản của chế độ tài sản ước định là quá chú trọng đến lợi ích cá nhân của vợ, chồng, lợi ích của gia đình bị xem nhẹ, hoặc lợi ích của gia đình
được xem xét theo ý thức chủ quan “thuần tu ỷ” của vợ chồng, dẫn đến mâu
thuẫn bán chất của hôn nhân là tính chất cộng đồng và bản chất của gia đình là
Trang 20“bổn phận và trách nhiệm” Do vậy, chế độ tài sản này thường không được pháp
luật HN&GĐ các nước XHCN (trong đó có Việt Nam) ghi nhận
1.2.2 Tài sản của vơ chống đươc xác đ ịnh theo các căn cứ Luât định
- Chẽ đô tài sản pháp định
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản trong đó pháp luật qui định cụ thể về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba
Chế độ tài sản pháp định là một giải pháp được nhà làm luật ở tất cả các nước ghi nhận trong pháp luật HN&GĐ Có nước qui định chế độ tài sản pháp định mang tính chất thay thế trong trường hợp vợ chồng không có thoả thuận bằng hôn ước, hoặc với mục đích để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản áp dụng cho họ (phổ biến trong pháp luật về HN&GĐ ở các nước phương Tây như Pháp, Nhật Bản, Canađa, Australia, Thái Lan ), Điều 1400 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà
Pháp qui định: “Chê độ cộng ãổìịg lủi sản dược thiếl lập khi không có hôn ước hoặc khi vợ chồng tuyên b ố kết hôn theo ch ế độ cộng đồng tài sân” [20, tr 371];
có nước qui định chế độ tài sản pháp định như là căn cứ duy nhất để xác định tài sản của vợ chồng (phổ biến trong pháp luật HN&GĐ các nước XHCN như Việt Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ, Cu Ba ), Điều 29 Luật gia đình Cộng hoà Cuba qui định:
C h ế độ tài sản của vợ chồng là chê'độ tài sản chung theo qui định của
Bộ luật này C h ế độ tài sản này áp dụng kể từ ngày việc kết hôn được chính quyền công nhận hoặc từ ngày có cuộc sống chung ; c h ế độ tài sản này chấm dín khỉ quan hệ hôn nhân chấm díct không kể vì lý do gì.
Chế độ tài sản pháp định được qui định ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại thường dưới hai hình thức: Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng (chế độ tài sản cộng đồng) và chế độ tài sản theo tiêu chuẩn phân sản (chế
độ phân sản)
Trang 211.2.2.1 Chế độ tài sản cộng đồng
Việc thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng là xuất phát từ quan điểm lợi ích của vợ chồng phải chịu sự chi phối bởi tính chất cộng đồng của hôn nhân và lợi ích chung của gia đình Do đó, chế độ tài sản cộng đồng có đặc điểm cơ bản là trong quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng luôn tồn tại khối tài sản chung và các nghĩa vụ tài sản được bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, chế
độ tài sản này không tồn tại dưới một hình thức duy nhất mà được qui định dưới nhiều hình khác nhau, trong đó chủ yếu ở ba hình thức sau:
* Chê độ cộng đồng tạo sản
Chế độ cộng đồng tạo sản có đặc điểm, tài sản chung của vợ chồng chỉ được xác định đối với những tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản khác không phân biệt động sản hay bất động sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, hay được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng
Đây là giải pháp được qui định phổ biến trong pháp luật về HN&GĐ của nhiều nước: Luật gia đình Cộng hoà Cu Ba (Điều 30 và 32), Luật gia đình Bun
ga ri (Điều 13), Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Từ Điều 140] đến Điều 1408),
Bộ Luật Dân sự Nhật Bản (Điều 762), Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan (Điều 1471 và Điều 1474) đều ghi nhận chế độ tài sản cộng đồng này Điều 13
Luật hôn nhân năm 1980 của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa qui định: ‘T ài sản của vợ chồng làm ra trong suốt thời kỳ hôn nhân ìà tài sản chung của vợ chồng, ngoài ra, mỗi bên có th ể có tài sản riêng ngoài qui định trên’’'’ [38, tr 54] Điều
1401 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp cũng qui định: Tài sản cộng đồng gồm những thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ [20, tr 371]
Việc chế độ cộng đồng tạo sản được thừa nhận rộng rãi ở các nước là do chê độ tài sán cộng đổng này rất phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước Một
Trang 22mật, nó không làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng - nền tảng cơ bản của quan hệ HN&GĐ, mặt khác chế độ tài sản này còn tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêngcủa mình, ngăn chặn các trường hợp kết hôn với mục đích không lành mạnh,việc kết hôn chỉ nhằm vào khối tài sản đã sẵn có của bên kia.
* C hế độ cộng đồng động sản và tạo sản
Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản cũng thừa nhận trong hôn nhân bao gồm có tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng như trong chế độ cộng đồng tạo sản Tuy nhiên, chế độ cộng đồng động sản và tạo sản lại xác định tài sản của
vợ chồng dựa trên việc phân định tài sản của vợ, chồng là động sản hay bất động sản Theo đó, khối tài sản chung chỉ bao gồm các động sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân, các hoa lợi và các bất động sản mà vợ, chồng mua lại bằng tài sản chung Vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với bất động sán có trước khi kết hôn và bất động sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Việc qui định chế độ cộng đồng động sản và tạo sản là xuất phát từ quan điểm của nhà làm luật một số nước cho rằng: Vợ, chồng phải để dành cho mình làm của riêng những tài sản chính của mình và theo các nhà làm luật đó là bất động sản (Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804, sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 của Chế độ Sài Gòn cũ ) Vậy nên, chế độ tài sản cộng đồng này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội lấy bất động sản là tiêu chí xác định thành phần chính yếu và chắc chắn của tài sản trong gia đình [6, tr 128-129] Trong điều kiện phát triển kinh tế ở mức công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao hiện nay, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng dựa trên sự phân tách động sản và bất dộng sản đã mất đi sự công bằng trong gia đình và đã không đảm bảo được mục đích đề ra ban đầu của nhà làm luật, vì lúc này tài sản chính yếu không phải là bất động sản mà thường là những tài sản thuộc về động sản, quyền tài sản hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền (cổ phiếu, chứng khoán )
Do đó, nhiều nước trước đây thừa nhận chế độ cộng đồng động sản và tạo sản
Trang 23nay đã tìm một chế độ tài sản cộng đồng khác thay thế để phù hợp với thực tiễn hơn Ví dụ: Luật số 65-570 ngày 13/7/1965 của Cộng hoà Pháp đã qui định chế
độ cộng đồng tạo sản thay cho chế độ cộng đồng động sản và tạo sản được qui định trong Bộ Luật Dân sự năm 1804
* Chê độ cộng đổng toàn sản
Khác với hai chế độ tài sản cộng đồng trên, chế độ cộng đồng toàn sản không thừa nhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung, theo đó toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung Qui định đó xuất phát từ quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, nên tất cả tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân phải thuộc khối tài sản chung, quyền có tài sản riêng không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình Với đặc điểm trên, chế độ cộng đồng toàn sản chỉ phù hợp với quan hệ HN&GĐ trong xã hội truyền thống Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, khi quyền tự do cá nhân luôn được đề cao, chẽ độ cộng đồng toàn sản đã bộc lộ những hạn chê cơ bản, vì không đảm bảo quyền tự định đoạt của người có tài sản, đặc biệt khi tài sản đó do vợ, chồng làm ra trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng; nó cũng không đảm bảo được sự độc lập của vợ, chồng do họ không có tài sản riêng để tham gia các quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ gia đình; mặt khác, việc chế độ cộng đồng toàn sản được áp dụng trong giai đoạn hiện nay có thể khuyến khích cho các quan hệ hôn nhân thực dụng Vì vậy, các nước thường không lựa chọn chế độ tài sản cộng đồng này
1.2.2.2 Chế độ phân sản
Chế độ phân sản là một hình thức của chế độ tài sản pháp định, trong đó giữa vợ chổng không tồn tại chế độ tài sản chung, mà mỗi bên vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản do mình làm ra trước và trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật chỉ qui định nghĩa vụ của vợ, chồng về đóng góp vào chi tiêu chung cua gia đình
Trang 24Ngoài ra, chế độ phân sản còn có một biến thái là chế độ hồi môn Chế độ tài sản naỳ có nguồn gốc từ pháp luật La Mã cổ đại, theo đó, những tài sản thuộc của hồi môn của người vợ sẽ giao cho người chồng để người này quản lý và sử dụng Như vậy, hoa lợi từ tài sản riêng của người chồng và từ của hồi môn của người vợ thuộc về người chồng Đặc điểm của chế độ hồi môn là tài sản hồi môn không thể được chuyển nhượng Không những người chồng không có quyền bán tài sản hổi môn vì người chồng không phải là chủ sở hữu, người vợ cũng không
có quyền chấp thuận để người chồng bán Cho dù có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng, tài sản hồi môn cũng không thể bán được [6, tr 132]
Trong quá khứ, chế độ tài sản này được áp dụng trong Luật hôn nhân cổ truyền ở Italia và ở Anh từ năm 1857 Hiện nay, hầu như các nước không thừa
nhận chế độ tài sản này, vì nó có quan niệm “thái quá'''' trong việc đảm bảo lợi
ích cá nhân của vợ, chồng, lợi ích của gia đình vì thế bị ảnh hưởng nghiêm trọng
1.3 KHÁI QUÁT VỂ TÀI SẢN CỦA v ợ CHỔNG TRONG PHÁP LUẬT HÔN
N HẢN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH s ử
Cùng với tiến trình lịch sử, gia đình Việt Nam luôn được xác định là nền tảng của xã hội Do đó, gia đình đã sớm được tổ chức chặt chẽ và những qui định pháp luật về nó qua từng giai đoạn phát triển của đất nước mang những nét chung nhất của lịch sử và thời đại Là một nội dung quan trọng của chế độ HN&GĐ Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng ngoài việc mang những đặc điểm chung của pháp luật HN&GĐ các nước trên thế giới, còn mang các đặc điểm thể hiện sắc thái thuần túy dân tộc Việt Nam
1.3.1 Tài sản của vợ chồng trong pháp luât hôn nhân và gia đình trước Cách m ang tháng Tám năm 1945
1.3.1.1 Tài sản của vợ chồng trong c ổ luật Việt Nani
Các qui định về HN&GĐ chiếm một vị trí quan trọng trong các qui định của pháp luật dưới các triều đại phong kiến, đặc biệt trong hai Bộ luật: Bộ Quốc
t h ư VìẹTn
trường ĐẠI HỌC LÚẬT HÀ NÔI
phòng DOC
Trang 25triều Hình luật ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) và Bộ Hoàng Việt luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn (1812) Tuy nhiên, việc qui định về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng trong hai Bộ luật này chưa được rõ ràng, mà mới chỉ dự liệu trong một
số trường hợp riêng rẽ, chưa qui định thành một chế định cụ thể Bộ Quốc triều Hình luật không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề tài sản của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại, mà chỉ dự liệu một số trường hợp khi người chồng hay vợ chết (từ Điều 374 đến Điều 376); còn Bộ Hoàng Việt luật lệ do chép nguyên văn của Luật nhà Thanh nên không ghi lại một điều khoản nào về tài sản của vợ chồng Giải thích vấn đề này, có thể xuất phát từ quan niệm truyền thống của người phương Đông vốn xem gia đình là cái gì thiêng liêng cao quí nặng về tinh thần hơn vật chất, yếu tố tài sản vì thế không được lấy làm trọng trong các quan
hệ của gia đình Mặt khác, theo tư tưởng nho giáo, tài sản trong gia đình đương nhiên thuộc về người chồng, nên không cần thiết đặt ra vấn đề tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng
Song, qua nghiên cứu các qui định trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ có thể thấy rằng: Chế độ tài sản của vợ chồng trong c ổ luật Việt Nam là chế độ cộng đồng pháp định Đây là chế độ tài sản duy nhất được áp dụng cho mọi quan hệ hôn nhân Chế độ tài sản ước định (hôn ước) không được thừa nhận cả trên phương diện tục lệ và pháp lý, là do việc thoả thuận chỉ đặt ra khi hai bên có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau, nhưng người vợ trong pháp luật
phong kiến được coi là người “vớ năng lực về mặt pháp lý”, thì không thể có vị
thế bình đẳng để thoả thuận với người chồng Mặt khác, theo truyền thống hôn nhân là sự phối hợp tuyệt đối về mọi phương diện mà mục tiêu là để xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường Nêu dự định hạn chế bằng một khế ước đối với quyền của người chồng thì trái với quan niệm căn bản của hôn nhân
là sự tín nhiệm hoàn toàn giữa vợ chổng Ngoài ra, chưa kể là nếu hạn chế quyền của người chồng, thì người ngoài có thể hiểu lầm là người chồng đã khước từ một phần những quyền hạn đó trong một hôn ước để cưới vợ con nhà giàu [6, tr 135]
Trang 26Chế độ cộng đồng pháp định được ghi nhận trong Luật cổ là chế độ cộng đồng toàn sản - Mọi tài sản vợ chồng có trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều
là tài sản chung của vợ chồng Tài sản của vợ chồng ở đây bao gồm động sản (Quốc triều Hình luật gọi động sản là phù vật) và bất động sản (điền sản) Trong
đó, điền sản được coi là tài sản chủ yếu, có ý nghĩa thiêng liêng, phản ánh vị trí
và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình Trên cơ sở lấy điền sản làm trung tâm [40, tr 104-106], Quốc triều Hình luật và Bộ Hoàng Việt luật lệ đã xác định tài sản của vợ chổng bao gồm ba loại:
- Tần tảo điền sản (những tài sản mà vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân);
- Phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng);
- Thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình)
Giải thích tại sao c ổ luật Việt Nam lại áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản trong gia đình? nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sở dĩ chế độ cộng đồng toàn sản được áp dụng ở thời kỳ này là do xuất phát từ quan niệm truyền thống: Hôn nhân
là sự phối hợp giữa vợ và chồng về mọi phương diện để thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình sinh con nối dõi tông đường Để cụ thể hoá quan niệm này, tất cả của cải của vợ chồng không phân biệt bản chất và nguồn gốc, đều được hợp
thành khối tài sản “cộng đồng” để dành cho các con [16, tr 43-44]
Như vậy, theo cổ luật Việt Nam, con là một nhân tố chi phối chặt chẽ đến nội dung chế độ tài sản của vợ chồng Trong trường hợp vợ chồng có con và con còn sống, thì tất cả tài sản gia đình hợp nhất thành một khối để gia đình sử dụng vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng các con Sự phân chia tài sản chung của vợ chồng chỉ xảy ra khi vợ hay chồng chết mà không có con
Về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, trên nguyên tắc, c ổ luật Việt Nam qui định tài sản trong gia đình thuộc quyền quản lý của người chồng Tuy nhiên, theo pháp luật nhà Lê, người vợ cũng tham gia vào việc quản trị tài sản chung và cũng can thiệp vào các hành vi sử dụng, nhất là các hành vi quan trọng
như mua, bán, cầm cố tài sản là “điền sản” thì trong văn tự bắt buộc phải có chữ
ký của cả hai vợ chồng Tuy nhiên, trong Hoàng Việt Luật lệ, người vợ hoàn toàn vô năng lực và đặt dưới quyền của chồng, tất cả tài sản trong gia đình bao
Trang 27gồm cả tài sản riêng của vợ và của chồng đều hợp thành một khối duy nhất thuộc quyền sử dụng của người chồng, đây là bước thụt lùi của pháp luật nhà Nguyễn
so với pháp luật nhà Lê
I.3.I.2 Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình thời kỳ Pháp thuộc
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các qui định về HN&GĐ (trong đó có chế độ tài sản của vợ chổng) lần đầu tiên được qui định trong Bộ Dân luật Giản yếu Nam
kỳ năm 1883 (DLGYNK) tức Bộ Luật Dân sự Pháp (1804) được thêm bớt một vài điều khoản cho phù hợp với chế độ thuộc địa, sau đó được qui định trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 193tó (DLBK) và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật năm
1936 (DLTK) Theo các đạo luật trên, tài sản của vợ chồng mang các đặc điểm
* DLBK và DLTK qui định tài sản của vợ chồng được xác định theo nguyên tấc: Nếu hai vợ chồng không lập hôn ước thì hai người đã theo chế độ cộng đồng toàn sản, gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ (Điều
106 DLBK, Điều 104 DLTK) Việc thừa nhận hôn ước trong hai đạo luật này là
do chịu ảnh hưởng của Bộ Luật Dân sự Pháp (1804) và lần đầu tiên được qui định trong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, do không phù hợp với tục lệ của người Việt Nam: Mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho con cháu, nên hôn ước nhìn chung không được thực tiễn chấp nhận Ngược lại, chế độ tài sản pháp định được xây dựng trên cơ sở tục lệ của người Việt Nam Theo đó, chế độ cộng đổng toàn sản được thiết lập và theo qui định tại Điều 107 DLBK và Điều 105 DLTK, tài sản chung được xác định dựa trên các căn cứ sau:
+ Tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
+ Tài sản do vợ chổng có được do làm việc;
+ Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức từ tài sản riêng hay lợi tức từ tài sản chung Để phân biệt được động sán hoặc bất độngsản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, thì căn cứ vào việc đăng
ký hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đối với các động sản
Trang 28không được đãng ký và không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì Toà án suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu vợ hoặc chồng muốn khiếu nại đó là tài sản riêng của mình thì phải chứng minh [40, tr 121-122]
Đối với tài sản có trước khi kết hôn (bao gồm bất động sản và động sản), kể
từ khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, có điểm khác biệt so với những tài sản
vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, tài sản có trước khi kết hôn thuộc tài sản chung chỉ mang tính chất tạm thời Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn đã được hợp nhất tạm thời được tách ra để chia theo nguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi
Ngoài việc qui định căn cứ xác định tài sản chung, DLBK và DLTK cũng
đã qui định về các nghĩa vụ tài sản trong gia đình [6, tr 170-171] Theo Điều 111 DLBK và Điều 109 DLTK, nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng bao gồm các khoản nợ sau:
- Các khoản nợ của vợ chồng đã vay trước khi kết hôn;
- Các khoản nợ của chồng vay trong thòi hôn nhân;
- Các khoản nợ do vợ vay với tư cách là đại diện cho vợ chồng và các khoản
nợ do vợ vay với sự ưng thuận của người chồng;
- Các khoản nợ do vợ vay để dùng vào việc chức nghiệp thường, việc thương mại hay việc kỹ nghệ;
- Các khoản nợ do hành vi phạm pháp của người vợ gây ra
Đối với các khoản nợ do hành vi phạm pháp của người chồng gây ra thì hai
Bộ Dân luật này không dự liệu, tuy nhiên xuất phát từ vị trí của người chồng là gia trưởng trong gia đình, thì có thể suy đoán các khoản nợ này được thanh toán bằng tài sản cộng đồng
* Khác với DLBK và DLTK, BDLGYNK không có qui định về chế độ tài sản của vợ chồng, mà chế định này được xác định qua hệ thống án lệ Theo các
án lệ ở Nam kỳ, người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng Mặt khác, trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người
vợ chết, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý
Trang 29của người chồng Khi người vợ chết, người chồng được hưởng tài sản không phải với tư cách là người hưởng gia tài của người vợ mà với tư cách là chủ sở hữu toàn
bộ đối với tài sản của gia đình do hiệu lực của hôn nhân; ngược lại, nếu người chồng chết thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình trong khi còn ở goá
Quyền sở hữu duy nhất của người chồng còn bao hàm tất cả các tài sản khác do hai vợ chồng, hoặc do một mình vợ làm ra [40, tr 118-119], cụ thể:
+ Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân mặc dù đã ghi vào tên riêng vợ trong địa bộ cũ hay đã đãng ký (không phải ghi chú) vào tên riêng vợ trong địa bộ mới cũng coi là của chồng, kể cả bất động sản đứng tên người vợ khi mua;
+ Các bất động sản được ban cấp riêng cho vợ như các đồn điền được coi là
đã ban cấp cho người chồng;
+ Các động sản đã mua trong thời kỳ hôn nhân, kể cả động sản khi mua đã đứng tên người vợ
Đối với quyền sư hữu của người vợ, về nguyên tắc người vợ không có quyền sở hữu riêng Tuy nhiên, trong một số trưòng hợp đặc biệt, người vợ cũng
có quyền sở hữu đối với những tài sản sau:
+ Các đồ tư trang của người vợ;
+ Tài sản người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc được hưởng
di sản của gia đình vợ;
+ Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chổng thời kỳ Pháp thuộc rất bất công đối với người vợ, đặc biệt ở Nam kỳ khi không thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng, người chồng có toàn quyền sở hữu tài sản trong gia đình, có thể một mình đứng
ra thực hiện các giao dịch kể cả các giao dịch liên quan đến bất động sản và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả nợ đó cho người chổng Ngược lại, người vợ không thể tham gia các giao dịch một mình, người chồng có quyền khiếu nại một hợp đồng vô hiệu khi hợp đồng đó do người vợ ký kết một mình Trong DLBK và DLTK, quyền của người vợ được đảm bảo tốt hrtn Theo hai đạo luật này đối với các nhu cầu của gia đình thì vợ hoặc chồng đều có thế
Trang 30đại diện cho gia đình để giao dịch và được trích từ khối tài sản của gia đình để chi dùng Tuy nhiên, theo các Điều 109 DLBK và Điều 107 DLTK người chồng
có quyền sử dụng các động sản, thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản là tài sản chung của vợ chồng mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình; việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của người chồng; còn việc ưng thuận của người vợ thì chỉ cần sự ưng thuận công nhiên hoặc mặc nhiên không cần phải ghi chép hoặc giấy tờ Điều đó phản ánh sự bất bình đẳng của người vợ so với người chồng về quyền sở hữu trong pháp luật HN&GĐ thời kỳ này
1.3.2 Tài sản của vơ chồng trong pháp luât hôn nhân và gia đình
từ sau Cách m ang tháng Tám năm 1945 đến nay.
I.3.2.I Tài sản của vợ chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân (1945 - 1954)
Cuộc cách mạng tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời, đã đưa đất nước ta bước sang kỷ nguyên độc lập, tự do và dân chủ nhân dân Trong sự vận động to lớn của xã hội, các quan hệ HN&GĐ cũng
có bước chuyển mình quan trọng Điểm đánh dấu đầu tiên là bản Hiến pháp lịch
sử năm 1946, với qui định: “Đ àn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”
(Điều 9) Xét trong lĩnh vực HN&GĐ, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng lần đầu tiên được long trọng tuyên định trong một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Do hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp và tình hình
xã hội lúc bấy giờ, Nhà nước ta vẫn chưa ban hành Luật cụ thể điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, trong đó có chế độ tài sản của vợ chòng Tuy nhiên, trong quá trinh đấu tranh cách mạng, sự phát triển về mọi mặt của xã hội, sự lan rộng của phong trào giải phóng phụ nữ, đòi hỏi phải có những qui định mới trong điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ cho phù hợp thực tế Năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành hai sắc ỉệnh đầu tiên về HN&GĐ, sắc lệnh số 97-SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà về sửa đổi một số qui ỉệ và chế định
Trang 31trong Dân luật và sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà qui định về vấn đề ly hôn, với mục đích xây dựng chế độ
HN&GĐ mới, trong đó ghi nhận: “Chồng và vợ cố địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5 - Sắc lệnh số 97-SL); “Người đàn bà khỉ lấy chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6 - sắc lệnh số 97-SL) Với qui định mang tính nguyên tắc trên, trong quan hệ tài sản, vợ chổng cũng bình đẳng với nhau và là đồng &ờ hữu
chủ đối với khối tài sản trong gia đình Tuy nhiên, sắc lệnh số 97-SL chưa có qui định cụ thể về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng Song, qua qui định tại Điều
11: “Trong lúc sinh thời người chồng goá vợ hay vợ goá, các con đã thành niên
có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khỉ đã thanh toán tài sản chung” [8, tr 216], di sản của người chết chỉ bao gồm phần tài
sản của họ trong khối tài sản chung của vợ chồng, như vậy, có thể kết luận chế
độ cộng đồng toàn sản đã được ghi nhận trong sắc lệnh số 97-SL Với chế độ cộng đồng toàn sản, vợ, chồng không có tài sản riêng, mà toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân thuộc tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung đó Với qui định trên, pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta thời kỳ này, đã góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến, giải phóng người phụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng trong gia đình cũng như trong quan hệ sở hữu Từ đó tạo cơ sở xây dựng một chế độ dân chủ, công bằng và hạnh phúc với
tê bào là gia đình xã hội chủ nghĩa
I.3.2.2 Tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình dưới chẽ độ Cộng hoà Ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975)
Ớ miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975, Đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, thiết lập chế độ Cộng hoà Ngụy quyền để thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta Trong điều kiện hoàn cảnh đó, các quan hệ HN&GĐ ở miền Nam chịu sự qui định bởi cả pháp luật tư sản và luật lệ cũ của thực dân phong kiến Chế độ HN&GĐ ở miền Nam qua từng giai đoạn chuyển biến, được qui định trong ba Đạo luật khác nhau: Luật gia đình số 1-59 ngày 2/1/1959, sắc luật
Trang 32số 15/64 ngày 23/7/1964 qui định giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng, Bộ Luật Dân sự ngày 20/12/1972.
Các văn bản này đều có khuynh hướng dân luật hoá các quan hệ HN&GĐ, trong đó có quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Tự do lập hôn ước trở thành nguyên tắc trong Luật và chế độ hôn sản pháp định cũng chỉ đặt ra khi vợ chồng
đã từ bỏ nguyên tắc này hoặc có thực hiện nhưng vi phạm trật tự công cộng và
thuần phong mỹ tục Khoản 1 Điều 47 Luật gia đình năm 1959 qui định: “Nếu không có hôn ước đặc biệt, vợ chồng sẽ được đặt dưới chê' độ cộng đổng tài sản", Điều 144 Bộ Dân luật năm 1972 cũng qui định tương tự: “Luật pháp chỉ qui định ch ế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước”.
Bên cạnh các qui định về hôn ước liên quan đến quyền sở hữu giữa vợ và chồng, nhà làm luật dưới chế độ Sài Gòn cũ đều qui định chặt chẽ về chế độ tài sản pháp định Nhưng ở mỗi văn bản, chế độ tài sản của vợ chổng đã được qui định với những hình thức khác nhau
Luật gia đình năm 1959 qui định chế độ tài sản pháp định là chế độ cộng đồng toàn sản [ò, tr 194-197], tất cả tài sản mà vợ, chồng có trước và trong thời
kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng, quyền có tài sản riêng của
vợ, chồng không được thừa nhận (khoản 1 Điều 47) Theo Điều 48 của Luật này, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Kỷ phần hay phần đóng góp của vợ chồng trong đó có bất động sản và động sản đã có sẵn trước khi kết hôn hay được hưởng trong thời kỳ hôn nhân do được thừa kế, được tặng cho Tuy nhiên, tài sản của một người được hưởng do thừa kế hay do tặng cho có thể không gia nhập khối tài sản cộng đồng, nếu người để lại di sản hoặc người tặng cho tài sản có qui định khác;
- Tài sản do hai vợ cùng làm ra hoặc do một bên vợ, chồng tạo ra trong thời
kỳ hôn nhân;
- Hoa lợi của tất cả những tài sản trên
Như vậy, căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật gia đình năm
1959 có qui định tương tự DLBK và DLTK thời kỳ Pháp thuộc Vợ hay chồng có thể có tài sản riêng (tài sản có trước khi kẽt hôn, hay do được thừa kế hay được
Trang 33tặng cho ) nhưng tạm thời tất cả tài sản đều thuộc tài sản chung trong thời kỳ hòn nhân.
Khác với Luật gia đình năm 1959, sắc luật 15/64 và Bộ Dân luật năm 1972 qui định, bên cạnh khối tài sản cộng đồng vợ, chồng có quyền có tài sản riêng [6, tr 257-264] Điều 54 và Điều 55 sắc luật 15/64, Điều 151 và Điều 152 Bộ Dân luật 1972 đã qui định những tài sản sau là tài sản chung của vợ chồng:
- Động sản của hai vợ chồng có sẵn trước khi kết hôn, động sản của vợ, chồng được hưởng trong thời hôn nhân do thừa kế hay do tặng cho;
- Động sản và bất động sản của vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
- Hoa lợi của tất cả các tài sản không phân biệt tài sản có trước hay trong thời hôn nhân
Bên cạnh những tài sản chung nói trên, pháp luật cũng qui định hai loại tài
sản không gia nhập khối tài sản cộng đồng mà thuộc sở hữu riêng của vợ, chồn.ỵ:
- Bất động sản của vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân do được thừa kế hoặc được tặng cho
Qua các căn cứ xác định tài sản của vợ chồng nêu trên, cho thấy, chế độ tài sản của vợ chồng được qui định trong sắc luật 15/64 và Bộ Dân luật 1972 không phải là chế độ cộng đồng toàn sản, mà đó là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản Ở chế độ cộng đồng này, chỉ có tất cả động sản và tạo sản mới thuộc khối tài sản chung, còn bất động sản có những ngoại lệ Song, trên thực tế không phải động sản nào cũng thuộc tài sản chung, nếu động sản đó vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân do được thừa kế hoặc được tặng cho mà người để lại di sản hoặc người tặng cho tài sản có qui định
Ngoài căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, căn cứ xac định nghĩa vụ tài sản chung giữa vợ và chồng, cũng được nhà làm luật xây dựng trên cơ sở chịu ảnh hưởng bởi các qui định có liên quan trong DLBK và DLTK Theo Điều 61 sắc luật 15/64 và Điều 160 Bộ Dân luật năm 1972, tài sản chung của vợ chồng phải chi trả cho các khoản nợ sau:
Trang 34- Nợ của vợ hay chồng đã kết ước trước khi kết hôn, trừ các khoản nợ được bảo đảm bởi những quyền đối vật trên những bất động sản được qui định là tài sản riêng của vợ, chồng;
- Nợ của vợ hay chồng phát sinh trong phạm vi quyền hạn của mỗi người trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, nếu người chồng thực hiện giao dịch một mình làm phát sinh nợ mà không xuất phát từ lợi ích chung của gia đình, thì người chổng phải sử dụng tài sản riêng của mình để thanh toán; nếu người vợ thực hiện giao dịch một mình mà không có sự ưng thuận của người chồng, thì người vợ phải sử dụng tài sản riêng để thanh toán nợ;
- Nợ do hành vi phạm pháp của vợ hay chồng
Về việc quản lý tài sản trong gia đình, người chồng xuất phát từ tư cách là người gia trưởng trong gia đình đã được pháp luật dưới chế độ Sài Gòn cũ trao quyền quản lý tài sản trong gia đình bao gồm cả tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chổng (Điều 153 Bộ Dân luật 1972) Trước đó, Luật gia đình năm 1959
có thừa nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quản lý tài sản cộng đồng (Điều 49), song qui định này không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và bản chất quan hệ hôn nhân vốn chịu ảnh hưởng nhiều bởi HN&GĐ phong kiến và tư sản nên không áp dụng được trên thực tế, người chồng vẫn có quyền quản lý toàn bộ tài sản trong gia đình
Người vợ chỉ có quyền quản lý tài sản trong gia đình khi người chồng không có khả năng pháp lý, biệt tích lâu ngày hay bị cản trở vì duyên cớ nào khác Ngoại trừ, hai vợ chồng đã lập hôn ước trước khi kết hôn, mà trong hôn ước có ấn định quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc quản lý tài sản trong gia đình thì quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng được thực hiện theo hôn ước
Qua những gì đã phân tích, pháp luật HN&GĐ dưới chế độ Sài Gòn cũ trong lĩnh vực quan hệ tài sản của vợ chồng vẫn tiếp tục tinh thần cơ bản của Dân luật thời kỳ Pháp thuộc, kết hợp đạo đức phong kiến với tư tưởng tư sản, thiết lập chế độ phụ quyền để áp bức mọi tầng lớp nhân dân lao động nói chung, giới phụ nữ nói riêng, củng cố chế độ tư hữu tư sản
Trang 35I.3.2.3 Tài sản của vợ chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình ở miền Bác xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1954 - 1975 và của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay.
Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), miền Bắc hoà bình bước vào thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng CNXH Các quan hệ HN&GĐ chịu tác động bởi nhiều yếu tố:
Sự chuyển biến lớn lao, toàn diện của đất nước trong quá trình xây dựng xã hội mới XHCN; những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội và đời sống gia đình; mặt khác, hai sắc lệnh 97-SL ngày 22/5/1950 và sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình, tuy đã góp phần xoá bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến, tạo tiền đề xây dựng chế độ HN&GĐ mới, nhưng không còn đáp ứng được tình hình phát triển
của cách mạng nữa Do đó, uvỉệc ban hành một đạo luật mới vể HN&GĐ đã trở thành mội đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chã nghĩa xã hội ở miền Bắc nước tả ' [7] Trước
các yêu cầu khách quan trên, Luật HN&GĐ năm 1959 đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá lĩ thổng qua ngày 29/12/195Q và có hiệu kể
từ ngày 13/1/1960 với hai nhiệm vụ cơ bản; Xoá bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ HN&GĐ mới XHCN
Xuất phát từ các qui định tại Điều 63 và Điều 64 Hiến pháp năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1959 qui định trong quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng không tồn tại chế độ tài sản ước định, mà chỉ tồn tại chế độ tài sản pháp định là chế độ cộng đổng toàn sản, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa
vợ và chổng “vợ và chồng đều có quyền sở hữu, sử dụng và hưởng thụ ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều 15) Như vậy, theo Luật
này, tài sản của vợ chồng chỉ bao gồm tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, không tổn tại tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chổng Tài sản chung được xác định trên cơ sở toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân kể
cá những tài sản vợ, chổng được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng Việc Luật HN&GĐ năm 1959 xác định chế độ cộng đổng toàn sản, không thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng là hợp lý, phù hợp với yêu cầu cách mạng
Trang 36và tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt trong việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, giải phóng người phụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng trong quan hệ HN&GĐ nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng, vốn là đặc thù của chế độ HN&GĐ phong kiến.
Sau khi nước nhà hoàn toàn thống nhất (1975) “cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, ỉiêh nhanh, tiêh mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã h ộ r [19, tr 16] Trong điều kiện
hoàn cảnh đó, xã hội nước ta đã có những chuyển biến khác về căn bản so với thời kỳ ban hành Luật HN&GĐ năm 1959 Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội
ở mức cao hơn, tài sản của xã hội cũng như tài sản riêng của công dân đã phong phú và đa dạng về nguồn gốc, hình thức và giá trị Đặc biệt, trong cuối những nãm 1980, nền kinh tế thị trường bước đầu được xác lập và phát triển, dẫn đến tài sán vợ, chồng có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, tặng cho riêng, cùng với những nhu cầu riêng phản ánh sự độc lập của vợ, chổng trong việc tham gia các quan hệ xã hội cũng nhiều lên
Sự thay đổi trên đặt ra vấn đề nếu tiếp tục duy chế độ cộng đồng toàn sản được qui định tại Điều 15 Luật HN&GĐ năm 1959, sẽ tạo ra kẽ hở trong pháp luật để các tư tưởng xấu có thời cơ phát triển, len lỏi vào trong quan hệ hôn nhân Chế độ cộng đồng toàn sản lúc này cũng đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi của người có tài sản hợp pháp, nhất là khi khối tài sản đó lớn, ảnh hưởng đến những nhu cầu riêng và sự độc lập cần được tôn trọng của mỗi bên
vợ, chồng, cũng như sẽ làm xấu đi bản chất tốt đẹp của hôn nhân XHCN dựa
trên tình yêu chân chính do tư tưởng “thực dụng” có thể xuất hiện khi thiết lập
quan hệ hôn nhân Mặt khác, Hiến pháp năm 1980 được ban hành đã qui định đầy đủ và chặt chẽ về quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chổng (Điều
63 và Điều 64), về sở hữu riêng của công dân được pháp luật bảo hộ (Điều 27) Với điều kiện kinh tế - xã hội và pháp lý như trên, trên tinh thần kế thừa các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 1959, ngày 29/12/1986 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá VII đã thông qua Luật HN&GĐ năm
1986 và có hiệu lực kể từ ngày 3/1/1987
Trang 37Luật này không ghi nhận nguyên tắc tự do lập hôn ước mà tiếp tục thừanhận chế độ tài sản pháp định làm căn cứ duy nhất xác định tài sản của vợchồng, cũng như các quyền và nghĩa vụ có liên quan.
Chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 1986 được qui định tại các điều 14, 15, 16 và 18 với hình thức là chế độ cộng đồng tạo sản [8, tr 246] Trong đó, Điều 14 qui định những tài sản sau thuộc tài sản chung của vợ chồng:
- Tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng;
- Tài sản vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung
Những tài sản không có nguồn gốc nêu trên thuộc tài sản riêng của vợ, chổng (Điều 16), bao gồm:
- Tài sản mà vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
Tài sản riêng của vợ, chồng có thể được mở rộng hơn, nếu tài sản chung của vợ chổng được chia trong thời kỳ hôn nhân (Điều 18) Trong trường hợp có
lý do chính đáng, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia trong thời kỳ hôn nhân, phần tài sản của mỗi bên vợ, chồng được chia thuộc sở hữu riêng của họ.Việc ghi nhận chế độ cộng đồng tạo sản là hoàn toàn phù hợp với thực tế kinh tế - xã hội, nguyện vọng của nhân dân và là một bước tiến quan trọng của Luật HN&GĐ năm 1986 Một mặt, nó không làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng - nền tảng cơ bản của quan hệ gia đình, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, ngăn ngừa các trường hợp kết hôn không lành mạnh, việc kết hôn chỉ nhằm vào khối tài sản sẵn có của bên kia [31, tr 70 -75]
Các qui định về tài sản của vợ chồng qua 14 năm thi hành Luật HN&GĐ năm 1986, đã phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội, được nhân dân tôn trọng
và phát huy Song, qua quá trình thi hành Luật, cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay:
Trang 38- Các qui định về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 1986 còn mang tính nguyên tắc chung, có tính khái quát cao, chưa qui định
cụ thể về hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chổng; chưa qui định vấn
đề đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật có yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu; chưa làm rõ chế độ pháp lý đối với loại tài sản đặc biệt, có tính chất đặc thù là quyền sử dụng đất mà một bên hoặc cả hai bên vợ chồng có quyền sử dụng hợp pháp; chưa đưa ra nguyên tắc suy đoán về xác định tài sản trong trường hợp khi có tranh chấp một bên vợ, chồng có yêu cầu về tài sản riêng nhưng không đủ chứng cứ để chứng minh tài sản đang có tranh chấp là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình; mặt khác, Luật HN&GĐ năm
1986, cũng chưa qui định cụ thể khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung có còn tổn tại hay không? những tài sản do vợ, chồng tạo ra, các thu nhập về nghề nghiệp hoặc thu nhập hợp pháp khác phát sinh sau khi chia thuộc tài sản chung hay tài sản riêng; chưa có qui định căn cứ xác định các nghĩa
vụ tài sản giữa vợ và chồng, cũng như trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với các nghĩa vụ tài sản trong gia đình
- Các văn bản của Chính phủ, Thông tư liên ngành giữa Toà án và các cơ quan liên quan hướng dẫn các qui định mang tính nguyên tắc trong Luật HN&GĐ năm 1986 rất chậm và thiếu Do vậy, trong hoạt động xét xử các tranh chấp về tài sản của vợ chồng, Toà án các cấp phải vận dụng các văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao vào công tác xét xử để khắc phục, nên còn nhiều khó khăn và thiếu sự thống nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc thực thi Luật HN&GĐ
- Sự đa dạng và phức tạp của các giao dịch dân sự hoặc kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đã có những tác động không nhỏ đến quan hệ sở hữu trong gia đình, trong đó có quyền sở hữu của vợ chồng Một số qui định của Luật HN&GĐ năm 1986 không còn đáp ứng được với tình hình thực tế, nhiều vấn đề mới đã phát sinh trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cần phải được pháp luật điều chỉnh Mặt khác, quan hệ HN&GĐ luôn chịu sự tác động, chi phối của các mối quan hệ khác về dân sự, kinh tế, đất đai, hành chính, lao động Hiện nay, các qui định của pháp luật về dân sự, đất đai, kinh doanh đã được ban hành và
Trang 39phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội, do vậy, các qui định của Luật HN&GĐ cũng cần phải tiến hành sửa đổi, bổ sung để tạo sự thống nhất, đồng bộ và phù hợp trong hệ thống pháp luật.
Xuất phát từ thực trạng pháp luật và tình hình thi hành Luật HN&GĐ năm
1986 cho thấy cần thiết phải xây dựng Luật HN&GĐ mới nhằm đáp ứng tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong điều kiện đó, Luật HN&GĐ năm 2000 đã được Quốc hội khoá X nước CHXNCN Việt Nam thông qua ngày 9/6/2000 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2001 Chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ mới được qui định trên cơ sở cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, các qui định có liên quan của BLDS, kế thừa và phát triển những nguyên tắc cơ bản và các qui định còn phù hợp của Luật HN&GĐ năm 1986; đồng thời, bổ sung một số qui định mới cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta, đặc biệt các qui định liên quan đến quyền sử dụng đất của vợ chồng, trách nhiệm liên đới trong thực hiện các nghĩa
vụ tài sản trong gia đình, cơ chế pháp lý để chứng minh hoặc suy đoán về tài sản chung, tài sản riêng tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của minh, đồng thời, giúp Toà án có thêm căn cứ pháp lý khi xét xử các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng
Trang 40Chương 2 XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA v ợ CHổNG ■ ■ THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH■ ■
Tài sản của vợ chổng là một chế định không chỉ liên quan đến vấn đề sở hữu, có ý nghĩa kinh tế đơn thuần mà còn phản ánh các yếu tố chính trị, văn hoá,
xã hội, truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của nhân dân Do vậy, pháp luật HN&GĐ Việt Nam gắn liền với thực tiễn kinh tế - xã hội
ở mỗi giai đoạn phát triển, đã có các qui định khác nhau về tài sản của vợ chồng, song cũng luôn phản ánh các giá trị truyền thống pháp lý, truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kết hợp giữa bản chất của chế độ HN&GĐ XHCN với các yêu cầu khách quan của điều kiện kinh tế thị trường, sự phát triển của xã hội và gia đình, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đã qui định chế độ tài sản của
vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản tại các điều 27, 28, 29, 30, 32 và 33 Trong đó, cùng với tài sản chung hợp nhất, vợ, chồng cũng có quyền có tài sản riêng theo các căn cứ Luật định
2.1 XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA v ợ CHỔNG
Tài sản chung của vợ chồng được hiểu là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt vì nhu cầu chung của gia đình
Sự phát sinh, tồn tại, chấm dứt tài sản chung của vợ chồng không phải do ý chí chủ quan của nhà làm luật, của bản thân vợ chồng mà do sự tồn iại khách quan của quan hệ hôn nhân, cũng như do vị trí, vai trò của hôn nhân trong gia đình và đối với xã hội Tính chất cộng đồng của hôn nhân và với vai trò là hạt nhàn của gia đình đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có một lượng tài sản chung nhất định để đảm bảo các chi phí cho cuộc sống chung và để thực hiện các chức năng
xã hội cơ bản của gia đình, đặc biệt trong việc chăm sóc, giáo dục và hảo vệ các