Tính cấp thiết của đề tài: Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thi hành các quyết định dân sự mà Tòa án áp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM VĂN HÙNG
THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ
ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG TẠI TRẠI GIAM SÔNG CÁI – BỘ CÔNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ninh Thuận, tháng 6 năm 2020
Trang 2PHẠM VĂN HÙNG
THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ
ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG TẠI TRẠI GIAM SÔNG CÁI – BỘ CÔNG AN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VÕ TRÍ HẢO
Ninh Thuận, tháng 6 năm 2020
Trang 3bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật và thực trạng tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện Số liệu trung
thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng và kết quả nghiên cứu chưa từng được công
bố trước đây
Ninh Thuận, ngày tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Phạm Văn Hùng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Câu hỏi nghiên cứu: 4
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 5
7 Ý nghĩa của Luận văn: 5
8 Kết cấu của Luận văn: 6
Chương 1 PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT 7
1.1 Khái quát về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 7
1.1.1 Bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 7
1.1.2 Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 9
1.2 Phân loại các phần dân sự được thi hành trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 10
1.2.1 Phạt tiền 10
1.2.2 Tịch thu tài sản 11
Trang 51.2.5 Nghĩa vụ nộp án phí 22
1.3 Thời hiệu thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 24
1.4 Thẩm quyền thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 25
1.5 Trình tự, thủ tục thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 26
1.5.1 Ra quyết định, gửi quyết định và thông báo thi hành án 26
1.5.2 Xác minh điều kiện thi hành án 28
1.5.3 Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án 30
1.5.4 Cưỡng chế thi hành án 31
1.5.5 Thanh toán tiền thi hành án và kết thúc thi hành án 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT TẠI TRAI GIAM SÔNG CÁI - BỘ CÔNG AN 35
2.1 Khái quát về Trại giam Sông Cái – Bộ Công an 35
2.2 Vai trò phối hợp của Trại giam Sông Cái – Bộ Công an trong hoạt động thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật 38
2.3 Những kết quả đạt được và những khó khăn trong hoạt động thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an 41
2.3.1 Những kết quả đạt được 41
2.3.2 Những khó khăn và nguyên nhân 47
2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an 51
Trang 6DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN PHỤ LỤC
Trang 7BLDS Bộ luật Dân sự
THADS Thi hành án dân sự
Trang 8- Bảng tổng hợp số liệu thi hành qua các năm
- Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Trại giam Sông Cái
- Hình 2.2 Biểu đồ thống kê số người thi hành
- Hình 2.3 Biểu đồ thống kê số tiền thi hành
Trang 9Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thi hành các quyết định dân sự mà Tòa
án áp dụng đối với các bên liên quan trong một vụ án hình sự Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn, cụ thể là tại Trại giam Sông Cái thuộc Bộ Công an, tác giả Luận văn nhận thấy việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật vẫn còn những hạn chế và bất cập Bằng các phương pháp phân tích luật, cùng với các phương pháp thống kê; tổng hợp định lượng, so sánh số liệu ,tác giả mong muốn giải quyết các vướng mắc trong lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự
đã có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam thông qua thực tiễn tại Trại giam Sông Cái –
Bộ Công an
Từ khoá: Thi hành phần dân sự; Bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật; Trại giam Sông Cái
Trang 10is an activity of the State's power to enforce civil decisions applied by the criminal Courts to related parties However, through practical research, in particular inthe Song Cai Prison under the Ministry of Public Security, the author of this thesis found that civil enforcement involved in legally effective judgments of criminal Courts still have limitations and shortcomings By methods of legal analysis, combined with statistical methods; quantitative aggregation, data comparison , the author wishes to solve problems in theory and practice, contribute to perfecting the current legal provisions on the civil enforcement involved in legally effective judgments of criminal Courts and propose solutions tothe Song Cai Prison
Keywords: Civil enforcement; Legally effective judgments of criminal Courts; The Song Cai Prison
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thi hành các quyết định dân sự mà Tòa
án áp dụng đối với người bị kết án
Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật cũng chính là hoạt động đảm bảo việc thu hồi tài sản, khắc phục những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, tính mạng mà người phạm tội đã gây ra, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành phần dân
sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Nếu không thể thi hành phần dân sự trong bản
án hình sự đã có hiệu lực pháp luật thì chuỗi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng không hàn thiện; đồng thời sự nghiêm minh của pháp luật và tính răn đe, giáo dục phạm nhân bị giảm sút đáng kể
Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 và mục 1 Chương V Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) thì những vụ việc phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS bao gồm: hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và phần quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự gồm các việc như thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm; bồi thường thiệt hại về tài sản, …
Theo thống kê của Tổng cục THADS, kết quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự năm 2017: tổng số phải thi hành 296.278 vụ việc/ 41.836 tỷ đồng, số việc đã thi hành xong 130.848 vụ việc/ 8.257 tỷ đồng Tỷ lệ thi hành xong đạt 62,96% về vụ việc và 39,33% về số tiền trên tổng số vụ việc, số tiền có điều kiện thi hành Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có
Trang 12hiệu lực pháp luật vẫn còn những hạn chế, bất cập Do vậy tác giả luận văn chọn
nghiên cứu đề tài “Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực
pháp luật và thực trạng tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an”, qua đó giải quyết
các vướng mắc trong lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Hiện nay có khá nhiều giáo trình nghiên cứu, giảng dạy và bài viết về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật trên các sách báo, tạp chí Tuy nhiên các tài liệu này chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung, chưa đi sâu vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như những bất cập đang tồn tại trong thực tiễn
Về các công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn… Tác giả của luận văn có thể nêu một vài ví dụ các công trình, bài viết sau: GS.TS Lê Cảm với bài viết
“Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát,
số 02/2004 đề cập đến việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung chủ yếu và cơ bản nhất về: Khái niệm, bản chất pháp lý và vai trò, ý nghĩa của năm giai đoạn tố tụng hình sự Riêng việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án, mặc dù trong giai đoạn hiện nay nhà làm luật Việt Nam vẫn coi là một giai đoạn tố tụng hình sự và chính thức ghi nhận nó trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, nhưng tác giả không coi đó là một giai đoạn tố tụng hình sự, mà là một chuyên ngành luật độc lập1 với các quan hệ pháp luật, đối tượng điều chỉnh khác với Luật tố tụng hình sự
và do vậy, nó là một đối tượng nghiên cứu khoa học riêng biệt
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
năm 2003 hiện hành, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí có bài viết “Bàn về nguyên tắc giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Khoa học, số 26, 2010 đã bàn về
nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phân tích nội dung, những vướng mắc để từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng
1 Luật Thi hành án hình sự năm 2019
Trang 13hình sự năm 2003 liên quan đến nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự,
Tác giả Nguyễn Văn Diễn trong Luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “Thi
hành nghĩa vụ dân sự trong bản án và quyết định hình sự của toà án ở Việt Nam”đã
nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn các NVDS phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền trong Luận văn thạc sĩ với đề tài “Thi hành
nghĩa vụ dân sự trong bản án và quyết định hình sự của toà án nhân dân từ thực tiễn thành phố Hà Nội”đã đánh giá thực tiễn thi hành NVDS trong bản án hình sự
tại TP.Hà Nội; nêu ra mặt được, mặt chưa được của việc thi hành NVDS trong bản
án hình sự của tòa án Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành NVDS trong bản án hình sựở TP Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
Liên quan đến đề tài còn có Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Xuân
Hồng(2002) với đề tài “Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Thái(2003) với đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt
động thi hành án dân sự ở Việt Nam”…
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật cũng như đã đặt ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật dưới cấp độ của một luận văn thạc sĩ Luật học Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật vào thực tiễn tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn các phần dân sự phát sinh từ bản án hình sự cũng như lý luận và thực tiễn thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật để đề ra các giải pháp nâng cao
Trang 14hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật ở nước
ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn các phần dân sự trong bản án hình sự
đã có hiệu lực pháp luật cũng như lý luận và thực tiễn về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
- Đánh giá thực tiễn thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an; từ đó nêu ra những thuận lợi và hạn chế của việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luậtcủa Tòa án
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật ở Trại giam Sông Cái – Bộ Công an
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định của pháp luật về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự Luận văn cũng đồng thời nghiên cứu thực trạng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật ở Trại giam Sông Cái – Bộ Công an
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là quy định của pháp luật từ thời điểm
Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật2, và thực tiễn thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại Trạm giam Sông Cái – Bộ Công an giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019
5 Câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở pháp lý về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
2 Ngày 01/01/2017
Trang 15- Thực trạng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an đang có những khó khăn, vướng mắc gì
và giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã
có hiệu lực pháp luật tại Trại giam Sông Cái – Bộ Công an?
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận của Luận văn là chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, về chính sách thi hành NVDS trong bản án hình
sự của tòa án Luận văn được thực hiện trên cơ sở quán triệt các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về pháp luật hình sự và pháp luật thi hành NVDS trong bản án hình sự của tòa án Cơ sở thực tiễn của các báo cáo chuyên đề về thi hành NVDS trong bản án hình sự của tòa án, của Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Vụ kiểm sát thi hành án – Viện kiểm sát nhân dân tối cao v.v…
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong khi thưc hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lô gic, so sánh, thống kê,
cụ thể:
- Phương pháp hệ thống, phân tích được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung các quy định pháp luật về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
- Phương pháp tổng hợp, thống kê được sử dụng để làm rõ số liệu vềthực trạng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại trại giam Sông Cái – Bộ Công an
7 Ý nghĩa của Luận văn:
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luậtởViệt Nam Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa góp phần hoàn
Trang 16thiện các quy định của pháp luật về thi hành NVDS trong bản án hình sự đã có hiệu lực của tòa án; qua đó góp phần hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về thi hành NVDS trong bản án hình sự của tòa án, giúp cơ quan THA nói chung và Trại giam Sông Cái – Bộ Công an nói riêng có các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích và tái hòa nhập với xã hội
8 Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có hai chương:
Chương 1: Pháp luật về thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
Chương 2: Thực trạng thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án hình
sự đã có hiệu lực pháp luật tại trại giam Sông Cái – Bộ Công an
Trang 17Chương 1 PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH PHẦN DÂN SỰ TRONG BẢN
Bản án sơ thẩm phải ghi rõ4:
- Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên;
họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
- Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng;
- Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập;
3 Có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
4 Khoản 2, Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trang 18- Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo
có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;
- Phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra;
- Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
- Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án,
về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó
Bản án phúc thẩm phải ghi rõ5:
- Tên Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị
và những bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm có xem xét; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người giám định, người phiên dịch và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của Viện kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
5 Khoản 3, Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trang 19- Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn
cứ để giải quyết vụ án;
- Quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm
Bản án là văn bản ghi nhận phán quyết sau khi xét xử một vụ án; đối với vụ
án hình sự, Tòa án ra Bản án để tuyên bố một người là phạm tội hay không phạm tội
và các biện pháp tư pháp khác kèm theo Trong khi đó đối với vụ án hành chính và dân sự, Bản án thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận, cho hưởng hoặc không cho hưởng một quyền nào đó của đương sự, buộc đương sự thực hiện các nghĩa vụ nếu các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ vấn đề của vụ án
Như vậy có thể hiểu, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đúng thời hạn hoặc bản án phúc thẩm
1.1.2 Thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
Phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là những nghĩa vụchủ yếu liên quan đến tiền, tài sảncủa các bên được tuyên trong cùng một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật và do cơ quan THADS thi hành
Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 và mục 1 Chương V Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) thì những vụ việc phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS bao gồm: hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và phần quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự gồm các việc như thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; bồi thường thiệt hại về tài sản, … Như vậy, cho dù là đây là hình phạt chính, hình phạt bổ sung trong một vụ án hình sự
Trang 20hay là nghĩa vụ dân sự liên quan tới vụ án hình sự thì việc thi hành những hình phạt hay nghĩa vụ nói trên sẽ do cơ quan THADS đảm nhiệm
Từ những phân tích nêu trên, ta có thể rút ra khái niệm “Thi hành phần dân
sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật”là: Là việc cho thi hành những
nghĩa vụ chủ yếu liên quan tới tiền, tài sản của các bên trong một vụ án hình sự, được toà xem xét, tuyên trong cùng một vụ án hình sự và do cơ quan THADS thi hành
Việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật được quy định theo trình tự, thủ tục rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật như Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật THADS năm 2008 (được sửa đổi bổ sung 2014)6
1.2 Phân loại các phần dân sự được thi hành trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
1.2.1 Phạt tiền
- Đối với người phạm tội (người từ đủ 14 tuổi trở lên):
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây7: Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng theo Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định; Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác
do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác
- Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm/pháp nhân thương mại phạm tội, đồng thời có xét đến tình hình tài sản, sự biến động của giá cả
Trang 21Việc xử lý pháp nhân thương mại khi: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại
Tuy nhiên, áp đặt mức tối thiểu áp dụng: Không được thấp hơn 1.000.000 đồng đối với cá nhân và không được thấp hơn 50.000.000 đồng đối với pháp nhân8
Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì việc tịch thu, sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với:
“- Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội
- Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
- Vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành”
+ Khi tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần xác định chính xác những công cụ, phương tiện này được dùng vào việc phạm tội thì mới tịch thu sung quỹ Nhà nước
Ví dụ: Võ Viết T chuyên dùng chiếc ghe máy vận chuyển thuốc lá ngoại đem tiêu thụ ở nhiều nơi, nên bị Tòa án tuyên bố tịch thu chiếc ghe máy để sung quỹ Nhà nước
+ Nếu công cụ, phương tiện không xác định được dùng vào việc phạm tội thì không được tịch thu
8 Điều 35, Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 77, Bộ luật Hình sự năm 2015
Trang 22Ví dụ: Nguyễn Văn A sử dụng xe máy Exciter để đi trộm cắp tài sản là điện thoại Qua xác minh, làm rõ: Chiếc xe máy mà A sử dụng là do mượn từ ba ruột Nguyễn Văn B để đi chơi sau đó mới nảy ý định trộm cắp tài sản, đồng thời xe máy trên dùng làm phương tiện sinh hoạt đi lại trong gia đình Như vậy xe máy này không thể là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội
1.2.3 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác bị xâm hại
1.2.3.1 Về tài sản
Căn cứ điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điều 178 Bộ luật Hình sự năm
2015 quy định như sau:
Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
“1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”
Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
“1 Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Trang 23a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”
Như vậy thiệt hại tài sản xảy khi có hành vi trái pháp luật của cá nhân đủ tuổi chịu trách nhiệm gây ra như dùng tay, hung khí và các công cụ, phương tiện khác để
cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của chủ sở hữu hợp pháp Có thể hiểu:
+ Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn Ví dụ: Đốt cháy một căn nhà, một chiếc xe ôtô cháy thành tro bụi… Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì sự phân biệt rạch ròi hành vi huỷ hoại với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản không phải trường hợp nào cũng được xác định khác nhau dễ dàng
+ Làm hư hỏng tài sản là làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản và giá trị sử dụng bị giảm đó có thể khôi phục được (có thể khôi phục lại như cũ, nhưng cũng có thể chỉ khôi phục lại được một phần).Hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào thủ đoạn
mà người phạm tội thực hiện như: Đốt cháy, đập phá, dùng chất độc, hoá chất,…
Việc xác định giá trị tài sản bị thiệt hại do Hội động định giá tài sản được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Khi đã có kết luận của Hội đồng định giá về giá trị tài sản thì người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đúng với kết luận của Hội đồng định giá Ngoài ra thiệt hại do tài sản bị xâm phạm còn được xác định theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại
Trang 24- Thiệt hại khác do luật quy định.”
Trên đây là những căn cứ phát sinh thiệt hại tài sản và căn cứ để bồi thường thiệt hại Tuy nhiên việc bồi thường tài sản bị thiệt hại do hai bên tự thỏa thuận vẫn được Nhà nước ta tôn trọng và công nhận vì nó gắn với ý chí và nguyện vọng của hai bên, đồng thời phù hợp với chính sách nhân đạo, truyền thống nhân nghĩa của Nhân dân ta
1.2.3.2.Đối với bồi thường thiệt hại do tinh thần bị xâm hại tức thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,
uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm
+ Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm:
- Chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại Trường hợp người thực hiện hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm đã in ấn tài liệu, tờ rơi, ấn phẩm để xúc phạm danh dự, nhân phẩm nên người bị thiệt hại đã chi phí khoản tiền cần thiết để thu hồi lại những tài liệu, những ấn phẩm đó Ví dụ: A đã in tờ rơi rải ở nơi B cư trú và làm việc với nội dung không có thật xúc phạm đến danh dự của B, B phải chi phí để thuê người thu lại những tờ rơi đó
- Chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
- Tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại
- Các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có) + Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút:
- Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người
Trang 25bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó Ví dụ: Chị A đang làm việc tại doanh nghiệp X do bị N đưa tin xấu dẫn đến bị mất việc nên khoảng thời gian chị A
bị mất việc làm không được hưởng lương là thu nhập bị mất.Hoặc Ông B là bác sỹ,
bị C loan tin đồn thất thiệt là bác sỹ trình độ tay nghề kém nên điều trị làm bệnh nhân chết , dẫn đến khách hàng đến trị bệnh giảm dẫn đến thu nhập bị giảm sút
- Việc xác định thu nhập thực tế của người bị xâm phạm và việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện như trường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút khi sức khỏe bị xâm phạm
+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm
- Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người
bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm9, hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…
+ Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm
phạm trước hết do các bên thỏa thuận “Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi
thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường"
1.2.3.3.Đối với bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu,
9 bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo hình…
Trang 26vật lý trị liệu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe
bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc
bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
đó
+ Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định
từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người bị xâm phạm sức khỏe nhân (x) với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại
Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề10 trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân (x) với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại
Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân (x) với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại
Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường11
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người
bị thiệt hại trong thời gian điều trị
10 nếu chưa đủ 6 tháng thì tính bình quân của tất cả các tháng
11 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS năm 2015
Trang 27+ Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người
bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế
+ Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:
Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân (x) với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất
Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập
ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề12 trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân (x) với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất
Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú
Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường
- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động
và cần có người thường xuyên chăm sóc13 thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại
12 nếu chưa đủ 6 tháng thì tính bình quân của tất cả các tháng
13 người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên
Trang 28+ Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: Chi phí hợp
lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại
+ Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm
+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại
+ Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại Việc xác định mức độ tổn thất
về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…
+ Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu
do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường
1.2.3.4.Đối với bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng
bị xâm phạm như sau:
“1 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
Trang 29c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định
2 Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở
do Nhà nước quy định.”
Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 100 lần tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường
1.2.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không chung sống với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu
Căn cứ Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa các đối tượng sau (các trường hợp cấp dưỡng): giữa cha,
mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa
cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng
Mỗi một đối tượng trên có điều kiện, đối tượng cấp dưỡng khác nhau cụ thể:
Trang 30* Nghĩa vụ cha mẹ cấp dưỡng cho con
- Con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
- Không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa
vụ nuôi dưỡng con
* Con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ
- Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ
- Trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em với nhau
- Không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con
- Anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em
- Người được cấp dưỡng chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
Ngược lại, em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
- Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 31* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột
- Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014
- Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm
2014
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn
Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình
Về mức và phương thức cấp dưỡng quy định:
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn
về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Trang 321.2.5 Nghĩa vụ nộp án phí
Án phí hình sự là án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào ngân sách nhà nước cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án phúc thẩm cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về dân sự Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án sơ thẩm thì ngườikháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm
Căn cứ điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về đối tượng phải chịu án phí hình sự:
“1 Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm trong vụ án hình sự:
a) Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
b) Bị hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
c) Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết này;
d) Trường hợp bị hại khai báo tài sản bị xâm hại và có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng thực tế chứng minh tài sản bị cáo xâm phạm có giá trị thấp hơn hoặc cao hơn giá trị tài sản khai báo thì bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính đối với phần tài sản chứng minh được bị xâm phạm;
đ) Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản theo quy định của pháp luật không yêu cầu một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể thì không phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
e) Bị hại có yêu cầu bồi thường thiệt hại về những khoản không phù hợp với pháp luật thì Tòa án phải giải thích cho họ việc họ phải chịu án phí nêu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận Trường hợp họ vẫn yêu cầu Tòa
Trang 33án giải quyết thì họ phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
g) Trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó;
h) Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp
2 Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm trong vụ án hình sự:
a) Trường hợp cả bị cáo và người đại diện của bị cáo đều có kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm thì chỉ bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
b) Trường hợp chỉ bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
c) Trường hợp bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự và người đại diện của
bị cáo kháng cáo quyết định về dân sự hoặc ngược lại mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm thì người nào kháng cáo về phần nào phải chịu án phí đối với yêu cầu của họ;
d) Trường hợp bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự và người đại diện của
bị cáo kháng cáo quyết định về dân sự hoặc ngược lại mà Tòa án quyết định sửa quyết định về hình sự hoặc sửa quyết định về dân sự hoặc sửa cả quyết định về hình
sự và quyết định về dân sự thì không có người kháng cáo nào phải chịu án phí phúc thẩm;
Trang 34đ) Bị hại kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm trong trường hợp vụ
án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội;
e) Người kháng cáo phần quyết định về dân sự của bản án sơ thẩm phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết này;
g) Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để điều tra, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án thì người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
h) Người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
i) Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm trong trường hợp yêu cầu kháng cáo của họ được Tòa án chấp nhận”
Mức án phí trong vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đều là: 200.000 đồng
1.3 Thời hiệu thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
Căn cứ khoản 1, điều 30 của Luật THADS 2008 quy định về thời hiệu THADS là:
Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải THA có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền ra quyết định thi hành án
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn
Như vậy trong 05 năm kể từ ngày bản án hình sự đã có hiệu lực thì người được thi hành án, người phải THA được quyền làm đơn yêu cầu THA tự mình hoặc
ủy quyền cho người khác thì cơ quan THA ra quyết định thi hành án Sau 05 năm thì người được THA hết quyền yêu cầu thi hành án14, còn người phải THA có quyền chứng minh thời hiệu THA đã hết
14 trừ trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không yêu cầu được khoản 3 Điều 2 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 cùa Chính phủ
Trang 351.4 Thẩm quyền thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
Căn cứ điều 35, Luật THADS 2008 quy định thẩm quyền thi hành án:
“1 Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản
án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định phúc thẩmcấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác
2 Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
b) Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
c) Bản án, quyết định nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
d) Quyết định của Trọng tài thương mại;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
e) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;
g) Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;
Trang 36h) Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về thi hành án
3 Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án hình
sự của Toà án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án hình
sự của Toà án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án hình sự của Toà án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Bản án, quyết định dân sự của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho
cơ quan thi hành án cấp quân khu;
đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác”
1.5 Trình tự, thủ tục thi hành phần dân sự trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật
1.5.1 Ra quyết định,gửi quyết định và thông báo thi hành án
Sau khi nhận và kiểm tra bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án Căn cứ điều 36 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 quy định
- Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định
+ Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; + Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước;