trong khảo sát có 3 người trong độ tuổi lao động, trong đó sẽ có 2 lao động thamgia vào việc nuôi bò sinh sản của hộ.Bảng 5: Thông tin chung về người nuôi tính Số quan sát Nhỏ nhất Lớn n
Trang 1BÁO CÁO
RÀ SOÁT, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG BÒ SINH SẢN
Ở TỈNH TRÀ VINH
Nhóm Tư vấn:
PGsS.TSs Nguyễn Phú Son (Tư vấn trưởng)
TSs Huỳnh Trường Huy
Ths Nguyễn Thị Thu An
Ths Lê Văn Gia Nhỏ
Cn Lê Bửu Minh Quân
Tháng 2/2016
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục bảng ii
Danh mục sơ đồ và hình iii
1 Giới thiệu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu chung 1
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 2
3.2 Thu thập thông tin 3
3.2.1 Số liệu thứ cấp 3
3.2.2 Số liệu sơ cấp 3
3.3 Giới thiệu vùng nghiên cứu và thực trạng chăn nuôi bò sinh sản 5
3.3.1 Điều kiện tự nhiên 5
3.3.2 Tài nguyên thiên nhiên 5
3.3.3 Tình hình kinh tế 6
3.3.4 Tình hình xã hội 9
4 Thực trạng chăn nuôi bò 9
4.1 Mô tả sơ đồ chuỗi giá trị 10
4.2 Mô tả chức năng thị trường của các tác nhân tham gia chuỗi 12
4.2.1 Người nuôi bò 12
4.2.2 Thưuơng lái/Thu gom/Trại bò 15
4.3 Phân tích kinh tế chuỗi 17
4.3.1 Phân tích hiệu quả tài chính của hộ nuôi bò sinh sản 17
4.3.2 Phân tích giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần 18
4.3.3 Phân phối giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị 22
4.4 Thuận lợi và khó khăn của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị 27
4.4.1 Thuận lợi 27
4.4.2 Khó khăn 29
5 Đề xuất chiến lược và giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị bò sinh sản 33
5.1 Các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị 34
5.1.1 Chiến lược công kích: phát triển chăn nuôi bò sinh sản 34
5.1.2 Chiến lược thích nghi: phát triển vùng nguyên liệu thức ăn 34
5.1.3 Chiến lược điều chỉnh: nâng cao năng lực chăn nuôi và tiếp cận thị trường 34
5.1.4 Chiến lược phòng thủ: hoàn thiện chính sách phòng chống dịch bệnh 34 5.2 Các nhóm giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị 36
Trang 35.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực chăn nuôi và kinh doanh 36
5.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi 37
5.2.3 Tăng cường khả năng liên kết và tiếp cận thị trường 37
5.2.4 Hoàn thiện chính sách phát triển ngành chăn nuôi bò 38
6 Kế hoạch nâng cấp chuỗi giá trị bò sinh sản 39
7 Kết luận 51
Tài liệu tham khảo 52
Danh m c b ng ụ ả Bảng 1: Khung phân tích ma trận SWOT 3
Bảng 2: Kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, 2013-2015 7
Bảng 3: Số lượng đàn gia súc – gia cầm của tỉnh Trà Vinh 8
Bảng 4: Tình hình chăn nuôi bò tỉnh Trà Vinh (giai đoạn 2010-2014) 9
Bảng 5: Thông tin chung về người nuôi 13
Bảng 6: Cơ cấu giống bò sinh sản 14
Bảng 7: Chi phí sản xuất của người nuôi bò 18
Bảng 8: Giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của kênh thị trường trong tỉnh 19 Bảng 9: Giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của kênh thị trường ngoài tỉnh .20
Trang 4Bảng 10: Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị bò sinh sản 24Bảng 11: Phân tích SWOT ngành hàng bò sinh sản tỉnh Trà Vinh 35Bảng 12: Khung kế hoạch nâng cấp chuỗi giá trị bò sinh sản tỉnh Trà Vinh 40
Danh m c s đ và hình ụ ơ ồ
Sơ đồ 1: Khung phân tích CGT để xây dựng kế hoạch nâng cấp chuỗi 2Hình 1: Sơ đồ chuỗi giá trị bò sinh sản tỉnh Trà Vinh 11Hình 2: Biểu đồ phân phối tổng lợi nhuận CGT BSS tỉnh Trà Vinh 26
Trang 51 Gi i thi u ớ ệ
Dự án Thích ứng biến đổi khí hậu vùng đĐồng bằng sông Cửu Long tại tỉnhTrà Vinh (Dự án AMD Trà Vinh) do Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế tài trợ(IFAD) Mục tiêu tổng thể của dự án là xây dựng sinh kế bền vững cho ngườinghèo nông thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu Mục tiêu cụ thể là nâng caonăng lực thích ứng của cộng đồng để tăng cường khả năng ứng phó biến đổi khíhậu Đối tượng của dự án là hộ nghèo và cận nghèo, hộ do phụ nữ làm chủ và hộngười dân tộc Khmer sẽ được ưu tiên
Dự án có 3 hợp phần chính: Hợp phần 1 “Nâng cao kiến thức về biến đổi khíhậu”; Hợp phần 2 “Đầu tư cho sinh kế bền vững” và Hợp phần 3 “Quản lý dự án”.Hoạt động tư vấn này thuộc khuôn khổ của hợp phần 2 Mục tiêu của hợp phần lànâng cấp tính bền vững và hiệu quả của các khoản đầu tư thích ứng với BĐKH.Hợp phần này có 2 tiểu hợp phần:
- Tài chính nông thôn để cải thiện sinh kế; gồm các hoạt động: (a) thành lậpcác tTổ tiết kiệm và tín dụng mới (SCG), (b) chuyển đổi các mạng lưới tín dụngthành các tTổ chức tài chính vi mô (MFI), (c) hỗ trợ vốn cho đầu tư vào thích ứngbiến đổi khí hậu và chuỗi giá trị;
- Đầu tư thích ứng BĐKH: gồm các hoạt động (a) Xây dựng cơ sở hạ tầngcho cộng đồng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, (b) Đồng tài trợ cho hoạtđộng thích ứng với biến đổi khí hậu, (c) Quỹ Hợp tác Công - Tư (PPP)
Hoạt động “Rà soát, pPhân tích, Đđánh giá và xXây dựng kKế hoạch pPháttriển cChuỗi giá trị ngành hàng bò sinh sản ở Trà Vinh” được thực hiện trongkhuôn khổ của hợp phầân 1, nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch nâng cấpchuỗi giá trị (CGT) giúp cho các hộ chăn nuôi bò sinh sản thích ứng tốt hơn vớitác động của BĐKH
2 M c tiêu nghiên c u ụ ứ
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu CGT bBò sinh sản được thực hiện nhằm phát hiện các lỗ hổngtrong các khâu của CGT, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cấp CGT nhằm đểcải thiện thu nhập cho các tác nhân tham gia trong CGT, đặc biệt là các hộ chănnuôi nghèo chịu ảnh hưởng của BĐKH
Trang 62.2 Mục tiêu cụ thể
˗ Mô tả sơ đồ CGT bò sinh sản và chức năng thị trường của các tác nhântham gia trong CGT bò sinh sản
˗ Phân tích kinh tế CGT bò sinh sản
˗ Phân tích thuận lợi và khó khăn của các tác nhân tham gia chuỗi
˗ Đề xuất giải pháp và xây dựng kế hoạch nâng cấp CGT bò sinh sản ở TràVinh
3 Ph ươ ng pháp nghiên c u ứ
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện dựa vào khung phân tích chuỗi giá trị bò sinhsản được trình bày ở Sơ đồ 1
Sơ đồ 1: Khung phân tích CGT để xây dựng kế hoạch nâng cấp chuỗi
Công cụ chính được sử dụng trong nghiên cứu này là pPhân tích ma trậnSWOT - như đã được trình bày trong Bảng 1 Phân tích ma trận SWOT được sửdụng để đưa ra các đề xuất giải pháp nâng cấp, dựa vào sự kết hợp giữa các điểmmạnh (S) và cơ hội (O) để hình thành nhóm giải pháp công kích (SO); giữa cácđiểm mạnh (S) với thách thức (T) để hình thành nhóm giải pháp thích ứng (ST);giữa các điểm yếu với cơ hội để hình thành nhóm giải pháp điều chỉnh (WO) và
Trang 7giữa các điểm yếu (W) với thách thức (T) để hình thành nhóm giải pháp phòng thủ(WT).
Bảng 1: Khung phân tích ma trận SWOT
S m T l : Giải pháp thích ứng
Tận dụng điểm mạnh để hạnchế những rủi ro bên ngoài cóthể xảy ra
Giải pháp vừa khắc phụcnhững điểm yếu, vừa hạn chếnhững rủi ro có thể xảy ra
3.2 Thu thập thông tin
3.2.1 Số liệu thứ cấp
Những thông tin thứ cấp được thu thập trong quá trình khảo sát bao gồm cácbáo cáo về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bò sinh sản tại các huyện dự ánthuộc tỉnh Trà Vinh; những chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ cho ngành hàngnông nghiệp cũng như hỗ trợ cho sản phẩm bò sinh sản trên địa bàn tỉnh và nhữngnghiên cứu có liên quan về sản phẩm bò sinh sản từ nhiều nguồn khác
3.2.2 Số liệu sơ cấp
3.2.2.1 Cỡ mẫu và cơ cấu mẫu
Tổng quan sát mẫu điều tra cho tất cả các tác nhân là 108 quan sát Trong đó,nhóm tư vấn cùng với nhóm cộng tác viên đã thực hiện phỏng vấn điều tra trực
Trang 8tiếp 89 hộ nông dân nuôi bò sinh sản, 12 thương lái thu gom và bán giống bò sinhsản và 7 đối tượng dẫn tinh viên dựa vào bảng câu hỏi cấu trúc được chuẩn bịtrước Ngoài ra, nhóm tư vấn cũng đã tiến hành phỏng vấn phi chính thức một sốcán bộ địa phương trong các huyện dự án và cán bộ tại tỉnh có chuyên môn về sảnphẩm bò sinh sản này.
3.2.2.2 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp chọn mẫu được áp dụng ở đây khi khảo sát các tác nhân làphương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên – chọn mẫu thuận tiện, do vậy có hạn chế
về độ tin cậy của thông tin Thu thập thông tin sơ cấp được thực hiện bởi nhóm tưvấn và các cộng tác viên với sự hỗ trợ của các cán bộ dự án AMD cấp huyện vàcấp xã
Những tác nhân tham gia chuỗi được chọn điều tra theo tính chất liên kếtchuỗi và xuất phát từ người nuôi bò sinh sản
3.3 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm mô tả tình hìnhchăn nuôi và tiêu thụ bò sinh sản của các tác nhân tham gia chuỗi Thống kê mô tả
là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả, trình bày số liệu thô và lập bảngphân phối tần số Tần số là số lần xuất hiện của một quan sát Bảng thống kê làhình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích
và kết luận
Mục tiêu 2: Sử dụng các công cụ thống kê mô tả, tần suất xuất hiện, phân
tích chi phí lợi ích, phân tích kinh tế chuỗi
Giá trị gia tăng (VA - Value Added): Giá trị gia tăng (GTGT) là thước đo về
giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Giá trị gia tăng là hiệu số giữa giá mà ngườivận hành chuỗi bán được trừ đi chi phí trung gian đó là những chi phí để muanhững nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trướccung cấp
Giá trị gia tăng = (Số lượng x Giá bán) – Chi phí trung gian
GTGT thuần (NVA - Net Value Added) được xác định như sau:
Giá trị gia tăng thuần = Giá trị gia tăng – chi phí tăng thêm
Trong đó:
Trang 9Chi phí trung gian của nông dân là chi phí đầu vào (giống, phân, thuốc).; Chiphí trung gian của các tác nhân theo sau nông dân là giá bán của tác nhân đi trướctrong sơ đồ chuỗi.
Chi phí tăng thêm là những chi phí phát sinh trong giá thành ngoài chi phítrung gian như chi phí thuê lao động, chi phí vận chuyển, liên lạc, chi phí bánhàng, thuế, lãi vay ngân hàng
Mục tiêu 3: Sử dụng phân tích mô hình PEST và mô hình 5 lực lượng cạnhtranh của Porter để xác định những điểm thuận lợi (bên trong và bên ngoài) vànhững điểm khó khăn (bên trong và bên ngoài)
Mục tTiêu 4: Từ những kết quả phân tích ở ba mục tiêu trên, phương pháp
phân tích ma trận SWOT được sử dụng để xây dựng những giải pháp và kế hoạchnâng cấp CGT
3.3 Giới thiệu vùng nghiên cứu và thực trạng chăn nuôi bò sinh sản
3.3.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Trà Vinh nằm trong tọa độ địa lý từ 9o31’5’’ đến 10o04’5’’ vĩ độ Bắc và
105o57’16’’ đến 106o36’04’’ kinh độ Đông Vị trí hành chính của tỉnh Trà Vinhnhư sau:
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long
+ Phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre
+ Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng
Trà Vinh có 9 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: TP Trà Vinh, TX.Duyên Hải và 7 huyện: Cầu Kè, Tiểu Cần, Càng Long, Trà Cú, Châu Thành, CầuNgang và Duyên Hải Diện tích tự nhiên 234.116 ha, dân số 1.028.000 người,chiếm 5,8% diện tích và 6,0% dân số toàn vùng ĐBSCL
3.3.2 Tài nguyên thiên nhiên
Tỉnh Trà Vinh có khoảng 24.000 ha diện tích rừng và đất rừng, chủ yếu nằmdọc bờ biển tại các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú với các loại cây nhưbần, đước, mắm, dừa nước, chà là,… đất bãi bồi có diện tích 1.138 ha Tổng diệntích đất 229.200 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 186.170 ha, đất lâm nghiệp
Trang 10chiếm 6.922 ha, đất chuyên dùng chỉ có 9.936 ha, còn lại là đất ở nông thôn chiếm3.108 ha, đất ở thành thị chiếm 586 ha, đất chưa sử dụng chiếm 85 ha.
Trà Vinh có 3 nhóm đất chính trong đó đất cát giồng chiếm 6,65%, đất phù sachiếm 58,29% và đất phèn chiếm 24,44% Diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm62.000 ha trong đó diện tích nuôi tôm sú 25.000 ha Hiện nay sản lượng nuôi trồng
và đánh bắt thủy hải sản của tỉnh có bước phát triển, nên nhu cầu về đầu tư nhàmáy chế biến thủy hải sản xuất khẩu rất cần thiết
Khoáng sản chủ yếu của tỉnh Trà Vinh là những loại cát dùng trong côngnghiệp và xây dựng Trong đó, trữ lượng cát sông đạt 151.574.000 m33 Đất sSétgạch ngói được Phân viện nghiên cứu địa chất công nhận là đạt yêu cầu dùngtrong xây dựng, phục vụ cho công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng Ngoài ratrên địa bàn tỉnh còn có mMỏ nước khoáng đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia,nhiệt độ 38,5OC, khả năng khai thác cấp trữ lượng 211 đạt sản lượng 240
m33 /ngày, cấp tài nguyên 333 đạt 19.119 m33 /ngày phân bổ tại thị trấn Long Toàn,huyện Duyên Hải
kỹ thuật vào sản xuất Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vẫn gặpphải những khó khăn nhất định như ảnh hưởng của biến đổi thời tiết, dịch bệnhtiềm ẩn trên cây trồng và vật nuôi…
Mặt hàng nông sản của tỉnh bao gồm lúa, hoa màu và cây công nghiệp Bảng
2 trình bày kết quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong năm 2013, 2014 và năm
2015 Cây lúa có tổng diện tích gieo trồng 3 vụ trong năm 2013 đạt 235,5 nghìn havới sản lượng 1.275 nghìn tấn Diện tích lúa trong năm 2014 và 2015 đều tăng, cụthể năm 2014, diện tích gieo trồng lúa là 235,9 nghìn ha với tổng sản lượng lúavào khoảng 1.327 nghìn tấn, tăng 4,08% so với năm 2013 Trong năm 2015, sảnlượng là 1.354 nghìn tấn, tăng 2,08% so với năm 2014
Trang 11Bảng 2: Kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, 2013-2015
Tiêu chí
Diện tích (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Chênh lệch 2014/2013
Chênh lệch 2015/2014 DT
Nguồn: Báo cáo Kinh tế - Xã hội tỉnh Trà Vinh, 2013-2015.
Đối với cây hoa màu, trong năm 2014 toàn tỉnh gieo trồng 55 nghìnha vớisản lượng là 754 nghìn tấn Trong năm 2015 diện tích gieo trồng hoa màu là 55,2nghìn ha, tăng 0,36% diện tích gieo trồng cả năm 2014, sản lượng đạt được 721nghìn tấn, giảm so với năm 2014 là 4,38%
Diện tích gieo trồng cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2013 là 14,9nghìn ha, mức sản lượng đạt được là 213 nghìn tấn Trong năm 2014, diện tíchxuống giống 15,5 nghìn ha, đạt sản lượng 223 nghìn tấn, tăng 4,69% so với năm
2013 Tương tự, năm 2015 diện tích gieo trồng khoảng 16,5 nghìn ha, tăng 6,45%
so với năm 2014 và mức sản lượng đạt được 245 nghìn tấn, tăng 9,87% so vớinăm trước
b) Chăn nuôi
Số lượng đàn gia súc và gia cầm của huyện năm 2013, 2014 và năm 2015tăng, giảm không đều Như Bảng 3 cho thấy chỉ có đàn bò là tăng đều qua cácnăm, trong khi đó đàn trâu và gia cầm thì có xu hướng giảm nhiều nhất Nguyênnhân là do chi phí đầu vào tăng cao nhưng giá thịt tăng giảm không ổn định, hơnnữa ảnh hưởng của thời tiết nên các hộ chăn nuôi không mạnh dạn đầu tư pháttriển đàn Theo bảng trên cho thấy đàn trâu giảm chủ yếu do hiện nay việc sử dụngtrâu trong sản xuất nông nghiệp rất ít, phần lớn chỉ được nông dân sử dụng để lưugiống Chăn nuôi gia cầm cũng giảm do thời tiết diễn biến phức tạp nắng
Trang 12mưa thất thường đã làm cho gà bị dịch bệnh chết khá nhiều; môi trường chăn nuôiđặc biệt là đàn vịt chạy đồng ngày càng thu hẹp; lượng thức ăn tận dụng như cua,
ốc ngày càng ít, người nuôi phải bổ sung thức ăn tổng hợp nên giá thành chăn nuôicao, trong khi đó giá thịt vịt hơi rẻ nên đã ảnh hưởng đến việc chăn nuôi gia cầmtrên địa bàn tỉnh Ngược lại, đàn bò của tỉnh tăng lên do giá bò hơi tăng khá cao,hơn nữa nông dân tận dụng bờ ao, vườn cây lâu năm trồng cỏ tạo nguồn thức ăn
để đầu tư nuôi bò vỗ béo để tăng thu nhập cho gia đình Bên cạnh đó, có một số xãđầu tư chăn nuôi bò cho các lao động nhàn rỗi tại địa phương Đàn heo của tỉnhgiảm qua từng năm do chi phí đầu vào tăng cao nhất là giá thức ăn, giá bán heohơi lại tăng giảm thất thường làm cho người nuôi không có lãi dẫn đến những hộnuôi heo với qui mô lớn giảm Vấn đề đô thị hoá mạnh cũng làm ảnh hưởng đếntình hình chăn nuôi heo của tỉnh vì nông dân sợ ảnh hưởng đến vệ sinh môitrường
Bảng 3: Số lượng đàn gia súc – gia cầm của tỉnh Trà Vinh
Nguồn: Báo cáo Kinh tế - Xã hội tỉnh Trà Vinh, 2013-2015
3.3.3.2 Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 12/2015 tăng21,49% so với tháng trước và tăng 31,82% so với tháng cùng kỳ năm trước.Mức tăng này chủ yếu tập trung ngành sản xuất và phân phối điên, khí đốt, nướcnóng, hơi nước và điều hòa không khí gấp 3,3 lần so với tháng trước
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2015 ước tính tăng 12,85% sovới năm 2014 do một số công ty có quy mô lớn đi vào sản xuất như: Công ty Cổphần COSINCO Cửu Long,… một số công ty mở rộng thêm ngành nghề sản xuất
và Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 đang trong quá trình vận hành chạy thử.Trong mức tăng chung cả năm: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,2%; ngànhchế biến, chế tạo tăng 2,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt gấp gần3,9 lần; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,63%
Trang 133.3.4 Tình hình xã hội
3.3.4.1 Giáo dục
Tình hình xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và họcđược quan tâm tiếp tục đầu tư, hệ thống mạng lưới trường lớp được hoàn thiện vàphát triển; trong năm học 2015-2016 có 464 trường, trong đó có 82 trường đạtchuẩn quốc gia Toàn tỉnh có 195.719 học sinh, tăng 3,2% so với năm học trước.Bên cạnh cơ sở vật chất được đầu tư thì chất lượng giáo viên cũng được nâng cao.Chất lượng giáo viên được nâng lên cả về trình độ chính trị lẫn chuyên môn, tiếpcận nhanh với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
3.3.4.2 Công tác giảm nghèo
Thực hiện tốt các chương trình dự án giảm nghèo như: chương trình giảmnghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2011-2015, các chương trình dự án hỗ trợđồng bào dân tộc vùng khó khăn Qua điều tra, rà soát hộ nghèo và cận nghèo năm
2014, tỷ lệ hộ nghèo từ 13,96% xuống còn 10,66% riêng hộ nghèo vùng đồng bàodân tộc Khmer chiếm 19,21% so với tổng số hộ Khmer
Phối hợp với Bảo hiểm xã hội in và cấp 360.654 thẻ BHYT cho hộ nghèo,người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệtkhó khăn với tổng số tiền là 93 tỷ đồng
4 Th c tr ng chăn nuôi bò ự ạ
Chăn nuôi giữ vai trò, vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của TràVinh Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tương đối thuận lợi nên đã giúp tỉnhphát triển đàn gia súc, gia cầm đứng thứ 3 trong vùng ĐBSCL Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây ngành chăn nuôi của tỉnh vẫn chưa phát triển mạnh, GTSXngành này chỉ tăng 0,46%/năm, tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong cơ cấu ngành nôngnghiệp có chiều hướng giảm từ 15% năm 2011 xuống còn 13,14% vào năm 2014.Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ bấp bênh, tình hình dịch bệnh xảy ra thườngxuyên, giá cả đầu ra không ổn định nên người chăn nuôi không mạnh dạn đầu tưphát triển, dẫn đến đàn gia súc và gia cầm có xu hướng giảm, trong đó, đàn bò có
xu hướng giảm mạnh
Bảng 4: Tình hình chăn nuôi bò tỉnh Trà Vinh (giai đoạn 2010-2014)
năm 2010-
Tăng BQ 2010- 2014
Trang 142014 (%/năm)
Quy mô
(con) 152.430 150.110 122.200 131.390 150.120 141.250 -0,38Sản
lượng
(tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Trà Vinh, 2014.
Bảng 4 cho thấy quy mô đàn bò tăng giảm không đều qua các năm Năm
2010, đàn bò có quy mô là 152.430 con, các năm sau đó, quy mô đàn giảm và tăngtrở lại vào năm 2014 (150.120 con) nhưng vẫn thấp hơn quy mô đàn năm 2010.Sản lượng bò cũng giảm qua các năm, từ 7.266 tấn năm 2010 còn 6.660 tấn năm
2014 Sự sụt giảm này xuất phát từu nhiều nguyên nhân, đã được trình bày ở phầntrên
Nhu cầu thịt bò chất lượng cao đang ngày càng tăng mạnh do mức sống củangười dân đang dần cải thiện, do đó, từ khi Nghị quyết 09 năm 2000 của Chínhphủ được triển khai thì mỗi địa phương đều xây dựng các dự án phát triển chănnuôi bò với những biện pháp, chính sách cụ thể Nhờ áp dụng những chính sách cụthể, chỉ trong một thời gian ngắn, đàn bò của tỉnh đã phát triển nhanh chóng, nhiềutrang trại chăn nuôi bò với quy mô vừa và lớn đã được hình thành Việc lai tạo vàchọn giống đã nâng cao được tầm vóc và chất lượng cho bò cái nền địa phương
Cơ cấu đàn bò giống nội khoảng 12% bò thịt, 4% bò đực, 46% bò cái; đàn bò lai7% bò thịt, 16% bò đực và 36% bò cái
So với chăn nuôi các loại gia súc hay vật nuôi khác, chăn nuôi bò ổn địnhhơn do có thị trường tiêu thụ sản phẩm và chất lượng đàn bò luôn được cải thiệnnhờ công tác giống được quan tâm Các chương trình gieo tinh nhân tạo hoặc cungcấp con giống tốt đã giúp nâng cao chất lượng con giống Sản phẩm tiêu thụ chủyếu thông qua hệ thống thương lái, thông thường xuất bán ngoài tỉnh chiếmkhoảng 80% tổng sản lượng xuất chuồng hàng năm
4.1 Mô tả sơ đồ chuỗi giá trị
Thông qua phỏng vấn trực tiếp các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng
bò sinh sản và thông qua các buổi thảo luận trao đổi với các cán bộ phụ trách nông
Trang 15nghiệp tại địa phương chuỗi giá trị của ngành hàng bò sữa được miêu tả trongHình 1.
Hình 1: Sơ đồ chuỗi giá trị bò sinh sản tỉnh Trà Vinh
Hình 1 trên cho thấy chuỗi giá trị sản phẩm bò sinh sản tỉnh Trà Vinh có 6kênh phân phối chính có thể chia làm 2 nhóm như sau
Các kênh trong tỉnh: Các kênh thị trường này chiếm đến 78% sản lượng của
chuỗi giá trị bò sinh sản của tỉnh Trà Vinh, gồm có:
Kênh 1: Hộ nuôi bò sinh sản → Hộ nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh Kênh 2: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh →
Hộ nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh
Kênh 3: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh → Hộ nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh
Các kênh ngoài tỉnh: Các kênh thị trường này chiếm đến 22% sản lượng của
chuỗi giá trị bò sinh sản của tỉnh Trà Vinh, gồm có:
Trang 16Kênh 4: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh →
Thương lái/thu gom/trại ngoài tỉnh
Kênh 5: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại ngoài tỉnh Kênh 6: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh →
Thương lái/thu gom/trại ngoài tỉnh
Trong đó kênh 3 là kênh chính chiếm 47% sản lượng bê trong chuỗi trong đóphải kể đến sự phân phối ngược đàn bò sinh sản, theo đó đàn bò được tập trung vềđến thương lái/thu gom/trại lớn sau đó sẽ được phân phối trở lại cho nông dân địaphương có nhu cầu thông qua lực lượng cò/thương lái nhỏ địa phương Kế đến làkênh 1 chiếm 27% sản lượng, thứ ba là kênh 5 chiếm 12% sản lượng bê trongchuỗi, kênh còn lại chiếm tỷ trọng khá thấp Nhìn chung hầu hết 6 kênh này đềungắn nên khả năng tạo và phân phối giá trị gia tăng và lợi nhuận cho mỗi tác nhân
là khá cao Mặt khác sơ đồ chuỗi trên cũng cho thấy đàn bò nền tại địa phương chủyếu có được do tự gầy giống hoặc buôn bán, trao đổi từ các hộ nuôi lân cận hoặcthông qua các thuơng lái địa phương Nếu việc này vẫn tiếp tục diễn ra trongtương lai, về lâu dài có thể gây hiện tượng cận huyết làm suy thoái đàn bò nền tạiđịa phương
Chuỗi giá trị ngành hàng bò sinh sản được cCán bộ thú y tại xã hỗ trợ thườngxuyên về kỹ thuật chăm sóc cho các hộ nuôi Bên cạnh đó, Chính quyền địaphương cũng là tổ chức hỗ trợ cho tất cả các tác nhân trong chuỗi trong quá trìnhsản xuất, kinh doanh Cuối cùng, Ngân hàng Nông nghiệp hỗ trợ cho các hộ nuôi
và lực lượng thu gom về tín dụng trong quá trình chăn nuôi và mua bán
4.2 Mô tả chức năng thị trường của các tác nhân tham gia chuỗi
4.2.1 Người nuôi bò
Thông tin chung về người nuôi bò sinh sản: Kết quả khảo sát cho thấy có
81% chủ hộ là nam và 19% chủ hộ là nữ với độ tuổi trung bình của người nuôichính trong gia đình là 48 tuổi (thấp nhất là 27 tuổi và cao nhất là 73 tuổi) và cótrung bình 8 năm kinh nghiệm trong việc chăn nuôi bò sinh sản (thấp nhất là 1năm và cao nhất là 42 năm kinh nghiệm) Người nuôi bò có trình độ trung bình tậptrung ở cấp I (39 người tương đương 44% tổng số hộ khảo sát) và có 36% sốngười nuôi được khảo sát có trình độ từ cấp II trở lên Trung bình mỗi hộ nuôi
Trang 17trong khảo sát có 3 người trong độ tuổi lao động, trong đó sẽ có 2 lao động thamgia vào việc nuôi bò sinh sản của hộ.
Bảng 5: Thông tin chung về người nuôi
tính
Số quan sát
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Kinh nghiệm của người nuôi
Mù chữ Cấp I Cấp II Cấp III Trên cấpIII
Bên cạnh đó việc chọn mẫu trong khảo sát, nhóm tư vấn cũng lưu ý đến việctiếp cận với các hộ nghèo, hộ dân tộc và hộ có chủ hộ là phụ nữ có tham gia vàochuỗi giá trị sản phẩm bò sinh sản Cụ thể trong 89 hộ nông dân được khảo sát có
36 hộ thuộc diện nghèo, 15 hộ thuộc diện cận nghèo; 78 trong số 89 hộ được khảosát là hộ người dân tộc Khmer và có 17 hộ có phụ nữ là chủ hộ
Trang 18Hoạt động sản xuất: Qua kết quả khảo sát cho thấy trung bình mỗi nông hộ
trong khảo sát đang nuôi 2 con bò sinh sản, với cơ cấu giống bò nuôi được trìnhbày trong Bảng 6 sau
Bảng 6: Cơ cấu giống bò sinh sản
Kết quả trên cho thấy trên địa bàn tỉnh đa số các hộ đều chuộng nuôi giống
bò ta lai sind với 62 trường hợp hộ có nuôi (tương đương 70% trong tổng số hộkhảo sát); kế đến là bò ta lai Pháp với 10 trường hợp và 15 trường hợp nuôi bò cỏ(bò ta vàng); các giống bò còn lạ ít được ưa chuộng hơn Bên cạnh đó cũng có 7
hộ không biết rõ giống bò đang nuôi là gì, nguyên nhân chủ yếu là do trong việclựa chọn chỉ nhìn vóc dáng mà không để ý hoặc không quan tâm đến giống bòtrong khâu lựa chọn con giống
Trong khảo sát cũng chỉ ra rằng có 19 hộ (tương đương 21%) tự gầy congiống để nuôi, 59 hộ (tương đương 66%) sẽ mua con giống và 11 trường hợp làvừa mua kết hợp với tự gầy giống Trong đó có đến 43 trong tổng số 89 hộ (tươngđuơng 48%) là mua từ hàng xóm láng giềng hoặc người thân quen trên địa bàn ấphoặc xã nơi họ sinh sống, 23 hộ còn lại mua trực tiếp từ thương lái mà chủ yếu làthương lái trong huyện Qua đó cho thấy chất lượng con giống tại địa phương chưađược đảm bảo, việc trao đổi buôn bán bò sinh sản trong phạm vi gần thì hiệntượng cận huyết hoàn toàn có thể xảy ra làm suy thoái đàn bò nền tại địa phương
Vì thế để nâng cao chất lượng đàn bò nền tại địa phương thì có thể bắt đầu từ khâucung cấp/đổi con giống có chất lượng cho người nuôi tại địa phương
Về phương thức nuôi thì có đến 75% số hộ (67 hộ) nuôi nhốt hoàn toàn; 22%
số hộ (20 hộ) kết hợp 2 phương thức nuôi nhốt và chăn thả; chỉ có 3% số hộ là cònnuôi thả lang tận dụng thức ăn tự nhiên Bên cạnh đó, việc có đàn bò lớn cộng với
Trang 19lượng cỏ tự nhiên bị phụ thuộc vào thời tiết thì thức ăn cho bò hiện tại chủ yếu củanông hộ tại địa phương là cỏ và rơm Trong đó có 89% số hộ nuôi bò sinh sản là
có diện tích trồng cỏ với mức trung bình là 0,16 ha mỗi hộ, song song đó rơmcũng là loại thức ăn quan trọng được cho ăn độn kèm với cỏ và có đến 52% số hộ
sử dụng loại thức ăn này Rơm có được từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm lấy từruộng nhà, mua theo hình thức rơm thô tại đồng với giá từ 100.000 đồng đến200.000 đồng mỗi công chưa tính chi phí vận chuyển, hoặc mua theo cuộn với giá20.000 đồng – 30.000 đồng mỗi cuộn tùy vùng (lượng rơm trung bình mỗi côngruộng tương đương bó được 12 đến 15 cuộn rơm)
Hoạt động bán: Trung bình mỗi bê con lúc hộ bán đi vào khoảng 7 tháng
tuổi đối với bò đực và 8 tháng tuổi đối với bò cái; với giá trị trung bình của bò đực
là 12,6 triệu đồng/con và 15,4 triệu đồng/con đối với bò cái Trong đó người nuôichủ yếu bán cho thương lái với 71% trường hợp (tương đương 71% sản lượngchuỗi), 27% số hộ bán cho các hộ nuôi khác có nhu cầu (tương đương 27% sảnlượng chuỗi), còn lại rất ít người nuôi bán trực tiếp cho các trại bò lớn vào khoảng2% (tương đương 2% sản lượng chuỗi)
4.2.2 Th ưu ơng lái/Thu gom/Trại bò
Thông tin chung về tác nhân thu gom: Qua kết quả khảo sát 12 thương lái
cho thấy hầu hết đều thu mua cả hai loại là bò thịt và bò sinh sản, mỗi thương lái
có thâm niên hành nghề trung bình 12,5 năm (ít nhất là 2 năm, cao nhất là 35 nămtrong nghề) Thương lái cần từ 1-2 lao động gia đình tham gia vào việc mua bán
bò, các tác nhân này có tuổi đời trung bình là 46 (nhỏ nhất là 37 tuổi và lớn nhất là
65 tuổi), các tác nhân được phỏng vấn đều có học vấn từ cấp 2 và cao nhất là lớp12
Hoạt động mua và bán: Trung bình mỗi tác nhân mua đi bán lại vào khoảng
351 bò sinh sản mỗi năm, trong đó người ít nhất mua đi bán lại 20 con mỗi nămcòn cao nhất là 1000 bò sinh sản mỗi năm Về vùng hoạt động thu mua thì 100%các tác nhân đều có nơi thu mua chính là các huyện có nuôi bò nhiều trong tỉnhTrà Vinh (như Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành và CàngLong) Ngoài ra, cũng có khoảng 17% số thương lái/trại có lấy nguồn bò từ cáctỉnh khác ở vùng lân cận nhằm đáp ứng cho nhu cầu về số lượng bò sinh sản củamình Về hình thức định giá cho bò thì có đến 92% người được phỏng vấn chorằng họ định giá bằng kinh nghiệm bản thân tức là dựa vào một số nhận định trựcquan như vóc dáng, màu sắc, xoáy, móng, xương… qua đó định giá cho nguyên bò
Trang 20thay vì 8% người mua còn lại sẽ cân ký Với cách mua này đã tạo ra cảm giácthiếu công bằng, minh bạch đối với người bán tuy nhiên các thương lái đã lý giải
“với một con bò to khỏe cân nặng trên 300 kg thì việc trang bị một loại cân đủ đểđáp ứng là rất tốn kém, còn muốn buộc chân rồi cân như cân heo thì dường nhưkhông thể làm được”, vì thế cách định giá này vẫn được chấp nhận từ phía ngườibán Tất cả các thương lái được phỏng vấn đều có một lực lượng cò (người giớithiệu) rất đông đảo và rải đều ở các huyện trong tỉnh Trà Vinh, bằng chứng là khiđược hỏi thì 100% thuơng lái đều cho biết họ có mua thông qua những người giớithiệu, ngoài ra cũng có gần 42% số trường hợp là người nông dân chủ động liên hệbán bò và 8% là người mua tự tìm kiếm
Hiện tại hầu hết các thương lái đều được trang bị đủ lượng vốn cho việc làm
ăn của mình, chỉ có 25% số thưuơng lái được phỏng vấn là có vay vốn để kinhdoanh với mức vốn vay trung bình là 60 triệu đồng/người, cũng qua đó 100%thương lái đều chi trả tiền mặt ngay sau khi chở bò từ người bán
Tiêu chí đặt ra để lựa chọn bò sinh sản khi mua của thương lái là dựa vàohình dáng (83% số ý kiến); dựa vào cả hình dáng và số tuổi bò (17% số ý kiến);dựa vào loại giống (58% số ý kiến) và có 92% là chỉ mua theo kinh nghiệm củabản thân Một số loại giống được lưu ý đến rằng sẽ có giá cao khi mua làBrahman, Pháp Kem, Angus Mỹ, Drough, Lai Sind và bò lai khác
Kết quả khảo sát cũng cho thấy song song với việc lấy nguồn bò sinh sản từtrong và ngoài tỉnh thì hoạt động bán bò của những thương lái này cũng diễn ratheo hướng tương tự Theo đó, có 100% thương lái trả lời phỏng vấn cho biết bòsinh sản sẽ được bán đến các huyện có nuôi bò trong địa bàn tỉnh Trà Vinh với sảnlượng vào khoảng 51% sản lượng của chuỗi giá trị bò sinh sản Bên cạnh đó cũng
có 58% các thương lái được phỏng vấn cho biết lượng bò sinh sản còn được bán racho các thương lái/thu gom/trại ở các tỉnh lân cận (như Bến Tre, Vĩnh Long, ĐồngTháp, Hậu Giang…) với số lượng vào khoảng 22% tổng sản lượng chuỗi giá trị bòsinh sản của tỉnh Trà Vinh
Trang 214.3 Phân tích kinh tế chuỗi
4.3.1 Phân tích hiệu quả tài chính của hộ nuôi bò sinh sản
Tổng chi phí đầu tư ban đầu của hộ nuôi bò sinh sản bao gồm khoản mục xâydựng chuồng trại với mức trung bình vào khoảng 3,1 triệu đồng mỗi hộ (chiếm14% tổng chi phí cần cho đầu tư ban đầu), kèm với các chi phí nuôi dưỡng trongthời gian đầu tư ban đầu, trong đó lớn nhất phải kể đến chi phí đầu tư vào congiống với mức trung bình vào khoảng 14,1 triệu cho mỗi bò sinh sản giống (chiếm65% tổng chi phí cần cho đầu tư ban đầu) Thời gian đầu tư được tính toán từ lúcmua bò giống đến lúc bò giống cấn thai lần đầu tiên trung bình mỗi hộ cần đầu tưthời gian nuôi là 10 tháng để đến lúc bắt đầu chu kỳ sản xuất đầu tiên của bògiống, thời gian này cũng có sự dao động giữa các hộ với nhau khá lớn với hộ thấpnhất là thời gian nuôi ban đầu mất 6 tháng, nhiều nhất là hộ mất 24 tháng cho thờigian nuôi ban đầu Những chi phí đầu tư ban đầu này sẽ được tính khấu hao trongquá trình tính toán chi phí sản xuất của người nuôi bò
Chu kỳ sản xuất của mỗi hộ cũng rất khác nhau bao gồm thời gian mangthang (9 tháng 10 ngày) cộng với thời gian nuôi bê con đến khi bán sẽ được tính làmột chu kỳ sản xuất kinh doanh, mỗi sản phẩm của chu kỳ sản xuất kinh doanhđược tính toán dựa trên sản phẩm là một bò con Qua kết quả khảo sát cho thấythời gian của một chu kỳ sản xuất có thể dao động từ 10,8 tháng đến 39,3 thángtùy điều kiện cũng như nhu cầu về kinh tế của mỗi nông hộ, trung bình mẫu khảosát là 17 tháng cho mỗi chu kỳ Trong thời gian nuôi như trên có những khoản chiphí được phân thành 2 nhóm chi phí bao gồm:
Chi phí trung gian: Bao gồm các chi phí dùng mua các sản phẩm trung gian
dùng cho sản xuất hao tốn khoảng 10,214,108 đồng cho mỗi bò con (chiếm 84%tổng chi phí) Trong đó cao nhất là chi phí cho ăn chiếm khoảng 61,6% tổng chiphí bao gồm rơm, cỏ và cám (tương ứng chiếm 34,9%; 10,2% và 16,6% trong tổngchi phí); chi phí con giống được tính bằng cách khấu hao chi phí này cho số chu
kỳ sản xuất dự kiến của mỗi bò giống (qua khảo sát cho biết mỗi bò giống có thểsản xuất từ 4 đến 7 chu kỳ tùy theo thể trạng của bò giống), chi phí này sau khiđược khấu hao chiếm khoảng 17,6% trong tổng chi phí Các chi phí trung gian cònlại gồm có chi phí sử dụng dịch vụ thụ tinh và chi phí thuốc thú y
Chi phí tăng thêm: Đây là những chi phí liên quan đến hoạt động nuôi và
bán bò ngoài những chi phí trung gian đã được nêu Tổng chi phí tăng thêm củangười nuôi bò trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh trung bình vào khoảng
Trang 221,942,270 đồng cho mỗi bò con (chiếm khoảng 16% tổng chi phí), bao gồm cácchi phí như: chi phí khấu hao và chi phí lãi vay.
Bảng 7: Chi phí sản xuất của người nuôi bò
(đồng/bò con)
Tỷ trọng (%)
Như vậy, trong năm 2015, tổng chi phí sản xuất của người nuôi bò sinh sảntrung bình là 12,156 triệu đồng để có một bò con Chi phí này đã bao gồm tất cảchi phí trung gian và chi phí tăng thêm cần có cho việc chăn nuôi bò sinh sảnnhưng chưa tính đến chi phí cơ hội của lao động gia đình cho chăm sóc bò trongquá trình chăn nuôi
4.3.2 Phân tích giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần
Trong nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích kinh tế của chuỗi giá trị bò sinhsản trên tất cả 6 kênh của thị trường, qua đó sẽ xác định được giá trị gia tăng cũngnhư giá trị gia tăng thuần mà mỗi tác nhân nhận được trong quá trình sản xuất củacác tác nhân khi tham gia chuỗi Bảng 7 và bảng 8 cho thấy được sự khác nhau vềgiá bán của sản phẩm bò sinh sản của các tác nhân trên các kênh thị trường khácnhau, qua đó tạo sự khác nhau về giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của sản
Trang 23phẩm Bảng 8 và bBảng 9 cũng thể hiện sự khác biệt về giá bán, giá trị gia tăng vàgiá trị gia tăng thuần của các kênh thị trường trong và ngoài tỉnh.
Bảng 8: Giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của kênh thị trường trong tỉnh
Kênh 1: Hộ nuôi bò sinh sản → Hộ nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh
CP tăng thêm (đ/con) 1.942.270 104.156 Chi phí thức ăn, khấu hao chuồng
trại, thuê LĐ, lãi vay, chuyên chở…
Trang 24Bảng 9: Giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của kênh thị trường ngoài tỉnh
Kênh 4: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại
CP tăng thêm (đ/con) 1.942.270 254.156 Chi phí thức ăn, khấu hao chuồng
trại, thuê LĐ, lãi vay, chuyên chở…
Kênh 5: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại lớn
trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại ngoài tỉnh.
Hộ nuôi bò
Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh
Thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh
Ghi chú
Giá bán (đ/con) 14.100.000 18.130.631 20.932.162
CP trung gian (đ/con) 10.214.108 14.100.000 18.130.631 Chi phí vốn mua bò
CP tăng thêm (đ/con) 1.942.270 104.156 186.314
Chi phí thức ăn, khấu haochuồng trại, thuê LĐ, lãi vay, chuyên chở…
Giá bán: Có thể thấy được sự khác nhau trong giá bán bò sinh sản của người
nông dân đến các tác nhân khác nhau trong chuỗi Khi sản phẩm bò sinh sản đượcbán cho người nông dân nuôi bò sinh sản/bò thịt tại địa phương có nhu cầu nuôi sẽ
có giá trung bình gần 13,4 triệu đồng/con, mức giá này thấp hơn khá nhiều so với
Trang 25khi bán cho các đối tượng thu mua khác tại địa phương Khi bán cho người nuôikhác trung bình sẽ thấp hơn khoảng 0,7 triệu đồng khi bán cho các đối tượng thugom nhỏ lẻ tại địa phương và sẽ thấp hơn khoảng 2,1 triệu đồng khi bán trực tiếpcho các trại bò lớn trong và ngoài huyện.
Giá trị gia tăng: Có tất cả 6 kênh thị trường được đưa vào phân tích với
tổng giá trị gia tăng tạo ra được từ các kênh như sau: Kênh 1 là 3,170,507 đồng,Kênh 2 là 8,694,298 đồng, Kênh 3 là 9,000,450 đồng, Kênh 4 là 9,570,838 đồng,Kênh 5 là 10,718,054 đồng, Kênh 6 là 10,718,054 đồng Có thể thấy các kênhngoài tỉnh tạo giá trị gia tăng cao hơn các kênh trong tỉnh với mức thấp nhất là trên0,5 triệu đồng trên mỗi bò sinh sản Trong đó người nuôi bò sẽ tạo được GTGTtrong khoảng 2,3 triệu đồng (kênh 1) đến khoảng 5,3 triệu đồng (kênh 6) trên mỗisản phẩm bò sinh sản, ở kênh 6 này người nuôi sẽ bán trực tiếp cho các trại lớn tạiđịa phương Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh là tác nhân tạo được GTGTlớn nhất trong chuỗi, tác nhân này có sự tham gia vào chuỗi ở 4 kênh là kênh 2, 3,
4 và 5; với mức thấp nhất là vào khoảng 4 triệu đồng (kênh 3 và kênh 5) và caonhất là vào khoảng 5,7 triệu đồng (kênh 4) cho mỗi sản phẩm bò sinh sản bởi kênhnày khá ngắn và có chiều hướng có lợi cho tác nhân này khi họ là người xuất trựctiếp cho người mua ngoài tỉnh mà không cần thông qua hay phụ thuộc vào các trạilớn Còn lại là tác nhân thương lái/người thu gom/trại lớn tại địa phương cũng tạo
ra GTGT khá lớn, ở kênh vừa có sự tham gia của thương lái nhỏ và cả thương láilớn thì GTGT của tác nhân ở mức gần 1,1 triệu (kênh 3) đến khoảng 2,8 triệu đồng(kênh 5) trên mỗi sản phẩm bò sinh sản, còn ở kênh ngắn hơn (kênh 6) thì tác nhânnày có thể tạo ra GTGT trung bình lên đến 5,4 triệu đồng cho mỗi sản phẩm bòsinh sản Như vậy, có thể thấy người nuôi bò sinh sản là tác nhân tạo được GTGTtrung bình thấp nhất chuỗi
Giá trị gia tăng thuần: Ttổng giá trị gia tăng thuần tích lũy tạo ra được từcác kênh thị trường như sau: Kênh 1 là 1,228,237 đồng, Kênh 2 là 6,647,872 đồng,Kênh 3 là 6,797,710 đồng, Kênh 4 là 7,374,412 đồng, Kênh 5 là 8,485,314 đồng,Kênh 6 là 8,589,470 đồng Trong đó, kênh thị trường rút ngắn (kênh 6) là ngườinuôi bán trực tiếp cho các trại lớn sẽ tạo lợi nhuận cao nhất cho người nông dân,trung bình lên đến 3,35 triệu đồng trên mỗi bò sinh sản; theo đó trong kênh này thìlợi nhuận của tác nhân thương lái/thu gom/trại lớn cũng là cao nhất trong tất cả cáckênh, trung bình vào khoảng 5,2 triệu đồng trên mỗi bò sinh sản, cao hơn rất nhiềulần so với các kênh có sự tham gia của tác nhân thương lái/thu gom nhỏ
Trang 26Nhìn chung, kênh thị trường ngoài tỉnh rút ngắn thông qua các điểm trại lớn
là kênh thị trường tạo GTGT và lợi nhuận cao nhất trong tất cả các kênh và cũng
là kênh thị trường tạo ra GTGT và lợi nhuận cao nhất cho hộ nông dân nuôi bòsinh sản Trong khi đó kênh thị trường buôn bán trực tiếp sản phẩm bò sinh sảngiữa những hộ nông dân với nhau (kênh 1) lại tạo ra lợi nhuận rất thấp với tỷ suấtlợi nhuận/chi phí chỉ là 10,1% (so với 27,6% của kênh 6) Bên cạnh đó, số liệuphân tích từ bảng 7 và 8 cũng cho thấy tổng GTGT và GTGT thuần của hai kênhcòn lại của thị trường ngoài tỉnh vẫn cao hơn so với các kênh trong tỉnh, tuy nhiên
tỷ lệ sản lượng ở kênh này vẫn còn khá thấp so với các kênh trong tỉnh, vì thế đểcải thiện và phát triển ngành hàng bò sinh sản cần phải phát triển các kênh thịtrường ngoài tỉnh này
4.3.3 Phân phối giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi
giá trị
Việc phân phối GTGT và lợi nhuận (GTGT thuần) giữa các tác nhân là khácnhau ở các kênh thị trường vì thế cần phân tích tỷ lệ phân phối các chỉ số này chomỗi tác nhân tham gia chuỗi ở mỗi kênh để làm cơ sở đánh giá hiệu quả của kênhphân phối và xác định được kênh thị trường nào mang lại lợi ích cao nhất chochuỗi giá trị và đặc biệt là cho hộ nông dân nuôi bò sinh sản Bảng 4.6 dưới đâytrình bày sự phân bổ GTGT và lợi nhuận của các tác nhân trong từng kênh thịtrường
Số liệu trình bày ở Bảng 9 cho thấy ở các kênh có nhiều tác nhân tham gia thìphần GTGT mà mỗi tác nhân đóng góp trong chuỗi tương đối đều nhau, ngườinuôi bò sẽ đóng góp GTGT vào chuỗi cao nhất là 49.4% ở kênh 6 và thấp nhất là36.2% ở kênh 5; đối với các thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh sẽ đóng gópphần GTGT vào chuỗi dao động từ 37.6% (kênh 5) đến 59.3% (kênh 4) trên tổngGTGT của chuỗi; tác nhân thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh có đóng góp vàotổng GTGT của chuỗi vào khoảng 12% (kênh 3) đến 50.6% (kênh 6) và mức trungbình là thấp hơn so với các tác nhân khác trong chuỗi Từ kết quả ở bảng 4.6 cũngcho thấy tuy việc đóng góp GTGT vào chuỗi của mỗi tác nhân là đều nhau tuynhiên việc phân bổ lợi nhuận trên mỗi sản phẩm cho người nuôi bò và tác nhânthương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh lại thấp hơn so với thương lái/thu gom/trạinhỏ trong tỉnh; tỷ lệ lợi nhuận phân bổ cho tác nhân này thấp nhất là 46.3% ở kênh
5 và cao nhất là 73.6% ở kênh 4 trong khi hộ nông dân chỉ có mức lợi nhuận đượcphân bổ vào khoảng 22.9% đến 29.2% ở các kênh, riêng kênh 6 khi người nông
Trang 27dấn bán trực tiếp cho người thu mua lớn sẽ có mức lợi nhuận được phân bổ caonhất là 39.1%
Trang 28Bảng 10: Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị bò sinh sản
Giá trị gia tăng trên mỗi đơn
vị sản phẩm
Giá trị gia tăng thuần trênmỗi đơn vị sản phẩm Sản lượng
trung bìnhmỗi năm
Lợi nhuận thuần của mỗi tác
nhân
Số tiền(đồng)
Tỷ lệ(%)
Số tiền(đồng)
Tỷ lệ(%)
Số tiền (triệu đồng)
Tỷ lệ(%)
Kênh 1: Hộ nuôi bò sinh sản → Hộ nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh
Kênh 3: Hộ nuôi bò sinh sản → Thương lái/thu gom/trại nhỏ trong tỉnh → Thương lái/thu gom/trại lớn trong tỉnh → Hộ
nuôi bò sinh sản/bò thịt trong tỉnh