Thực tế cho thấy nội dung chương trình của sách giáo khoa mới khác nhiều so với chương trình cũ nên người giáo viên cần nắm bắt được phương pháp dạy bộ môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để dạy có hiệu quả. Hơn nữa chương trình sách giáo khoa mới được biên soạn trên quan điểm giao tiếp, nghĩa là học sinh được luyện nói trong quá trình giao tiếp. Qua thực tế giảng dạy lớp 4, tôi thấy chất lượng học tập làm văn viết của học sinh chưa cao. Chỉ một số ít học sinh viết văn có bộc lộ trí tuệ và cảm xúc. Còn phần lớn các bài văn miêu tả của các em có bố cục chưa cân đối, mang tính liệt kê các chi tiết, bộ phận đơn giản. Trình tự miêu tả chưa hợp lí, chọn lọc các chi tiết chưa tiêu biểu, thiếu hình ảnh, diễn đạt chưa mạch lạc. Đặc biệt là học sinh chưa nói, viết theo cảm nghĩ của mình.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở huyện Phú Ninh
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 qua phân môn Tập làm văn”
1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Năm học :2018-2019; học kì I năm học 2019-2020
4 Mô tả bản chất của sáng kiến:
Sáng kiến “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 qua phân môn Tập làm văn” là sáng kiến đưa ra một số
biện pháp, giải pháp mang tính khả thi và thực hiện có hiệu quả ở thực tế trongcông tác giảng dạy trong trường Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng học vănmiêu tả cho học sinh lớp 4 qua phân môn Tập làm văn Cụ thể như sau:
4.1.Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
* Về phía giáo viên:
- Tài liệu giảng dạy, thiết kế bài học phong phú, phù hợp với từng đốitượng học sinh Quan tâm và hiểu tâm lý từng học sinh trong lớp, nắm được sứchọc từng em để từ đó giáo viên có hướng rèn luyện đúng đắn, tạo hứng thú họcvăn miêu tả
- Trang thiết bị dạy học đảm bảo việc ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 2- Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượngmôn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng thông qua một sốchuyên đề mà nhà trường đã tổ chức.
- Bản thân có nhiều năm công tác trong nghề nên có nhiều kinh nghiệmtrong giảng dạy
- Học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp đi trước
- Nắm được nội dung, cấu trúc chương trình phân môn Tập làm văn ởkhối lớp đang giảng dạy
- Tham khảo nhiều sách, báo và những bài tập làm văn hay để làm kho tưliệu cho học sinh
b.Khó khăn:
- Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác,giáo viên dạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương pháp và chưa sángtạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Việc cung cấp vốnsống, vốn hiểu biết cho các em qua các phân môn của Tiếng Việt và các mônhọc khác chưa được chú trọng Mặt khác, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của họcsinh Tiểu học còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý nhận thức các sự vật cònhạn chế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa thật sự phát triển, nên việc học tập ởphân môn Tập làm văn gặp nhiều khó khăn
- Đối với học sinh trường Tiểu học Nguyễn Duy Hiệu, tuy là một trườngnằm ở trung tâm thị trấn Phú Thịnh nhưng điều kiện học tập của một số học sinhgặp nhiều khó khăn, bố mẹ của các em thường đi làm ăn xa gửi con cho ông bàchăm sóc Học sinh chưa nhạy bén trong va chạm, vốn sống và vốn từ của các
em chưa thật sự phong phú
- Tư duy khái quát chưa cao, học sinh thường chú trọng đi sâu vào chi tiết
cụ thể mà chưa có khả năng tổng hợp vấn đề cần diễn đạt
- Bên cạnh đó, còn một vài phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâmđến việc học tập của con mình, còn trông chờ, ỷ lại, giao toàn bộ cho giáo viênchủ nhiệm làm ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động giảng dạy của giáo viên
c.Thực trạng
- Mục tiêu của phân môn: Qua phân môn nhằm trang bị cho học sinhnhững kiến thức và kĩ năng làm văn Góp phần cùng môn học khác mở rộng vốnsống, tư duy lôgic, bồi dưỡng cảm xúc, thẩm mĩ và hình thành nhân cách chohọc sinh
- Thực tế cho thấy nội dung chương trình của sách giáo khoa mới khácnhiều so với chương trình cũ nên người giáo viên cần nắm bắt được phương
Trang 3pháp dạy bộ môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng đểdạy có hiệu quả Hơn nữa chương trình sách giáo khoa mới được biên soạn trênquan điểm giao tiếp, nghĩa là học sinh được luyện nói trong quá trình giao tiếp.Qua thực tế giảng dạy lớp 4, tôi thấy chất lượng học tập làm văn viết của họcsinh chưa cao Chỉ một số ít học sinh viết văn có bộc lộ trí tuệ và cảm xúc Cònphần lớn các bài văn miêu tả của các em có bố cục chưa cân đối, mang tính liệt
kê các chi tiết, bộ phận đơn giản Trình tự miêu tả chưa hợp lí, chọn lọc các chitiết chưa tiêu biểu, thiếu hình ảnh, diễn đạt chưa mạch lạc Đặc biệt là học sinhchưa nói, viết theo cảm nghĩ của mình Qua tiến hành khảo sát lớp 4A đầu nămhọc với đề bài: “Viết đoạn văn ngắn từ 8 đến 10 câu tả một con vật em thích.”kết quả như sau:
d Nguyên nhân những tồn tại trên:
Với tình hình hiện nay ở trường tôi, việc dạy và học Tập làm văn đang làmột vấn đề nan giải Học sinh không có hứng thú với việc viết văn; giáo viên rấtngại khi chọn một tiết Tập làm văn để dạy thao giảng, vì ít nhận được sự hợp tác
từ học sinh
Qua điều tra tại lớp học, tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạngtrên là:
*Nguyên nhân khách quan:
+ Về mục tiêu của phân môn Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nóiriêng, theo tôi chưa có sự đồng nhất Cụ thể:
Ở lớp 2, 3 các em mới chỉ nhận biết đoạn văn và ý chính của đoạn, lớp 4 các
em bắt đầu nhận biết ba phần và lập dàn ý cho bài văn kể chuyện và miêu tả Lênđến lớp 5 các em mới phải hoàn thành bài làm văn tả người, tả cảnh Thế nhưngtrong quá trình học ở lớp 3, 4, 5 các em đã phải viết được bài văn hoàn chỉnh
* Nguyên nhân chủ quan:
+ Học sinh quá nghèo vốn từ Tiếng Việt
+ Việc học văn miêu tả của đại đa số học sinh còn bị hạn chế rất nhiều kể
từ việc nắm vững và vận dụng các kiểu bài miêu tả tới bố cục, hành văn, dùng
từ, đặt câu đến lỗi chính tả
+ Hình thức tổ chức tiết dạy của giáo viên chưa phong phú, chưa thu hútđược sự tập trung của học sinh
Trang 4+ Phần lớn các em là con em thuần nông nên điều kiện học tập của các em rất hạn chế Khuyết điểm lớn nhất là bệnh công thức, khuôn khổ, máy móc,thiếu chân thực trong văn miêu tả Làm văn miêu tả học sinh thường hay mượntình ý của người khác, thường là một bài văn mẫu nào đó Nói cách khác, họcsinh thường sẵn sàng học thuộc một bài văn mẫu, đoạn văn mẫu nào đó, khi làmbài các em sao chép ra và biến thành bài văn của mình Các em miêu tả còn hờihợt, chung chung, không có một sắc thái riêng biệt về đối tượng miêu tả
4.2 Nội dung đã cải tiến sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:
Việc dạy các môn học nói chung và dạy môn Tiếng Việt nói riêng ở bậcTiểu học đang hướng tới mục tiêu chung của giáo dục Mỗi phân môn, mỗi tiếthọc của môn Tiếng Việt đều hướng đến mục đắch phát triển các kĩ năng Ộnghe,nói, đọc, viếtỢ cho học sinh mà phân môn Tập làm văn là một trong những phânmôn quan trọng của bộ môn Tiếng Việt (phân môn thực hành tổng hợp) Bởi nóvận dụng tất cả những hiểu biết về nhận thức, kĩ năng của phân môn, đòi hỏi họcsinh phát huy cao độ trắ tuệ và cảm xúc để thực hiện các yêu cầu bài học Đặcbiệt dạy văn miêu tả là cần thiết giúp trẻ sản sinh ra những văn bản có cảm xúcchân thực khi nói và viết
Nhưng với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 4 việc hình thành vàphát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là vô cùng quan trọng, được thực hiện
ở tất cả các môn học và nổi bật nhất là ở môn Tiếng Việt Do đó, việc dạy Tậplàm vãn ở Tiểu học góp phần rèn luyện cho học sinh nãng lực sử dụng tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tốt cácmôn học khác Chắnh những vãn bản viết các em có đýợc từ phân môn Tập làmvãn đã thể hiện những hiểu biết về thực tế, những kĩ nãng sử dụng Tiếng Việt màcác em đýợc học ở môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng
Tuy nhiên trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy một điều là học sinhchưa làm được bài văn miêu tả hoàn chỉnh.Vì vậy, tôi cố gắng tìm tòi, học hỏi để
có được những tiết dạy làm văn thật tốt nhằm giúp học sinh có những bài văn
Trang 5của chính các em Chính vì thế mà tôi đã tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm đểrút ra cho mình những kinh nghiệm tốt nhất trong quá trình giảng dạy phân mônTập làm văn ở Tiểu học.
4.3 Các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải pháp:
a Đối với giáo viên:
a.1 Điều tra phân loại học sinh
Giáo viên điều tra phân loại học sinh, nắm chắc từng đối tượng học sinh:học sinh hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa hoàn thành Nắm chắc được đối tượnghọc sinh, giáo viên sẽ đề ra được kế hoạch dạy học phù hợp, có những biện phápdạy học giúp vun xới, phát triển năng lực học văn của học sinh có năng khiếu.Đồng thời, giáo viên cũng có biện pháp phù hợp giúp học sinh chậm tiến biếtlàm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được một bài văn hoàn chỉnh
a.2 Dạy học sinh quan sát để tìm ý cho bài miêu tả.
* Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Mắt cho ta cảmgiác về màu sắc (xanh, đỏ, vàng, da cam,…), hình dạng (cây cao hay cây thấp,cái bàn hình vuông hay hình chữ nhật, ), hoạt động (con gà khi đi cổ thườngnghểnh cao, con vịt bước đi chậm chạp, lạch bạch,…) Dạy học sinh quan sátchính là dạy cách sử dụng các giác quan để tìm ra các đặc điểm của sự vật
* Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm riêng biệt củatừng đồ vật, con vật, cây cối
Ví dụ: Quan sát cây bút chì của em Giáo viên hướng dẫn học sinh nhậnxét không phải chỉ màu sắc bên ngoài của bút chì mà còn cần nhận ra nhữngdòng chữ in trên bút chì, các đặc điểm khác mà chỉ riêng bút chì của em mới có.Nhận xét về con gà trống nhà em, phải cố tìm ra đặc điểm miêu tả mào, bộ lông,thân hình của nó, … có gì khác với con gà trống của nhà hàng xóm
* Khi dạy văn miêu tả giáo viên cần định hướng cách quan sát và quan sát
có phương pháp cho học sinh
+ Lựa chọn trình tự quan sát :
- Trình tự không gian: Thường quan sát bao quát toàn bộ phận đến quansát từng bộ phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoàivào trong
- Trình tự thời gian: Quan sát cây cối, theo mùa, trong năm,… Quan sátcon vật như quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn theo thời gian trong ngày Dùquan sát theo trình tự nào cũng cần tập trung vào bộ phận chủ yếu và trọng tâm
+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát
Trang 6- Thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát Giáo viên cần hướng dẫnhọc sinh tập trung sử dụng các giác quan khác để quan sát như : thính giác (tai),khứu giác (mũi), xúc giác.
Ví dụ: Khi tả cây bút chì giáo viên có thể hỏi “Dùng tay sờ vào bút chì
em có cảm giác thế nào ?”
* Hướng dẫn cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại
- Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng dẫn các em trả lờibằng nhiều chi tiết cụ thể và sử dụng ngôn ngữ chính xác, gợi tả hình ảnh
a.3 Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ miêu tả
Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện
đã nghe, đã đọc là có thể đạt được yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòihỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài Thế giới quanh ta rấtphong phú đa dạng và không ngừng biến đổi Người viết văn không thể “vẽ”được một cảnh một người nếu bản thân người ấy thiếu vốn từ, vốn sống
Vốn từ ngữ miêu tả có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn miêu tả,giúp học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả là vấn
đề cần quan tâm của giáo viên
a.4 Tạo điều kiện để học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả.
- Biện pháp đầu tiên giúp các em tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả qua các bàitập đọc Nhiều bài tập đọc là bài văn miêu tả hay Số lượng từ ngữ miêu tả ở cácbài đó phong phú, cách sử dụng sáng tạo Dạy các bài Tập đọc, giáo viên cần chỉ
ra các từ ngữ miêu tả, có thể chọn trường hợp đặc sắc nhất để phân tích cái hay,
sự sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Cánh diều tuổi thơ” giáo viên cần chỉ cho họcsinh thấy những câu văn tác giả miêu tả cánh diều (tác giả đã quan sát cánh diềubằng nhiều giác quan (mắt, tai) để miêu tả cánh diều một cách sinh động, hấp dẫn)
a.5 Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi miêu tả.
- Có vốn từ nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ Muốn vậyphải coi trọng việc lựa chọn từ ngữ Khi diễn đạt kết quả quan sát cũng như khilàm bài văn miêu tả Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hìnhảnh thích hợp do đó có tác dụng gợi hình, gợi cảm nhất Có khi ngay từ đầu các
em đã nắm bắt được từ ngữ hay hình ảnh này đẹp Nhưng thông thường việc xácđịnh từ ngữ, hình ảnh cần dùng cho một chi tiết miêu tả phải trải qua một quátrình tìm tòi chọn lọc Quá trình này sẽ quyết định tốc độ (nhanh hay chậm) vàchất lượng (tìm được đúng từ ngữ, hình ảnh cần hay không)
Trang 7a.6 Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh.
Học sinh Tiểu học vùng thuận lợi như Phú Ninh thì có thể viết được nhữngbài văn miêu tả chỉ bằng quan sát qua sự vật thật, tranh ảnh, phim…
a.7 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý
Đây là một việc làm khó Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ýtrước khi làm thành một bài văn hoàn chỉnh Có lập được dàn bài thì mới có thể tìm
ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng
a.8 Sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu.
Gợi ý cho học sinh có năng khiếu làm bài, trình bày câu văn, đoạn văn Cảlớp theo dõi, nhận xét, giáo viên chốt lại và cho học sinh phát biểu Nhưng điểmmấu chốt là giáo viên phải chú ý từng đối tượng học sinh, sửa cho từng em,động viên sự sáng tạo của các em, dù là rất nhỏ
a.9 Cá thể hóa hoạt động dạy học.
Quan tâm đến đối tượng học sinh chậm tiến bộ đồng thời vẫn đảm bảophát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh có năng khiếu
a.10 Chấm bài thường xuyên.
Đồng thời với việc chấm bài là phải hướng dẫn học sinh sửa bài Phảigiúp các em phát hiện ra những điểm hay, những điểm chưa đạt trong bài văncủa mình Trên cơ sở đó, học sinh phải sửa lại bài làm của mình cho đúng hơn,hay hơn
Giáo viên cần tránh việc chê bai học sinh nhưng cũng không được lạmdụng lời khen, tạo sự thờ ơ của học sinh đối với lời khen do được khen quánhiều, khen không đúng lúc Kiểu như mỗi lần học sinh nói xong, nhiều lúc chỉ
là nhận xét bạn đã viết hoa đầu câu chưa, giáo viên đều nhận xét “Em giỏi lắm”
a.11 Giúp học sinh luyện viết câu.
- Trước hết, mọi học sinh phải viết được câu văn đúng ngữ pháp Đây làyêu cầu cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói Đối với học sinh có năng khiếu viếtvăn tốt, giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, lột tảđược sắc thái riêng của đối tượng miêu tả Còn đối với học chậm phát triển hơnthì giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được câu đúng, thể hiện được ý cần nói
- Biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu phẩy Ngắt câu đúng sẽdiễn đạt rõ ràng, người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin Việc dạycho học sinh sử dụng dấu câu đã được tiến hành từ các lớp dưới và phải đượcthường xuyên ôn luyện cho học sinh Giáo viên đưa ra các trường hợp sử dụngdấu câu chưa đúng để cả lớp nhận xét
a.12 Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn kiến thức văn học
Trang 8Tích lũy văn học là điều kiện tối thiểu để có thể học tốt môn Tiếng Việt,nhất là phân môn Tập làm văn Giáo viên đã cho học sinh sử dụng sổ tay chính
tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trường hợp mắc lỗi chính tả đã đượcsửa chữa Trong phân môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực đểgiúp học sinh trau dồi vốn kiến thức văn học Sổ tay văn học để cho học sinh ghichép các ý hay, câu đoạn văn hay
a.13 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của một đoạn văn.
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọcmột đoạn văn được giáo viên tiến hành qua nhiều tiết học Cảm nhận được cáihay, cái đẹp, các em sẽ hình thành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc họcTập làm văn tốt hơn, nhất là văn miêu tả
b Đối với học sinh:
* Trước khi đến lớp (Chuẩn bị bài ở nhà)
- Quan sát kĩ đối tượng cần miêu tả
- Đọc kỹ văn bản và phần chú thích
- Đọc có suy nghĩ để chia bố cục bằng bút chì vào sách giáo khoa
- Khi đọc có thể gạch dưới từ ngữ, câu trong văn bản (nếu thấy cần)
- Nếu có điều kiện, các em nên tìm đọc những bài văn hay
* Khi học trên lớp: Tập trung nghe giảng, cùng các bạn tìm hiểu cảm nhậncái hay, cái đẹp của tác phẩm dưới sự dẫn dắt của thầy, cô Cụ thể là :
- Trước những câu hỏi, những vấn đề được đặt ra, phải chịu khó suy nghĩ,tìm câu trả lời
- Tích cực tham gia hoạt động nhóm phát biểu ý kiến Điều đó không chỉgiúp các em trau dồi vốn ngôn ngữ mà còn rèn luyện kỹ năng nói và sự tự tin
- Mạnh dạn nêu những thắc mắc của bản thân
- Ghi chép bài đầy đủ, chính xác
- Ngoài phần thầy, cô ghi bảng các em nên tập cho mình thói quen ghichép thêm vào sổ tay những điều hay thấy cần thiết, chẳng hạn: ý so sánh, đốichiếu, mở rộng nâng cao, hình ảnh nhân hóa,…
- Gạch dưới từ ngữ đặc sắc, phép tu từ, so sánh… trong câu thơ, câu vănhay dẫn chứng trong truyện để làm tư liệu cho mình
- Nắm được giá trị nghệ thuật nội dung của tác phẩm ngay trong giờ học
* Sau khi học:
- Học bài ( phần ghi nhớ )
- Viết các đoạn văn, bài văn, làm các bài tập trong phần “Luyện tập” trong
Trang 9sách hoặc vở bài tập.
- Đọc tài liệu tham khảo để mở rộng, khắc sâu kiến thức
4.4 Các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp
a Bồi dưỡng hứng thú học Tập làm văn cho học sinh:
Để học sinh yêu thích học văn miêu tả, ngay từ những tiết đầu hình thànhcác kiến thức mới, tôi đã tạo cho học sinh cảm hứng học tập bằng cách cho họcsinh nghe những bản nhạc liên quan hoặc xem những bức tranh, bức ảnh, bức vẽ
về chủ đề đó Khi các em thấy yêu, thấy thích chắc chắn việc miêu tả sẽ dễ dànghơn Với các đề bài đóng, tức là yêu cầu tất cả học sinh viết cùng về một đốitượng cũng dễ gây ra sự nhàm chán cho học sinh Vì vậy, đề tài của văn miêu tả
mà tôi đưa ra thường là đề mở Ví dụ, “Hãy tả một con vật em yêu thích nhất”hay “Hãy tả một thứ đồ chơi gắn bó với em nhất”,… Việc cả lớp cùng tả mộtcon vật hay một thứ đồ chơi chẳng khác nào các em đang phải tả con vật hay thứ
đồ chơi của cô giáo - vậy các em lấy đâu ra tình cảm? Như vậy, đương nhiên, bàivăn của cả lớp sẽ giống nhau Việc hàng ngày được tiếp xúc, gắn bó với đốitượng mình sẽ miêu tả giúp các em cảm nhận về nó chính xác hơn, có cái nhìntích cực hơn và đặc biệt là tình cảm dành cho đối tượng sẽ giúp bài viết có cảmxúc hơn
Trong mỗi giờ học Tập làm văn, các em luôn được tạo hứng thú với bộmôn bằng những hình thức trò chơi hấp dẫn Có khi màn khởi động cho giờ họclại là một câu đố vui có nội dung liên quan, học sinh hào hứng tham gia giải đố,
bị lôi cuốn vào bài học từ lúc nào mà vẫn nghĩ mình đang vui chơi chứ khôngphải chính đang học về văn miêu tả
Ngoài ra, tôi còn khuyến khích học sinh mang đến lớp những đồ vật thậtgần gũi với các em hoặc đã gắn bó với các em từ rất lâu, thật thú vị khi trên mặtbàn học sinh là sự hiển hiện những vật cần miêu tả Rồi tôi yêu cầu các em hãyquan sát thật kĩ các bộ phận của đối tượng bao gồm: Nhìn bao quát, cảm nhậnbằng nhiều giác quan khác nhau, cố gắng tìm ra đặc điểm riêng của đồ vật, phânbiệt nó với những đồ vật khác, nhất là những đồ vật cùng loại Sau đó, học sinh
sẽ được phân tích mẫu là bài viết của một học sinh từ năm trước để cùng tìm rađược cấu tạo của một bài văn miêu tả - thay vì chỉ có những văn bản mẫu màsách giáo khoa lựa chọn
Văn miêu tả gắn chặt với tâm hồn cũng như với óc quan sát tinh tế củacon người Chính những kết quả quan sát đã đem lại cho học sinh những cảmnhận về sự vật, hiện tượng cần miêu tả Vì vậy, một trong những bước quantrọng không thể thiếu được khi hình thành cho học sinh viết bài dựa trên việc
Trang 10phân tích mẫu đó là quan sát và ghi chép Với những giờ học Quan sát và miêu
tả đồ chơi, học sinh được thỏa thích mang những đồ chơi mà mình yêu thích đi
để khoe với bạn bè hoặc cùng chơi với bạn nhưng quan trọng hơn hết là các emđược học cách miêu tả Qua trực quan học sinh biết tả bao quát, tả từng bộ phận
và nêu được những đặc điểm nổi bật của thứ đồ chơi mà học sinh cần miêu tả,học sinh có nhu cầu được thể hiện mình khi các em say sưa miêu tả với bạn bècùng lớp về món đồ chơi yêu thích, các kỉ niệm gắn liền với món đồ chơi, đồvật Chính điều đó đã khích lệ kĩ năng giao tiếp của các em, tăng cường khảnăng thực hành ngôn ngữ để các em biết diễn đạt những suy nghĩ, cảm xúc củamình bằng lời nói, từ đó viết nên bài viết một cách mạch lạc, rõ ràng Trướcnhững giờ thực hành viết thì các em được thỏa sức luyện nói, tự tin thuyết trìnhtrước lớp Với những bộ phận, chi tiết học sinh chưa biết miêu tả, tôi có thể gợi
ý một cách chi tiết, giúp học sinh bật ra được các từ ngữ miêu tả phù hợp,khuyến khích học sinh tả bằng mắt, bằng tai, bằng tay,…Các em trở nên thíchthú, muốn “đắp da thịt” cho “khung xương” mà mình đã tự tìm hiểu
Ngoài ra, trong những năm gần đây trường chúng tôi với nhiều nỗ lực,sáng tạo đã thành công khi triển khai dự án «Góc thư viện tại lớp học» theo từngchủ đề để tạo điều kiện và thu hút học sinh đến gần hơn với kho tàng kiến thứcvăn hóa Đây thực sự là một trải nghiệm thú vị, giúp các em tiếp cận nhiều hơnvới sách, truyện, đọc sách một cách có ý thức, có định hướng, nâng cao văn hóađọc Phong trào này đã và đang giúp học sinh ở trường có thêm vốn sống, vốn
từ, trau dồi kĩ năng viết văn, đặc biệt là thể loại văn miêu tả
b Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh:
b.1.Giúp học sinh hiểu thể loại văn miêu tả:
- Muốn viết được bài văn miêu tả, trước tiên học sinh phải biết được kháiniệm về văn miêu tả Để giúp học sinh hiểu rõ về điều này tôi đã sử dụng biệnpháp so sánh tới nhận diện để giúp học sinh nhận ra một văn bản thuộc thể loạivăn miêu tả Ví dụ giáo viên cần đặt bên cạnh nó một văn tả khác, chẳng hạnnhư văn bản kể chuyện Giáo viên yêu cầu học sinh phải nêu ra được văn bảnnào thuộc thể loại văn miêu tả và học sinh lý giải được vì sao nó là văn bản miêu
tả Để làm được điều này giáo viên cần sử dụng phương pháp quan sát, phươngpháp đối chiếu, phân tích, tổng hợp, phương pháp vấn đáp gợi mở để rút ra kếtluận cần thiết về văn miêu tả Ví dụ: giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài “Cáinón” (Tiếng Việt 4 tập II/11) và bài “Bốn anh tài” (Tiếng Việt 4 tập II/ 4) Hãycho biết văn bản nào là văn bản miêu tả ? Vì sao ? Giáo viên sử dụng phươngpháp quan sát, hình thức học cá nhân, yêu cầu học sinh đọc thầm Khảo sát hai
Trang 11văn bản trên Sau đó dùng phương pháp vấn đáp gợi mở, kết hợp với hình thứchọc tập cả lớp Hỏi: Văn bản “Bốn anh tài” nói về điều gì ? Học sinh sẽ trả lời -
Kể về tài năng, sức khỏe bốn anh tài Giáo viên - hỏi: Văn bản “Cái nón” nói vềđiều gì ? Học sinh nêu - Tả các bộ phận cái nón Giáo viên - hỏi: Vậy văn bảnnào thuộc thể loại văn bản miêu tả ? Học sinh trả lời - Văn bản “Cái nón” Giáoviên - hỏi: Vì sao ? Học sinh so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp để thấy đượcvăn bản “Cái nón” thuộc thể loại văn miêu tả vì văn bản tả các bộ phận của mộtcái nón: miệng nón, vành nón, lá nón, chỉ ra được đặc điểm nổi bật của cái nón.giáo viên giúp học sinh hiểu rằng: văn bản “Bốn anh tài” nói về nhân vật, tínhcách nhân vật Tóm lại, từ việc so sánh hai văn bản kể chuyện, miêu tả, học sinhnhận diện được loại văn miêu tả
b.2 Biết lập dàn ý cho bài văn cụ thể:
Dù đây là một yêu cầu rất thường xuyên nhưng trên thực tế lại có rấtnhiều em không thể thực hiện được, có những em không biết lập dàn ý là làmcái gì, để làm gì Bởi lẽ, ở những lớp dưới, các em không phải làm việc này, màcác em chỉ viết câu văn, đoạn văn bằng cách trả lời những câu hỏi cho sẵn hoặcdựa vào những gợi ý của thầy cô một cách đơn giản, ngắn gọn Trong khi lên lớp
4 thì việc lập dàn ý cho một đề bài cụ thể (loại bài miêu tả) là yêu cầu bắt buộccác em phải biết thực hiện, tự thực hiện để dựa vào đó mà hoàn chỉnh đoạn văn,bài văn
Ví dụ: về một dàn bài Lập dàn ý cho bài văn tả đồ chơi mà em đã chọn(sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, tập 1, trang 154)
- Mở bài: Giới thiệu đồ chơi mà em thích nhất là Gấu bông
- Thân bài: Hình dáng bên ngoài: Gấu bông không to, chú gấu bông đang ngồi, dáng tròn Bộ lông màu trắng mịn như nhung Hai mắt đen nháy rất thông minh Mũi đỏ, trông ngộ nghĩnh Trên cổ thắt chiếc nơ màu đỏ chói
-Kết luận: Em yêu quý gấu bông, ôm gấu bông em rất thích
Để giúp các em dễ dàng hơn trong việc tự lập dàn ý cho bài văn, khi dạyhọc các bài Cấu tạo của bài văn miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối và tả con vật), tôichủ động giúp các em dựa vào nội dung phần Ghi nhớ trong sách giáo khoa, cùngxây dựng một dàn bài chung cho loại bài văn miêu tả đang học Dàn bài chungnày tôi sẽ ghi cố định ở một bảng phụ để làm cơ sở cho học sinh xây dựng dàn ýriêng cho mỗi bài văn miêu tả sau này Dàn bài này cũng được sử dụng chung cho
cả lớp trong các tiết Tập làm văn có yêu cầu viết một đoạn văn hay hoàn chỉnhmột bài văn
Trang 12Ví dụ: Khi dạy bài Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (sách giáo khoalớp 4, tập hai, trang 112-113), sau khi giúp học sinh rút được nội dung ghi nhớnhư trong sách giáo khoa, tôi sẽ chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dùngcâu hỏi gợi ý, dẫn dắt cho các em nêu để xây dựng dàn bài chung cho bài vănmiêu tả con vật:
- Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả: Con chó
+ Để giới thiệu con vật sẽ tả, em cần giới thiệu những gì ? (Tên con vật,
b Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật
+ Thói quen sinh hoạt là những thói quen nào? (ăn, ngủ, đùa giỡn, …) + Những hoạt động chính của con vật là gì? Ví dụ ? (con chó: giữ nhà,mừng chủ, khi chủ vắng nhà hoặc khi có con vật khác, …)
- Kết bài: Nêu cảm nghĩ đối với con vật.
+ Cảm nghĩ của em đối với con vật có thể là gì? (yêu, thích, thấy thiếu vắng khi đi đâu về mà không trông thấy nó,…) Em làm gì để thể hiện tình cảm của em đối với nó? (chăm sóc, bảo vệ, …)
b.3 Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý :
Khi học Tập làm văn, các em gặp rất nhiều khó khăn cả về tri thức vàphương pháp, hiểu biết về cảm xúc, về đối tượng miêu tả Vậy các em lấy đâu rahiểu biết về cây đang ra hoa, ra quả nếu không được quan sát Những khó khăn
về nội dung miêu tả càng được nhân lên do các em chưa nắm được phương phápquan sát, chọn lựa, chắt lọc, hình ảnh miêu tả Do vậy, trong giờ học, giáo viênphải uốn nắn, hướng dẫn các em nhận xét, tích cực, chủ động và sáng tạo suynghĩ độc lập, tự nhiên, không gò bó, rập khuôn máy móc Chính vì thế, đòi hỏigiáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong việc hướng dẫn cho học sinh, động viên
và khuyến khích các em mạnh dạn, tích cực hơn
Vì vậy, dạy học cho học sinh biết quan sát tìm ý ðể hình thành thói quenchuẩn bị bài tốt là một yêu cầu quan trọng khi làm vãn Muốn quan sát tốt, họcsinh cần nắm ðýợc cách quan sát và những yêu cầu quan sát ðể làm vãn Cùngmột đối tượng (Ví dụ cùng một con gà trống) nhưng mỗi cá nhân lại có sự cảmnhận riêng (có em thích màu sắc bên ngoài, có em thích dáng vẻ oai vệ, có em
Trang 13lại thích tiếng gáy, …) Giáo viên phải tôn trọng ý kiến của các em, không phêphán vội vàng, chủ quan, phải giúp học sinh tự tin trong học tập Tuy nhiên, đểmiêu tả một đối tượng nào đó, giáo viên cần giúp các em biết quan sát đối tượngtheo từng góc nhìn, từng thời điểm, biết cảm nhận và chọn “điểm nhấn” của đốitượng tạo ra nét riêng biệt trong bài văn của mình Do vậy, để đảm bảo tính chânthực của bài miêu tả cần phải được bắt nguồn từ quan sát trực tiếp đối tượngmiêu tả, kết hợp với kinh nghiệm sống, trí tưởng tượng của học sinh, phải thểhiện được tình cảm, cảm xúc thực của các em trước đối tượng miêu tả Tínhchân thực đòi hỏi phải có chi tiết thực, tả đúng bản chất của đối tượng miêu tả,thể hiện được những nét đẹp đẽ, đúng đắn trong tư tưởng, tình cảm của ngườihọc sinh khi bộc lộ thái độ của các em với đối tượng miêu tả
Để thực hiện những yêu cầu trên, tôi thường hướng cho học sinh thựchiện thật tốt từng bước:
+ Xác định cụ thể và chọn một đối tượng cần quan sát ( đó là vật gì ? hoặccon gì ? hay cây gì ? )
+ Quan sát sự vật bằng các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác
và cả xúc giác Trước tiên là quan sát bao quát đối tượng và cảm nhận ( nó đẹp,
dễ thương, hoặc oai phong, hay dữ tợn, ), rồi quan sát từng bộ phận của đốitượng theo một trình tự nhất định (từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, hoặc đầu,mình rối đến chi, …) Quan sát thật kĩ những bộ phận của sự vật mà em thíchthú, ấn tượng Khi quan sát sự vật, các em cũng có thể trao đổi theo nhóm vớinhau để tìm ra những đặc điểm của đối tượng một cách tốt nhất
+ Kết hợp quan sát là ghi chép ( ghi chép những điều quan sát được ) vàliên tưởng ( liên tưởng để so sánh, nhân hóa sự vật )
Chẳng hạn, để giúp học sinh làm tốt bài tập 3 (Hãy viết một đoạn văn có chứa câu mở đoạn như sau: Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp.)
của bài Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật ( sách lớp 4, tập hai, trang130), thì ở tiết học trước đó, tôi yêu cầu các em:
+ Chọn hoặc nhớ lại một con gà trống mà em đã gặp
+ Quan sát ( hoặc nhớ lại ) và ghi lại các đặc điểm của từng bộ phận của
nó Chú ý ghi thật chi tiết những bộ phận nổi bật của con gà đó
Nếu trường nào không có điều kiện trực tiếp để quan sát thì cần khơi gợi
để các em nhớ lại những ấn tượng, cảm xúc, những nhận xét các em đã quan sátđược trước đây cũng là một biện pháp quan sát Còn đối với các đối tượng mới
lạ ít tiếp xúc thì việc quan sát trực tiếp là không thể bỏ qua Để giúp các em
Trang 14quan sát được tốt cần có nhiều biện pháp cụ thể : khơi gợi hứng thú với vật, convật, cảnh quan bằng cách cho học sinh xem tranh, ảnh về đối tượng cần miêu tả.
Vì vậy phải bồi dưỡng vốn sống cho các em Trước hết đó là vốn sốngtrực tiếp: giáo viên cho các em quan sát, trải nghiệm những gì sẽ phải viết Ví dụgiáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát một luống rau ở nhà trước khi yêucầu tả nó, hoặc giáo viên tổ chức cho các em tham quan một danh lam thắngcảnh của địa phương trước khi yêu cầu các em tường thuật một buổi tham quan.Tất nhiên, giáo viên cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởngtượng phong phú của học sinh Nhưng trí tưởng tượng dù bay bổng đến mấy vẫnphải có cơ sở, bắt nguồn từ đời sống thực Ví dụ một em học sinh ở vùng nôngthôn chưa từng thấy công viên thì không thể tả đúng công viên và có cảm xúcvới nó; cũng như không thể tả cây chuối đang trổ buồng, cây bàng đang thay lákhi chưa hề nhìn thấy chúng lần nào và không thể gây ra xúc động cho ai khiphải tả con lợn nhà em trong khi nhà chưa bao giờ nuôi lợn Trong kế hoạch dạyhọc của tôi, luôn có những chuyến đi thực tế dành cho học sinh Khi học sinhtham quan hoặc quan sát, giáo viên nên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồncảm hứng, khơi dậy suy nghĩ trong các em Sau khi các em đã quan sát, làmquen với đối tượng rồi thì cần phải viết những bài cụ thể về những gì đã quan sátđược, những gì đã được tham quan Ví dụ như khi học sinh học về bài văn miêu
tả cây cối, các em được đi thăm vườn rau hay các cây cảnh, cây xanh, cây ănquả quanh vườn trường Với các chủ đề văn tả con vật, học sinh lại được đếntrang trại chăn nuôi của người dân sống quanh trường Hay tổ chức cho các em
đi thăm quan các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh của huyện nhà để có
Trang 15thể tả những cảnh đẹp nổi tiếng của địa phương Từ đó kĩ năng quan sát, ghichép được bổ sung và đặc biệt là cảm xúc sau mỗi chuyến đi bao giờ cũng giúphọc sinh có thêm nhiều hứng khởi để viết bài.
b.5 Cung cấp thêm một số vốn từ ngữ theo chủ đề :
Một điều cũng cần chú ý là hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của cácphương tiện truyền thông, với vô vàn các hình thức vui chơi giải trí, học sinhkhông có nhiều thời gian và cơ hội để nghiền ngẫm những cuốn truyện chữ dàyhàng nghìn trang như thời của chúng ta cách đây ít nhất là hơn mười năm Cóchăng là học sinh tranh thủ để đọc những cuốn truyện tranh với nhiều ngôn từđại đa số cộc lốc, thậm chí có tiêu cực, bạo lực,…Việc các học sinh áp dụngnhững ngôn từ như thế vào viết văn chắc chắn không tránh khỏi
Như chúng ta đã biết từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạnvăn, bài văn Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Hiểu, sử dụngđúng, sử dụng hay mới có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình.Vậy mà vốn từ của các em rất ít Điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều Nhữngkiến thức lơ mơ, thiếu vốn từ làm thế nào có thể viết văn hay được Bằng mọicách phải bổ sung vào vốn từ ít ỏi của các em bằng sự phong phú của tiếng Việt.Cách làm nhanh nhất là thông qua môn Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập đọc.Tôi cho các em nêu và tập giải nghĩa tất cả những từ ngữ mà các em chưa hiểu,sau đó tôi chốt lại một từ yêu cầu các em ghi vào “ sổ từ”, tập đặt câu để hiểuchắc chắn, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình
Ví dụ: Ở phân môn Tập đọc, bài Đường đi Sa Pa ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2
trang 102), tôi yêu cầu các em sau giờ học phải bổ sung vào vốn từ của mình các
từ ngữ và hình ảnh
- Trắng xóa tựa mây trời,
- Lướt thướt liễu rủ
- Bồng bềnh huyền ảo
Bài Con chuồn chuồn nước ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 127).
- Từ: Long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, cao vút
Vậy qua phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu hay Kể chuyện học sinh tíchlũy được “vốn liếng” từ không hề nhỏ.Chính vì thế cung cấp vốn từ, làm giàuvốn từ cho học sinh chính là giúp cho học sinh hiểu thêm một từ mới nghĩa làhiểu thêm một khái niệm mới Mà ngôn ngữ gắn chặt với tư duy, ngôn ngữ pháttriển thì tư duy cũng phát triển theo Chính vì vậy, giáo viên cần hướng cho các
em cách dùng từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhân
Trang 16hóa, những từ tượng hình, tượng thanh, từ gợi tả màu sắc, ( Ở đây cần phân biệtvốn từ miêu tả có sức gợi tả với vốn từ chỉ thuần mang tính chất miêu tả thôngbáo: ví dụ khi tả hoa "nở", bản thân từ nở chỉ mang tính thông báo, nhưng từ
"bung nở, hé nở, xòe nở, bung cánh, hé cánh, xòe cánh" lại là từ miêu tả gợi tả.Bản thân từ "xanh" chỉ miêu tả nhưng không gợi tả, nhưng "xanh biếc, xanhlam, xanh ngọc, xanh mướt" là đã gợi tả sinh động hơn hẳn "xanh" rồi) Khi viếtvăn sẽ giúp cho câu văn, bài văn trở nên sinh động hơn, mượt mà hơn, ý tứ hơn
và thu hút người đọc, người nghe hơn để giúp các em viết tốt thể loại văn miêu
tả Khi dạy bài Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật ( bài tập 3/128 – SGKTiếng Việt lớp 4, tập hai ) tôi cung cấp một số từ ngữ, hình ảnh so sánh, nhânhóa như sau :
Ví dụ: Tả con mèo
- Về màu sắc của mèo: Đen thì đen như than, mắt vàng như lửa đèn Trắngthì trắng như tuyết, mắt xanh như da trời Đỏ hì đỏ như ngọn lửa, đỏ với nhữngđốm trắng.Xám như khói, xám với những lông vằn như hổ.Màu vàng cam, màuvàng đào Màu xanh nhạt như sương mù buổi sớm,…
- Về lông mèo: Sao lại có những con nhiều lông đến thế; tưởng như đâykhông phải là con mèo mà là những quả cầu bằng lông với những con mắt màuvàng Lông ở một số con mèo giống như lông cáo, ở những con khác lại dài vàmỏng, loại thứ ba lại như lưỡi mác
Như vậy, việc giúp các em biết tìm từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phùhợp để miêu tả sự vật cụ thể là vừa giúp phát huy tốt năng lực của mỗi học sinh,vừa góp phần cung cấp ý văn, từ ngữ phù hợp cho những học sinh khác
Cùng với việc giới thiệu một số hình ảnh cụ thể cho học sinh quan sát,giáo viên có thể gợi ý cho mỗi học sinh tự chọn chi tiết cụ thể của đối tượng cầnmiêu tả, rồi tìm những từ ngữ, ý văn, câu văn, hình ảnh so sánh, nhân hóa màmình cảm thấy phù hợp, hay có thể sử dụng để miêu tả chi tiết đó của đối tượng
Sau đó cả lớp nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp,phù hợp Vận dụng chính những từ ngữ, câu văn, ý văn được lớp đánh giá caotheo ý thích của riêng mình đưa vào bài của mình, tạo ra nét riêng trong chínhbài làm của mình
Xin được tiếp theo ví dụ ở trên, (với bài tập 3 của bài Luyện tập xây dựngđoạn văn miêu tả con vật) : Trước tiên, tôi giới thiệu cho các em hình ảnh hoặcvideo, clip về một số con mèo cho các em chọn lựa và quan sát một con mà emthích Tiếp đó là cùng với việc sử dụng dàn bài chung của bài văn miêu tả con
vật đã xây dựng (nội dung Tả hình dáng ở phần thân bài), tôi sẽ lần lượt hướng