LỜI CẢM ƠNTrong quá trình triển khai đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài ôn tập trong SGK Tin học lớp 11”, em đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của cá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGUYỄN THỊ BẢO CHÂU
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO
DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP
TRONG SGK TIN HỌC LỚP 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
Người hướng dẫn khoa học
TS Lưu Thị Bích Hương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài
ôn tập trong SGK Tin học lớp 11”, em đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ
tận tình, tạo điều kiện của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Công nghệ thôngtin, các thầy giáo, cô giáo trong tổ phương pháp dạy học Tin học, đặc biệt là
cô giáo hướng dẫn trực tiếp – TS Lưu Thị Bích Hương.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô
giáo Lưu Thị Bích Hương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ Phương phápdạy học Tin học Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho emtrong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bảo Châu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kếtquả, số liệu nêu trong khóa luận chưa được công bố ở bất kì công trình khoahọc nào khác Nếu có sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bảo Châu
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình ảnh mô tả của bộ não 13
Hình 1.2 Cấu tạo của SĐTD 15
Hình 2.1 SĐTD thể hiện ứng dụng trong học tập và tóm tắt nội dung…… 27
Hình 2.2 SĐTD thể hiện ứng dụng làm việc theo nhóm 29
Hình 2.3 SĐTD thể hiện ứng dụng trong nghiên cứu khoa học 30
Hình 2.4 SĐTD tổng quát chương I 33
Hình 2.5 Sơ đồ tổng quát chương II 34
Hình 2.6 SĐTD cấu trúc rẽ nhánh IF – THEN 35
Hình 2.7 SĐTD cấu trúc lặp 36
Hình 2.8 SĐTD ôn tập học kì I 38
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến giáo viên 19
Bảng 1.2: Bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến học sinh 22
Bảng 3.1: Bảng kết quả bài kiểm tra……… 51
Bảng 3.1: Bảng xếp loại bài kiểm tra……….51
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tư duy con người 6
1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư duy con người 6
1.1.2 Năng lực tư duy và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 8
1.2 Sơ đồ tư duy 12
1.2.1 Khái niệm sơ đồ tư duy 12
1.2.2 Cấu tạo và phân loại sơ đồ tư duy 13
1.2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tin học 18
1.3 Thực trạng về sử dụng SĐTD trong dạy học 19
1.3.1 Điều tra thăm dò ý kiến GV 19
1.3.2 Điều tra thăm dò ý kiến HS 22
1.3.3 Đánh giá chung 24
Chương 2: DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP TRONG SGK TIN HỌC LỚP 11 26
CÓ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY 26
2.1 Ứng dụng của SĐTD trong dạy học 26
2.1.1 Ứng dụng trong ôn tập và tóm tắt nội dung 26
2.1.2 Ứng dụng trong làm việc theo nhóm 27
2.1.3 Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học 30
2.2 Vị trí của bài “Ôn tập học kỳ I” trong chương trình Tin học lớp 11 31
2.3 Mục đích của việc dạy học bài ôn tập học kỳ I trong chương trình Tin học THPT 31
2.4 Nhiệm vụ và cấu trúc của bài ôn tập, luyện tập 31
2.5 Xác định đơn vị kiến thức 32
2.5.1 Một số khái niệm về lập trình 32
2.5.2 Chương trình đơn giản 33
Trang 82.5.3 Cấu trúc rẽ nhánh và lặp 34
2.6 Quy trình dạy bài ôn tập học kỳ I có sử dụng SĐTD 38
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 42
3.1 Mục đích thực nghiệm 42
3.2 Đối tượng thực nghiệm 42
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 43
3.4 Nội dung thực nghiệm 43
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 51
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nghiên cứu Ulrich Lipp từng cho rằng: Phương pháp chỉ là công cụ
để đạt được mục tiêu học tập, tuy nhiên, thực tế cho thấy một phương pháp tốtđược áp dụng đúng thời điểm, đúng nội dung, phù hợp với đối tượng tiếpnhận sẽ có tác dụng tốt, giúp ta đạt được mục tiêu học tập một cách tốt nhấtđồng thời chất lượng giáo dục tất yếu sẽ đạt kết quả cao Cho nên đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH) là một yêu cầu và là một nhu cầu “sao cho cả
người dạy và người học đều đạt được hiệu quả cao hơn và hạnh phúc hơn trong việc dạy học” Đổi mới PPDH không những là yêu cầu đặt ra trong
chính bản thân quá trình dạy và học mà còn là một đường lối, chủ trương củaĐảng và Nhà nước ta Đáp ứng các yêu cầu dạy học theo hướng đổi mới,nhiều giáo viên (GV) đã áp dụng các phương pháp (PP) giảng dạy tích cực(PP giáo dục chủ động, PP sư phạm hiện đại…) nhằm tạo ra những giờ họcsinh động, hấp dẫn, người học được làm việc, được sáng tạo, từ đó hướng tớimục đích nâng cao chất lượng dạy và học Có phương pháp tốt và kèm theonhững phương tiện dạy học Tin học ở trường phổ thông cũng đã và đang đượctriển khai theo yêu cầu đổi mới đó
Hiện nay, SĐTD là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, được coi nhưmột phương tiện hiện đại trong dạy và học Cha đẻ của SĐTD là giáo sưngười Anh – Tony Buzan Khi nghiên cứu về quá trình nhận thức và nhữngyếu tố giúp con người ghi nhớ kiến thức khoa học, ông đã giới thiệu phươngtiện giáo dục này vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX Có thể nói, TonyBuzan đã khám phá ra sức mạnh ghi nhớ, tư duy khi sử dụng SĐTD Theo
ông: Lập SĐTD là phương pháp cách mạng nhằm tận dụng các nguồn tài
nguyên vô tận của bộ não SĐTD là phương tiện kết nối mang tính đồ họa có
Trang 10tác dụng lưu trữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin trêngiấy, bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm
“bật lên” những kí ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng mới Mỗi SĐTD là chìakhóa khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin, đồng thời khơi nguồn tiềmnăng của bộ não kì diệu Cũng từ những nhận thức đó, ông đã cho ra nhữngcông trình khoa học có giá trị về phương tiện hữu dụng này Có thể nhắc tới
một số cuốn sách tiêu biểu của ông như: Sơ đồ tư duy trong công việc (Mindmaps at word); Lập sơ đồ tư duy (How to mindmap); Sơ đồ tư duy
trong kinh doanh; Cách mạng hóa tư duy về lối kinh doanh của bạn (Tony
Buzan và Chirs Griffiths); Bản đồ tư duy cho trẻ thông minh; Bí quyết học
giỏi ở trường; Các kĩ năng học giỏi… Sau Tony Buzan, nhận thấy ưu điểm,
sức mạnh vượt trội của SĐTD, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có nhữngcông trình nghiên cứu về cách thức và hiệu quả của việc sử dụng SĐTD.Những công trình khoa học đó đã đem đến cho người đọc cái nhìn đa chiều,phong phú, sâu rộng về phương tiện này Tiêu biểu là tác giả Bobide Porter
với hai cuốn sách: “Phương pháp học tập siêu tốc”, “Phương pháp tư duy
siêu tốc”; Adam Khoo với ba cuốn sách: “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”, “Làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh” và “Con cái chúng ta đều giỏi” hay Yoyce
Wycoff với cuốn sách “Ứng dụng SĐTD để khám phá tính sáng tạo và giải
quyết vấn đề”… Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng SĐTD trong
việc dạy học ở nhà trường và đã thu hút được hiệu quả nhất định cho tất cảhoạt động dạy và hoạt động học Theo Cheryl Cheal – sinh viên trườngImperial College London tại Singapo thì: SĐTD là phương pháp mà hầu hết
HS được làm quen từ 11 – 12 tuổi, cô cho biết cô và các bạn rất hào hứng họctập bởi bị cuốn hút vào màu sắc, hình ảnh rực rỡ và ghi nhớ kiến thức Tronggiờ học, các thầy giáo, cô giáo có thể sử dụng linh hoạt SĐTD vào từng nộidung dạy học Còn theo Chun Song Guan, sinh viên trường National Taiwan
Trang 11University thì GV có thể sử dụng SĐTD khi giới thiệu ở đầu hoặc cuối bàigiảng, củng cố bài giảng, củng cố kiến thức và cho bài tập về nhà (hệ thốnghóa kiến thức bằng SĐTD) Việc làm ấy hướng tới mục đích là HS biết hệthống và khái quát các đơn vị kiến thức, đồng thời HS cũng biết cách làm việctheo nhóm hiệu quả thông qua hoạt động mỗi người có thể góp ý, vẽ mộtnhánh của SĐTD Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về SĐTS nhưng domục đích xây dựng lý thuyết SĐTD chủ yếu phục vụ cho các hoạt động trongcông việc nói chung cũng như việc lập kế hoạch, ghi chép, quản lí cuộc họp,thuyết trình, học tập, phát triển cá nhân nên nghiên cứu sự ứng dụng SĐTDtrong hoạt động dạy học ở nhà trường chưa có nhiều công trình khoa học.
Cho đến năm 2003, khái niệm SĐTD mới được sử dụng trên các nguồn
tư liệu được khai thác trên internet, hay dựa trên các tài liệu tiên tiến đượcđưa về Việt Nam cùng một số chương trình đào tạo của các chuyên gia hàngđầu thế giới Cũng từ đó, việc nghiên cứu SĐTD có những bước thay đổiđáng kể ở Việt Nam Năm 2010 – 2011, TS Trần Đình Châu đã chủ trì mộtnhóm nghiên cứu giới thiệu về SĐTD trong một chuyên đề đổi mới PPDH tớicán bộ quản lí và giáo viên THCS Tuy nhiên đây chỉ là những định hướngchung, còn việc nghiên cứu chuyên sâu về phương tiện dạy học này và ứngdụng nó trong giảng dạy phải đến sau này
Sơ đồ tư duy (SĐTD) được sử dụng trong quá trình dạy học là một trongnhững phương tiện dạy học hiện đại, gắn liền với đặc điểm nhận thức trong tưduy con người Hiện nay, phương tiện dạy học này đã được sử dụng rộng rãi
và cũng tạo ra hiệu quả học tập khá cao Bởi lẽ nó tạo ra những thuận lợi nhấtđịnh cho quá trình nhận thức và tư duy của HS, giúp HS ghi nhớ rất hiệu quả.Không chỉ có vậy, việc sử dụng SĐTD có khả năng phản ánh dòng chảy tưduy tự nhiên ấy làm cho việc tiếp thu, ghi nhớ một cách hiệu quả, giảm áp lựchọc tập của người học Sử dụng SĐTD vào quá trình dạy học môn Tin học nói
Trang 12chung, dạy học bài ôn tập trong SGK Tin học lớp 11 nói riêng sẽ giúp cho HSkhông chỉ biết vận dụng những kiến thức và kỹ năng cơ bản, các em biết kháiquát chúng để rèn luyện nhằm tạo ra năng lực riêng cho bản thân mỗi cá nhânHS.
Từ những lý do trên và được sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, em đã
chọn đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài ôn tập trong SGK Tin
học lớp 11” làm đề tài khóa luận của mình.
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tư duy con người
- Tìm hiểu sơ đồ tư duy trong dạy học
- Tổng hợp nội dung ôn tập học kỳ I
- Đề xuất cách sử dụng SĐTD vào dạy học bài ôn tập học kỳ I
- Tổ chức thực nghiệm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học Tin học lớp 11 trường THPTCao Bá Quát – Gia Lâm – Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết: Nghiên cứu các vấn đề lý
thuyết về SĐTD, các giáo trình lý luận dạy học, sách giáo khoa và các tài liệuliên quan tới nội dung phạm vi mà đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra cơ bản: Lấy ý kiến của GV đang trực tiếp giảngdạy trong nhà trường phổ thông đặc biệt là các giáo viên dạy giỏi, có trình độ,
có hiểu biết và sử dụng thành thạo SĐTD trong dạy học môn Tin học nói
chung và dạy bài “Ôn tập học kỳ I” nói riêng; phát phiếu điều tra, thăm dò ý
Trang 13kiến của GV, HS; tham gia dự giờ trên lớp; lấy ý kiến của HS về việc ứng
dụng SĐTD trong quá trình học bài “Ôn tập học kỳ I”.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các số liệu thu thập được trongquá trình khảo sát, thực nghiệm để đưa ra được những kết quả chính xác,khách quan
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp được sử dụng khi đánhgiá tính khả thi của những đề xuất đã được nêu ở chương 2
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, hướng phát triển và tài liệu tham khảokhóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Dạy học các bài ôn tập trong SGK Tin học lớp 11 có sửdụng sơ đồ tư duy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tư duy con người
1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư duy con người
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng về sự vật và ứng xử tích cực với nó [19] Bàn về tư duy, cho đến nay các nhà khoa học đã đưa ra nhiều
cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (Nxb Từ điển Báchkhoa Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chứcmột cách đặc biệt – bộ não người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực kháchquan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận Còn theo triết học duyvật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đếntrình độ tổ chức cao Karl Marx cho rằng: Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vậnđộng của hiện thực khách quan được di chuyển và được cải tạo/ tái tạo trongđầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh Với cách hiểu này, có thể nhậnthấy, tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người Trongquá trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thứccảm tính hay các ý nghĩ với nhau Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừutượng hóa, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giảthuyết, lí luận… kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánhkhái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật khôngchỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định Vì vậy, tư duybao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từtrước
Trang 15Hoạt động tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lí Cơ chế hoạt động cơ sởcủa tư duy dựa trên hoạt động sinh lí của bộ não với tư cách là hoạt động thầnkinh cao cấp Đó là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện quaviệc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kíchthích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức thế giới xung quanh, địnhhướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống Tư duy là hoạt động cao cấpcủa hệ thần kinh và để thực hiện được tư duy cần có những điều kiện:
Điều kiện cơ bản: Thứ nhất, hệ thần kinh phải có năng lực tư duy Đây làđiều kiện tiên quyết, điều kiện về bản thể Thiếu điều kiện này thì không có tưduy nào được thực hiện Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy làkinh nghiệm, sáng tạo và trí tuệ Ba loại hình tư duy này mang tính bẩm sinhnhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần
từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ của chúng ta theo chiều hướngngược lại Đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môitrường sống và trực tiếp là môi trường kinh nghiệm Thứ hai, hệ thần kinh đãđược tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức Đây là điều kiện quan trọng.Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tư duy không có cơ
sở để vận hành Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho các quá trình tư duykhai thác, chế biến Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũng cầnnhiều hơn Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển
Điều kiện riêng: Được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thựchiện được và thực hiện tốt nhất Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật lí thì hệthần kinh phải có các kiến thức về vật lí Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải
có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó Muốn có tư duy lí luận thì phải có sựkết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triếthọc…
Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của
Trang 16nhận thức Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểutượng… được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hìnhdạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ Giai đoạn nàyđược gọi là tư duy cụ thể Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạtđộng tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,khu biệt quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến,lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung vàbản chất của sự vật hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù,định luật… Giai đoạn này được gọi là tư duy trừu tượng.
1.1.2 Năng lực tư duy và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Theo tâm lí học lứa tuổi, HS THPT ở vào thời kỳ mà sự phát triển thểchất của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Bên cạnh sự phát triển
về thể lực, sự phát triển của hệ thần kinh cũng có những thay đổi quan trọng
do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng não phát triển Sựhình thành hệ thống cấu trúc tế bào ở bán cầu đại não và số lượng dây thầnkinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ đại não lại dẫn tớikết quả là bộ não của HS ở độ tuổi học THPT có những cấu trúc như trongcấu trúc tế bào não của người lớn Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phứctạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quátrình học tập [7, tr.67] HS ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinhnghiệm sống hơn, các em nhận ra được vị trí, vai trò của mình Do vậy, thái
độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được phát triển.Đặc biệt ở lứa tuổi này, tính chủ động trong suy nghĩ của các em phát triểnmạnh mẽ Quan sát của HS trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diệnhơn, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Theo đó,các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh,đối chiếu… Không những vậy, trong quá trình nhận thức, các em tạo được
Trang 17tâm thế phân hóa trong ghi nhớ, biết phân biệt được tài liệu nào cần nhớ từngchữ, cái gì chỉ cần hiểu mà không cần nhớ Cũng do đặc điểm lứa tuổi, HSTHPT phát triển mạnh về tư duy hình thức Các em có khả năng tư duy lýluận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trước những đối tượngquen thuộc hoặc chưa quen thuộc Sự tổng hợp về năng lực tư duy và nhữngđặc điểm tâm lí của HS THPT chính là tiền đề để chúng ta khẳng định việchình thành năng lực tự học tập, tự nghiên cứu cho HS với việc sử dụng SĐTDtrong dạy học bài ôn tập là một việc làm hợp lý có cơ sở khoa học.
Mặt khác, HS càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phongphú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa củacuộc đời Do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng pháttriển, thái độ của HS đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở các em
đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Mộtmặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối vớinghề nghiệp mình đã chọn, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học kháchoặc chỉ học để đạt điểm trung bình Vì vậy đòi hỏi trong quá trình dạy học,
GV phải tìm ra phương pháp, phương tiện dạy học tích cực, nhằm mang lạinhững hiệu quả đối với HS, giúp các em có hứng thú học tập, để các em cóthể đạt được kết quả cao Việc sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ mang lại hiệuquả, lợi ích thiết thực cho các em HS ở lứa tuổi này
Học sinh THPT còn được gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triểnbắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niênđược tính từ 15 – 25 tuổi, được chia làm hai thời kì: 15 – 18 là tuổi đầu thanhniên, 18 – 25 là giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Ở độ “tuổi thanh niên”, con người sống trong những đặc trưng của mộtthế giới mà ở đó có sự tồn tại giữa tuổi trẻ em và người lớn Cũng vì thế, tâmsinh lý của con người ở lứa tuổi thanh niên khá phức tạp với biểu hiện nhiều
Trang 18mặt trong một cá thể.
Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có nhữngnét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn.Thái độ đối xử của người lớn đối với các em thường thể hiện tính chất hai mặt
đó là: Một mặt luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải cótính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lí Nhưng mặt khác lạiđòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn, nghe lời bố
mẹ, GV…
Đặc điểm hoạt động giao tiếp có nhiều biến đổi, mở rộng phát triển cácmối quan hệ cả chất lượng và số lượng, vị trí của thanh niên trong các mốiquan hệ thay đổi ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm sinh lí của lứa tuổi này
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPTnhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các
em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tưduy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại
mà các em thường gắn với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứngthú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệpnên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn Cũng vì thế, thái
độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt HS đãlớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằngmình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đốivới việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩasống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: Cái vốn những trithức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hìnhthành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệuquả vào cuộc sống lao động của xã hội
Về sự phát triển trí tuệ, lứa tuổi HS THPT là giai đoạn quan trọng trong
Trang 19việc phát triển trí tuệ Đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiệncho sự phát triển các năng lực trí tuệ Cảm giác và tri giác của các em đã đạttới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ.Khả năng quan sát – một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em.Tuy nhiên sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào mộtnhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đạikhái, phiến diện, đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế.
Trí nhớ của HS THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữvai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu họctập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa làkhi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạnquan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh.Các em cũng hiểu rất rõ trường hợp nào phải học thuộc từng câu, từng chữ,trường hợp nào cần diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôikhông cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung,cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giáthấp việc ôn lại bài
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã cókhả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn.Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp chocác em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thíchkhái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiệntượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy pháttriển đã góp phần làm nảy sinh hiện tượng tâm lí mới đó là tính hoài nghikhoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn haydùng lối phản đề để nhận thức chân lí một cách sâu sắc hơn Gắn với nhữngbiểu hiện thích tìm tòi, khám phá, HS THPT cũng thích những vấn đề có tính
Trang 20triết lí, vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lí.
Nhìn chung tư duy của HS THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệlinh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn
đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số HS vẫn còn nhược điểm là chưaphát huy hết khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàngtheo cảm tính Vì vậy GV cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cáchtích cực độc lập để phân tích, đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng.Việc phát triển khả năng nhận thức của HS trong dạy học là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của GV
1.2 Sơ đồ tư duy
1.2.1 Khái niệm sơ đồ tư duy
Theo Tony Buzan – người đã dành 30 năm để nghiên cứu về vấn đề này,
thì: “Bản đồ tư duy (MindMap – Bản đồ tư duy, Sơ đồ tư duy) là hình thức
ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý tưởng chính và đều được nối với ý trung tâm” [15, tr.19].
Còn trong cuốn “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kỹ thuật
dạy học” thì: SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Đồng thời
là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh,
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh… gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân
Trang 21tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình đối tượng cần nghiên cứu.
Với quan niệm trên, có thể khẳng định SĐTD là phương tiện mạnh để “tậndụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não SĐTD là hình thức ghi chépnhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của mộtnội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hìnhảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Ta có thể nhận thấy nhận xét trên trong ví
tư duy khác nhau Bộ não người không tư duy theo lối trình tự và tuần tự màtheo cách lan tỏa như mọi hình dạng của tự nhiên, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh
Trang 22trong cơ thể con người, các nhánh của thân cây và những đường gân trên lá.Đây chính là cách tư duy của não Vì nó không theo trình tự, tuần tự mà pháttriển theo một mạng lưới hợp lô-gic nên SĐTD là dạng mô phỏng cũng nhưvậy, nó là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địalí.
Hơn nữa, sử dụng SĐTD giúp ta kích thích cả hai bên não bộ cùng thamgia tư duy Đặc biệt, với sự nghiên cứu yếu tố tâm lí học của quá trình học vàghi nhớ: Các nghiên cứu về não đã chỉ ra rằng não có thể dễ dàng nhớ đượccác thông tin nổi bật, độc đáo nhất hay thông tin ảnh hưởng mạnh mẽ tới mộttrong năm giác quan Như vậy, sự nhạy cảm về hình ảnh, màu sắc của vỏ nãophải giúp ghi nhớ, tư duy tốt hơn Như vậy, khai thác đặc điểm tự nhiên này,SĐTD rất coi trọng sử dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét, thông tin nổi bậtliên quan đến vấn đề
Tóm lại, có thể hiểu SĐTD là một phương pháp kết nối mang tính đồhọa có tác dụng lưu trữ, xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin trên giấy,bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm “bậtlên” những kí ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng mới Mỗi chi tiết trongSĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin, đồng thời khơinguồn tiềm năng của bộ não kì diệu
Cụ thể, về mặt cấu tạo, nó giống như một cái cây với nhiều nhánh lớn,nhỏ mọc xung quanh Phần trung tâm của sơ đồ là nội dung chính hay hìnhảnh trung tâm được thể hiện bằng từ hay hình ảnh nổi bật Nối với nó là cácnhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan đến ý tưởng chính (được gọi là nhánhcấp 1), các nhánh lớn này sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn nữa nhằmthể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn (nhánh cấp 2, 3, 4…) Cứ như vậy, nhữngvấn đề liên quan đến vấn đề chính được thể hiện và liên hệ với nhau một cáchlô-gic
Trang 23Như trên đã nói, SĐTD là sơ đồ mở, không căn cứ và tỉ lệ, khoảng cách.
Do vậy mọi người có thể thỏa sức sáng tạo trên khoảng trống của giấy,bảng… thể hiện nội dung Người dùng có thể tự do thêm bớt các nhánh, sửdụng từ ngữ, hình ảnh, màu sắc mà mình yêu thích để ghi nhớ tốt hơn Tùyvào khả năng sáng tạo của mỗi người mà sơ đồ này có phong phú hay không,
có thể giúp người học nhiều hay ít Ta có thể thấy cấu tạo của SĐTD qua một
ví dụ dưới đây:
Hình 1.2 Cấu tạo của SĐTD
Ta thấy, SĐTD là cách người thực hiện dùng một phương tiện trực quangắn với bản chất của hoạt động tư duy để tận dụng khả năng ghi nhận hìnhảnh của não bộ Nhờ các hình ảnh, người sử dụng có thể ghi nhớ chi tiết, tổnghợp hay phân tích vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác sovới máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì não bộ còn có khảnăng liên hệ các dữ liệu với nhau SĐTD có thể khai thác tất cả hai khả năngnày của não bộ
Với cấu tạo đơn giản, gọn nhẹ như vây, SĐTD có thể sử dụng được vớibất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các trường hiện nay (thiết kế trên giấy,
Trang 24bìa, bảng phụ, hoặc trên phần mềm bản đồ tư duy: www m i n - m a p co m .vn đ ểtải miễn phí Conceptdraw mindmap 5 professional hoặc phần mềm Buzan’siMindmap 10.0…).
Với đặc điểm cấu tạo như trên, để thiết kế một SĐTD chúng ta cần tiếnhành theo các bước như sau:
Bước 1: Xác định từ khóa: Đây là những từ quan trọng tập trung chủ đềmột cách cô đọng nhất
Bước 2: Vẽ chủ đề trung tâm
Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
Bước 4: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính, các chi tiết hỗ trợ(nhánh bậc 2, 3)
Bước 5: Thêm các hình ảnh minh họa Ở bước cuối này, hãy để trí tưởngtượng của bạn bay bổng Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh để giúp các ý quantrọng trở nên nổi bật cũng như giúp chúng lưu vào trí nhớ của bạn tốt hơn.Tóm lại, có thể thấy cấu tạo của SĐTD mô phỏng cách tư duy của não,giúp tư duy tốt hơn dựa trên sự kết hợp từ, hình ảnh, đường nét, màu sắc,tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não Với những đặcđiểm cơ bản của SĐTD như trên, nhà khoa học Adam Khoo xác định có baloại SĐTD giúp con người có thể sắp xếp kiến thức học tập hiệu quả:
Loại thứ nhất là SĐTD được xác lập theo đề cương Cơ sở để tạo ra loại
sơ đồ này được tạo ra dựa vào phần mục lục trong sách nhằm mục đích manglại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học, tiết kiệm được thời gian họctập
Loại thứ hai là xây dựng SĐTD theo chương Đây là loại sơ đồ đượcngười sử dụng tạo ra trên cơ sở tóm tắt toàn bộ kiến thức của chương học Đểxây dựng loại SĐTD này chúng ta cần phải đọc lướt qua toàn bộ chương sách(nội dung bạn muốn xây dựng SĐTD) Tìm các từ khóa, từ khóa là những từ
Trang 25mang ý nghĩa khái quát cho cả chương Chúng ta có thể dựa vào tên chương,nội dung chính của chương để xác định chủ đề trung tâm của SĐTD (thườngtên chương đã bao hàm ý tổng quát của cả chương) Xác định ý lớn, nhỏ,chính, phụ của chương sách trên cơ sở đó HS có thể dễ dàng phân cấp cácnhánh của SĐTD.
Loại thứ ba có thể sử dụng là xây dựng SĐTD theo bài Loại sơ đồ nàythường được sử dụng khi tóm tắt một bài trong SGK Vẽ SĐTD để tóm tắt nộidung chính của mỗi bài và phát triển thêm nhiều ý chi tiết hơn Việc làm này
sẽ giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian hơn khi học hoặc ôn tập bài cũ
SĐTD ra đời muộn nhưng hiệu quả mà nó mang lại vô cùng to lớn Bằngchứng cho nhận định trên là hiện nay, hơn 250 triệu người trên thế giới đang
sử dụng nó có hiệu quả, nó được sử dụng trong các công ty lớn, phục vụ chokinh doanh Trong giáo dục, SĐTD cũng đã và đang khẳng định giá trị của
nó Có thể tin rằng, đây là thứ phương tiện hiện đại, có thể đáp ứng được nhucầu đổi mới PPDH theo hướng sáng tạo, giảm áp lực học tập cho HS bởi cáctính năng sau:
Thứ nhất, SĐTD giúp tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa.Thứ hai, SĐTD giúp tận dụng được các nguyên tắc ghi nhớ siêu đẳng: Sựhình dung, sự liên tưởng làm nổi bật sự kiện Không chỉ có vậy, SĐTD sửdụng hai bán cầu não cùng một lúc Mỗi bên não sẽ đồng thời hỗ trợ cho bênkia theo cách mang lại tiềm năng sáng tạo vô tận và củng cố thêm khả năngcủa bạn trong việc sáng tạo ra các liên tưởng rộng lớn hơn Điều này dẫn đến
sự bùng nổ lớn hơn về năng lực trí tuệ của HS SĐTD mô phỏng các quá trìnhsáng tạo, tư duy và nhớ
Trang 261.2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tin học
Việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tin học mang lại ý nghĩa to lớn trongviệc dạy và học cho GV và HS Bởi lẽ, SĐTD là hình thức ghi chép sử dụngmàu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng SĐTD một công cụ tổchức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kếthợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạtđộng và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của
bộ não Theo đó, việc dạy học bằng SĐTD giúp HS có được phương pháp họchiệu quả hơn Nhờ có SĐTD, GV có thể rèn luyện phương pháp học tập cho
HS Thực tế cho thấy trong quá trình học tập, một số HS học rất chăm chỉnhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đãquên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vậndụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS khi đọcsách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin,lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo SĐTDtrong dạy học sẽ giúp các em có được phương pháp học, tăng tính độc lập,chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tin học mang lại hiệu quả cao vàđáng khích lệ trong việc dạy và học cho GV và HS SĐTD là một phương tiệndạy học trực quan, có tác dụng kích thích hứng thú tìm hiểu của HS, qua đógiúp các em tham gia hoạt động học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậyviệc sử dụng SĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềmnăng của bộ não
Không chỉ có vậy, việc sử dụng SĐTD trong dạy học còn giúp cho GV
sẽ tìm ra cách thức liên kết các đơn vị kiến thức đã học, đang học và sắp học
Trang 27một cách phù hợp Trên cơ sở đó, GV có thể điều chỉnh các đơn vị kiến thứctrong bài dạy, tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng vàquan trọng hơn sẽ giúp cho HS nắm vững được kiến thức thông qua sơ đồ.Việc vận dụng SĐTD trong dạy học bài ôn tập học kỳ I nói riêng và trongmôn Tin học nói chung ở trường THPT sẽ dần hình thành cho HS tư duymạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệthống, khoa học Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tíchcực khác như phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp hoạt độngnhóm, phương pháp động não,… có tính khả thi cao góp phần đổi mớiphương pháp dạy học.
1.3 Thực trạng về sử dụng SĐTD trong dạy học
Để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nghiên cứu thựctrạng dạy học và học Tin học nói chung và thực tế dạy học bài “Ôn tập học kỳI” nói riêng có sử dụng SĐTD trong nhà trường THPT hiện nay Đối tượngđược tiến hành khảo sát là các GV giảng dạy bộ môn Tin học trong nhàtrường và những HS ở các khối 11 tại trường THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm– Hà Nội Việc đánh giá cơ sở thực tiễn được tiến hành trên các phương diệnsau:
1.3.1 Điều tra thăm dò ý kiến GV
Việc điều tra thăm dò ý kiến giáo viên được thực hiện với 15 GV và 6 câu hỏi (CH) qua việc điều tra, thăm dò thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến giáo viên
Câu 1 Các thầy giáo, cô 1 Phương pháp đàm
6/15
giáo thường sử dụng thoại
phương pháp nào trong 2 Phương pháp 6/15
Trang 28trong dạy học có là lựa 2 Không 10/15
chọn của các thầy giáo, cô 3 Thỉnh thoảng
3/15
giáo khi dạy học không?
Câu 3 SĐTD được các
thầy giáo, cô giáo sử dụng
trong dạy học khi nào?
1 Nhắc lại kiến thức
1/15từng bài cho HS
Câu 5 Hiệu quả mà 1 Có hiệu quả tốt 2/15
SĐTD mang lại là gì? 2 Bình thường 2/15
Câu 6 GV thường sử 1 Phần mềm Mindmap 5/15
dụng cách nào để thiết lập 2 Giấy, bút, mầu… 10/15
SĐTD trong dạy học? 3 Các cách khác 1/15
Từ kết quả trên, tôi đưa ra một số nhận xét sau:
Để có thể nắm bắt được ý kiến của đội ngũ chủ thể định hướng các hoạtđộng dạy và học, tôi biên soạn phiếu điều tra và thăm dò ý kiến cho GV trực
Trang 2915 phiếu điều tra gồm 6 CH về các nội dung liên quan đến SĐTD trong quátrình dạy học ở trường phổ thông Bên cạnh việc khảo sát thông qua phiếuđiều tra, chúng tôi cũng trực tiếp dự giờ của một số GV tại lớp để đưa ranhững đánh giá khách quan về việc sử dụng SĐTD trong dạy học Việc dựgiờ của giáo viên được tiến hành tại hai lớp 11A6, 11A10 Trường THPT Cao
Bá Quát – Gia Lâm – Hà Nội do hai cô giáo Nguyễn Thị Thủy, Đào ThịThêm giảng dạy
Sau khi phát phiếu và được giáo viên giúp đỡ, trả lời CH, tôi có đượckết quả như sau:
Với CH thứ nhất, hầu hết các thầy giáo, cô giáo đều lựa chọn cácphương pháp giảng dạy truyền thống như phương pháp gợi mở - vấn đáp,phương pháp đàm thoại
Ở CH thứ hai, SĐTD không là lựa chọn của các thầy giáo, cô giáo khidạy học, chỉ có 13,33% GV sử dụng SĐTD, 66,67% GV không sử dụngSĐTD là chiếm đa số, còn lại là 20% GV thi thoảng sử dụng SĐTD
Ở CH thứ ba, khi dạy học bài ôn tập SĐTD không được các thầy giáo,
cô giáo sử dụng chiếm số lượng nhiều nhất (86,66%)
Ở CH thứ tư, SĐTD không có nhiều ưu điểm khi dạy học chiếm73,33%
Ở CH thứ năm, SĐTD ít đem lại hiệu quả trong dạy học chiếm 73,33%
Ở CH thứ sáu, tất cả các thầy giáo, cô giáo đều sử dụng SĐTD trongquá trình dạy học nhưng đa phần lựa chọn cách đơn giản nhất là dùng bút,giấy, mầu… để thiết lập SĐTD Chỉ một số ít giáo viên sử dụng thành thạophần mềm SĐTD Mindmap Qua trao đổi với GV, tôi thấy rằng nguyên nhânchủ yếu do hạn chế về mặt thời gian, điều kiện cơ sở vật chất, trình độ tưduy… Với thực tế đó, có thể nhận thấy, trong điều kiện cho phép, nếu GV sửdụng thành thạo SĐTD vào quá trình dạy học sẽ tạo ra những chuyển biến
Trang 30nhất định.
1.3.2 Điều tra thăm dò ý kiến HS
Bên cạnh việc thăm dò đội ngũ GV, tôi tiến hành điều tra khảo sát nhằmhiểu hơn về thái độ và không khí học tập của chủ thể nhận thức – HS Gắn vớinhiệm vụ nghiên cứu, tôi xác định đối tượng điều tra là HS lớp 11 của trườngTHPT Cao bá Quát – Gia Lâm – Hà Nội Công cụ giúp tôi nắm được ý kiếncủa các em là “phiếu điều tra HS” với 80 phiếu điều tra, mỗi phiếu là 7 CH.Bên cạnh những CH điều tra về thái độ và tình hình học tập, điều kiện học tậpcủa HS, tôi còn tiến hành tìm hiểu thực tiễn và phương pháp học tập của HS,đặc biệt là việc sử dụng SĐTD vào việc học Qua việc điều tra, thăm dò tôi cókết quả như sau:
Bảng 1.2: Bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến học sinh
Câu 3 Ưu điểm mà SĐTD
mang lại cho các em là gì?
Trang 31SĐTD trong quá trình học tập 2 Hiệu quả 25/80
có hiệu quả không? 3 Ít hiệu quả 20/80
Câu 7 Lý do học sinh không
hứng thú với giờ học Tin học.
1 Tin học khô khan,
2 Giáo viên dạy
10/80không hấp dẫn
3 Vì môn Tin học là
Đa số HS không biết sử dụng SĐTD (chiếm 50/80 em HS) Tỷ lệ HSkhông sử dụng SĐTD trong các môn học còn quá nhiều (chiếm 65/80 emHS) Phần lớn SĐTD không có nhiều ưu điểm (chiếm 40/80 em HS) Số các
em thích học bài ôn tập bằng với số các em không thích học bài ôn tập
Cũng qua phiếu điều tra tôi biết được rằng các em cho rằng sử dụngSĐTD vào quá trình dạy học sẽ đạt hiệu quả cao Chỉ một số ít HS cho rằng
sử dụng SĐTD ít mang lại hiệu quả và HS cho rằng SĐTD không đem lạihiệu quả gì là thấp
Đa số HS không thích học môn Tin học, coi việc học môn Tin học là mộtnhiệm vụ học tập phải học một cách miễn cưỡng không chút hứng thú, say mêvới môn học Tỷ lệ HS hứng thú với môn Tin học là rất nhỏ Phần lớn các emkhông thích học Tin học vì chương trình Tin học còn quá khô khan, đôi khivượt quá tầm nhận thức của các em, GV chưa có phương pháp dạy học phùhợp, trong giờ học chỉ thụ động nghe giảng rồi ghi chép và về nhà học mộtcách thụ động máy móc vì thế HS không biết cách vận dụng kiến thức Tinhọc vào thực tiễn Qua khảo sát và tiếp xúc với nhiều HS, tôi thấy rõ thái độthờ ơ của các em đối với môn Tin học
Trang 321.3.3 Đánh giá chung
Qua việc điều tra, thăm dò ý kiến của GV và HS, tôi nhận thấy SĐTD cóthể sử dụng hiệu quả trong dạy học nói chung và môn Tin nói riêng Tuynhiên, việc sử dụng nó còn có nhiều khó khăn ở cả phía GV và HS
Đối với GV: Việc đổi mới PPDH Tin học nói chung và phần học bài ôn
tập nói riêng ở một bộ phận GV còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả.Trong giảng dạy nhiều GV đã xác định được tầm quan trọng của môn học nàyđối với sự phát triển tư duy của HS Tuy nhiên, hầu hết các GV chưa thực sựhứng thú, chính vì thế mà việc tập trung công sức, thời gian, tâm huyết chogiờ dạy chưa nhiều, việc sử dụng các phương tiện dạy học như: Sơ đồ hóa haylập bảng thống kê chỉ diễn ra thỉnh thoảng Hình thức chủ yếu để tổ chức dạyhọc bài ôn tập cho HS là hướng dẫn HS trả lời CH Các hình thức khác GVđưa ra nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và nâng cao khả năng
tự học cho HS chưa nhiều Riêng việc dùng SĐTD trong dạy học thì chưa được
GV quan tâm, thậm chí nhiều GV không để ý SĐTD là gì, những lợi ích củaSĐTD đối với dạy học ra sao để đổi mới PPDH Nguyên nhân thì nhiều: Quá
ít thời gian, có một số đơn vị kiến thức khó vận dụng để dạy, nhà trường cóquá ít phương tiện hỗ trợ dạy học, cùng với việc HS ít quan tâm, hứng thú khihọc Tin học khiến cho nhiều GV không thật sự hứng thú trong việc đổi mớiPPDH cho phù hợp với đặc trưng kiểu bài mà thường dạy qua loa, đại kháinhiều GV quan niệm chỉ cần dạy HS những gì có trong các tiết kiểm tra, các
kì thi học kỳ, phần kiến thức Tin học thường không có trong các kì thi tốtnghiệp hay đại học cao đẳng Khi xem giáo án, chúng tôi thấy rất nhiều GVthiết kế giáo án đơn giản, thường chỉ nêu CH trong SGK, sau đó hướng dẫn
HS trả lời theo cách GV đã chuẩn bị Các thầy giáo, cô giáo chưa mạnh dạn
sử dụng SĐTD vào tất cả các khâu của quá trình học tập Nhiều thầy giáo, côgiáo còn ngại đổi mới và chưa chú ý đến hiệu quả mà PP này mang lại Chính
Trang 33vì vậy mà chất lượng dạy học các bài ôn tập ở nhà trường phổ thông hiện nay chưa cao, chưa hiệu quả.
Đối với HS: Các em đã có nhận thức mới và thấy được ưu điểm của
SĐTD trong môn Tin học nhưng việc ứng dụng nó chưa nhiều Đôi khi các
em còn ngại khó và ỷ lại vào sự dẫn dắt của GV mà chưa chủ động, tích cựclàm việc Tuy vậy, với những ưu điểm lớn mà SĐTD mang lại trong dạy họcthì cả GV và HS sẽ quan tâm và ứng dụng nhiều hơn Đa số HS đã xác địnhđược bài ôn tập trong chương trình có tầm quan trọng lớn đối với quá trìnhnhận thức của mình Một số em rất hứng thú với giờ học này, tập trung nhiềuthời gian cho giờ học, sôi nổi khi học tập trên lớp, đã khẳng định và phát huyđược năng lực học bài ôn tập của mình qua các bài tập vận dụng Tuy nhiên,
bộ phận này không nhiều Qua khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy phầnlớn các em chưa thực sự hứng thú đối với các giờ học môn Tin, kết quả họctập chưa cao Có rất nhiều lý do dẫn đến tình hình chung này, đó là: Các bàihọc kiến thức khó, bên cạnh đó HS rất khó hình dung các bài học, GV chưathật sự tâm huyết, chưa chú ý đến đổi mới phương pháp dạy học cho HS Từ
cơ sở lý luận liên quan đến đề tài và thực tế dạy học, chúng tôi thấy cần phảitìm ra nhiều hướng tổ chức khác nhau đối với mỗi giờ dạy học theo tinh thầnđổi mới dạy học của nhà trường phổ thông hiện nay, nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động sáng tạo, rèn luyện và nâng cao khả năng tự học của HS, nângcao hiệu quả dạy học nói riêng và môn Tin học nói chung