TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHOA SINH –KTNN -THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BẪY TỔ TRONG NGHIÊN CỨU ONG CÓ TẬP TÍNH SỐNG ĐƠN LẺ Chuyên ngành: SINH HỌC ỨNG DỤNG Người hướng dẫn: Th... Vậy nên việc nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHOA SINH –KTNN
-THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BẪY TỔ TRONG NGHIÊN CỨU ONG
CÓ TẬP TÍNH SỐNG ĐƠN LẺ
Chuyên ngành: SINH HỌC ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn: Th Vũ Thị Thương
Người thực hiện: Nguyễn Thị Bé
Lớp : K39C _ Sư phạm Sinh Học
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
- GVHD – Th Vũ Thị Thương là người đã tận tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài
- Tất cả các giáo viên Bộ môn, ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã góp ý để tôi hoàn thành đề tài này
- Tất cả các bạn bè và gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi
Một lần nữa tôi bày tỏ lòng biết ơn tới mọi sự giúp đỡ đó!
Hà nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Bé
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận làtrung thực chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học và chưa sử dụng
để bảo vệ bất cứ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồngốc
Hà nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Bé
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Đặt vấn đề 6
2 Mục đích và yêu cầu 7
2.1 Mục đích nghiên cứu 7
2.2 Yêu cầu 7
3.Ý nghĩa khoa học vàý nghĩa thực tiễn 7
3.1 Ý nghĩa khoa học: 7
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Tổng quát về loài ong Độc Lập (Solitary Bee) 9
1.1.1 Đặc điểm hình thái 9
1.1.2 Tập tính sống 10
1.2 Các phương pháp thu mẫu ong có tập tính sống đơn lẻ 10
1.3 Nghiên cứu về phương pháp bẫy tổ 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 14
2.1.1.Đối tượng 14
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 14
2.2.Thời gian và địa điểm 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Thí nghiệm xác định kích thước bẫy tổ 15
2.4.2 Thí nghiệm xác định vị trí đặt bẫy 17
2.5.Phương pháp thu thập số liệu 18
2.5.1.Thí nghiệm xác định kích thước bẫy tổ 19
2.5.2.Thí nghiệm xác định vị trí bẫy tổ 19
2.6 Phương pháp sử lý số liệu 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1.Tìm hiểu về tập tính của ong sống đơn lẻ 20
3.1.1.Tập tính sống 20
3.2 Bẫy tổ 25
Trang 63.2.1 Vật liệu làm bẫy 25
3.2.2 Cách làm 1 bẫy tổ 26
3.3 Thí nghiệm xác định kích thước bẫy tổ 26
3.3.1 Kết quả thí nghiệm 26
3.3.2 Xây dựng bẫy với kích thước phù hợp 28
3.4 Thí nghiệm xác định vị trí đặt bẫy 28
3.4.2 Xây dựng cách đo khoảng cách đặt bẫy và vị trí phù hợp 30
3.5 Bước đầu xây dựng phương pháp đặt bẫy 30
3.6 Ưu điểm và nhược điểm 31
3.6.1.Ưu điểm 31
3.6.2 Nhược điểm 31
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 32
I.KẾT LUẬN 32
II.ĐỀ NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 : Ảnh hưởng của kích thước bẫy đến hiệu quả thu bắt ong Bảng 3.2 : Ảnh hưởng của độ cao đặt bẫy đến hiệu quả thu bắt ong Bảng 3.3 : Bảng thống kê số lượng ong thu được tại các vị trí.
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1 : Ống lứa với các kích thước khác nhau đo ngày đặt bẫy 2/9/2016 Hình 2: Bẫy tổ và vị trí đặt bẫy ngày 2/9/2016
Hình 3: Mẫu thu được tại chuồng dê
Hình 4: Mẫu được sử lý tại phòng thí nghiệm
Hình 5: Hình ảnh mẫu bổ dọc
MỞ ĐẦU
Trang 81 Đặt vấn đề
Ong được xem là một loại côn trùng có lợi ích cho đời sống của con người.Ong có mặt tại hầu như khắp mọi nơi trên Trái Đất, ngoại trừ 2 vùng Bắc Cực vàNam Cực Mặc dù có gần 20.000 loại nhưng ong được chia thành 2 nhóm chính gồm:ong sống tập đoàn và ong sống độc lập
Họ Ong vàng (Hymenoptera: Vespidae) bao gồm bốn phân họ, trong đó có baphân họ gồm các loại ong xã hội (Stenogastrinae, Polistinae và Vespidae) và mộtphân họ gồm các loài ong đơn lẻ (Eumeninae) Trên thế giới có hơn 3500 loài ongthuộc phân họ Eumeninae đã được mô tả Trong khi các khi các nghiên cứu về nhómloài ong xã hội ở Việt Nam đã ít nhiều được thực hiện thì nghiên cứu về các loài ongđơn lẻ còn chưa được chú trọng Gần đây một số công bố về các loài ong đơn lẻ phân
họ Eumeninae thống kê được 48 loài thuộc 27 giống có mặt ở Việt Nam, tuy nhiêncon số này mới chỉ phản ánh một phần sự đa dạng của các loài này ở nước ta
Nhóm Ong Độc Lập (Solitary Bee): Loại này thì sống một mình, tuy nhiên đôikhi chúng xây tổ gần nhau Loại này không có ong thợ, tự sống và sinh sản lấy.Chúng xây tổ, cất mật, đẻ trứng, trám tổ lại rồi bay đi mất Khi trứng nở, ăn số thức
ăn đã được dự trữ để tăng trưởng
Chúng ta biết rằng việc chuyển phấn từ cây này sang cây khác hoặc từ một bộphận cây này tới một bộ phận khác của cùng một cây là rất cần thiết cho sự sinh sảncủa hầu hết các cây có hoa Nếu không có thụ phấn phần lớn cây có hoa bản địa củachúng ta sẽ bị suy giảm, biến mất, hoặc được thay thế bởi các loài cỏ dại non Từ lâu
đã có sự đồng thuận chung rằng ong đã thụ phấn cho cây trồng một cách đầy đủ và córất ít nhu cầu cho ong có tập tính sống đơn lẻ
Ngoài ra chúng cũng có một số loài bắt mồi thức ăn là những sâu bệnh, côntrùng hại cây Khi ong ăn là đã tiêu diệt chúng sẽ giúp cây phát triển tốt hơn
Vậy nên việc nghiên cứu và nhân rộng ong có tập tính sống đơn lẻ là rất cần thiếtNhưng đa số các con này dùng ngòi chích như một cách để tự vệ cho chínhmình để bảo vệ tổ Những hạch nhỏ trong ngòi chích này sản xuất ra một chất hóahọc như nọc độc Vậy nên việc thu mẫu loài ong sống đơn lẻ để nghiên cứu là rấtnguy hiểm
Trang 9Hơn thế nữa do tập tính sống đơn lẻ không có chỗ ở ổn định là cho quá trìnhthu mẫu trở nên phức tạp Hay dù có bắt được ong theo cách thông thường thì cũngkhó có thể sử dụng để nghiên cứu Dùng vợt hay màn lưới với một lần vợt xác suấtbắt được ong rất thấp, khi bắt được để nuôi sống hay cho nó sinh sản gặp nhiều khókhăn Với phương pháp thu mẫu thông qua sâu gây hại cây trồng đòi hỏi người thumẫu phải có chuyên môn cao, quan sát kỹ lưỡng, tỉ mỉ và số lượng mẫu thu được cóong ký sinh là rất thấp Đây là những phương pháp tốn công sức mà kết quả thu đượckhông cao Còn đa số phương pháp bắt ong thông thường khác thì không phù hợp vớitập tính Vậy nên chúng tôi đã quyết định thiết kế và sử dụng bẫy tổ trong nghiên cứucác loài ong có tập tính sống đơn lẻ từ đó giúp cho việc bắt mẫu và nghiên cứu vềloài ong được rễ ràng hơn Bẫy được làm từ vật liệu dễ kiếm và dễ làm nhưng lại cóhiệu quả cao Dùng bẫy có thể bẫy được cả tổ của ong, ngay cả khi mới hình thành từ
đó có thể dễ dàng nghiên cứu quá trình sống ngay từ đầu Mẫu thu về rất dễ bảo quản
và nghiên cứu hơn hết là việc thu mẫu đơn giản và không gây nguy hiểm
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế thành công bẫy tổ để có thể sử dụng và từ đó đánh giá hiệuquả của bẫy tổ trong nghiên cứu ong có tập tính sống đơn lẻ trong thời gian đặt bẫydựa vào các tập tính sinh học của ong kết hợp với nghiên cứu kích thước bẫy, độ caođặt bẫy, không gian đặt bẫy
2.2 Yêu cầu
+ Tìm hiểu một số tập tính ong sống đơn lẻ.
+ Thực hiện thí nghiệm để xác định được kích thước bẫy, vị trí đặt bẫy hợp lýnhất để thu được ong với số lượng tối ưu
+ Đánh giá hiệu quả của bẫy sau thời gian đặt bẫy, xác định số mẫu thu đượckhi đặt bẫy từ đó xây dựng phương pháp bẫy tổ đạt hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học:
+ Xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý bẫy tổ trong nghiên cứuong có tập tính sống đơn lẻ
Trang 10+ Cung cấp thêm phương pháp thu mẫu để nghiên cứu ong có tập tính sống đơn lẻ.
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quát về loài ong Độc Lập (Solitary Bee)
1.1.1 Đặc điểm hình thái
Thân thể ong giống như các loài côn trùng khác có thể chia ra làm ba phần làđầu, ngực và bụng Bụng chứa một bao tử đặc biệt dùng để chứa mật hoa Toàn thânchúng có rất nhiều lông vì vậy những phấn hoa có thể bám vào người rất nhiều Màusắc của ong mật thì từ đen tới nâu nhạt To nhất là ong chúa, tới là những chàng ongđực và nhỏ nhất là những nàng ong thợ
Ong có 5 con mắt Ba con mắt nhỏ nằm theo hình tam giác ở ngay trên đầu,trước trán Hai con mắt kia to hơn thuộc loại đa tròng, với hàng ngàn tròng, thì nằmngay hai bên mặt Ong mật là loại côn trùng đầu tiên mà con người được biết làchúng có thể phân biệt được màu sắc Chúng có thể phân biệt được màu vàng, xanh
da trời và những tia hồng quang tím (ultraviolet rays) Nhưng chúng không thể phânbiệt được màu đỏ, đối với chúng màu đỏ nhìn giống như màu xanh lá cây
Những con ong này cũng phân biệt được hình thể như hình thể khác nhau củacác loại hoa chẳng hạn Những cần antenna của ong rất mỏng mảnh, nằm ngay trướctrán Có những cơ quan nằm trên cần antenna này dùng để ngửi các mùi vị, cònnhững sợi lông nhỏ li ti trên cần có lẽ được dùng như các cơ quan cảm nhận
Lưỡi của ong được dùng để hút nước, mật hoa, và mật vào trong miệng Chiếclưỡi như một ống hút này rất uyển chuyển nằm ngoài đầu của con ong, nó có thể codãn dài ngắn, di động khắp mọi phương Hai bên cạnh của chiếc lưỡi này là cặp hàmdùng để nắm giữ các viên sáp và phấn hoa Ong hút mật hoa bằng lưỡi và chuyềnxuống dưới bụng qua đường miệng, nó cũng sử dụng ngược lại khi về tổ nhả mật ranuôi các con ong khác
Ong có hai cặp cánh, cặp cánh trước to hơn hai cặp cánh sau Khi chúng bayhai cặp cánh này dính lại nhau, bởi một hàng móc nhỏ ngoài rìa trên cặp cánh trước,tạo thành một cặp cánh lớn Cặp cánh này có thể di chuyển để bay tới, bay lui; baylên, bay xuống; bay ngang mọi hướng hoặc bay yên tại chỗ
Trang 12Ong có 6 chân, 3 chân mỗi bên ngực.Mỗi chân có 5 khớp, cộng thêm những khúc nhỏtạo thành bàn chân Những con ong thợ dùng những đôi chân này để đi, còn dùng đểlau sạch những phấn hoa trên người và cầm giữ chất sáp Những chân sau dùng đểmang các phấn hoa hay nhựa cây đặc biệt dùng để sửa tổ như đã nói ở trên Cặp chântrước có một bộ phận chũng xuống một cách đặc biệt dùng để lau cần antenna Bềmặt ngoài của cặp chân sau của những ong thợ có một vùng phẳng chung quanh lànhững sợi lông dài và cong Vùng phẳng này được gọi là "giỏ phấn", dùng để mangnhững phấn hoa về Những sợi lông dài ở bề mặt trong của cặp chân sau được dùng
để thu chất các phấn hoa vào giỏ phấn Khi những con ong thợ này bay về tới tổ,chúng đặt cặp chân sau này vào trong một phòng lục giác và phủi phấn hoa vào đây,một con ong thợ khác sẽ dùng đầu để ủi những phấn hoa này xuống dưới đáy phòng
1.1.2 Tập tính sống
Loại này thì sống một mình, tuy nhiên đôi khi chúng xây tổ gần nhau Loại nàykhông có ong thợ, tự sống và sinh sản lấy Chúng xây tổ, cất mật, đẻ trứng, trám tổ lạirồi bay đi mất Khi trứng nở ăn số thức ăn đã được dự trữ để tăng trưởng Nhóm này
có 5 loại chính là ong thợ mộc (carpenter), ong lá (leafcutting), ong đào hầm(mining), ong thợ hồ (mason), và ong Tu Hú (cuckoo) Tên của mỗi loại tự nói lênđặc tính của chúng như ong thợ mộc xây tổ trên những cành cây hay nhánh cây khô;ong lá cắn lá nhỏ ra để làm tổ trên đất hay cành cây; ong đào hầm đào những đườnghầm nhỏ dưới đất để làm tổ; ong thợ hồ làm tổ trong những vỏ ốc hay cây mục, cóloại dùng nước miếng của mình để kết những hòn đá nhỏ lại với nhau làm tổ hoặcdùng bùn và đất sét xây tổ trên những vách tường; loại ong Tu Hú là loại không xây
tổ nhưng rình đẻ trứng của mình vào tổ của những loại ong khác như loài chim TuHú
1.2 Các phương pháp thu mẫu ong có tập tính sống đơn lẻ
Các nhà khoa học của Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra các cách bắt ong phổ biến
+ Bắt ong trong hốc cây, hốc đá:
Khi phát hiện thấy tổ ong trong hốc cây, hốc đá dùng rừu búa mở rộng cửa tổ.Sau đó dùng khói phun nhẹ vào tổ để ong dạt vào 1 góc, cắt lấy bánh tổ, bốc ong vào
Trang 13mũ lưới hoặc áo, khăn.Nếu tổ nằm ở vị trí sâu trong hốc cây to hoặc vách đá khôngbắt được, dùng đất ướt chát bịt kín cửa tổ và các khe hở lại Sau 2-3 ngày đến mở lỗ
tổ, ong sẽ tuôn ra, dùng nón ( loại nón chuyên dụng để bắt ong ) bắt ra hay hứng lấy.Cũng có thể thổi băng phiến vào hoặc lấy 1 ống lứa nhỏ cắm vào lỗ tổ ong, trát đấtxung quanh, bắt khi ong ra mà không vào được và đậu ở ngoài khu vực cửa tổ
+ Bắt ong soi đõ:
- Chuẩn bị tổ bẫy là quan trọng và quyết định Kinh nghiệm cho thấy ong rấtthích đóng tổ trong các hốc cây, có mùi gỗ thơm, chắc như cây đẻn, cây săng lẽ vìthế cần tìm một khúc gỗ đã sầu ruột để làm tổ, còn gọi là bọng ong, cắt gọt đẹp, haiđầu bịt kín như một khúc gỗ tự nhiên Kích thước trong bọng không nên quá lớnkhoảng 20 - 25cm đường kính là vừa phải, chiều dài 70 - 80cm Làm tổ bẫy kiểu tựnhiên này gọi là “đõ ong”.Ngoài ra một số người cũng đóng bẫy ong bằng thùngvuông, dài với loại gỗ chắc mà ong thích
- Trước khi mang tổ đi bẫy ong, người ta thường bỏ một ít sáp và mật ong trongthùng bẫy để kích thích sự chạm tổ của ong
- Xác định địa điểm đặt bẫy ong: đó là vùng có nhiều ong rừng, có nhiều nguồnhoa mà ong hay đến lấy mật, phấn Lại phải chọn những gốc cây già, kín và thoáng,nơi môi trường con ong ưa thích
- Có người giàu kinh nghiệm tìm bắt công nghiệp ong soi - là ong đi tìm tổ mới,
bỏ vào trong tổ bẫy Nếu cái tổ được ong soi ưa thích thì nó sẽ bay về tin cho cả đànong bay về tổ bẫy
+ Bắt ong bay:
Khi phát hiện thấy đàn ong bay thấp ngang qua, tung đất cát hoặc té nước vàođàn ong là chúng hạ thấp độ cao, chờ ong đậu vào cành cây, bắt ong vào dụng cụ bắtong rồi để vào chỗ tối mát mẻ
+ Bắt bằng hánh ong:
Là biện pháp đặt các thùng, đõ ở những nơi thích hợp để ong tự về làm tổ Ởcác tỉnh miền Bắc, tháng 10-12 là mùa ong di cư từ vùng núi cao về vùng đồi thấp,tháng 3-4 là mùa ong chia đàn, ong thường tìm nơi thích hợp để làm tổ
+ Bắt ong thông qua sâu hại:
Trang 14Lấy sâu hại làm mồi nhử khi ong tới ăn mồi sẽ bị mắc vào bẫy đã thiết kế.Trên đây là các phương pháp bắt ong thủ công tuy đơn giản nhưng rất nguy hiểm
dễ bị ong chích đốt và ảnh hưởng đến sức khỏe, chuẩn bị phức tạp, tốn thời gian vàquan trọng nhất là không phù hợp với tập tính ong sống đơn lẻ Chúng không sốngtheo bầy đàn mà chúng sống đơn độc nên việc sử dụng các biện pháp này là khôngthể
1.3 Nghiên cứu về phương pháp bẫy tổ
Anna Budriene và cộng sự (2004) nghiên cứu về “Reproductive ecology andbehavior of predatory wasps (Hymenoptera: Eumeninae)”
+ Thu nhập mẫu bằng các tổ ong được làm bằng cách sử dụng các bó với 25-35lóng/bó cùng chiều dài và đường kính, các bó này được gọi là bẫy tổ Sau khi nóđược đặt trên mái nhà của tòa nhà bằng gỗ cũ.Trong khu vực nghiên cứu, các tòa nhà
gỗ là phân lập với các tòa nhà bằng gỗ khác phù hợp cho ong đơn độc làm tổ Trên
400 mét đồng cỏ có các bản gỗ, lõi gỗ đặt vị trí khác nhau do đó các tổ ong nghiêncứu đã tương đối cô lập
+ Các bẫy tổ được đặt trên các bức tường của các tòa nhà ở độ cao 60 cm – 330
cm khác hướng nhau Từ giữa tháng tư đến giữa tháng tám cứ 7 -14 ngày gốc mánhlỏng bị bít bên ngoài có thể nhìn thấy bằng mắt thường, ở những mánh lóng đó cóong hoặc ấu trùng ong bên trong, sau khi rút ra sẽ thay thế với những mánh lóng mới
có đường kính tương tự vào vị trí mánh lóng vừa rút Kết quả bẫy tổ không bao giờhoàn toàn bị bít kín hết các ống và ong cái có khả năng làm nhiều tổ trong mùa hè vớinhiều sự lựa chọn bẫy tổ khác nhau về đường kính và định hướng ở độ cao khácnhau
+ Những mánh lóng ở tổ đã bít kín được đưa tới phòng thí nghiệm để nghiên cứuthêm Họ đã xẻ theo chiều dọc Sau kiểm tra, ấu trùng ong được cuốn vào ni longmỏng và được lưu trữ nuôi cho đến khi thành con non phục vụ cho việc nghiên cứu.Sau đó, con non giữ lại bằng cách xử lý lạnh (4oC) cho 1-5 tháng.Hoặc nuôi riêngtrong lọ nhựa ở nhiệt độ phòng cho đến khi trưởng thành Do đó, nếu cho ong bắpcày giao phối thí nghiệm sẽ thu được vào tháng 6 của năm tiếp theo
Trang 15+ Để đánh giá sở thích khác nhau của các loài ong bắt mồi về chiều rộng khoang
và chiều cao làm tổ thích hợp của nó, các tổ được phân thành nhiều loại đường kínhkhác nhau (3-8 mm)
+Định hướng khoang làm tổ thì phần lớn các loài có khuynh hướng làm tổ ở phíanam và phía tây
Đối với phương pháp này nghiên cứu trong nước là còn mới mẻ và khá ít, mớiđược thực hiện nghiên cứu tại Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật, ở trường Họcviện Nông Nghiệp Việt Vam nhưng chưa có công bố cụ thể
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
+ Dao hoặc cưa dùng để cưa nứa
+ Kéo để cắt dây buộc
+ Thước đo tỉ lệ các loại để đo kích thước đường kính ống nứa, chiều dài ống nứa và khoảng cách đặt bẫy từ mặt đất
+ Ống nghiệm, bao nilông để thu mẫu khi ong đã vào đẻ trứng
+ Bút giấy sổ sách để chú thích nơi thí nghiệm, ngày tháng thu kết quả tổ.+ Dây buộc
+ Các ống nứa đường kính 1,5cm- 4cm, chiều dài phụ thuộc vào đốt của ốngnứa (10cm – 25cm)
2.2.Thời gian và địa điểm
+ Thời gian thực hiện: Từ tháng 09 năm 2016 đến tháng 04 năm 2017
+ Địa điểm: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu làm thí nghiệm và điều tra tạiTrạm đa dạng Mê Linh, thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc Đặc điểm nơi nghiên cứukhông có thuốc bảo về thực vật, có trồng xen lẫn các cây che bóng và đặt gần nhàdân, Phòng thí nghiệm tại trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
2.3 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu một số tập tính sinh học của ong có tập tính sống đơn lẻ
Nghiên cứu phương pháp làm bẫy tổ và tiến hành sử dụng:
+ Thực hiện thí nghiệm xác định kích thước bẫy
Trang 17+ Thực hiện thí nghiệm xác định vị trí đặt bẫy.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thí nghiệm xác định kích thước bẫy tổ
- Dùng cưa cưa từng đốt nứa sao cho mỗi ống nứa có một đầu kín và 1 đầu hở với độdài 15cm – 30cm
+ Ở nhóm 1 : chặt 60 ống nứa với đường kính 1cm, dùng dây bó chặt làm 6 bóvới 10 ống/bó
+ Ở nhóm 2 : chặt 60 ống nứa với đường kích từ 2cm đến 3cm , dùng dây bóchặt làm 6 bó với 10 ống/bó
+ Ở nhóm 3 : chặt 60 ống nứa với đường kính 4cm, dùng dây bó chặt làm 6
bó với 10 ống/bó
-Trên mỗi bó dùng giấy có ghi rõ ngày và thời gian đặt bẫy
- Cùng đặt tại các vị trí trong điều kiện không gian giống nhau chia làm các khu khácnhau, tại mỗi vị trí treo các bó tương đương với 3 nhóm, mỗi bó đều có đủ 3 loại
- Thực hiện thí nghiệm trong 1 tháng, cứ 10 ngày thu 1 lần và đặt ống mới thay thếvào vị trí ống cũ vừa thu
Thí nghiệm này nhằm xác định kích thước phù hợp của bẫy, sau thời gian thựchiện thấy ong làm tổ nhiều ở loại ống lứa nào thì ta kết luận đó là kích thước phù hợpnhất