1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT

60 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 94,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi có chung nỗi niềm với bao giáo viên văn khác, nhưng với lòng yêu nghề, tôi vẫn cố gắng học hỏi, phấn đấu với mong muốn phần nào thay đổi suy nghĩ của xã hội về một môn học đã từng được coi là cực kì quan trọng trong giáo dục nhân cách con người. May mắn cho tôi, trong những năm qua liên tục được nhà trường giao cho dạy ôn thi THPTQG và luyện đội tuyển môn Văn theo khối lớp được phân công giảng dạy. Đó vừa là trách nhiệm, vừa là thử thách lại vừa là cơ hội cho tôi được khám phá sâu kiến thức bộ môn. Mặc dù tôi đã tham khảo nhiều sách báo, tìm kiếm trên mạng Internet những kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi quí báu của đồng nghiệp ở trong và ngoài tỉnh nhưng nhìn chung chưa thấy có nhiều chuyên đề trình bày đầy đủ, kĩ lưỡng và có hệ thống về vấn đề này. Với sự phấn đấu, học hỏi, rút kinh nghiệm qua những tiết dạy, lắng nghe những lời chỉ bảo quí báu của các thầy, cô có nhiều năm công tác đứng lớp; cùng với việc cọ sát trong thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở tại nhà trường qua một số năm học, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn ở trường THPT, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Người xưa từng khẳng định: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên

khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống

thấp Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng

nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên (Thân Nhân

Trung) Tiếp nối truyền thống ấy, ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định:

Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là mục tiêu quan trọng mà

ngành giáo dục hướng tới

Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc được toàn ngành giáo dục quan tâm từ

lâu Ngay trong những năm tháng gian khổ nhất của đất nước khi chưa thống nhất,

miền Bắc vẫn tổ chức những kì thi học sinh giỏi Kể cả khi giặc Mĩ điên cuồng leo

thang bắn phá miền Bắc thì bao thế hệ thầy giáo, học sinh mang mũ rơm đi học

đường dài vẫn học, vẫn dạy, vẫn thi và đạt giải học sinh giỏi trong nước và quốc tế.

Gần đây, Đảng ta có hẳn nghị quyết về giáo dục và đào tạo, bàn về công tác bồi

dưỡng nhân tài Vì vậy, có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi

nhọn và trọng tâm của ngành giáo dục Nó có tác dụng tích cực trong việc nâng

cao chất lượng đội ngũ giáo viên, kích thích tinh thần say mê học tập của học sinh,

nâng cao chất lượng và khẳng định uy tín của nhà trường, góp phần vào việc nâng

cao chất lượng giáo dục nói chung

Ngữ văn là một trong ba môn có tính chất công cụ, bắt buộc trong kì thi Quốc

gia nhưng vị trí của nó ngày càng khiêm tốn, học sinh trong nhà trường phổ thông

ngày càng mất đi niềm yêu thích văn chương Học sinh ít theo học, giáo viên bớt

mặn mà Thực tế ấy khiến không ít giáo viên ngán ngẩm cho chuyên ngành đào tạo

của mình Tuy nhiên, hàng năm, Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc đều tổ chức kì

thi chọn học sinh giỏi các cấp, trong đó có thi học sinh giỏi THPT nhằm lựa chọn

tôn vinh những học sinh có thành tích cao trong những môn học, tiếp tục tham gia kì

thi học sinh giỏi quốc gia Đồng thời, qua kết quả cuộc thi Sở lấy đó làm một kênh

thông tin để đánh giá chất lượng giáo dục của mỗi trường học trong phạm vi toàn

Trang 2

tỉnh Vì vậy, trường THPT Tam Đảo vẫn luôn coi công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường

Dạy Văn cho học sinh là một công việc khó, bởi dạy Văn không chỉ dạy

đúng, đủ kiến thức cơ bản, đúng trọng tâm mà còn phải dạy hay Dạy Văn cho học

sinh giỏi còn khó hơn nhiều Dạy Văn tức là dạy cái hay, cái đẹp cho học sinh, dạy

cho học sinh không chỉ nghĩa lí của tác phẩm mà còn là con người để mỗi học sinh

rung cảm, đồng cảm với từng nhân vật, từng số phận, từng cuộc đời thì thật là một

công việc gian lao Người thầy giáo muốn có một giờ dạy thành công phải lao tâm,

khổ tứ từ việc sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, cảm thụ tác phẩm một cách nhuần

nhuyễn để khi giảng tác phẩm cho học sinh thầy phải thật thấu đáo, am tường,

chuẩn mực… Song điều đó không có nghĩa là thầy giáo hiểu hộ học trò, cảm hộ

học trò, tạo cho học trò thói quen ăn sẵn mà mỗi giờ học phải khơi dậy, gợi dậy,

làm sống dậy trong lòng học trò sự hứng thú, lôi cuốn kì diệu của văn chương…

Mỗi bài dạy là một chinh phục vất vả, đầy mồ hôi và cả nước mắt song cũng thật

hạnh phúc Có người yêu thích bóng đá coi việc dạy Văn như làm huấn luyện viên

bóng đá mà mỗi tiết dạy là đứng trước một trận đấu, người giáo viên phải tìm ra

đấu pháp như thế nào cho hợp lí để mỗi giờ dạy phải hấp dẫn, lôi cuốn, chinh phục

được người học

Dạy Văn đã khó, dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lại càng khó hơn Đó là một

quá trình khó khăn, gian khổ và hết sức công phu Từ việc trang bị kiến thức có hệ

thống đến việc dạy học sinh biết cách cảm thụ, rồi từ những cảm xúc, cảm nghĩ ấy

chuyển thành câu thành chữ dưới ngòi bút cho đúng, cho trúng, cho rành mạch và

xúc động là cả một quá trình truân chuyên

Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi có chung nỗi niềm với bao

giáo viên văn khác, nhưng với lòng yêu nghề, tôi vẫn cố gắng học hỏi, phấn đấu

với mong muốn phần nào thay đổi suy nghĩ của xã hội về một môn học đã từng

được coi là cực kì quan trọng trong giáo dục nhân cách con người May mắn cho

tôi, trong những năm qua liên tục được nhà trường giao cho dạy ôn thi THPTQG

và luyện đội tuyển môn Văn theo khối lớp được phân công giảng dạy Đó vừa là

trách nhiệm, vừa là thử thách lại vừa là cơ hội cho tôi được khám phá sâu kiến thức

Trang 3

bộ môn Mặc dù tôi đã tham khảo nhiều sách báo, tìm kiếm trên mạng Internet

những kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi quí báu của đồng nghiệp ở trong và

ngoài tỉnh nhưng nhìn chung chưa thấy có nhiều chuyên đề trình bày đầy đủ, kĩ

lưỡng và có hệ thống về vấn đề này

Với sự phấn đấu, học hỏi, rút kinh nghiệm qua những tiết dạy, lắng nghe

những lời chỉ bảo quí báu của các thầy, cô có nhiều năm công tác đứng lớp; cùng

với việc cọ sát trong thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở tại nhà trường qua

một số năm học, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh

giỏi môn Ngữ Văn ở trường THPT, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào

việc nâng cao chất lượng giáo dục

Theo tôi, sáng kiến có thể áp dụng trong việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh

giỏi môn Văn ở khối THPT Trong đề tài này, tôi hướng tới việc nghiên cứu trong

diện hẹp từ yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong việc dạy đội tuyển và học

đội tuyển môn Văn ở trường THPT đến quá trình thăm dò, phát hiện và cách thức

dạy học, bồi dưỡng nhân tố

Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn được chia sẻ, học tập, trao đổi kinh

nghiệm với các đồng nghiệp để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo

viên và hiệu quả học tập của học sinh nói chung, góp phần nâng cao chất lượng của

đội tuyển học sinh giỏi Văn của nhà trường nói riêng

Trang 4

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Sáng kiến kinh nghiệm được tôi nghiên cứu, dạy thử nghiệm đội tuyển học

sinh giỏi khối 12 trong năm học 2016-2017 Sau đó, tiếp tục rút kinh nghiệm, dạy

thử nghiệm đội tuyển học sinh giỏi khối 10 trong năm học 2017-2018; đội tuyển

học sinh giỏi khối 11 trong năm học 2018-2019 và thu được kết quả khả quan

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Đánh giá thực trạng của đề tài khi áp dụng và thử nghiệm

7.1.1 Đánh giá thực trạng của đề tài trước khi áp dụng sáng kiến

7.1.1.1 Thực trạng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

- Văn học là một loại hình nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hình tượng

thông qua một chất liệu đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật Bằng ngôn ngữ, tác phẩm

văn học có khả năng tái hiện cụ thể, sinh động, gợi cảm hiện thực khách quan, giúp

nhận thức cuộc sống, đưa đến những suy tưởng sâu lắng, trong tâm hồn, tình cảm

để cuộc sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn

- Nhìn chung, học sinh THPT đã có khả năng độc lập, tích cực trong học

Văn nhưng năng lực và hứng thú cá nhân chưa bền vững Những phẩm chất tư duy

như ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng… đã phát triển nhưng rất cần các phương pháp hỗ

trợ, kích thích của giáo viên mới trở nên bền vững và ổn định Do vậy, trong quá

trình bồi dưỡng học sinh cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực, có khả năng

khả thi giúp học sinh có hứng thú học tập bộ môn Từ đó, nâng cao năng lực cảm

thụ văn, biết cách trình bày những suy nghĩ, cảm nhận về một vấn đề văn học một

cách khoa học

- Thực tế, ở trường THPT Tam Đảo việc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu

môn Văn cũng nằm trong tình trạng chung, phổ biến: Học sinh tiếp nhận và cảm

thụ kiến thức văn học qua khâu trung gian là giáo viên Do trình độ học sinh còn

hạn chế, sách tham khảo còn thiếu; chất lượng chưa cao, giáo viên phần nhiều còn

non trẻ Vì vậy, chất lượng học sinh qua các kì thi học sinh giỏi môn Văn chưa đạt

được yêu cầu mong muốn

7.1.1.2 Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài

Trang 5

- Bản thân tôi giảng dạy môn Ngữ Văn tại trường THPT Tam Đảo từ năm

2000, đến năm 2001 bắt đầu được giao bồi dưỡng đội tuyển học sinh liên tục cho

đến nay Tôi đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả bồi dưỡng chưa cao

7.1.2 Nguyên nhân

7.1.2.1 Chủ quan

- Giáo viên chưa có kinh nghiệm trong bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi

- Học sinh chưa có tinh thần học tập, chưa có sự đam mê và sự quan tâm đối

với môn Ngữ Văn (Do xu hướng lựa chọn nghề nghiệp, điều kiện và cơ hội việc

làm rất khó với những ngành có môn văn)

7.1.2.2 Khách quan

- Chất lượng đầu vào (Lớp 10) rất thấp dẫn tới chất lượng đội tuyển không

đồng đều Quan niệm của xã hội nói chung về môn Văn ảnh hưởng tới việc lựa

chọn và thành lập đội tuyển Nhiều học sinh giỏi toàn diện vẫn có ý thức coi nhẹ

môn Văn, không được chọn vào đội tuyển các môn tự nhiên, môn Ngoại ngữ mới

chịu vào đội tuyển Văn Nhiều em có năng khiếu bộ môn nhưng lại gặp sự phản

đối từ gia đình

- Các phương pháp học tập của HS chưa tốt, học không có kế hoạch, không

có phương pháp, chưa biết phương pháp tự học theo hướng tích cực, thụ động

trong quá trình học, quen nghe, ghi chép những gì giáo viên nói, ít có nhu cầu tự

bộc lộ sự hiểu biết, cảm nhận văn học qua ngôn ngữ nói, viết của mình, học sinh

còn khá nhiều hạn chế về năng lực học tập trong môn học ngữ văn Cụ thể, các em

còn thụ động trong quá trình học tập Chỉ khi nào giáo viên yêu cầu phát biểu thì

các em mới dám nói

- Tài liêu, sách báo tham khảo ở thư viện còn hạn chế, chưa có đủ để giáo

viên và học sinh tham khảo, nghiên cứu

- Thời gian bồi dưỡng ngắn (nhất là Lớp 12), áp lực trong việc phải có nhiều

giải và giải cao

Trang 6

7.2 Những giải pháp đã áp dụng

7.2.1 Phát hiện và tuyển chọn những học sinh có năng khiếu bộ môn

- Đây là bước quan trọng trước khi bắt đầu ôn luyện bồi dưỡng Bởi vì, có

lựa chọn kĩ lưỡng, đúng khả năng, phát hiện tố chất văn chương của các em thì mới

hiệu quả trong công tác bồi dưỡng Trong khi theo xu thế thời đại, các em ngại học

văn, người dạy đội tuyển còn phải vừa dạy vừa “dỗ” rất vất vả Nhưng giáo viên

hãy coi đó là thử thách, vượt qua được sẽ đến thành công

- Trước khi thành lập đội tuyển tôi rất quan tâm tới đối tượng học sinh, tìm

hiểu tố chất, năng lực lĩnh hội kiến thức cũng như tâm lý, nhu cầu, động cơ học tập

của các em để đo mức độ hứng thú và say mê học tập Trên cơ sở đó, kịp thời nắm

bắt diễn biến tư tưởng và ý thức học tập của các em; khích lệ, động viên kịp thời;

tránh để các em căng thẳng, mệt mỏi Kinh nghiệm cho thấy: tiến hành hoạt động

dạy học trên đối tượng học sinh không có tố chất đã khó nhưng càng khó hơn nếu

các em không có tinh thần say mê học tập bộ môn Với các đối tượng như vậy,

thường rất khó, khó đến mức không thể khơi dậy ý chí, quyết tâm và hứng thú

trong học tập cho các em

- Yếu tố học trò xuất sắc được hiểu là có tố chất học tập và nghiên cứu môn

học, có tinh thần say mê, ham học hỏi, có khả năng biến quá trình được thầy cô

đào tạo thành quá trình tự đào tạo, và đặc biệt phải có khả năng và phương pháp tự

học Cốt lõi trong vấn đề này là đãi cát tìm vàng Nếu không cố gắng, tâm huyết

với công việc thì khó có thể phát hiện được học sinh có tố chất xuất sắc, không

phát hiện được học sinh có tố chất xuất sắc thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ rất

gian nan

- Để có được những học sinh giỏi văn trong đội tuyển của nhà trường, ngay

từ đầu lớp 10, tôi chú ý đến những em có điềm thi vào đầu cấp từ 8 điểm trở lên

Sau đó theo dõi quá trình học tập của các em qua các điểm kiểm tra thường xuyên,

kiểm tra định kì, qua kết quả thi tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi của nhà trường

- Tiếp đó, tôi chủ động sắp xếp thời gian gặp gỡ các em được chọn, tìm hiểu

quan điểm cũng như cách học, cách tiếp nhận bộ môn Văn trong quá trình học tập,

tìm hiểu hướng đi tương lai của các em, nhất là việc chọn khối thi vào các trường

Trang 7

đại học sau này Từ đó, chỉ thu nhận những em học sinh có niềm đam mê, thích thú

với bộ môn Văn, kiên quyết không đưa vào đội tuyển những em học sinh có cái

nhìn lệch lạc về môn Văn hoặc chán học môn Văn, cho dù đôi khi cái chán của học

sinh bắt nguồn từ giáo viên dạy trên lớp Không chọn những học sinh thi khối A, B

mà chỉ chọn những học sinh có nguyện vọng thi vào khối C, D Đặc biệt, chỉ

những em tự nguyện tham gia mới được đưa vào danh sách đội tuyển chính thức

của trường, không chú ý số lượng, chỉ chú trọng chất lượng Từ đó, trao đổi với các

em được chọn về việc thành lập đội tuyển học sinh giỏi Văn để các em biết thuận

lợi và khó khăn trong quá trình tham gia đội tuyển

- Bằng việc làm này, hằng năm tôi đã lựa chọn được một số học sinh có tố

chất, yêu thích môn Văn…để chuẩn bị cho việc thành lập đội tuyển chính thức

7.2.2 Lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển

- Cùng với việc thành lập đội tuyển, tôi lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển và

dự kiến người dạy hỗ trợ với mình để trình tổ trưởng chuyên môn và Ban giám

hiệu xét duyệt Phẩm chất, uy tín, năng lực của người giáo viên có ảnh hưởng trực

tiếp đến quá trình học tập và rèn luyện của học sinh Thầy cô là yếu tố hàng đầu

đóng vai trò quyết định trong việc bồi dưỡng năng lực học tập, truyền sự hứng thú,

niềm say mê môn học cho các em Để dạy được học sinh có phương pháp và khả

năng tự học thì bản thân thầy cô cũng phải tự đào tạo, cố gắng hoàn thiện về phẩm

chất và năng lực chuyên môn, tâm huyết với công việc, yêu thương học trò, giúp

đỡ đồng nghiệp Để đạt hiệu quả như mong muốn, người thầy phải không ngừng

rèn luyện để trở thành thầy giỏi ở góc độ tâm huyết và năng lực, ở sự am hiểu về

đối tượng học trò và kiến thức chuyên sâu, ở phương pháp truyền đạt khoa học,

sáng tạo và logic Các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại phải được sử

dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn, phải nhằm vào việc phát huy khả năng tự học, tự

nghiên cứu của học trò, tích cực trong lĩnh hội kiến thức Nếu coi đây chỉ là vấn đề

lí thuyết sẽ không thành công Giáo viên phải rất cố gắng và nghiêm túc với chính

mình trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có khâu chuẩn bị, thiết kế

bài giảng

Trang 8

- Để thực hiện được quá trình nêu trên rất cần các giáo viên tham gia dạy đội

tuyển phải có khả năng soạn, dạy chuyên đề sâu Đội ngũ này cần có sự đồng bộ

nhất định về chuyên môn khi tiến hành bồi dưỡng, tôi phân công cụ thể, rõ ràng

chuyên đề để khả năng và thế mạnh của từng giáo viên đều được phát huy

- Trong kế hoạch, tôi dự kiến tên các chuyên đề cần ôn luyện, số tiết cho

từng chuyên đề, thời gian thực hiện, giáo viên thực hiện, thời gian kiểm tra chất

lượng…Điều này tạo sự chủ động trong công tác bồi dưỡng, không gặp phải tình

trạng dạy chồng chéo hay nhồi nhét học sinh vào giai đoạn cuối mà bỏ thời gian

chết trong giai đoạn đầu như các năm trước đó

7.2.3 Dạy học – Bồi dưỡng

7.2.3.1 Cung cấp kiến thức cơ bản qua một số chuyên đề quan trọng gắn với

chương trình thi

- Đối với bồi dưỡng học sinh giỏi, việc dạy bồi dưỡng theo các chuyên đề là

điều cần thiết và nên làm nhiều nhất để cung cấp kiến thức cho học sinh đồng thời

giúp các em rèn luyện kĩ năng làm bài tốt hơn

- Qua theo dõi cách ra đề của Sở trong những năm gần đây, tôi nhận thấy cấu

trúc đề thường là 02 câu, gồm hai phần là nghị luận xã hội và nghị luận văn học,

trong đó nghị luận văn học chiếm 2/3 số điểm của đề bài Vì vậy, trong những năm

qua tôi đã biên soạn và dạy cho học sinh một số chuyên đề chính cho ba khối lớp

như sau: ( Tùy theo khối lớp được phân công giảng dạy để chọn chuyên đề bồi

dưỡng)

1 Kĩ năng làm văn nghị luận xã hội

2 Kĩ năng làm văn nghị luận văn học

3 Lí luận văn học

4 Văn học dân gian Việt Nam

5 Văn học trung đại Việt Nam

6 Thơ mới 1930-1945

7 Văn xuôi lãng mạn 1930-1945

8 Văn xuôi hiện thực 1930-1945

9 Thơ cách mạng trước 1945

Trang 9

- Với các chuyên đề trên, trong từng tiết dạy tôi lại chia nhỏ từng vấn đề cụ

thể để học sinh dễ nắm bắt Biết rằng phương pháp để tiếp nhận và tìm hiểu văn

học vô cùng phong phú, khó có thể nói hết được, mỗi giáo viên bồi dưỡng và

người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm nhận riêng Song trong khuôn khổ

của sáng kiến này, tôi xin trao đổi một vài kinh nghiệm trong một số chuyên đề:

* Chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận xã hội

Khi dạy chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận xã hội tôi chia nhỏ làm hai

dạng đề chính là nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng

đời sống Ngoài ra, hướng dẫn học sinh tập luyện thêm dạng đề nghị luận một vấn

đề xã hội trong tác phẩm văn học hoặc trong các câu chuyện ngụ ngôn Với mỗi

dạng, tôi lần lượt cho học sinh ôn lại khái niệm, dàn ý chung gắn với bố cục của bài

làm, giới thiệu một số dạng đề, yêu cầu học sinh xác định yêu cầu của đề, lập dàn ý

rồi sau đó giáo viên củng cố lại Cuối cùng giao bài tập cho học sinh về nhà làm

Ví dụ khi dạy về kĩ năng làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống,

trước tiên tôi cho học sinh ôn lại để nắm vững khái niệm về hiện tượng đời sống

Dạng này có cả hiện tượng tích cực và hiện tượng tiêu cực, có thể chú ý một số vấn

đề lớn như:

- Ô nhiễm môi trường

- An toàn giao thông

- Bạo lực học đường, bạo lực gia đình

- Tiêu cực trong thi cử

- Chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật

- Bệnh vô cảm

- Tấm gương người tốt việc tốt

- Hiến máu nhân đạo

Trang 10

- Tiếp sức mùa thi

Sau đó tôi nhắc lại dàn ý chung của kiểu bài này, cụ thể gồm các bước

+ Mô tả thực trạng (có thể giải thích nếu cần)

+ Bàn luận về nguyên nhân, hậu quả, giải pháp (Phân tích, ca ngợi những

mặt đúng, phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch)

+ Rút ra bài học nhận thức và hành động

- Giới thiệu một số dạng đề thường gặp cho học sinh tập viết, ôn luyện

Đề 1

Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng sau:

“Mới đây, dư luận lại xôn xao về một cô thiếu nữ có “khuôn mặt ưa nhìn”

đã phô ra trên Facebook cả một loạt ảnh ngồi ghếch chân trên bia mộ liệt sĩ ”

(Theo Nỗi sợ hãi không muốn “học làm người” - Mục Góc nhìn của nhà thơ

Trần Đăng Khoa - Tuổi trẻ và đời sống, số 152 ngày 14/1/2013).

* Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Bàn về hiện tượng một thiếu nữ cho cả thế giới

“chiêm ngưỡng” Đây là hiện tượng thể hiện hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi

ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

- Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận

- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Đời sống xã hội

* Lập dàn ý

a Mở bài

Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận

b Thân bài

- Giải thích hiện tượng

Hiện tượng cô gái xinh đẹp ngồi ghếch chân lên bia mộ liệt sĩ thể hiện hành

vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ

nguồn” của dân tộc ta

- Bàn luận hiện tượng

Trang 11

+ Thực trạng: Hiện nay tình trạng một bộ phận thanh, thiếu niên có suy nghĩ

và hành động lệch lạc, có hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền

thống đạo lí… không ít (dẫn chứng cụ thể từ đời sống, lấy thông tin trên các

phương tiện truyền thông)

- Nguyên nhân:

+ Khách quan: thiếu vắng mối quan tâm, sự giáo dục của gia đình và nhà

trường Những ảnh hưởng của phim ảnh, intrernet, sự tràn lan của lối sống cá nhân

thích làm nổi, thích gây sốc để nhiều người biết đến…

+ Chủ quan: Nhiều thanh thiếu niên tuy được sinh ra và lớn lên ở môi trường

giáo dục tốt nhưng lại có suy nghĩ và hành động lệch lạc, bởi họ không có ý thức hoàn

thiện mình cũng như tự bồi đắp tâm hồn mình bằng những cách cư xử có văn hóa

- Hậu quả của hiện tượng:

+ Gây xôn xao, bất bình trong dư luận, làm tổn thương, xúc phạm đến những

giá trị đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo lí tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” ,

tác động không tốt đến giới trẻ

+ Bản thân người trong cuộc phải gánh chịu những lên án, bất bình của dư

luận xã hội

- Giải pháp khắc phục:

+ Nâng cao nhận thức ở giới trẻ: nhà trường và đoàn thanh niên cần thường

xuyên tổ chức các diễn đàn để tuyên truyền, giáo dục thanh niên về lối sống đẹp và

giữ gìn truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”

+ Những hình ảnh phản cảm trên cần được dư luận phê phán quyết liệt, gia

đình và nhà trường phải nghiêm khắc, nhắc nhở

- Rút ra bài học nhận thức và hành động

c Kết bài

Bày tỏ ý kiến riêng về hiện tượng xã hội vừa nghị luận

- Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị

đạo đức, văn hóa, đặc biệt là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”

- Kiên quyết lên án và ngăn chặn những biểu hiện của lối sống vô cảm, thiếu

văn hóa để xã hội lành mạnh, tiến bộ hơn

Trang 12

Đề 2

Trong bài nghị luận về vấn đề “Học phương pháp học”, một học sinh lớp 12

đã viết: “Em sẽ cố gắng thay đổi cách học bài, dù có pùn ngủ mún chit cũng phải

giải quyết hết bài tập ” Một học sinh khác gửi email cho cô giáo: “Cô ơi, dạo

này em có nhìu chiện rắc rối xảy ra wa’ nên giờ em hết tự tin giải quyết như hồi

trước rồi! đời hs có thật là lắm vui buồn ko cô? hồi trước cô có giống tụi em bi h

ko? em thấy xh càng phát triển thì sự hỉu bik của con người cũng tăng lên Tuổi

còn nhỏ nhưng đã hỉu quá nhìu điều vượt ngoài lứa tuổi h thì các bạn em và ngay

cả em cũng đang gặp rắc rối với chính suy nghĩ của mình ”.

Từ ví dụ trên ,anh/ chị có suy nghĩ gì về cách sử dụng tiếng lóng hay còn gọi

là “ngôn ngữ chát”, “ngôn ngữ mạng” của giới trẻ hiện nay?

* Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Bàn về thói quen sử dụng tiếng lóng trên mạng, còn

gọi là “ngôn ngữ chat”, “ngôn ngữ SMS”, “ngôn ngữ @”,…

- Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội

* Lập dàn ý

a Mở bài

Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận

b Thân bài

- Giải thích hiện tượng

+ Tiếng lóng trên mạng, ngôn ngữ chat, ngôn ngữ SMS, ngôn ngữ @ là

tên gọi chung của hình thức chữ viết không theo chuẩn tiếng Việt mà giới trẻ đang

sử dụng trên mạng thông qua máy vi tính hoặc điện thoại di động

+ Đây là hình thức ngôn ngữ được giới trẻ sáng tạo ra một cách tùy tiện

- Phân tích, chứng minh hiện tượng:

+ Thực trạng :

 Lúc đầu xuất hiện trên mạng trên điện thoại, chat trên máy tính, nay lan dần

sang các lĩnh vực khác như nói, viết các loại văn bản khác nhau trong sinh

hoạt và học tập

Trang 13

 Lớp trẻ mắc phải nhiều nhất Nguy hiểm hơn, căn bệnh này là căn bệnh mới

trong học đường và lây lan rất mạnh Nhiều thầy cô, nhiều phụ huynh, nhiều

Sở giáo dục đã lên tiếng về việc này trên các phương tiện thông tin

 Hiện tượng này lan dần theo thời gian Đến nay, trở thành một thói quen

trong một bộ phận không nhỏ của lớp trẻ hiện nay

- Nguyên nhân của hiện tượng trên

+ Do tiết kiệm thời gian khi “chat” mạng

+ Do tuổi trẻ nhạy bén với cái mới và muốn có một thế giới riêng, hoặc

muốn tự khẳng định mình hoặc nũng nịu với bạn bè và người thân cho vui

+ Do tuổi trẻ vô tư, vô tình không thấy hết tác hại của hiện tượng trên…

+ Do giới trẻ không được nhắc nhở kịp thời

- Hậu quả của hiện tượng trên:

+ Tạo nên một thói quen nói và viết chệch chuẩn, làm mất đi sự trong sáng,

giàu đẹp của tiếng Việt, hủy hoại giá trị truyền thống

+ Ảnh hưởng đến tư duy, ảnh hưởng đến tâm lí của lớp trẻ Đó là thói xấu

nói năng, tư duy một cách tùy tiện, cẩu thả…

- Cách khắc phục hiện tượng trên

+ Giải thích thuyết phục lớp trẻ thấy được rằng sự vô tình của mình có thể

gây nên một tác hại khó lường

+ Giáo dục giới trẻ biết chọn lọc hiện tượng này và sử dụng đúng lúc đúng

chỗ không được sử dụng tràn lan trong sinh hoạt và học tập

- Rút ra bài học nhận thức và hành động

c Kết bài

- Không đồng tình với những hành vi trên

- Cẩn thận trọng khi tiếp xúc với những hiện tượng mới phát sinh trong cuộc

sống hiện đại Nhất là khi những hiện tượng này mâu thuẫn với những giá trị

truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời

- Vì vậy, yêu cầu phải có cách ứng xử phù hợp với tính chất của từng hiện

tượng để tiếp thu những cái mới mẻ, nhưng cũng không hủy hoại những giá trị

truyền thống

Trang 14

- Ở dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học:

Đây là dạng đề rất mới Dạng đề này vừa rèn luyện đồng thời năng lực đọc

hiểu văn bản văn học vừa rèn luyện năng lực làm văn nghị luận xã hội Đặc điểm

của dạng đề này là dựa vào những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc nào đó đặt ra

trong tác phẩm văn học rồi phát biểu, bàn luận về ý nghĩa của vấn đề đó Vấn đề có

ý nghĩa xã hội có thể lấy ở hai nguồn, đó là trong tác phẩm văn học đã được học

trong chương trình hoặc từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà

chúng ta chưa được học Nhiều học sinh đã nhầm dạng đề này là đề nghị luận văn

học vì đề thực tế có liên quan đến tác phẩm văn học, xuất phát từ tác phẩm văn

học Tuy nhiên tác phẩm văn học trong dạng đề này chỉ là cái cớ, khởi đầu còn

mục đích chính ở đây là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề tư

tưởng đạo lí nhân sinh, nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học mà bàn

luận, kiến giải Trong trường hợp này tác phẩm văn học chỉ được khai thác về giá

trị nội dung, tư tưởng để rồi rút ra ý nghĩa xã hội có tính khái quát của tác

phẩm.Tác phẩm nào cũng có ý nghĩa xã hội nhất định, điều quan trọng là vấn đề xã

hội đó phải có tính thời sự, tính giáo dục sâu sắc, phải phù hợp với tâm lí tuổi trẻ

học đường Khi hướng dẫn học sinh làm kiểu bài này, tôi lưu ý học sinh chú ý kĩ

các bước làm bài trong phần thân bài để tránh sự nhầm lẫn

+ Phần một: Phân tích văn bản văn học (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu

chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện)

+ Phần hai (trọng tâm): Phát biểu những suy nghĩa của bản thân về vấn đề xã

hội có ý nghĩa trong tác phẩm đó

Lưu ý: Khi từ “phần phụ” chuyển sang “phần trọng tâm” cần phải có những câu văn

“chuyển ý” thật ấn tượng và phù hợp để bài làm được logic, mạch lạc, chặt chẽ

MỘT SỐ ĐỀ MINH HỌA

Đề 1

Những vết đinh

Một cậu bé rất thông minh nhưng ngặt một nỗi cậu rất nóng tính và hay cáu

gắt với mọi người Một hôm cha cậu gọi cậu đến và đưa cho cậu một gói đinh và

bảo rằng: “Mỗi khi con sắp nổi nóng lên hay sắp cáu gắt với mọi người thì con hãy

Trang 15

lấy một cây đinh mà đóng lên bức tường rào gỗ kia” Nghe lời bố, cậu bé mỗi khi

sắp cãi nhau với một ai đó thì cậu lấy một chiếc đinh đóng vào hàng rào Ngày đầu

tiên, cậu bé đã đóng tất cả 27 chiếc đinh Nhưng vài tuần sau cậu bé đã tập kiềm

chế cơn giận của mình và số lượng đinh mà cậu đóng lên hàng rào ngày càng ít đi

Cậu đã nhận ra rằng kiềm chế cơn giận của mình còn dễ hơn là phải đóng những

chiếc đinh lên hàng rào Rồi đến một hôm, cậu cũng đã không nổi giận một lần nào

trong suốt một ngày Cậu bé vui mừng đến thưa với bố, người bố chỉ mỉm cười và

nói: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một

lần, con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào” Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng

đến một hôm cậu bé hãnh diện tìm cha mình và báo rằng không còn một cây đinh

nào trên hàng rào nữa Khi đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng

con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào Hàng rào đã không còn như

xưa nữa Nếu con làm điều gì trong giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như

những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người khác

Cho dù sau đó con có xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó cũng mãi còn

Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn vết thương thể xác

Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý Họ giúp con cười và

giúp con mọi chuyện Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và

luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con Hãy nhớ lấy lời cha”

Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của câu chuyện trên

* Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Qua câu chuyện Những vết đinh, rút ra bài học có ý

nghĩa: Hãy luôn biết kiềm chế bản thân bởi hành động hay lời nói trong lúc nóng

giận rất dễ sẽ làm tổn thương người khác

- Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội

* Lập dàn ý

a Mở bài

Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận

b Thân bài

Trang 16

- Phần một: Phân tích ngắn gọn nội dung câu chuyện để rút ra ý nghĩa của

vấn đề:

+ Khi nổi nóng cậu bé đóng một cây đinh lên hàng rào => Cậu bé đã biết tự

kiềm chế những nhược điểm của mình

+ Khi không còn nóng giận nữa, tự nhổ những chiếc đinh ra khỏi hàng rào

nghĩa là cậu bé sửa chữa được những khuyết điểm của bản thân

+ Tuy nhiên những lỗ đinh thì mãi vẫn còn in dấu trên hàng dào không bao

giờ xoá được, chính là những vết thương tinh thần khó lành trong lòng người khác

do lỗi nóng giận của ta gây lên

=> Bài học rút ra từ câu chuyện: Hãy luôn biết kiềm chế bản thân bởi hành

động hay lời nói trong lúc nóng giận rất dễ sẽ làm tổn thương người khác

- Phần hai: Phát biểu những suy nghĩa của bản thân về vấn đề xã hội có ý

nghĩa trong tác phẩm đó

Câu chuyện tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, bởi:

+ Trong cuộc sống hàng ngày, trong những lúc giận dữ, ta thường không

kiểm soát được bản thân do đó dẫn đến có những hành động và lời nói thái quá xúc

phạm đến thể và tinh thần người khác

+ Vết thương tinh thần nhiều khi còn đau hơn vết thương về thể xác Những

người xung ta, bạn bè ta là những gì vô cùng quý giá đừng làm tổn thương họ vì sự

thiếu kiềm chế của bản thân mình Trong ứng xử giao tiếp với mọi người khi mắc

khuyết điểm hãy biết nhận lỗi và cần phải biết sửa lỗi

+ Không phải vì thế mà luôn phạm phải sai lầm mà phải biết kiềm chế bản thân

để tránh làm tổn thương người khác Bởi một khi đã làm tổn thương tinh thần người

khác khó có thể hàn gắn được mối quan hệ cũng như bát nước hắt đi khó có thể lấy lại

cho đầy Cho nên ông cha ta cũng đã khuyên “Một sự nhịn là chín sự lành”

+ Tuy nhiên kiềm chế bản thân cũng không phải dễ dàng cho nên phải kiên

trì rèn luyện Trong quan hệ ứng xử với mọi người, mọi lúc, mọi nơi, từ việc lớn

đến việc nhỏ phải luôn biết vượt lên khỏi cái tôi cá nhân, lắng nghe và tôn trọng

người khác Đây chính là biểu hiện của một lối sống văn minh, lối sống mang ý

nghĩa nhân văn tốt đẹp

Trang 17

c Kết bài

Rút ra bài học và liên hệ với bản thân

Đề 2

Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, tác giả Lưu Quang Vũ đã để

nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình là: “Không thể bên ngoài một

đằng, bên trong một nẻo được”

* Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Qua vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, rút ra bài

học con người cần phải có sự hài hòa về hình thức bên ngoài và tâm hồn bên trong

Không thể bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo được

- Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội

* Lập dàn ý

a Mở bài

- Cuộc sống thật phong phú, đa dạng, phức tạp, chúng ta luôn tự hỏi: Sống

thế nào cho đúng? Làm thế nào để có một cuộc sống đẹp? Hãy sống là chính mình,

trung thực, chân thật, thẳng thắn, không giả dối và giàu lòng nhân ái

- Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang đã để nhân vật

Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình: “Không thể bên ngoài một đằng, bên

trong một nẻo được”

b Thân bài

* Giải thích ý nghĩa câu nói:

- Bên trong: Là thế giới nội tâm của con người (gồm nhận thức, tư tưởng,

khát vọng) Đây là phần làm nên ý thức, chất người cao quý trong con người Nếu

thế giới bên trong đạt được sự toàn vẹn, hoàn thiện, con người sẽ có được những

phẩm chất tốt đẹp, quý giá, sống một đời sống tinh thần phong phú, sâu sắc Đây là

phần mà người ta không nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận qua tiếp xúc, tìm

hiểu và gắn bó

- Bên ngoài: là cái có thể quan sát, nhận biết bằng thị giác (gồm hình thức,

hành vi, lời nói, việc làm)

Trang 18

- Quan hệ giữa bên ngoài và bên trong: Thường là quan hệ thống nhất – cái

bên ngoài là biểu hiện cụ thể của cái bên trong và ngược lại, cái bên ngoài cũng

được cái bên trong quy định, chi phối

- Bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo: Không có sự hài hòa, thống nhất của

bên ngoài và bên trong, tức là lời nói, việc làm không thống nhất với suy nghĩ, tình

cảm, nhận thức Sự không thống nhất này khiến con người rơi vào tình trạng sống giả

tạo, trở nên lệch lạc, mất thăng bằng Dù ở trường hợp nào cũng đều là bi kịch

- Ý nghĩa câu nói của Trương Ba: Thể hiện một quan niệm sống đúng đắn:

Cần phấn đấu để đạt sự hài hòa, cân bằng giữa nhận thức, hành vi, giữa cái bên

trong với cái bên ngoài Mỗi người hãy sống là mình, luôn làm chủ bản thân cả về

thể xác lẫn tinh thần Đó là cách sống để con người đạt được sự thanh thản

* Phân tích, chứng minh ý nghĩa câu nói:

- Thực tế cuộc sống của Trương Ba:

+ Bên trong: Gắn liền với phần hồn Trương Ba - một người làm vườn chăm

chỉ, cần cù, tinh tế đã nâng niu chăm sóc vườn cây, một con người mẫu mực, sống

đạo đức và giàu tình nghĩa với vợ con, với cháu nội, với láng giềng xung quanh Đó

là những phẩm chất quý giá khiến Trương Ba được mọi người nể trọng, quý mến

+ Bên ngoài: Gắn liền với xác hàng thịt - một con người thô bạo, tham lam,

coi trọng sự hưởng thụ vật chất

+ Vì một sự nhầm lẫn nên cả hai con người này đã bị đẩy vào một tình

huống éo le: hồn Trương Ba phải sống nhờ trong xác anh hàng thịt Vấn đề là ở

chỗ: hồn Trương Ba vẫn có những nhu cầu về tinh thần song lại không thể điều

khiển xác anh hàng thịt - tuy chỉ là xác thịt âm u đui mù song vẫn có tiếng nói

riêng, vẫn đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu về vật chất Cả nhu cầu về vật chất và

nhu cầu về tinh thần đều tự nhiên, chính đáng song trong trường hợp này lại trở

nên mâu thuẫn, không thể tồn tại

+ Kết quả: Trong sự xung đột, nhu cầu thể xác lại có phần thắng thế và cái

thể xác phàm tục kia lại có thể lên tiếng nhạo báng nhu cầu cao quý của linh hồn

Đây là một điều phi lí và đau lòng bởi phần xác đã xúc phạm, đã làm tổn thương

đến phần hồn

Trang 19

- Trong cuộc sống con người hiện nay:

+ Ở một số người có sự hòa hợp giữa bên trong và bên ngoài Đó là khi cái

bên trong - đời sống tinh thần - thật sự mạnh mẽ để tạo thành một bản lĩnh sống,

bản lĩnh văn hóa để có thể chi phối, điều khiển lời nói, việc làm để cái bên ngoài

thật sự là sự biểu hiện của cái bên trong Khi ấy, con người được sống là mình, con

người khẳng định được cái tôi của bản thân, đồng thời cũng tạo cho mình một khả

năng để chinh phục, thu hút người khác, tức là không chỉ sống tốt mà còn được

mọi người yêu mến

+ Có một bộ phận không nhỏ những người không tạo được sự hài hòa giữa

bên ngoài và bên trong:

 Bên trong tốt đẹp, có nhân tính, có lương tâm, có khả năng nhận thức, hiểu

biết nhưng không thắng được hoàn cảnh, bị hoàn cảnh xô đẩy đến chỗ có

những hành vi trái với lương tâm, trái với chuẩn mực đạo đức Đó là trường

hợp con người phải sống kệch lạc, mất thăng bằng

 Bên trong kém cỏi, tầm thường song ở vào vị trí buộc mình phải tỏ ra có đạo

đức, có hiểu biết, có tình cảm cao thượng Đó là trường hợp con người phải

sống giả tạo

* Đánh giá, bàn bạc:

- Mỗi người cần trang bị cho mình nhận thức, hiểu biết để có thể phân biệt

đúng - sai, rèn luyện bản lĩnh để có thể tự kiểm soát mọi hành vi, để không chạy

theo dục vọng tầm thường, không sa đà vào lối sống buông tuồng, dung tục Bên

cạnh đó, cần quan tâm đến bản thân mình, quan tâm đến những nhu cầu, nguyện

vọng chính đáng dù là bình thường nhất để được sống một cách thoải mái, tự nhiên

- Phương châm sống đúng đắn: Cố gắng tìm sự hài hòa giữa nhu cầu về tinh

thần và nhu cầu về vật chất để tạo nên một cuộc sống cân bằng và nghiêm túc với

bản thân mình, tạo cho mình quyền được hạnh phúc

c Kết bài

Cuộc sống đầy những khó khăn, phức tạp, đầy những cám dỗ, có khi người

ta mắc phải những sai lầm, vấp ngã Hãy dũng cảm đối diện với sự thật để vươn

lên Hãy trung thực, thẳng thắn với bản thân, không “nói một đằng làm một nẻo”,

Trang 20

giả dối với mọi người và chính mình Hãy luôn cảnh giác với “kẻ thù của chính

mình”, vượt qua nó để chiến thắng hoàn cảnh, sống là mình

* Chuyên đề lí luận văn học

Khi dạy chuyên đề lí luận văn học, tôi đặc biệt quan tâm bởi vì đối với bài

văn của học sinh giỏi nếu kiến thức lí luận được vận dụng tốt kết hợp với khả năng

đọc – hiểu, cảm thụ thì bài viết sẽ trở nên chắc chắn, sâu sắc và thuyết phục Song

trong thực tế, bài làm của học sinh thường bỏ ngỏ phần lí luận văn học do thiếu hụt

hoặc được cung cấp tri thức lí luận văn học rất sơ sài trong số giờ qui định hạn chế

của cấp học nên việc thực hành gặp rất nhiều khó khăn Vậy khi bồi dưỡng cho học

sinh tri thức này cần làm rõ các đơn vị tri thức nào? Mức độ bồi dưỡng ra sao? Đây

là việc làm không dễ Trong quá trình dạy, tôi thường bồi dưỡng cho học sinh

những kiến thức lí luận sau:

- Kiến thức tác phẩm văn học: Ở phần này cần đi sâu và làm rõ

+ Qui luật hình thành của tác phẩm văn học và đặc trưng của văn học.

+ Đặc trưng của ngôn ngữ tác phẩm văn chương (Làm rõ các lớp nghĩa như:

Đề tài, chủ đề, cảm hứng, thế giới quan, nhân sinh quan, sắc điệu thẩm mĩ của tác

phẩm)

- Kiến thức thể loại tác phẩm: Cần làm rõ hai đơn vị kiến thức cơ bản

+ Cơ sở để phân loại thể loại tác phẩm văn học.

+ Đặc trưng của từng thể loại (Đây là kiến thức trọng tâm).

Từ những kiến thức trên giúp học sinh cảm thụ đúng nhất tác phẩm văn học

- Nhà văn và quá trình sáng tạo: Ở đơn vị kiến thức này cần bồi dưỡng cho

học sinh:

+ Vai trò của nhà văn với cuộc sống.

+ Những phẩm chất cần có của nhà văn (Năng khiếu, vốn văn hóa, vốn sống,

đặc biệt phải có tư tưởng độc đáo)

+ Quá trình sáng tạo (Từ cảm hứng đến ý đồ sáng tạo, sử dụng vốn hiểu biết

để sáng tạo tác phẩm)

Trang 21

Đây là những tri thức tạo cơ sở cho việc khám phá hiện tượng văn học, sáng

tác văn học của mỗi tác giả đúng hướng nhất

- Các giá trị văn học và tiếp nhận văn học:

+ Các giá trị văn học: Giá trị về nhận thức, giá trị về tư tưởng, tình cảm, giá

trị về thẩm mĩ

+Tiếp nhận văn học: Chú ý đến đồng sáng tạo của người đọc với tác phẩm,

tác giả

Ở phần này cần bồi dưỡng cho học sinh cách nhìn nhận khái quát đối với

mỗi tác phẩm văn học đồng thời giúp học sinh tự tin và sáng tạo khi tiếp xúc, thực

hành về tác phẩm văn học

- Ngoài ra, tôi còn cung cấp cho học sinh một số vấn đề, khái niệm thường

gặp và liên quan đến các tác phẩm học trong chương trình như: Phong cách nghệ

thuật, không gian và thời gian nghệ thuật, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, chất thơ

trong văn xuôi, tính sử thi và cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng…

Bồi dưỡng những kiến thức lí thuyết về lí luận văn học, chúng ta đã cung

cấp cho học sinh một lối tư duy khoa học Song việc vận dụng nó như thế nào là

việc làm có tính chất quyết định Bồi dưỡng kĩ năng vận dụng thực hành kiến thức

lí lận văn học vào viết bài cũng tuân thủ theo nguyên tắc chung khi làm bài nghị

luận Kĩ năng này bao gồm: Kĩ năng nhận thức đề, kĩ năng xác định các luận điểm,

kĩ năng triển khai ý, kĩ năng hành văn (trong đó Kĩ năng nhận thức đề, kĩ năng xác

định các luận điểm là cơ bản nhất):

 Bồi dưỡng kĩ năng lí luận vào việc nhận thức đề

+ Đề văn, đặc biệt là đề lí luận văn học thường được diễn đạt khúc chiết,

bóng bẩy Vì thế đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy trừu tượng khái quát và

tư duy phân tích ở một trình độ nhất định thì mới có thể nhận thức đúng, đủ yêu

cầu của đề

+ Nếu nhận thức đề không đủ sức khái quát, bài viết sẽ rơi vào tự hạn hẹp

vấn đề; nếu đi quá xa sẽ làm cho bài viết rơi vào chung chung, dông dài, xa đề

thiếu tập trung

Trang 22

+ Khi nhận thức đề, ngoài việc xác định kiểu nghị luận, phạm vi kiến thức,

tôi thường lưu ý học sinh phải xác định rõ vấn đề cần bàn luận Thậm chí, khi đã

xác định được vấn đề cơ bản vẫn có thể bỏ quan hệ giữa các ý

Ví dụ khi nhận thức đề sau:

Đề 1: Nhà văn Nga M.Gorki, trong một bức thư gửi cho nhà đạo diễn Xtanixlapxki

năm 1912 có viết:

“Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng - chủ quan - của

mình, tìm thấy trong ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn

tượng ấy có được hình thức riêng”.

Hãy phân tích một số bài thơ để làm sáng tỏ chất nghệ sĩ độc đáo theo quan

niệm của M.Gorki

Để nhận thức đúng, đủ đề văn này, học sinh cần nắm được các kiến thức nhà

văn và quá trình sáng tạo, nắm vững một số bài thơ của các tác giả lớn, có phong

cách nổi bật trong nước và nước ngoài Từ hiểu biết cơ bản như vậy các em sẽ

nhận thức đúng yêu cầu của đề văn, tạo cơ sở hình thành bài viết

 Bồi dưỡng kiến thức lí luận để xác định các luận điểm, mối quan hệ giữa

các luận điểm:

Các luận điểm được xác lập nhờ vào chỉ dẫn hoặc khái quát, hoặc cụ thể từ

đề văn đã cho Đối với đề có chỉ dẫn tương đối cụ thể thì ứng với mỗi mệnh đề, tôi

hướng dẫn học sinh xác lập một luận điểm, sau đó chỉ ra mối quan hệ giữa

chúng( nếu có) Đối với đề được diễn đạt súc tích, bóng bẩy thì phải dùng tri thức

lí luận và các đơn vị tri thức khác cùng với tư duy trừu tượng để xác định các luận

điểm Cũng có thể luận điểm được gợi ý từ kiểu bài nghị luận Chẳng hạn với đề

sau:

Đề 2: Người ta thường nói “Người đọc là người đồng sáng tạo với tác giả”.

Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên

- Đây là đề văn được thể hiện bằng một ẩn dụ về tính sáng tạo trong tiếp

nhận của người đọc, người tiếp nhận văn học Lí luận về tiếp nhận văn học đề cao

tính sáng tạo trong tiếp nhận của người đọc Sự sáng tạo đó làm tác phẩm được

cảm nhận đúng hơn, sâu sắc hơn, sống động hơn Trong trường hợp này, việc xác

Trang 23

định luận điểm cho bài viết được gợi ý từ kiểu nghị luận (Kiểu bài bình luận, dạng

phát biểu ý kiến) Luận điểm cần được xác lập gồm: Luận điểm thể hiện cách hiểu

(Giải thích) và các luận điểm nêu suy nghĩ, ý kiến

- Để cụ thể hóa các luận điểm, có thể xác lập như sau:

Luận điểm 1: Tiếp nhận văn học là gì? Vai trò của người đọc trong quá trình

Khi học sinh đã có những tri thức và kĩ năng cần thiết, tối thiểu về lí luận

văn học, tôi thường để học sinh tiếp xúc và giải quyết một số đề văn cụ thể

 Đặc biệt, cần cho HS nắm vững các kiến thức lí luận về thể loại thơ trên

các phương diện:

*Đặc trưng của thơ và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ

+ Quan niệm và phân loại

Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau

về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được tất cả mọi đặc trưng của

thể loại này Quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học

phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng

ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ văn

học, Nxb ĐHQG, H, 1999)

- Các thể thơ Việt Nam có thể phân loại thành 3 nhóm chính:

+ Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói

+ Các thể thơ Đường luật: ngũ ngôn, thất ngôn (tứ tuyệt, bát cú)

+ Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp tự do, thơ

-văn xuôi

Trang 24

+ Đặc trưng của thơ

- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình Thơ

tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng

tượng phong phú, yếu tố trữ tình giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm Thơ là tiếng nói

của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời Thơ chú

trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan Lê

Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố

Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã ứ đầy” Nhà thơ Pháp

Alfret de Mussé chia sẻ: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc

bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung

động" Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có Nói về điều này, nhà văn

M Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm Tình cảm

trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn

độc, tự nó nảy sinh và phát triển Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm

xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên Không có cuộc

sống, không có thơ”.

- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người

trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện Nhân vật trữ

tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà

thơ Tuy vậy, không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả

- Những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tại và

mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối

dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này Thơ thường

không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít nhất một sự kiện làm nảy

sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bản thơ là sự thể

hiện của niềm rung động ấy

- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự,

kịch) Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông

qua hình tượng thơ Cảm xúc dồn nén, nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ

chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại” Do đó, thơ tạo

Trang 25

điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống,

khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả

cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ

- Mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự sắp xếp các dòng thơ,

câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình Đồng thời, sự

hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nên

tính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của

văn bản thơ Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ

hình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được

thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu

tượng thơ gợi lên Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều

khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải

chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý

thơ bên trong

- Ngôn ngữ thơ có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác, tinh luyện,

tính hình tượng và tính biểu cảm Thơ phát huy tính nhạc phong phú của tiếng

Việt Thơ là thơ nhưng thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ, thanh âm của

âm nhạc và hình khối của chạm khắc (điêu khắc) Nhà thơ phải có phong cách

nghệ thuật độc đáo Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, sử dụng riêng vốn ngữ toàn

dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật để đưa vào bài thơ Nhà thơ còn được

gọi là "phu chữ"

Từ những đặc trưng của thơ, thi sĩ Sóng Hồng có viết: “Thơ là một hình thái

nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện

sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cách

nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những

hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác

thường".

+ Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ

Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, cần tiến hành theo các bước sau đây:

Trang 26

- Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là

cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm

- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ Qua việc đọc, phải xác

định được chủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng:

cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình và

giọng điệu chủ đạo của bài thơ

- Cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết

cấu, các biện pháp tu từ,…

- Lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nội dung và nghệ

thuật Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tác giả (thể hiện qua tác phẩm)

cho thơ và cho cuộc sống con người

Tóm lại, sử dụng kiến thức lí luận vào giải quyết một đề lí luận văn học là

một việc làm khó, đòi hỏi người bồi dưỡng không những phải cung cấp tri thức lí

luận văn học một cách có hệ thống mà còn phải hướng dẫn học sinh sử dụng kiến

thức đó một cách hợp lí nhất mới có thể đạt được kết quả mong muốn

* Chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận văn học

- Trong chuyên đề này, tôi hướng dẫn học sinh nắm vững kĩ năng làm bài

của một số dạng đề cơ bản thường xuất hiện nhiều trong những đề thi học sinh giỏi

trong những năm gần đây: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học; nghị luận về

một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về một nhân vật văn học, một đoạn trích văn xuôi;

nghị luận về một vấn đề văn học…

- Sau khi dạy kĩ cách làm bài, cần ra các đề bài cụ thể để học sinh luyện tập

Có khi chỉ cần yêu cầu học sinh xác định yêu cầu của đề, tìm ý, lập dàn ý hay viết

phần mở bài, kết luận để rèn chắc kĩ năng cho các em

- Đặc biệt, ở cả hai chuyên đề kĩ năng làm bài nghị luận văn học và nghị

luận xã hội tôi thấy rất cần thiết phải rèn luyện tốt cho các em những kĩ năng cơ

bản sau

* Kĩ năng phân tích đề

Trang 27

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhận thức đề cho đúng và trúng: Có một

thực tế, nhiều học sinh khi đọc đề xong vội vàng viết ngay, đọc được gì viết đấy

Thực ra thì hoàn toàn không phải như vậy, nhất là đề văn hay, người ra đề ngoài

những yêu cầu bình thường, luôn “cài đặt” trong đó một ẩn ý sâu sắc cần đọc kĩ,

suy nghĩ mới phát hiện và đáp ứng được

Để giúp học sinh nhận thức chính xác đề văn cần đọc kĩ và trả lời một số câu

hỏi sau:

Thực chất đề bài nêu lên và buộc người viết bàn về vấn đề gì?

Đề văn này thuộc loại đề nào: Đề văn học sử; đề phân tích, cảm thụ tác

phẩm độc lập hay đề lí luận văn học? (Thực ra thì bất kì đề văn nào người viết

cũng sẽ phải vận dụng cả ba mảng kiến thức và năng lực trên)

Đề yêu cầu vận dụng những thao tác nghị luận nào? Tuy nhiên, văn nghị

luận là nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó, vì thế

người viết phải bằng mọi con đường, mọi thao tác nghị luận miễn là tập trung đi

đến đích cuối cùng Cho nên bất cứ đề nào cũng phải vận dụng tất cả các thao tác

nghị luận như giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh

Phạm vi kiến thức cần huy động và làm sáng tỏ ở đây là gì? Về lí luận văn

học? Về kiến thức văn học sử hay kiến thức về tác giả, tác phẩm? Kiến thức đời

sống và kinh nghiệm bản thân ?

* Kĩ năng hình thành ý

Để hình thành ý cho một đề văn, nhất là các đề văn kiểm tra kiến thức lí luận

văn học với thể loại giải thích, bình luận, giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

+ Phần đầu giải thích qua những thuật ngữ, khái niệm khó trong đề

+ Trả lời câu hỏi: Câu nói như thế nghĩa là thế nào?

+ Nói như thế có đúng không? Tại sao lại nói như thế? Căn cứ vào đâu?

+ Điều ấy thể hiện trong văn học và trong cuộc sống như thế nào?

+ Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? (Đối với nhà văn, đối với người đọc,

đối với lịch sử văn học )

Trên đây chỉ là một vài định hướng cơ bản, ở mỗi loại đề sẽ có những cách

hình thành ý khác nhau

Trang 28

* Kĩ năng lập dàn ý

Học sinh đề xuất những luận điểm hình thành cho bài viết, xác định mối

quan hệ giữa các luận điểm, luận điểm trọng tâm Sau đó sắp xếp các luận điểm

theo trình tự khoa học, chặt chẽ

Để làm tốt bước này, giáo viên có thể gợi ý:

- Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải

quyết có thể triển khai ở những phương diện, khía cạnh nào?

- Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò luận điểm: Những khía cạnh, phương

diện ấy có quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện rõ nét và tập

trung các yêu cầu của trọng tâm?

- Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các luận điểm cần được sắp xếp như thế nào để

đạt hiệu quả tối ưu?

Ví dụ: Cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt

đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân,

Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường

(SGK Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2014)

* Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát

vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên

cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm ra những nét đặc sắc trong cảm

hứng về đất nước của các tác giả

- Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận,

so sánh, bác bỏ

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Trong đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường

khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã

đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngoài ra cần sử dụng các tác

phẩm viết về quê hương đất nước trong các thời kì văn học

.* Lập dàn ý

Trang 29

Yêu cầu về kĩ năng:

Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học có bố cục rõ ràng, lập luận

chặt chẽ Biết cách chọn lọc và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị

luận Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng

từ, ngữ pháp, chính tả

Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứng

được những ý cơ bản sau:

**Giới thiệu chung.

- Cảm hứng về đất nước là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo xuyên suốt

các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam

- Nguồn cảm hứng này tiếp tục được kế thừa và phát triển mạnh mẽ trong Văn học

Việt Nam giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám với sự tham gia của một đội ngũ

sáng tác đông đảo Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm,

Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ

Ngọc Tường là những đoạn trích tiêu biểu cho nguồn cảm hứng này

**Giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề.

*Giải thích.

- Cảm hứng là một trong những phương diện nội dung tình cảm của tác phẩm văn

học Nếu đề tài, chủ đề là những khái niệm thể hiện phương diện khách quan của

nội dung tác phẩm thì cảm hứng là khái niệm thuộc về nội dung chủ quan của tác

phẩm gắn với chủ thể sáng tạo Cảm hứng được hiểu là tình cảm nghiêng về lẽ

phải, là niềm say mê khẳng định lẽ phải, chân lí, phủ nhận sự giả dối, xấu xa

Cảm hứng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm và biểu hiện chủ yếu qua

giọng điệu, ngữ điệu

- Ở đây, khái niệm cảm hứng được hiểu là cảm hứng chủ đạo – nguồn cảm

hứng bao trùm, được thể hiện nhất quán trong suốt tác phẩm (khác với cảm hứng

sáng tạo là cảm hứng khơi nguồn để người nghệ sĩ viết nên tác phẩm)

Trang 30

Cảm hứng về đất nước chủ yếu là cảm hứng về thiên nhiên, cuộc sống, con

người của đất nước Đó là tình yêu, niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về vẻ đẹp

thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp trong cuộc sống và con người Việt Nam; là nỗi đau

đớn xót xa khi thấy thiên nhiên, cuộc sống, con người của đất nước mình bị tàn

phá, huỷ hoại; là lòng căm giận kẻ thù đã giày xéo đất nước; là khám phá mới mẻ,

tiến bộ về đất nước với quan niệm: Đất nước của nhân dân

*Phân tích, chứng minh cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích.

Cảm hứng về đất nước được thể hiện trong việc miêu tả, tái hiện bức tranh

thiên nhiên tươi đẹp ở mỗi miền đất nước bằng một tình yêu say đắm, thiết tha

- Trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân:

Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên qua hình ảnh con Sông Đà với vẻ đẹp vừa hung bạo

vừa trữ tình

+ Vẻ đẹp hung bạo, dữ dội mang sức mạnh thiên nhiên kì vĩ với cảnh đá bờ sông

dựng vách thành, một khúc sông hẹp bị đá chẹt lại như cái yết hầu, mặt ghềnh Hát

Loóng sóng nước dữ dội, quãng Tà Mường Vát có những cái hút chết người,

những thác nước mà từ xa đã nghe thấy tiếng nước réo, những khúc sông đầy đá to,

đá bé như đang dàn thạch trận

+ Thiên nhiên nơi đây còn mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với Con Sông Đà tuôn

dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, nước Sông Đà mùa xuân dòng xanh ngọc

bích, mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ , vẻ đẹp mang một màu nắng tháng ba

Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”; hồn nhiên như một nỗi niềm cổ

tích tuổi xưa

- Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế được tập trung thể hiện qua hình ảnh dòng sông

Hương mang vẻ đẹp vừa phóng khoáng, man dại vừa thơ mộng, trữ tình

+ Vẻ đẹp mãnh liệt, dữ dội như bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây

đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác…, như một cô gái Di-gan phóng

khoáng và man dại

+ Vẻ đẹp duyên dáng đầy nữ tính như một người con gái đẹp đi tìm tình yêu đích

thực của mình, vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi

Ngày đăng: 13/08/2020, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn trường THPT – NXB 2. Giáo dục – H.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn trường THPT
Nhà XB: NXB 2. Giáo dục – H.2010
3. Lí luận dạy học tích cực – Lê Văn Lộc (chủ biên) – NXB ĐHQG – H.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học tích cực
Nhà XB: NXB ĐHQG – H.2011
4. Chuẩn kiến thức kĩ năng 10,11,12 – NXB Giáo dục – H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn kiến thức kĩ năng 10,11,12
Nhà XB: NXB Giáo dục – H.2009
5. Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn - NXB Giáo dục – H.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
Nhà XB: NXB Giáo dục – H.2011
7. Muốn viết được bài văn hay - NXB Giáo dục – H.2000 - Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay
Nhà XB: NXB Giáo dục – H.2000 - Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên)
6. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, lần thứ XVI – 2010 Khác
8. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, 2015 Khác
9. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w