Việc nghiên cứu về kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông sẽ làm rõ được hệ thống khái niệm cơ bản đồng thời xác định được mức độ các mặt biểu hiện của kĩ năng trên. Từ đó, đề xuất ra một số giải pháp giúp nâng cao kĩ năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông. Đặc biệt là ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, vẫn chưa có nghiên cứu nào về kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông. Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao kỹ năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động ngoại khóa môn GDCD
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 LỜI GIỚI THIỆU
Bước vào thế kỉ XXI, dưới sự bùng nổ của cuộc Cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại, nhiều phát minh và ngành nghề mới được ra đời để đáp ứngnhu cầu thực tiễn của xã hội Do đó người lao động có thêm nhiều cơ hội trongviệc lựa chọn lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với sở thích, nhu cầu, khả năng củamình
Lựa chọn nghề nghiệp là một vấn đề mang tính quyết định đối với cuộc sốngcủa mỗi người Để việc chọn lựa nghề nghiệp đƣợc thuận lợi và có hiệu quả,người lao động cần phải có kỹ năng trong việc định hướng nghề nghiệp
Kỹ năng định hướng nghề nghiệp là một kỹ năng quan trọng của mỗi cánhân trong xã hội Có kỹ năng định hướng nghề nghiệp tốt giúp người lao độngchọn lựa được công việc phù hợp, phát huy được năng lực của bản thân, đónggóp cho sự phát triển ngành nghề và xã hội Trái lại, thiếu kỹ năng định hướngnghề nghiệp sẽ dẫn đến hậu quả như chọn lựa sai ngành nghề, thay đổi nghềnghiệp thường xuyên, giảm năng xuất lao động, hao tổn chi phí, mất nhiều thờigian đào tạo…
Học sinh Trung học phổ thông là lực lượng lao động tương lai của xã hội.Ngoài việc trau đồi những tri thức, kỹ năng trong học tập tại nhà trường phổthông, học sinh còn cần phải có kỹ năng định hướng nghề nghiệp như là công cụgiúp chọn lựa và gắn bó với nghề sau khi ra trường Theo số liệu điều tra của sởLao Động – Thương binh – Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc cho biết: tỉ lệ học sinh, sinhviên tốt nghiệp muốn được làm việc với nghề lâu dài chỉ chiếm 30%; có 30 %học sinh, sinh viên muốn đổi nghề khác vì không phù hợp với năng lực, có đến
40 % học sinh, sinh viên chưa xác định được mục tiêu nghề nghiệp
Trang 2Trong số lao động trẻ của thành phố có 40 % sinh viên 1 chọn lựa sai ngànhhọc, học nghề không phù hợp với bản thân Từ những số liệu thống kê trên chothấy kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh vẫn còn hạn chế
Việc nghiên cứu về kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh Trunghọc phổ thông sẽ làm rõ được hệ thống khái niệm cơ bản đồng thời xác địnhđược mức độ các mặt biểu hiện của kĩ năng trên Từ đó, đề xuất ra một số giảipháp giúp nâng cao kĩ năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung họcphổ thông Đặc biệt là ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, vẫn chưa có nghiêncứu nào về kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao
kỹ năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động ngoại khóa môn GDCD
Giảng dạy các tiết ngoại khóa môn GDCD
6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ:
7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
* NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Phần I: MỞ ĐẦU
1 Mục tiêu
Trang 3- Nâng cao khả năng định hướng nghề nghiệp của HS THPT qua hoạtđộng ngoại khóa môn GDCD
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo đối với các GV, các nhà nghiêncứu, các nhà quản lí giáo dục
3 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến việc dạy học ngoại khóa
- Vận dụng dạy học ngoại khóa môn GDCD cho HS để thiết kế các hoạtđộng dạy học góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Dạy học ngoại khóa giúp HS nâng cao năng lực định hướng nghề nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung nghiên cứu: Áp dụng cho môn GDCD
+ Về khách thể nghiên cứu: HS trường THPT A năm học 2018 – 2019.+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4- Phương pháp phân tích, tổng hợp: thu thập, tổng hợp các kiến thức về cơ
sở lí luận của đề tài; về nội dung các môn học có thể tích hợp trong bài
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm này
vào tiết dạy cụ thể trên lớp Từ đó, đánh giá hiệu quả thực hiện từ không khí họctập trên lớp và kết quả học tập của HS
- Phương pháp thu thập và xử lí số liệu: Thông qua việc cho HS điền vào
phiếu đánh giá, làm bài kiểm tra, làm bài tập về nhà, GV thu thập được các sốliệu về kết quả học tập Từ đó, tiến hành xử lí số liệu, đưa ra kết quả tổng hợp đểđánh giá khách quan nhất hiệu quả từ việc áp dụng sáng kiến
- Phương pháp phỏng vấn: trao đổi với đồng nghiệp về việc áp dụng cách
thức này
6 Đóng góp mới của đề tài
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận về dạy học ngoại khóa trong việc địnhhướng nghề nghiệp HS
- Thiết kế các hoạt động ngoại khóa phù hợp với nội dung định hướng nghềtrong môn GDCD
- Đề tài là tư liệu tham khảo hiệu quả, thiết thực cho GV trong quá trìnhthực giảng
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, nội dung chính của đề tài được chia làm 3 phần:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO
KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HS THPT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN GDCD
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN GDCD
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG NGOẠI KHÓA MÔN GDCD NHẰM NÂNG CAO KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT HIỆN NAY
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI HỌC SINH THPT
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao kỹ năng định hướng nghề nghiệp đối với học sinh THPT trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm Giáo dục
Theo Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot (2011), có nhiều cáchhiểu khác nhau về giáo dục và mỗi khái niệm đều phản ánh một hoặc một vàichiều cạnh nhất định tùy theo mục đích nghiên cứu đề ra
Do vậy, khi bàn về nội hàm của thuật ngữ này, các nhà xã hội học đã tổnghợp tri thức của các ngành khoa học từ đó đưa ra lập luận rằng, mặc dù tồn tạinhiều cách hiểu, cách diễn tả, cách sử dụng ngôn từ khác nhau, nhóm tác giả chorằng:
Giáo dục là sự truyền đạt tri thức, kinh nghiệm lũy tích từ người này sangngười khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời nó cũng là quá trình lĩnhhội các tri thức mới Theo nghĩa này, giáo dục vừa mang tính chủ động, vừamang tính thụ động Tính chủ động của giáo dục thể hiện qua quá trình truyềngiao tri thức và tính thụ động của nó thể hiện qua quá trình tiếp thu tri thức đượctruyền giao
● Khái niệm nghề nghiệp
Theo Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot (2011), nghề nghiệp làmột khái niệm bao hàm 02 chiều kích, đó là cộng đồng và cá nhân Yếu tố cộngđồng miêu tả một nhóm xã hội, các nhà kỹ thuật và các nhà đào tạo của mộtnghề cụ thể, trong khi đó, yếu tố cá nhân đề cập đến kinh nghiệm, tri thức mà cánhân đó học được từ một nghề nào đó
Theo Descolonges (1996), khái niệm nghề nghiệp không đồng nhất với cáckhái việc làm, công việc, bởi chúng mang bản chất khác nhau Việc làm, côngviệc là những khái niệm mang bản chất miêu tả hình thức tổ chức xã hội, thuộctính nhận diện và tính chất thị trường, trong khi đó, nghề nghiệp mang bản chất
Trang 6tri thức đặc thù, kỹ năng, nghiệp vụ gắn với cá nhân theo sự phân công lao động
xã hội
Do vậy, Latreille (1980) định nghĩa, nghề nghiệp thể hiện ra ngoài như mộtđặc tính ổn định của hoạt động chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể, nó baohàm một tập hợp các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật mà một cá nhântích lũy, học hỏi được
● Khái niệm giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp là khái niệm được hình thành trên cơ sở tổ hợp củakhái niệm giáo dục và nghề nghiệp Căn cứ theo nội hàm của 02 khái niệm nêutrên, giáo dục nghề nghiệp được hiểu là sự truyền đạt và tiếp thu từ người nàysang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác một tập hợp các tri thức, bíquyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt độngchuyên môn cụ thể
Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 của Việt Nam quy định rõ hơn vềcác cấp bậc đào tạo, theo đó, giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thốnggiáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độcao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động,đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, đượcthực hiện theo 02 hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.Cũng theo quy định của luật trên:
Đào tạo nghề nghiệp chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tậptrung toàn bộ thời gian do cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục đạihọc, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện để đàotạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng
Đào tạo nghề nghiệp thường xuyên là hình thức đào tạo vừa làm vừa học,học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo trình độ
sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác,được thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm đàotạo, phù hợp với yêu cầu của người học
Trang 7● Khái niệm định hướng nghề nghiệp
Định hướng nghề nghiệp là một khái niệm giáo dục toàn diện và liên tụcđược thiết kế để cung cấp cho các cá nhân ở cấp trung học với các thông tin vàkinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong một luôn thay đổi nềnkinh tế, xã hội và môi trường cần thiết
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biếnđổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất làtrong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa Giátrị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng
về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào
là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định Kháiniệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thịtrường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vữngmột nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên mônnhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiềunghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, cácnghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoahọc và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như vềphương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đadạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đàothải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả ba hệ trường(dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau
● Khái niệm kỹ năng và kỹ năng định hướng nghề nghiệp
Định nghĩa về kỹ năng Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng củacác tác giả trong và ngoài nước Ở đề tài này, người nghiên cứu tập trung vàohai quan điểm chính về kỹ năng:
Trang 8- Quan điểm thứ nhất coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạtđộng - Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J P Chaplin chủ biên (1968)định nghĩa kỹ năng là “thực hiện một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hànhđộng một cách trôi chảy và đúng đắn”
Từ định nghĩa này cho thấy tác giả nhìn nhận kỹ năng ở cả hai góc độ gồmthứ tự thực hiện hành động của một cá nhân và tính chất của những hành động
đó - Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kỹ năng là giaiđoạn của việc nắm vững một phương thức hành động mới - cái dựa trên một quitắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tươngứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”
Từ cách định nghĩa này có thể hiểu rằng, khi đề cập đến kỹ năng của một ai
đó tức là xem xét người đó có biết rõ những cách hành động mới mà cơ sở củanhững cách này là sự ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn hay không - Tác giả V
A Kruchetxki thì cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đãđược con người nắm vững từ trước”
- Quan điểm thứ hai xem xét kỹ năng là một biểu hiện của năng lực của
con người trong hoạt động Trong từ điển Tâm lí học của A M Colman,
kỹ năng được hiểu là: “Sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khảnăng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là mộtcách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thôngqua sự huấn luyện và thực hành”
Định nghĩa trên đề cập đến kỹ năng như là sự tổng hợp hai khía cạnh trongkhả năng của một cá nhân gồm nắm vững cơ sở lý thuyết của việc gì đó và hoànthành tốt việc đó trong thực tế Khi cụ thể hóa khả năng này thì có thể hiểu đâychính là phương pháp làm điều gì đó dựa trên sự huấn luyện và thực hành Cáctác giả V S Cudin và A G Covaliop cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thựchiện hành động với mục đích và điều kiện hành động”
Theo các tác giả, kết quả của hành động phải phụ thuộc vào yếu tố, trong đóquan trọng hơn cả là là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắmvững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng
Trang 9Bằng sự tổng hợp các quan niệm về kỹ năng theo hướng thứ hai, ngườinghiên cứu nhận thấy cách xem xét của các tác giả trên có sự nhất trí trong việccho rằng kỹ năng là khả năng đạt được thành tích khi giải quyết nhiệm vụ haycông việc Kỹ năng cần dựa trên sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã biết củachủ thể Để có được kỹ năng, chủ thể cần có sự luyện tập trong thực tế
Tóm lại, những nghiên cứu theo hướng này xem xét kỹ năng như là sự kếthợp của tri thức, kinh nghiệm nhằm thực hiện một nhiệm vụ nào đó một cách cóhiệu quả Kỹ năng không chỉ là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Cáchxem xét kỹ năng theo hướng này cũng đã giải thích được mối quan hệ giữa kỹnăng và năng lực của chủ thể, có chú ý đến vai trò của nhận thức và mục đíchcủa hành động
Kỹ năng định hướng nghề nghiệp là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi sự kếthợp của nhiều yếu tố, không chỉ đơn thuần bởi các thao tác Người nghiên cứunhận thấy cần có sự kết hợp trong việc xem xét khái niệm kỹ năng từ cả quanniệm thứ nhất và quan niệm thứ hai
Cũng từ sự phân tích và lập luận bên trên, người nghiên cứu quan niệm: Kỹnăng là khả năng vận dụng có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm trong quátrình chủ thể thực hiện một nhiệm vụ, công việc nào đó bằng cách thức đúng đắnnhằm đạt được kết quả mong đợi
Trong phạm vi đề tài này, người nghiên cứu tán thành việc xem tính linhhoạt là một đặc điểm của kỹ năng như tác giả trên Bên cạnh đó, dựa vào sựphân tích định nghĩa về kỹ năng ở phần trước, có thể rút ra ba đặc điểm sau của
kỹ năng: Một là, tính đúng đắn của kỹ năng, tức là chủ thể vận dụng tri thức vàkinh nghiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ hay công việc nào đó phải đảm bảocác thao tác, hành động đơn giản hay phức tạp đều có sự chính xác
Để đạt được độ chính xác cao, chủ thể có thể đã mắc rất nhiều lỗi trong giaiđoạn đầu Tuy nhiên, sai phạm giảm dần theo quá trình luyện tập của chủ thể.Dần dần chủ thể sẽ rút được kinh nghiệm qua lần thực hiện kỹ năng trước, mắc
ít hoặc rất ít lỗi sai trong những lần sau
Trang 10Kỹ năng càng đạt tới mức độ hoàn hảo thì chủ thể càng gần nhƣ không mắclỗi sai nào Hai là, tính linh hoạt của kỹ năng, tức là năng lực tâm lý mà chủ thể
cố gắng thử nhiều cách khác nhau có thể để tổ chức và lập kế hoạch các bướctrong tương lai của một vấn đề
● Khái niệm giáo dục trải nghiệm
Định nghĩa của Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm quốc tế: “Giáo dục trảinghiệm là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyếnkhích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại đểtăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triểntiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội.”
Người dạy ở đây có thể là: giáo viên, tình nguyện viên, hướng dẫn viên,huấn luyện viên, bác sĩ tâm lý Nó nói lên tính đơn giản, đa dạng, phổ biến vàứng dụng của “Giáo dục trải nghiệm”
“Giáo dục trải nghiệm” cũng có cơ sở lý thuyết dựa trên một nghiên cứu(Edgar Dale 1946) chỉ ra rằng: Chúng ta nhớ 20% những gì chúng ta đọc,20% những gì chúng ta nghe, 30% những gì chúng ta nhìn và 90% những gìchúng ta làm
Các đặc điểm nổi bật của “Giáo dục trải nghiệm”: Quá trình học qua trảinghiệm diễn ra khi trải nghiệm được lựa chọn kỹ càng và sau khi thực hiện đượctổng kết bởi quá trình chia sẻ, phân tích, tổng quát và áp dụng Người học được
sử dụng toàn diện: trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kỹ năng và các quan hệ xã hộitrong quá trình tham gia Trải nghiệm được thiết kế để yêu cầu người học phảisáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định và thỏa mãn với kết quả đạt được
Qua “Giáo dục trải nghiệm”, người học được tham gia tích cực vào việc:đặt câu hỏi, tìm tòi, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tự chịu trách nhiệm Kết quảcủa trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều họcđược từ trải nghiệm đó Kết quả đạt được là của cá nhân, tạo cơ sở nền tảng choviệc học và trải nghiệm của cá nhân đó trong tương lai Các mối quan hệ đượchình thành và hoàn thiện: người học với bản thân mình, người học với nhữngngười khác, và người học với thế giới xung quanh
Trang 111.1.2 Khái quát đặc điểm của học sinh THPT
Khái niệm học sinh THPT
Học sinh THPT là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu tuổi thanh niên, là giai
đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn.Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: giai đoạn đầu của tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinhviên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiệntượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn vàphức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâmsinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là
sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ khôngtrùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi
Đặc điểm về phát triển thể chất của học sinh THPT
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể.
Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cânđối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng
sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm nhữngcông việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tớimức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hìnhthành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và nhữngphẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kíchthích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ
bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên
mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ tronghọc tập, lao động, vui chơi…)
Trang 12Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổithiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức,nên người ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứatuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó cònảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em.
Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ
Hoạt động học tập
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPTnhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em.Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duykhái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các
em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứkhông phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập củacác em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thúmang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn
Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõrệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thứcđược rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ýthức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ýnghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn nhữngtri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hìnhthành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quảvào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầuđánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu
có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độnhư nhau với các môn học
Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các
em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu cóhứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một
Trang 13hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đàosâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuậnlợi cho sự phát triển năng lực của các em
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ
Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnhtạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ
Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trìnhquan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cánhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thườngphân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát mộtđối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không
có cơ sở thực tế
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữvai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tậptheo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khihọc bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quantrọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các emcũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ,trường hợp nào cần diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi,không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng
có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc
ôn lại bài
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khảnăng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Nănglực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em
có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát,thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng
Trang 14ngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phầnnảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đềcác em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thứcchân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết
lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệlinh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đềmột cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưaphát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theocảm tính
Đặc điểm về phát triển tâm sinh lý của học sinh THPT
Sự phát triển của tự ý thức
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học
sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này.Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểmtâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mụcđích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý,những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức vềcái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tươnglai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tớiphẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thânmình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớnkhiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình mộtcách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâusắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của ngườilớn
Trang 15Sự hình thành thế giới quan
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các
em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để cóquan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những địnhhướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quenđạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữacống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiênvẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tưtưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao độngchân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặcsống thụ động…
Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống chomình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàngngày Các em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự mộtcách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các emlại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó
Xu hướng nghề nghiệp
Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho
bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Xu hướng nghề nghiệp cótác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càngcuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính
ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý vàkhả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Tuy vậy, sự hiểu biết về yêucầu nghề nghiệp của các em còn phiến diện, chưa đầy đủ, vì cậy công tác hướngnghiệp cho học sinh có ý nghĩa quan trọng Qua đó giúp cho học sinh lựa chọnnghề nghiệp sao cho phù hợp với hứng thú, năng lực và phù hợp với yêu cầu của
xã hội
Trang 16Hoạt động giao tiếp
- Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống
và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt:
tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị
- Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh.Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũngcảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện
tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những
người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhâncách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân
Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thểnghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá vềmình Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường cóbiểu hiện lí tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mìnhphải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn
Ở tuổi này cũng đã xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt – tình yêu nam
nữ Tình yêu của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì các emthường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phânbiệt được đó là tình bạn hay tình yêu Do vậy mà các em không nên đặt vấn đềyêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập Tình yêu của nam nữthanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từchối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương
1.1.3 Các yếu tố tác động đến kỹ năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT
Nhóm tác giả hiểu rằng để có một tương lai vững chắc sẽ được hình thànhkhi có một nghề nghiệp vững chắc Tuy nhiên, làm thế nào để lựa chọn đúngnghề nghiệp, để có một công việc ổn định không hề đơn giản, với mỗi cá nhânkhác nhau sẽ có những yếu tố khác nhau tác động đến việc lựa chọn nghề
Trang 17nghiệp, trong nghiên cứu nhóm tác giả có tiến hành phỏng vấn khảo sát mộtnhóm các bạn học sinh về các yếu tố tác động đến việc định hướng lựa chọnnghề nghiệp của mình, ngoài các yếu tố về chính trị kinh tế của quốc gia và vănhóa của vùng miền thì có năm yếu tố lớn được các bạn học sinh đưa ra gồm:
- Thứ 1: Sở thích công việc
Theo nhóm tác giả thì sở thích là điều đầu tiên bạn nghĩ đến, khi chọn côngviệc không có đam mê bạn làm bất cứ điều gì rồi cũng sẽ thất bại, nhất là trongnhững lúc khó khăn Ngược lại nếu bạn yêu thích công việc đó, bạn sẽ luôn tìm
ra cách khắc phục nó Và đây là một trong những bí quyết hàng đầu giúp bạnluôn thành công
- Thứ 2: Khả năng của bản thân
Trước khi quyết định lựa chọn một nghề nào đó bạn cần biết mình có năngkhiếu gì, và năng khiếu đó sẽ phù hợp với nghề nào? Ví dụ, bạn thích viết lách, thì
Trang 18nên theo đuổi nghề báo hoặc nhà văn, thích vẽ thì nên học họa sỹ hoặc thiết kế…Điều này sẽ làm cho cơ hội thành công với nghề nghiệp của bạn cao hơn Tuyệt đốiđừng bao giờ lựa chọn một công việc chỉ để làm hài ai đó, bởi nếu không có niềmyêu thích, sự say mê với nghề thì sớm muộn bạn cũng sẽ phải bỏ cuộc.
- Thứ 3: Sức khỏe
Đây là yếu tố đầu tiên quyết định định hướng nghề nghiệp trong tương laicủa bạn, bởi bất kỳ nghề nghiệp nào cũng cần phải có sức khỏe Có những nghềđòi hỏi cao hơn về sức khỏe như phi công, thuyền trưởng, lái xe hay các ngành
về hội họa Do đó, bạn cần xem xét tình trạng sức khỏe của mình để có thể đihết con đường học, bám trụ và thành công với nghề
- Thứ 4: Nhu cầu xã hội
Thị trường lao động luôn biến đổi không ngừng, có thể hiện tại các ngànhkinh tế - ngân hàng, giáo viên… đang cần nhiều nhân lực, tuy nhiên một vàinăm sau, khi nguồn cung nhân lực quá lớn sẽ dần đến tình trạng bão hòa, nguy
cơ thất nghiệp cao Do đó, bạn cần xem xét đến nhu cầu xã hội và sụ biến độngcủa nó khi muốn lựa chọn nghề nghiệp tương lai
- Thứ 5: Gia đình
Trang 19Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn nghề nghiệp trong tươnglai Bố mẹ, anh chị là những người đi trước, hiểu được tính cách con người bạn,biết được thế nào là tốt cho bạn Vì vậy, họ sẽ có những lời gợi ý, lời khuyênchính xác cho nghề nghiệp của bạn trong tương lai Bên cạnh đó, thực tế có thểthấy, khá nhiều người bị ảnh hưởng bởi truyền thống gia đình Ví dụ như, tronggia đình có người làm bác sĩ, công an, giáo viên… thì bạn sẽ cảm thấy yêu thíchnhững nghề nghiệp đó từ khi còn bé.
Trên đây là kinh nghiệm qua nghiên cứu của nhóm tác giả về các yếu tố ảnhhưởng đến quá trình định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bạn Tuynhiên, cần vận dụng linh hoạt trong thực tế Do đó hãy xác định mục tiêu, khơidậy niềm đam mê và từng bước hoàn thành mục tiêu đó Có thể có những yếu tốkhách quan, chủ quan khác mang tính bất ngờ không lường trước được, điềuquan trọng là bạn phải thật bình tĩnh, luôn là chính mình trong mọi quyết địnhthì chúng tôi tin bạn sẽ đi đúng hướng
1.1.4 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cho học sinh THPT hiện nay
Ngày 14 tháng 5 năm 2018, Thủ tướng chính phủ đã quyết định phê duyệt
đề án “GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNGHỌC SINH TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG GIAI ĐOẠN 2018 - 2025” Nhiệm vụ chủ yếu:
Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh phổ thông,
Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông,
Phát triển đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tư vấn, hướng nghiệp trong các trường trung học,
Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học gắn với giáo dục hướng nghiệptrong giáo dục phổ thông,
Bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh phổ thông
Trang 20Huy động nguồn lực xã hội trong và ngoài nước tham gia giáo dục hướng
nghiệp, định hướng phân luồng học sinh phổ thông
Tăng cường quản lý đối với giáo dục hướng nghiệp, định hướng phân luồng học sinh phổ thông
Chương trình dành cho cấp THPT gồm có 7 môn học bắt buộc: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục thể chất; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương
Chương trình mới trả lời câu hỏi “Học xong thì học sinh biết làm gì?” Có
thể thấy việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các cấp, đặc biệt là cấp THPT
là vấn đề cấp thiết đang được đặt lên hàng đầu trong bối cảnh một đất nước đangphát triển như Việt Nam hiện nay
1.2 Cơ sở khoa học của hướng nghiệp qua hoạt động trải nghiệm làm thêm 1.2.1 Học sinh hiểu về yêu cầu của nghề:
● Lý thuyết Holland
Vào những năm 1970 John Holland đã phát triển một lý thuyết nổi tiếng
về trình bày sở thích dựa vào 6 loại tính cách sau:
Lý thuyết này được John Holland xây dựng dựa trên 6 luận điểm, trong đó 2luận điểm đầu là:
Trang 21• Hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu người, đó là: Realistic
(Người thực tế – R), Investigate (Nghiên cứu – I), Artistic (Nghệ sĩ tính – A),Social (người có Tính xã hội – S), Enterprising (Thiên phú lãnh đạo, điều hành –E) và Conventional (mẫu người Công chức – C)
• Có 6 môi trường hoạt động ứng đúng với 6 kiểu người kể trên
Ngoài ra còn 4 điều sau:
• Mọi người thuộc cùng một nhóm có xu hướng “hội tụ” lại với nhau Ví dụ:Người Nghệ thuật sẽ bị hấp dẫn, lôi cuốn và muốn kết bạn và làm việc cùngnhững người thuộc cùng nhóm Nghệ thuật
• Những người cùng nhóm sẽ làm việc cùng nhau và tạo dựng môi trường làmviệc phù hợp với họ Ví dụ: Những người Nghệ thuật làm việc cùng nhau sẽ tạo
ra môi trường để có thể tự do sáng tạo, suy nghĩ và hành động gọi chung là “Môitrường Nghệ thuật”
• Những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình hầuhết sẽ thành công và hài lòng với công việc của mình
• Những hành động của bạn và cảm xúc tại nơi làm việc phụ thuộc vào môitrường làm việc Nếu bạn làm việc cùng những người có cùng nhóm tính cáchvới bạn, bạn sẽ có thể làm được nhiều việc mà đồng nghiệp có thể làm, điều đó
sẽ giúp bạn có một tâm lý thoải mái
Vậy theo lý thuyết này, bạn nên chọn kiểu nghề nghiệp tương tự như nhóm tínhcách của bạn Điều này giúp bạn dễ đạt được thành công và hài lòng trong côngviệc Tuy nhiên thực tế mọi người thường là sự kết hợp của 2 nhóm tính cách, vídụ: Nghiên cứu – Kỹ thuật, Nghệ thuật – Xã hội Do đó, bạn có thể phải xem xét
ở nhiều hơn một nhóm tính cách
Lý thuyết này của Holland được gọi là Mã Holland, thường được gọi tắt là
RIASEC (lấy 6 chữ cái ghép lại thành)
Trang 22Tam giác chọn nghề
Theo các chuyên gia hướng nghiệp, muốn có nghề nghiệp hợp lý phảithỏa mãn cả ba đỉnh của tam giác chọn nghề Đỉnh thứ nhất là đam mê, yêuthích, muốn sống chung cả đời với nghề nghiệp đó Thứ hai là năng lực, khảnăng và thế mạnh của bản thân Thứ ba là cơ hội nghề nghiệp của ngành mìnhlựa chọn, là sự hiểu biết về nhu cầu thị trường lao động và xây dựng mạng lướichuyên nghiệp ngay từ khi còn học đại học
1.2.2 Học sinh hiểu rõ hơn về năng lực của bản thân
● Lý thuyết nhân cách
Nhân cách là một khái niệm với nội hàm rộng, bao gồm nhiều mặt cùng tồntại trong cùng một con người Nhắc đến nhân cách chính là nhắc đến mặt tâm
lý, đời sống tinh thần của một chủ thể nhất định
Lý thuyết nhân cách về cách tiếp cận học tập xã hội của Bandura
Bandura sinh ra tại Canada, ông đã tiến hành một thực nghiệm rất nổi tiếng đó làthực nghiệm búp bê BoBo Ông quán sát thực nghiệm của mình và đã rút rađược một số khái niệm cơ bản trong lý thuyết học tập xã hội của mình
Bandura cho rằng "hành vi chúng ta được tập nhiễm thông qua việc quan sáthành vi của người khác và hậu quả của hành vi đó Do đó việc nghiên cứu về sựhình thành và phát triển nhân cách chính là việc nghiên cứu hành vi tập nhiễm