1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở ven bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và đề xuất giải pháp phát triển

60 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đô thị hóa đi đôi với công nghiệp hóa, phát triển giao thông, gia tăng dân số đã gây ra ngày càng nghiêm trọng về vấn đề ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, nước thải, tiếng ồn, bụi,... Bên cạnh đó mật độ xây dựng công trình cao làm mất tính cân bằng sinh thái đã đòi hỏi đưa cây xanh vào cơ cấu đô thị nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường, góp phần điều hòa nhiệt độ, tạo bóng mát cảnh quan đô thị, giảm thiểu ô nhiễm bụi và tiếng ồn, cản bớt tốc độ gió bão… Thành phố Huế là một trong những vùng miền có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mùa mưa thường có bão lụt, mùa khô nắng nóng gây gắt và chịu ảnh hưởng gió Lào vào mùa hè, nhiệt độ có khi lên đến 37 38oC hoặc hơn. Do đó cây xanh thành phố Huế góp phần lớn vào điều hòa nhiệt độ tạo bóng mát, và làm giảm đi sự oi bức của môi trường đô thị Huế. Cây xanh thành phố Huế còn là một bộ phận không thể thiếu được trong kiến trúc đô thị Huế. Đó là một trong những nét đặc trưng tiêu biểu của thành phố Huế được nhiều người biết đến, là sự kết hợp hài hòa giữa phong cảnh thiên nhiên và kiến trúc xây dựng mà trong đó cây xanh đóng một vai trò lớn góp phần làm nên vẻ đẹp riêng. Thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ven bờ sông Hương bao gồm các cây bóng mát, cây trang trí, thảm cỏ và thực vật thủy sinh phong phú, đa dạng về số lượng, thành phần loài cũng như có nhiều hình thái và màu sắc khác nhau tạo nên một vẻ đẹp tự nhiên cho cảnh quan đô thị Huế. Tiến trình đô thị hóa thành phố Huế đã làm mất đi sự hài hòa của cảnh quan giữa kiến trúc xây dựng và cây xanh ngày càng lớn, đang gây ra tình trạng ô nhiễm ở ven bờ sông Hương ngày một nghiêm trọng. Trên cơ sở kế thừa, phát huy giá trị di sản văn hóa lịch sử trong điều kiện bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quá trình đô thị hóa nhằm xây dựng thành phố Huế trở thành một thành phố văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc Huế thì việc nghiên cứu cây xanh càng mang tính cần thiết hơn. Với ý nghĩa to lớn của cây xanh đô thị và thực trạng cấp bách trên,việc nghiên cứu về thực vật làm cảnh quan đô thị nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ, giúp nâng cao vẻ đẹp thành phố là rất cần thiết, đặc biệt vào thời điểm Huế được chọn đăng cai năm du lịch Quốc gia Duyên hải Bắc Trung bộ 2012. Do vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở ven bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và đề xuất giải pháp phát triển”

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Thầy giáo ThS Nguyễn Đắc Tạo đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Trong quá trình nghiên cứu, tôi còn may mắn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy Cô giáo bộ môn Tài nguyên - Môi trường, quý Thầy Cô giáo trong Khoa Sinh học - Trường Đại học Khoa học Huế Nhân đây, cho phép tôi kính gửi đến Thầy Cô lời cám ơn chân thành nhất

Tôi xin chân thành cám ơn Công ty Công viên Cây xanh thành phố Huế, một số cán bộ và nhân dân quanh hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin thực hiện khóa luận

Cám ơn gia đình, bạn bè lớp Sinh K32 đã động viên nâng đỡ giúp tôi trong suốt thời gian thực thiên khóa luận

Huế, tháng 5 năm 2012

Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Lan

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT VÀ THỰC VẬT CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI 3

1.2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT VÀ THỰC VẬT CẢNH QUAN Ở VIỆT NAM 6

1.3 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT CẢNH QUAN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 10

Phần 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 11

2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 12

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 13

2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13

2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 13

2.5.1.1 Các phương pháp 13

2.5.1.2 Phương pháp tiến hành 14

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 15

2.5.2.1 Xử lý và bảo quản mẫu vật 15

2.5.2.2 Phân tích mẫu và định tên khoa học 16

2.5.2.3 Đánh giá dạng sống 16

Phần 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 18

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18 3.1.1 Vị trí địa lý

Trang 3

3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 18

3.1.2.1 Đặc điểm về địa hình 18

3.1.2.2 Đặc điểm về địa mạo 20

3.1.3 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng 20

3.1.4 Đặc điểm khí hậu 21

3.1.4.1 Nhiệt độ 21

3.1.4.2 Lượng mưa 21

3.1.4.3 Độ ẩm 21

3.1.4.4 Gió bão 22

3.1.5 Đặc điểm thủy văn 23

3.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 25

3.2.1 Đặc điểm kinh tế 25

3.2.2 Đặc điểm xã hội 25

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29

4.1 THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH LÀM CẢNH QUAN Ở VEN BỜ SÔNG HƯƠNG THUỘC THÀNH PHỐ HUẾ 29

4.1.1 Danh lục thành phần loài 29

4.1.2 Đa dạng về bậc taxon 29

4.1.2.1 Đa dạng taxon bậc ngành 29

4.1.2.2 Đa dạng taxon bậc họ 32

4.1.2.3 Đa dạng taxon bậc chi 33

4.1.3 Đa dạng về dạng sống 33

4.1.4 Đa dạng về cây trồng, cây hoang dại 37

4.2 ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÕ CẢNH QUAN CỦA THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH Ở VEN BỜ SÔNG HƯƠNG THUỘC THÀNH PHỐ HUẾ 37

4.3 HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH LÀM CẢNH QUAN Ở VEN BỜ SÔNG HƯƠNG THUỘC THÀNH PHỐ HUẾ 41

Trang 4

4.3.1 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 1 41

4.3.2 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 2 42

4.3.3 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 3 44

4.3.4 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 4 44

4.3.5 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 5 44

4.3.6 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 6 45

4.3.7 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 7 45

4.3.8 Hiện trạng phân bố thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở tuyến 8 46

4.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN HỢP LÝ THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH LÀM CẢNH QUAN VEN BỜ SÔNG HƯƠNG THUỘC THÀNH PHỐ HUẾ 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 KẾT LUẬN 49

5.2 ĐỀ NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu của khu vực nghiên cứu 23 Bảng 4.1 Sự phân bố và tỷ lệ (%) các bậc taxon họ, chi, loài trong các ngành thực vật bậc cao có mạch ở ven bờ sông Hương thành phố Huế 30 Bảng 4.2 Các họ thực vật bậc cao có mạch ở sông Hương có 9 loài trở lên 33 Bảng 4.3 Số lượng và tỷ lệ (%) các nhóm dạng sống của các loài thực vật bậc cao làm cảnh quan ở hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế 34 Bảng 4.4 Số lượng và tỷ lệ (%) của cây trồng, hoang dại ở hai bờ sông Hương 37 thuộc thành phố Huế 37 Bảng 4.5 Số lượng và tỷ lệ (%) các nhóm giá trị cảnh quan của thực vật bậc cao

có mạch ở ven bờ sông Hương thuộc thành phố Huế 39

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm khảo sát và thu mẫu ở hai bờ sông Hươngthuộc thành phố Huế 12 Hình 3.1 Bản đồ thành phố Huế 19 Hình 4.1 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) taxon bậc họ của 3 ngành thực vật bậc cao

có mạch 30 Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) taxon bậc chi của 3 ngành thực vật bậc cao

có mạch 31 Hình 4.3 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) taxon bậc loài có của 3 ngànhthực vật bậc cao có mạch 31 Hình 4.4 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) số họ, chi, loài, của lớp Ngọc lan (Magnoliopsida)

vàlớp Hành (Liliopsida) trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 32 Hình 4.5 Biểu đồ dạng sống chính của thực vật bậc cao ở hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế 34 Hình 4.6 Biểu đồ các dạng sống phụ trong nhóm dạng sống cây chồi trên (Ph) của thực vật bậc cao ở hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế 35 Hình 4.7 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) cây trồng và cây hoang dại 37 Hình 4.8 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) các nhóm công dụng của thực vật bậc caolàm cảnh quan hai bờ sông Hương 40

Trang 7

MỞ ĐẦU Quá trình đô thị hóa đi đôi với công nghiệp hóa, phát triển giao thông, gia tăng dân số đã gây ra ngày càng nghiêm trọng về vấn đề ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, nước thải, tiếng ồn, bụi, Bên cạnh đó mật độ xây dựng công trình cao làm mất tính cân bằng sinh thái đã đòi hỏi đưa cây xanh vào cơ cấu đô thị nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường, góp phần điều hòa nhiệt độ, tạo bóng mát cảnh quan đô thị, giảm thiểu ô nhiễm bụi và tiếng ồn, cản bớt tốc độ gió bão…

Thành phố Huế là một trong những vùng miền có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mùa mưa thường có bão lụt, mùa khô nắng nóng gây gắt và chịu ảnh hưởng gió Lào vào mùa hè, nhiệt độ có khi lên đến 37 -38oC hoặc hơn Do đó cây xanh thành phố Huế góp phần lớn vào điều hòa nhiệt độ tạo bóng mát, và làm giảm đi sự oi bức của môi trường đô thị Huế Cây xanh thành phố Huế còn là một bộ phận không thể thiếu được trong kiến trúc đô thị Huế Đó là một trong những nét đặc trưng tiêu biểu của thành phố Huế được nhiều người biết đến, là

sự kết hợp hài hòa giữa phong cảnh thiên nhiên và kiến trúc xây dựng mà trong

đó cây xanh đóng một vai trò lớn góp phần làm nên vẻ đẹp riêng

Thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ven bờ sông Hương bao gồm các cây bóng mát, cây trang trí, thảm cỏ và thực vật thủy sinh phong phú, đa dạng về

số lượng, thành phần loài cũng như có nhiều hình thái và màu sắc khác nhau tạo nên một vẻ đẹp tự nhiên cho cảnh quan đô thị Huế

Tiến trình đô thị hóa thành phố Huế đã làm mất đi sự hài hòa của cảnh quan giữa kiến trúc xây dựng và cây xanh ngày càng lớn, đang gây ra tình trạng ô nhiễm ở ven bờ sông Hương ngày một nghiêm trọng Trên cơ sở kế thừa, phát huy giá trị di sản văn hóa lịch sử trong điều kiện bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quá trình đô thị hóa nhằm xây dựng thành phố Huế trở thành một thành phố văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc Huế thì việc nghiên cứu cây xanh càng mang tính cần thiết hơn

Trang 8

Với ý nghĩa to lớn của cây xanh đô thị và thực trạng cấp bách trên,việc nghiên cứu về thực vật làm cảnh quan đô thị nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ, giúp nâng cao vẻ đẹp thành phố là rất cần thiết, đặc biệt vào thời điểm Huế đƣợc chọn đăng cai năm du lịch Quốc gia Duyên hải Bắc Trung bộ 2012 Do vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu thành phần loài thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan

ở ven bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và đề xuất giải pháp phát triển”

Trang 9

Phần 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT VÀ THỰC VẬT CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI

Kiến thức về cây cỏ được loài người ghi chép và lưu lại sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384 - 322 Trước Công Nguyên (TCN)) Tiếp đó là Theophraste, ông nổi tiếng với hàng trăm bản thảo, đặc biệt là tác phẩm “Lịch sử thực vật” (khoảng năm 340 TCN), trong đó ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng Ông đã phân biệt cây có hoa và cây không có hoa Sau đó, Plinius - nhà tự nhiên học người La Mã, đã hoàn thành

37 tập bách khoa toàn thư với đầu đề “Historia naturaeis” (Lịch sử tự nhiên) (79 -

23 TCN) đã giới thiệu gần 1000 loài cây có ích [11]

Albertus Magnus(1193 - 1280) đã viết về lịch sử tự nhiên và về cây thuốc suốt thời Trung cổ Công trình thực vật “De Vegetabilis” của ông còn kèm theo bản mô tả các cây Ông đã phân loại các cây dựa trên cơ sở cấu trúc thân, sự khác nhau giữa cây một lá mầm và hai lá mầm [21]

Valerius Cordus, nhà thực vật học người Đức viết cuốn “Lịch sử thực vật” vào năm 1540 nhưng đến năm 1561 mới xuất bản đã mô tả hoa và quả của 446 loài thực vật Ông mô tả dưới dạng một hệ thống phân loại dựa trên những nghiên cứu cây sống [21]

Bauhin (1623), nhà thực vật khoa học người Thụy Sĩ đã thống kê 6000 loài

cây và công bố trong công trình “Pinax theatribotaniei” Chính ông đã dùng tên gọi

hai từ để chỉ tên loài [21]

Tournefort (1700) nhà thực vật học người Pháp trong công trình

“Instiutiones rei herbariae” đã giới thiệu 9.000 loài thực vật thuộc 700 chi Ông được coi như là “Ông tổ của quan điểm chi” Ông đã có quan điểm chi rõ ràng và

có các bản mô tả các chi đó, nhờ đó sự phân loại đã được hình thành khá hoàn thiện Đó cũng chính là cơ sở để đánh giá sự đa dạng ở mức độ chi [21]

Trang 10

Theo E.O Wilson (1988) số lượng các loài thực vật bậc cao đã được mô

tả trên thế giới 248 4288 loài, trong đó có 16 600 loài rêu, 9 loài Dương xỉ trần 1.275 loài Thông đất , 15 loài Cỏ tháp bút, 10.000 loài Dương xỉ, 529 loài thực vật Hạt trần, 220.000 loài thực vật Hạt kín, trong đó 170.000 loài thực vật hai lá mầm, 50.000 loài thực vật một lá mầm [15]

Đối với hệ thực vật ở khu vực Đông Nam Á, cũng đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về thành phần loài nhưng cho đến nay vẫn chưa có đầy đủ các tài liệu nói về hệ thực vật của khu vực Đông Nam Á Một số công trình nghiên cứu tổng quát ít nhiều về hệ thực vật như Vidal (1962), Schmid (1989) cho con số tổng quát khoảng 10.000 loài và dự đoán con số đó tăng lên 12.000 đến 15.000 loài [21]

Theo một số nhà nghiên cứu như Van Steenis (1971), Yap (1994) vùng Đông Nam Á có tới 25.000 loài thực vật có hoa, bằng 10% tổng số loài thực vật

có hoa của thế giới và có tới 40% là loài đặc hữu [15]

Cho đến nay nhiều loài thực vật vật đã ra đời dưới ánh sáng khoa học hiện đại Đó là những đóng góp quan trọng để đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật trên toàn Thế giới Mặt khác, tầm quan trọng của hệ thực vật đối với môi trường sống, cảnh quản đô thị cũng được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm

- Trong các kiến trúc đô thị hiện đại, cây xanh là một bộ phận tất yếu được đưa vào cho thấy vai trò cực kì quan trọng của chúng Vào cuối thế kỉ XIX, E-ben-ne-ze Hô-oa (1850-1928), một người Anh đã nêu ra học thuyết quy hoạch hiện đại: lý thuyết về thành phố vườn ( Garden - City) trong hai cuốn sách xuất bản năm 1898 và 1902 là “ Tomorrow” và “ Garden - City of tomorrow” ("Ngày mai" và " Vườn - Thành phố của ngày mai") [37]

- Suazanne Frutig Bales (1993) xuất bản cuốn “Container gardening Prentice Hall Gardenning” gồm các hình vẽ màu bố trí với các mô hình trồng cây

ở các container và các chủng loại cây trồng thích ứng với từng loại mô hình [39]

- Nhiều nghiên cứu đi sâu về lợi ích của cây xanh đô thị trong việc điều hòa khí hậu (Heisler, 1986; McPherson & Owntree, 1993), giảm ô nhiễm không khí (Akabari et al.,1992; McPherson & Nowalk, 1993), giảm sự xói mòn đất (Rowntree,

Trang 11

1989), và làm giảm ô nhiễm tiếng ồn (Cook, 1978; Reethof & McDaniel, 1978) [38]

- Trong cuốn “Urban Habitats” (Môi trường sống đô thị), 1999, C Philip Wheater chỉ rõ nhiều khoảng không gian trống trong thị trấn hoặc thành phố là kết quả của quá trình đô thị hóa Ông khẳng định mảng xanh trong đô thị, cụ thể

là cây xanh có vai trò rất lớn trong môi trường và kiến trúc đô thị [35]

- Dimitri Devuyst, Luc Hens, Walter De Lannoy (2001) trong cuốn “How Green is the City ? Sustainability Assessment and the Management of Urban Environmments” (Thế nào là đô thị xanh? Sự đánh giá tính bền vững và quản lý môi trường đô thị) đã giải thích thế nào là mảng xanh trong thành phố và nói về vai trò của nó trong môi trường đô thị [36]

- Các tác giả Peter J Trowbridge và Nina L Bassuk (2004) xuất bản cuốn

“Tree in the Urban Landscape” (Cây xanh trong cảnh quan đô thị) có bàn luận về các vấn đề có liên quan đến cây xanh đô thị như chỉ ra các yếu tố cơ bản để duy trì sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng đô thị Chọn lọc loài cây xanh nào trồng trong môi trường đô thị thì thích hợp Đề ra các biện pháp bảo tồn và quản

lí cây xanh làm cảnh quan đô thị [40]

- Trong cuốn “Urban Stormwater Management in the United States” (Quản

lý nước mưa đô thị ở Mỹ), 2008, đã đề cập đến vai trò che phủ của thực vật đối với việc chống xói mòn đất được các tác giả đề cập đến khi nghiên cứu tác dụng che phủ của cây xanh đô thị trong các trận mưa lớn ở Sacramento, California Kết quả cho thấy cây thường xanh và cây có tán lớn làm giảm tốc độ nước mưa rơi xuống đất 36%, trong khi cây rụng lá theo mùa và cây có tán trung bình chỉ giảm có 18% [34]

- Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống thông tin địa lí (GIS), người ta nghiên cứu và ứng dụng hệ thống này trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong việc xác định vị trí và quản lí cây xanh đô thị Năm 1999, Mark C Dwyer và Robert W Miller sử dụng GIS để đánh giá lợi ích độ che phủ của cây xanh đô thị

và sự phân bố của các khoảng không gian xanh [39]

Trang 12

1.2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT VÀ THỰC VẬT CẢNH QUAN Ở VIỆT NAM

Thành phần loài hệ thực vật ở Việt Nam đa dạng và phong phú, đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu khá đầy đủ và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam của các nhà khoa học trong và ngoài nước

Nghiên cứu về đa dạng quần xã thực vật trên phạm vi cả nước có công trình nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1963 - 1978) về thảm thực vật Việt Nam Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành các kiểu, kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp, ông đã thống

kê thống kê ở Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao thuộc 1.850 chi, 289 họ Trong đó thực vật Hạt kín có 6.366 loài thuộc 1.727 chi, 239 họ, thực vật Hạt trần

có 39 loài thuộc 18 chi, 8 họ, Dương xỉ có 599 loài thuộc 105 chi, 42 họ [30]

Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000) cho xuất bản bộ sách “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” gồm 2 tập đã giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp, 20 loài Rêu, còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [8]

Viện điều tra Quy hoạch Rừng (1971 - 1988) công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam”, đã giới thiệu chi tiết cây gỗ với hình vẽ minh hoạ dễ nhận biết [22]

Võ Quý (1988) khẳng định khu hệ thực vật rừng Việt Nam là rất phong phú Dự đoán có khoảng 12.000 loài và có tới 1.000 loài là đặc hữu của Việt Nam Những họ có trên trăm loài rất nhiều như họ Lan (Orchidaceae) 901 loài,

họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 333 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 286 loài, họ Lúa (Poaceae) 262 loài, họ Đậu (Fabaceae) 290 loài, họ Dẻ ( Fagaceae) 107 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) 122 loài, họ Na (Annonaceae) 107 loài [5]

Để góp phần cung cấp những số liệu cơ bản giúp cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật ở Việt Nam, Nguyễn Tiến Bân (1990) đã thống kê, chỉnh lý và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam có 8.500 loài, 2.050 chi, trong đó lớp Hai lá mầm có 1.590 chi và trên 6.300 loài; lớp Một lá mầm có

460 chi với 2.200 loài [1]

Trang 13

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), nước ta có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ Các nhà thực vật học dự đoán con số loài thực vật ở nước ta có thể lên đến 15.000 loài Trong các loài cây nói trên có khoảng 7.000 loài thực vật có mạch, số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ở miền Bắc và chiếm khoảng 25% tổng số loài thực vật trên toàn quốc (Lê Trần Chấn, 1997), có ít nhất 1.000 loài cây đạt kích thước lớn, 354 loài cây có thể dùng để sản xuất gỗ thương phẩm Các loài tre nứa ở Việt Nam cũng rất phong phú, trong đó có ít nhất 40 loài có giá trị thương mại [19]

Đáng chú ý nhất là bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), và được tái bản có bổ sung (1999 - 2000) Công trình này đã giới thiệu, mô tả tóm tắt kèm hình vẽ của 10.500 loài gồm thực vật bậc cao và tảo Đây là công trình đầy đủ nhất từ trước đến nay, góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam [8]

Dựa trên bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), Phan Kế Lộc (1996) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng Như vậy tổng số loài lên tới 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới Trong đó ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57% tổng số họ, ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỉ lệ 6,45%, 6,27%, 9,97%

về loài, ngành Thông đất đứng thứ 3 (0.58%), tiếp đến là ngành Hạt trần (0,47%), còn

2 ngành còn lại là Lá thông và Cỏ tháp bút tương tự nhau là (0.015%) [8]

Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô và cộng sự (2002) đã thống kê ở Vườn Quốc gia Bạch Mã có 87 loài Rêu thuộc 54 chi, 25 họ; 180 loài Dương xỉ thuộc

73 chi, 28 họ; và 1.548 loài Thực vật có hạt thuộc 703 chi, 165 họ [21]

Nguyễn Nghĩa Thìn (2005) đã thống kê khu hệ thực vật bậc cao ở Việt Nam khá đa dạng với 11.373 loài, 2.524 chi, 378 họ, trong đó ngành Hạt kín có

số lượng loài lớn nhất lên đến 9.462 loài, 2.046 chi, 296 họ; tiếp đến là ngành Rêu với 793 loài, 182 chi, 60 họ; Ngành Dương xỉ với 713 loài, 170 chi, 26 họ; ngành Thông đất với 56 loài, 4 chi, 2 họ; ngành Hạt trần với 51 loài, 23 chi, 8 họ;

Trang 14

ngành Cỏ tháp bút với 3 loài, 2 chi, 2 họ; còn lại ngành lá thông có số lượng loài

ít nhất với 2 loài, 1 chi, 1 họ Qua thống kê, ở Việt Nam có rất nhiều họ thực vật giàu loài Nhiều họ có trên 100 loài, ví dụ như họ Lan (Orchidaceae) có khoảng

800 loài, họ Lúa (Poaceae) có gần 500 loài, họ Đậu (Fabaceae) có trên 600 loài, trong đó phân họ Đậu (Faboideae) tới 450 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 430 loài,

họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 425 loài, họ Cúc (Asteraceae) trên 350 loài, họ Cói (Cyperaceae) trên 300 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 210 loài, họ Hoa môi (Lamiaceae)

145 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) 120 loài, [21]

Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) trong cuốn sách “Đa dạng sinh học vườn Quốc gia Hoàng Liên” dựa trên kết quả nghiên cứu của tập thể tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời công bố về đa dạng hệ thực vật bâc cao có mạch

ở vùng núi Sapa - Hoàng Liên Sơn (1997) và có sữa chữa bổ sung để từ đó xây dựng thành công bản danh lục thực vật của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên Sơn gồm 2432 loài thuộc 898 chi, 209 họ thuộc 6 ngành - là vườn quốc gia, giàu loài nhất Việt Nam [22]

Để duy trì và bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật, đặc biệt là các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ cạn kiệt dần, năm 2007 Viện Khoa học – Công nghệ Việt Nam phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thực hiện với sự tài trợ của Quỹ SIDA (Thụy Điển) GS.TS Đặng Ngọc Thanh - Chủ nhiệm đề tài soạn thảo phối hợp cùng các ngành khác và nhiều nhà Thực vật học trong cả nước biên soạn và công bố cuốn “Sách Đỏ Việt Nam - phần thực vật” Tài liệu này công bố 429 loài thực vật bậc cao có mạch đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên ở các thứ hạng( cấp độ) khác nhau [32]

Với tính đa dạng của thành phần loài hệ thực vật Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng của thực vật đối với cảnh quan đô thị đã ngày càng được quan tâm, có ý nghĩa thực tiễn cao:

Trương Hữu Tuyên (1983) với tác phẩm “Trồng cây xanh đô thị” nói về phương pháp lựa chọn các loài cây xanh thích hợp với môi trường đô thị, phương pháp trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh [31]

Trang 15

Phạm Kim Giao (1993) và cộng sự trong tác phẩm “Quy hoạch đô thị” đã nghiên cứu về lợi ích của cây xanh, các loại hình tổ chức cây xanh và những nguyên tắc quy hoạch các khu cây xanh đô thị [6]

Trần Hợp (1993) đã công bố tác phẩm “Cây xanh, hoa Việt Nam” Trong

đó tác giả đã phát thảo sơ bộ các nhóm cây làm cảnh trong hệ thống thực vật làm cảnh ở Việt Nam [9]

Trong tác phẩm “Nghệ thuật vườn - công viên” của Hàn Tất Ngạn (2000), cho thấy vai trò cây xanh đối với môi trường và việc đưa thiên nhiên vào môi trường đô thị là việc hết sức cần thiết [14]

Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996) với tác phẩm “Kiến trúc phong cảnh” khẳng định thiên nhiên ảnh hưởng rất lớn đến kiến trúc cảnh quan trong đó thực vật là yếu tố cơ bản của bố cục phong cảnh; Tác phẩm “Tổ chức và quản lí môi trường cảnh quan đô thị” của bà xuất bản năm 1997 cũng bàn về vấn đề thiết kế cây xanh đô thị và đưa ra đề xuất bước đầu về nghiên cứu, xây dựng, cải tảo thực vật đô thị [28]

Chế Đình Lý (1997) với tác phẩm “Cây xanh phát triển và quản lý trong môi trường đô thị” đã đề cập đến lịch sử nghiên cứu cây xanh đô thị, tác dụng, phân chia cây xanh theo từng nhóm chức năng [12]

Vấn đề cây xanh đô thị hiện nay không chỉ có liên quan đến các ngành như Sinh học, Lâm nghiệp, Môi trường, Kiến trúc… mà còn liên quan đến Địa lý, Tin học, Vật lý… Điển hình là tại hội thảo chuyên đề quản lý cây xanh của Công ty Công viên cây xanh Hồ Chí Minh, Chế Đình Lý (1999) đưa ra công trình “ Ứng dụng công nghệ thông tin địa lý (GIS) để hiện đại hóa công tác quản lý cây xanh

đô thị” [13]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của cây xanh đối với môi trường và kiến trúc đô thị, trong các công trình về quy hoạch đô thị, cây xanh là yếu tố không thể thiếu được như “Giáo trình quy hoạch đô thị” của Tô Văn Hùng (2005), “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị” của Trần Đình Hiếu (2006), “Định hướng chiến lược phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam” của Lưu Đức Hải (2006) [7]

Trang 16

Cũng bởi tác dụng to lớn và nhiều mặt của cây xanh làm cảnh quan đô thị, Nhà nước ta đã có những văn bản quy định về quản lý và quy hoạch cây xanh trong đô thị như: Thông tư số 20/2005/TT - BXD ngày 20/12/2005 của Bộ xây dựng “Về việc hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị” hay quyết định số 01/2006/QĐ - BXD của Bộ trưởng Bộ xây dựng ngày 05/01/2006 ban hành TCXDVN 362: 2005 “Quy hoach cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” [26]

1.3 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC VẬT CẢNH QUAN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Việc nghiên cứu cây xanh đô thị ở các địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn đã góp phần làm phong phú thêm các công trình nghiên cứu về thực vật cảnh quan ở Việt Nam Một số tác phẩm được đăng trên các tạp chí khoa học như:

Bài viết “Việc trồng cây xanh ở thành phố Huế” của Mai Văn Phô (1992) đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ đã đề cập đến vấn đề quy hoạch cây xanh để làm đẹp cảnh quan trong thành phố Huế [17]

Công trình “ Đôi nét về hiện trạng hệ thống cây xanh tạo bóng ở thành phố Huế” của tác giả Đỗ Xuân Cẩm (1996) đã xác định 86 loài thuộc 33 họ thực vật và đánh giá về chủng loại, phân bố cây xanh [2]

Phạm Minh Thịnh (2000) với đề tài “Nghiên cứu cây xanh đô thị ở thành phố Huế” của đã thống kê 165 loài cây xanh đô thị thuộc 140 chi của 69 họ trong

3 ngành thực vật bậc cao Trong đó ngành Ngọc lan chiếm ưu thế nhất với 156 loài, 131 chi và 62 họ [24] Sau đó, nhóm tác giả Phạm Minh Thịnh, Tôn Thất Pháp, Mai Văn Phô (2003) với công trình “Nghiên cứu cây xanh đô thị trong kiến trúc cảnh quan của thành phố Huế” đăng trên tạp san Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp của trường Đại học Nông lâm Hồ Chí Minh đã góp phần vào việc bảo vệ và phát triển các cây xanh ở thành phố Huế [25]

Trang 17

Phần 2

ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu của đề tài khóa luận tốt nghiệp là hai bờ sông Hương (bờ Bắc và bờ Nam sông Hương), đoạn chảy qua thành phố Huế được giới hạn từ chùa Thiên Mụ đến Vỹ Dạ

Trên cơ sở điều kiện tự nhiên và bản đồ địa hình của thành phố Huế, chúng tôi thực hiện 8 tuyến điều tra với 9 điểm khảo sát và thu mẫu:

+ Bờ Bắc sông Hương:

Tuyến 1 (T1): Từ Chùa Thiên Mụ đến Cầu Bạch Hổ: 1 điểm (M1)

Tuyến 2 (T2): Từ Cầu Bạch Hổ đến Cầu Phú Xuân: 2 điểm (M2), (M3) Tuyến 3 (T3): Từ Cầu Phú Xuân đến Cầu Tràng Tiền: 1 điểm (M4)

Tuyến 4 (T4): Từ Cầu Tràng Tiên đến Vỹ Dạ: 1 điểm (M5)

+ Bờ Nam sông Hương:

Tuyến 5 (T5): Từ Phường Đúc đến Cầu Bạch Hổ: 1 điểm (M6)

Tuyên 6 (T6): Từ Cầu Bạch Hổ đến Cầu Phú Xuân: 1 điểm (M7)

Tuyến 7 (T7): Từ Cầu Phú Xuân đến Đập đá: 1 điểm (M8)

Tuyến 8 (T8): Từ Đập đá đến Vỹ Dạ: 1 điểm (M9)

Các tuyến điều tra và các điểm khảo sát và thu mẫu được trình bày ở hình 2.1

Trang 18

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm khảo sát và thu mẫu ở hai bờ sông Hương

thuộc thành phố Huế

M1 – M9: Điểm thu mẫu theo các tuyến

2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài khoá luận tốt nghiệp được tiến hành từ tháng I – tháng V năm 2012 Trong thời gian thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp, để khảo sát và thu mẫu thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan ở ven bờ sông Hương, chúng tôi tiến hành 3 đợt khảo sát thực địa

Đợt 1: từ 5/3/2012 đến 8/3/2012: Tiến hành khảo sát và thu mẫu ở điểm M4 (tuyến 3), M8 (tuyến 7)

Đợt 2: từ 13/3/2012 đến 18/3/2012: Tiến hành thu thập số liệu và thu mẫu

ở các điểm M6 (tuyến 5), M7 (tuyến 6), M9 (tuyến 8)

Trang 19

Đợt 3: từ 20/3/2012 đến 23/3/2012: Tiến hành thu số liệu và thu mẫu ở điểm M1 (tuyến 1), M2 , M3 (tuyến 2), M5 (tuyến 4)

Thời gian giữa các đợt thu mẫu, chúng tôi tiến hành phân tích mẫu định danh tên khoa học, xử lý số liệu tại phòng thí nghiệm bộ môn Tài Nguyên – Môi Trường khoa Sinh học trường Đại học Khoa Học Huế Đồng thời trong thời gian này chúng tôi tham khảo tài liệu liên quan đến đề tài và tiến hành viết từng phần khoá luận

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài thực vật bậc cao có mạch làm cảnh quan phân bố ở hai bờ sông Hương, thành phố Huế

2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu thành phần loài thực vật bậc cao làm cảnh quan ở hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế

- Khảo sát hiện trạng phân bố thực vật bậc cao làm cảnh quan ở hai bờ sông Hương

- Đánh giá về vai trò cảnh quan của các nhóm thực vật bậc cao ở hai bờ sông Hương, thành phố Huế

- Đề xuất một số nhóm giải pháp bảo vệ, phát triển hợp lý nhóm thực vật bậc cao làm cảnh quan ở hai bờ sông Hương

2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Trang 20

- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rural Rapid Appraisal) và phiếu điều tra để tìm hiểu về thành phần loài, sự phân bố và vai trò cảnh quan của các loài thực vật bậc cao

- Phương pháp thu mẫu thực vật theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [23]

- Quan sát, ghi chép đặc điểm và dạng sống của các loài thực vật bậc cao, các điều kiện sinh thái, đặc điểm của môi trường

2.5.1.2 Phương pháp tiến hành

Sau khi xác định được mục tiêu cần đạt được, chúng tôi lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp Trước tiên thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thành phố Huế để có một nhận định sơ bộ về đặc điểm khu vực nghiên cứu Đối chiếu trên bản đồ lựa chọn những vùng cụ thể để khảo sát và điều tra

Sau đó kết hợp với những người dân biết và quan tâm đến thực vật bậc cao làm cảnh quan, thu mẫu cây, tìm hiểu vai trò cảnh quan của chúng Trong quá trình đi thực địa chúng tôi chuẩn bị và mang theo một số dụng cụ như: dao, kéo cắt cây, túi thu mẫu, giấy báo, sổ tay, bút chì, kim chỉ, dây cột

Mẫu thực vật được thu ngoài thực địa phải là mẫu có đầy đủ các thành phần đặc trưng, bao gồm thân (cành non, cành già), lá (lá non, lá trưởng thành), hoa (cụm hoa, hoa đực, hoa cái), quả (quả non, quả có hạt), hạt… Yêu cầu kích thước mẫu là vừa phải, đa số được gói gọn trên tờ giấy báo gấp 4, kích thước khoảng 30 x 40 cm

Mẫu thu được gắn nhãn mang thông tin về các đặc điểm của thực vật ngay lúc thu được (chủ yếu các đặc điểm không còn lưu lại trên mẫu sau khi mẫu bị sấy khô và ngâm tẩm như: màu sắc hoa, kích thước cây gỗ, nhưạ cây…) Nội dung của nhãn như bảng đi kèm sau:

Trang 21

Sau khi thu mẫu xong, xử lý tạm thời các mẫu trước khi xử lý trong phòng thí nghiệm và tránh được việc làm hỏng, làm biến dạng trạng thái tự nhiên của mẫu vật, mẫu được gói trong giấy báo và bọc kín trong túi polyetylen bảo quản trước khi xử lý trong phòng thí nghiệm

Song song với các đợt thu mẫu, chúng tôi tiến hành phỏng vấn được 11 người dân theo phiếu điều tra in sẵn để tìm hiểu về thành phần loài, sự phân bố

và vai trò cảnh quan của thực vật bậc cao có mặt ở hai bờ sông Hương Một số người dân được phỏng vấn trực tiếp:

Nguyễn Văn Minh, 25 tuổi, Hương Vinh, thị xã Hương Trà

Bùi Văn Mân, 40 tuổi, 105 Phan Chu Trinh, thành phố Huế

Phạm Thị Na, 32 tuổi, Kim Long, thành phố Huế

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.5.2.1 Xử lý và bảo quản mẫu vật

Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ngoài thực địa phải tiến hành xử lý trong phòng thí nghiệm để đảm bảo thời gian tồn tại của mẫu được lâu dài, tránh rụng

lá, hoa… Đầu tiên mẫu phải được trải trên giấy báo, trả về trạng thái tự nhiên của

Số hiệu:

Tên mẫu:

Phân bố:

Đặc điểm:

Vai trò cảnh quan

Ngày lấy mẫu:

Người lấy: Nguyễn Thị Hoàng Lan

Trang 22

lá (lá không nhăn, quăn, …) trên mẫu phải có lá sấp, lá ngữa để quan sát phân tích mẫu dễ dàng Hoa được mở một phần hay toàn bộ nhằm mục đích quan sát tốt nhất cho người giám định, quả và hạt thường được bổ ra (đối với các mẫu có quả mọng) để dễ nhận thấy cấu trúc bên trong của mẫu Mẫu được ép trong gỗ cứng, sấy khô hoàn toàn trong tủ sấy ở nhiệt độ 1050C với thời gian từ 6 – 8 giờ

2.5.2.2 Phân tích mẫu và định tên khoa học

Tại phòng thí nghiệm chúng tôi tiến hành phân tích mẫu, định tên khoa học thực vật bằng phương pháp so sánh hình thái, đây là phương pháp kinh điển

và phổ biến nhất, không đòi hỏi những trang thiết bị phức tạp, phù hợp với điều kiện của chúng tôi mà vẫn đảm bảo được sự chính xác Định loại thực vật dựa vào tài liệu chính sau:

- “Cây cỏ Việt Nam” 3 tập của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000) [8]

- “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” 6 tập của Lê Khả Kế [10]

- “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” của Võ Văn Chi (2007) [3]

- “Các họ thực vật có hoa phổ biến ở Việt Nam” của Nguyễn Nghĩa Thìn (2002) [20]

- “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1]

2.5.2.3 Đánh giá dạng sống

Khi phân tích dạng sống của các loài thực vật bậc cao ở hai bờ sông Hương thuộc thành phố Huế, chúng tôi đã chọn thang phân loại dạng sống theo Raunkiaer (1934) và Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [19] Cụ thể gồm các nhóm dạng sống sau:

Ph (Phanerophytes): Cây có chồi trên mặt đất, gồm những cây cao từ 3m trở lên

Ch (Chamaephytes): Cây có chồi sát mặt đất, gồm những cây có chồi khi chết trong mùa khô hay giá lạnh nằm cách mặt đất 30cm

Trang 23

Hm (Hemicryptophytes): Cây có chồi nữa ẩn, gồm những cây có chồi khô héo trong mùa khô hay giá lạnh nằm nữa dưới đất, sát mặt đất hay cách mặt đất 30cm

Cr (Cryptophytes): Cây có chồi ẩn, gồm những cây có chồi bị chết trong mùa khô hay mùa lạnh và nằm hoàn toàn dưới đất

Th (Therophytes): Cây chồi một năm, thường cây thảo sinh trưởng, ra hoa

và tàn lụi trong một năm

Trong đó cây có chồi trên mặt đất (Ph) chia làm các dạng sống phụ sau: Cây có chồi trên mặt đất lớn và vừa: Mega, Meso - Phanerophytes (MM), gồm những cây gỗ cao trên 8m

Cây có chồi nhỏ trên đất: Micro – Phanerophytes (Mi), cây gỗ cao từ 8 – 8m Cây có chồi lùn trên đất: Nano – Phanerophytes (Na), cây cao từ 0.3 – 3m Cây có chồi trên mặt đất leo quấn: Liano – Phanerophytes (Lp)

Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám: Epiphytes - Phanerophytes (Ep) Cây có chồi trên thân thảo: Phanerophytes - Phanerophytes (Hp)

Cây có chồi trên mọng nước: Succulentes – Phanerophytes (Sp)

- Các số liệu được thống kê và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel

Trang 24

Thành phố Huế kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam có toạ độ địa lý:

107o31„45„„ - 107o38' kinh Ðông và 16o30'„45„„ - 16o24' vĩ Bắc

Được giới hạn:

Phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà

Phía Nam giáp thị xã Hương Thủy

Phía Đông giáp với thị xã Hương Thủy và Huyện Phú Vang (Hình 3.1) Thành phố Huế nằm hai bên bờ sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km, cách biển Thuận An 12 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài

15 km và cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước

3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Trang 25

bằng phẳng trong đó có xen kẽ đồi, núi thấp như núi Ngự Bình cao 105 m, đồi Vọng Cảnh

Hình 3.1 Bản đồ thành phố Huế

(Nguồn: Bản đồ hành chính thành phố Huế Tỉ lệ: 1:11000)

Đồng bằng sông Hương kéo dài trên dưới 30 km về phía Đông Nam đến tận đầm Cầu Hai và có bề rộng trung bình khoảng 5 - 6 km Giới hạn Tây Nam là vùng gò đồi thấp nối kết nhau, tạo thành ranh giới chuyển tiếp cả về địa chất lẫn địa mạo: một bên là gò đồi đá gốc bị phong hóa, bóc mòn mạnh, bên khác là đồng bằng thấp cấu tạo từ trầm tích đa nguồn gốc, trong đó trầm tích bột sét sông biển Holocen là chủ yếu, còn ranh giới Đông Bắc và Đông Nam lần lượt là đầm Thủy Tú và đầm Cầu Hai, đồng bằng sông Hương cũng được hình thành sau quá trình bồi tụ lâu dài do các sông suối bắt nguồn từ sườn Đông dãy Trường Sơn Bắc đưa phù sa tới lấp đầy vịnh cổ trước đây Quá trình lấp cạn đầm phá, mở rộng đồng bằng đang tiếp tục ở cả hai phía Đông Bắc (đầm Thủy Tú) và Đông Nam (đầm Cầu Hai)

Thành phần trầm tích bề mặt đồng bằng sông Hương khá đa dạng Bên

Trang 26

cạnh cát, bột - sét, bùn cấu tạo tầng mặt của phần lớn diện tích đồng bằng, ở đây còn gặp cát (trảng cát nội đồng) của hệ tầng Nam Ô kéo dài theo hướng Tây Bắc

- Đông Nam từ Phú Xuân cho tới Vinh Hà Dọc rìa Tây Nam đồng bằng, trầm tích bề mặt lại đa dạng nhất về nguồn gốc, tuổi và cả thành phần cơ giới Trên lãnh thổ này, ngoài đất phong hóa từ đá gốc, còn phát hiện thấy cát biển hệ tầng Phú Xuân, hệ tầng Nam Ô và cát, cuội, tảng lẫn bột - sét của sông suối hiện đại

3.1.2.2 Đặc điểm về địa mạo [4]

Nhìn chung độ cao tuyệt đối, hướng nghiêng của bề mặt đồng bằng sông Hương có xu hướng giảm dần và nghiêng từ rìa Tây Nam về Đông Bắc hoặc từ rìa Tây Bắc xuống Đông Nam, tức là trùng hợp hướng dòng chảy sông Hương và các sông suối khác Thật vậy, ở rìa Tây Nam và Tây Bắc độ cao tuyệt đối tới 8-10m, nhưng đến nơi sông Hương đổ vào phá Tam Giang, sông Đại Giang giao lưu với đầm Cầu Hai có độ cao từ 1,5 – 2m Song trên bình diện chung đó vẫn tồn tại một số nơi vượt cao hoặc trũng thấp khác thường

Địa mạo đồng bằng sông Hương bị biến đổi hàng năm và mạnh nhất tại các vùng ven sông Nguyên nhân cơ bản gây ra những biến đổi mạnh mẽ đó cũng lại là quá trình xói lở - bồi lấp của dòng chảy lũ ở vùng hạ lưu sông Hương kể từ ngã ba Tuần (Thủy Bằng, Hương Thọ) đến gần cửa sông (Phú Thanh, Quảng Thành)

3.1.3 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng

Thành phố Huế có diện tích đất tự nhiên 7.168,49 ha chiếm 1,42% diên tích toàn tỉnh (Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 503.302,53 ha) [4]

Theo FAO –UNESCO: Thành phố Huế có các loại đất sau [45]:

+ Nhóm đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất do thành phố Huế nằm ở hạ lưu sông Hương và gồm nhiều sông ngòi lớn nhỏ khác nhau

+ Nhóm đất đỏ vàng là loại đất quan trọng phân bố ở những vùng đồi núi

ở thành phố Huế, hiện đang được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

+ Ngoài ra, còn có các nhóm đất khác chiếm tỉ lệ thấp như: đất mùn vàng

đỏ trên núi, đất xói mòn trơ sỏi đá, nhóm đất xám bạc màu

Trang 27

3.1.4 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu thành phố Huế thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta [45]

3.1.4.1 Nhiệt độ [45]

Thành phố Huế thuộc vùng nội chí tuyến nên thừa hưởng chế độ bức xạ phong phú, nền nhiệt độ cao, đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Mặt khác, do nằm ở miền trung Việt Nam, lại bị núi Bạch Mã án ngự theo phương á vĩ tuyến ở phía Nam nên khí hậu thành phố Huế mang đậm nét vùng chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc nước ta

Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24°C - 25°C

+ Mùa nóng: từ tháng V đến tháng IX, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C - 29°C, tháng nóng nhất (tháng V , VI) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C

+ Mùa lạnh: Từ tháng X đến tháng III năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa mưa là 20°C đến 22°C

3.1.4.2 Lượng mưa [45]

Thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa thiên Huế là một trong những nơi có lượng mưa lớn nhất nước Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng IX đến tháng II năm sau, tháng X có lượng mưa lớn nhất, chiếm 30% lượng mưa cả năm

Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn

do đó dễ gây lũ lụt, xói lở

3.1.4.3 Độ ẩm [45]

Độ ẩm ở thành phố Huế trung bình 85% - 86% Do ảnh hưởng của dãy

Trang 28

Trường Sơn nên tạo ra thời tiết khô nóng Thời kỳ khô nóng từ tháng III – tháng VIII, độ ẩm trung bình dao động từ 84 – 88% Độ ẩm lớn nhất từ tháng X năm nay đến tháng I năm sau thường từ 92 – 93%

3.1.4.4 Gió bão [45]

Gió bão chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: gió mùa đông và gió mùa hè + Gió mùa hè: Bắt đầu từ tháng IV đến tháng VIII, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài

Gió mùa hè thịnh hành là gió Tây Nam Gió Tây Nam vốn là luồng không khí có hàm lượng ẩm cao đem lại nhiều mưa ở Tây Trường Sơn Khi vượt qua dãy núi Trường Sơn đã mất tính chất ban đầu do hiệu ứng Feul và trở thành luồng gió khô, nóng tràn vào trong khu vực

+ Gió mùa đông: Bắt đầu từ tháng IX đến tháng III năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt

Gió mùa đông có hướng Bắc dần dần chuyển sang hướng Đông Bắc kéo dài từ tháng XI đến tháng II năm sau mang theo nhiều không khí lạnh và mưa ở phía Bắc tràn về, làm giảm nhiệt độ của không khí và nước Tốc độ gió của vùng đồng bằng không lớn, bình quân 1,5m/s, tháng XII có gió mạnh nhất đạt chỉ số trung bình trong tháng là 3,1m/s

+ Bão thường xuất hiện từ tháng VIII đến tháng IX – tháng X Trong các tháng mùa mưa, tập trung nhiều bão nhất, tốc độ gió có thể đạt 40m/s, kèm theo mưa lớn gây ra lũ lụt Lượng mưa có thể đạt tới 200 – 300mm/ngày

Các tố khí hậu của khu vực nghiên cứu được trình bày tóm tắt ở bảng 3.1

Trang 29

Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu của khu vực nghiên cứu STT Các yếu tố Giá trị trung bình

1 Nhiệt độ trung bình hàng năm ( 0

Nguồn: Dư địa chí Thừa Thiên Huế (2011)

3.1.5 Đặc điểm thủy văn [44, 45]

Chế độ thủy văn của thành phố Huế chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Hương Hệ thống sông Hương có lưu vực dạng hình nan quạt với diện tích lưu vực 2.830 km2, chiếm gần 3/5 diện tích tự nhiên của tỉnh, chiều dài sông 104 km

Hệ thống sông Hương có 3 nhánh sông chính: Sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông

Tả Trạch (dòng chính) Theo đặc điểm hình thái dòng chính của hệ thống sông Hương có thể tách thành hai đoạn: đoạn chảy qua đồi núi và đoạn chảy qua đồng bằng duyên hải Đoạn sông chảy qua đồi núi thường có đáy sông dốc, nhiều thác ghềnh, không bị ảnh hưởng triều, vào mùa lũ lưu lượng, vận tốc, mực nước đều rất cao, ngược lại trong mùa cạn các đặc trưng thủy văn này đều đạt giá trị rất thấp, lòng sông lộ nhiều cuội sỏi, đá tảng Đoạn sông chảy qua vùng đồng bằng dòng sông hiền hòa, chảy quanh co và bị ảnh hưởng mạnh của thủy triều và bị nhiễm mặn [45]

Sông Hương có 2 nhánh lớn nhất là Tả Trạch và Hữu Trạch Nhánh sông Hữu Trạch chảy từ động Ruy, còn sông Tả Trạch chảy từ núi Vang và chung hợp

Trang 30

nhau đổ vào sông chính ở ngã ba Tuần Mùa lũ xảy ra trên sông Hương từ tháng

IX đến tháng I, cực đại là tháng X, mùa cạn từ tháng I – VIII [44]

+ Sông Hữu Trạch: Bắt nguồn từ nơi có độ cao khoảng 500m ở vùng núi thấp phía Đông A Lưới - Nam Đông, chảy theo hướng Nam Bắc cho đến Bình Điền, từ Bình Điền dòng chảy đổi sang hướng Tây Nam - Đông Bắc và cuối cùng hội nhập với sông Tả Trạch ở ngã ba Tuần Từ nguồn đến ngã ba Tuần chiều dài dòng chính là 51km, diện tích lưu vực là 729km2 và độ dốc bình quân lòng sông chính là 9,8 m/km

+ Sông Tả Trạch: Là nhánh sông chính bắt nguồn từ vùng núi trung bình huyện Nam Đông với độ cao tuyệt đối 900m Sông chính chảy theo hướng chung Nam Đông Nam - Bắc Tây Bắc cho tới ngã ba Tuần thì hội nhập với sông Hữu Trạch và trở thành sông Hương Từ đây sông Hương uốn lượn quanh co qua kinh thành Huế và đến Bao Vinh lại chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc để rồi sau đó hội lưu với sông Bồ tại ngã ba Sình trước khi đổ ra phá Tam Giang và chảy ra biển theo hai cửa Thuận An và Tư Hiền Tính đến Dương Hoà, chiều dài dòng chính là 54km, diện tích lưu vực là 717km2

và độ dốc bình quân lòng sông chính là 16,5m/km Nếu tính đến nơi đổ ra phá Tam Giang, sông chính có chiều dài là 104km, diện tích lưu vực là 2.830km2

và độ dốc bình quân lòng sông là 8,65m/km

+ Sông Bồ: Bắt nguồn từ vùng núi có độ cao tuyệt đối khoảng 650m ở phía Đông A Lưới, chảy qua lãnh thổ Hương Trà, Phong Điền theo hướng Nam - Bắc cho đến phía dưới ngã ba hội lưu với Rào Tràng, từ ngã ba Rào Tràng đến Phú Ốc sông chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc, sau đó lại chuyển hướng Đông và hội lưu với sông Hương ở ngã ba Sình Chiều dài dòng chính sông Bồ tính đến Cổ Bi là 64km, đến ngã ba Sình là 94km Diện tích lưu vực tính đến Cổ

Bi là 720km2, đến ngã ba Sình là 938km2 Độ dốc đáy sông trong vùng đồi núi đạt 10,2m/km, độ dốc bình quân chung là 6,9 m/km

Ngày đăng: 12/08/2020, 18:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Xuân Cẩm (1996). “Đôi nét về hiện trạng hệ thống cây xanh tạo bóng ở Tp Huế”.Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ. Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế, số 3, tr. 46 – 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về hiện trạng hệ thống cây xanh tạo bóng ở Tp Huế
Tác giả: Đỗ Xuân Cẩm
Năm: 1996
17. Mai Văn Phô (1992). “Về việc trồng cây xanh ở thành phố Huế”. Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ. Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế, số 1, tr 104 – 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc trồng cây xanh ở thành phố Huế
Tác giả: Mai Văn Phô
Năm: 1992
18. Quyết định số 01/2006/QĐ – BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ngày 05/01/2006 Ban chấp hành TCXDVN 362: 2005 “ Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế
20. Nguyễn Nghĩa Thìn (2002). Các họ thực vật có hoa phổ biến ở Việt Nam. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Vườn thực vật Mitxuri – Hoa Kỳ. Dự án “Bảo tồn thực vật Việt Nam”. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Năm: 2002
25. Phạm Minh Thịnh, Tôn Thất Pháp, Mai Văn Phô (2002). “Nghiên cứu cây xanh đô thị trong kiến trúc cảnh quan của thành phố Huế”. Tập san Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm TP. HCM, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cây xanh đô thị trong kiến trúc cảnh quan của thành phố Huế
Tác giả: Phạm Minh Thịnh, Tôn Thất Pháp, Mai Văn Phô
Năm: 2002
26. Thông tƣ số 20/2005/TT – BXD ngày 20/12/2005 của Bộ Xây dựng “ Về việc hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị
39. Mark C. Dwyer & Robert W. Miller (1999), “Using gis to assess urban tree canopy benefist and surrounding greenspace distributions”, Journal of Arboriculture, 25(2), pp. 102-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using gis to assess urban tree canopy benefist and surrounding greenspace distributions
Tác giả: Mark C. Dwyer & Robert W. Miller
Năm: 1999
42. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2011. Phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của thành phố Huế.http://www.huecity.gov.vn Link
44. Cổng thông tin điện tử thành phố Huế. http://www.huecity.gov.vn 45. Dƣ địa chí Thừa thiên Huế. http://www.thuathienhue.gov.vn 46. Trương Mai Hồng. 2010. Bài giảng cảnh quan đô thị. 2010.http://www.mediafire.com/?4i30ej5z38wxwf7 Link
1. Nguyễn Tiến Bân (1997). Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp. Hà Nội Khác
3. Võ Văn Chi (2007). Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam. NXB Giáo dục. Tp Hồ Chí Minh Khác
4. Cục thống kê Thừa Thiên Huế (2011). Niên giám thống kê Thừa thiên Huế 2010 Khác
5. Nguyễn Xuân Cự, Đỗ Đình Sâm (2003). Tài Nguyên Rừng. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội. Hà Nội Khác
6. Phạm Kim Giao và cộng sự (1993). Quy hoạch đô thị. NXB Xây dựng. Hà Nội Khác
7. Trần Đình Hiếu (2006), Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị. NXB Đại học Huế. Huế Khác
8. Phạm Hoàng Hộ. 1999 – 2000. Cây cỏ Việt Nam (tập 1 – 3). NXB Trẻ. Tp Hồ Chí Minh Khác
9. Trần Hợp (1993). Cây cảnh, hoa Việt Nam. NXB Nông nghiệp. Hà Nội Khác
10. Lê Khả Kế và cộng sự (1969 – 1979). Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (tập 1 – 6). NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội Khác
11. Đỗ Tất Lợi (2003). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Y học. Hà Nội Khác
12. Chế Đình Lý (1997). Cây xanh phát triển và quản lý trong môi trường đô thị. NXB Nông nghiệp. Tp Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w