1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769) ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

46 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, địa hình phức tạp và chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo cho Thừa Thiên Huế sự đa dạng về sinh cảnh, là tiền đề cho sự đa dạng hệ động thực vật. Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,53 ha (theo báo cáo thống kê đất đai năm 2011 của UBND tỉnh), kéo dài theo hướng Tây Bắc Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xã Sơn Thủy Ba Lé (A Lưới) 65km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2 – 3 km 2. Bên cạnh đó, hệ thủy vực nước ngọt ở Thừa Thiên Huế rất lớn và đa dạng. Tổng chiều dài sông suối tự nhiên và sông đào đạt tới 1.055 km, tổng diện tích lưu vực tới 4.195 km2. Mật độ sông suối dao động trong khoảng 0,3 1 kmkm2, có nơi tới 1,5 2,5 kmkm2 2. Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế từ Bắc vào Nam gặp các sông chính sau: Sông Ô Lâu, hệ thống Sông Hương, sông Nong, sông Truồi, sông Cầu Hai, sông Bù Lu. Do vậy khu hệ cá nước ngọt ở đây rất phong phú và có sự đa dạng sinh học về cá rất lớn. Tuy nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là về cá ở Thừa Thiên Huế rất phong phú nhưng vẫn chưa được khai thác, nuôi trồng một cách hợp lí và hiệu quả. Điều này phần lớn là do còn thiếu nghiên cứu có hệ thống về các đặc điểm sinh học của chúng, do vậy chưa tác động vào nguồn lợi này một cách thích hợp. Vì lí do kể trên chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769) ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm góp phần hiểu rõ hơn các đặc điểm sinh học của loài cá giá trị này, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc khai thác, nuôi và bảo vệ cho phù hợp.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, địa hình phức tạp vàchịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo cho Thừa Thiên Huế sự đadạng về sinh cảnh, là tiền đề cho sự đa dạng hệ động - thực vật

Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,53 ha (theo báo cáothống kê đất đai năm 2011 của UBND tỉnh), kéo dài theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây);

mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọctuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xãSơn Thủy - Ba Lé (A Lưới) 65km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉkhoảng 2 – 3 km [2]

Bên cạnh đó, hệ thủy vực nước ngọt ở Thừa Thiên Huế rất lớn và đa dạng

Tổng chiều dài sông suối tự nhiên và sông đào đạt tới 1.055 km, tổng diện tíchlưu vực tới 4.195 km2 Mật độ sông suối dao động trong khoảng 0,3 - 1 km/km2,

có nơi tới 1,5 - 2,5 km/km2 [2]

Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế từ Bắc vào Nam gặp các sông chính sau:

Sông Ô Lâu, hệ thống Sông Hương, sông Nong, sông Truồi, sông Cầu Hai, sông

Vì lí do kể trên chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh

học của cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769) ở huyện Phú Lộc, tỉnh

Thừa Thiên Huế” nhằm góp phần hiểu rõ hơn các đặc điểm sinh học của loài cágiá trị này, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc khai thác, nuôi và bảo vệ chophù hợp

Trang 2

Phần 1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu cá mới được chú trọng từ 1945 trở lại đây.Theo Bộ Thủy sản (1996), công trình nghiên cứu đầu tiên là một số tác giả ngườipháp như A.Tirant (1881) nghiên cứu về các loài cá ở Việt Nam [25]

Giai đoạn từ sau 1954, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở miềnBắc: Mai Đình Yên, Hoàng Đức Đạt [20]

Miền Nam cũng có các công trình nghiên cứu của Trần Ngọc lợi, NguyễnCháu, Trần Túy Hoa, Mai Đình Yên [22]

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngay từ năm 1975 đã có nhiềucông trình nghiên cứu về các loài cá kinh tế Các công trình được bắt đầu từ cácloài cá nước ngọt, về khu hệ cá, sinh thái, sinh học về các loài cá Các hệ sinhthái cửa sông, vùng ao, đầm nước ngọt cũng được nghiên cứu tính đa dạng sinhhọc và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo khu vực Tính đa dạng vềcông trình nghiên cứu thể hiện ở 3 Hội nghị Khoa học: Hội nghị Khoa học toànquốc về Biển (1977, 1980, 1991); Hội nghị Khoa học về đầm phá tại Huế (1980),Hội nghị chuyên khảo về Cá ở Viện nghiên cứu Các kết quả tiêu biểu gồm cóNguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần cá sông Hương đã thống kê được 58 loài;Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam, đã mô tả được 83 loại DươngTuấn (1979): Đặc điểm khu hệ cá ở đầm phá Trà Ổ: 67 loài [22]

Hai công trình mang tính tổng hợp các kết quả nghiên cứu cá của thời kìtrước được công bố là: “ Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam”của Mai Đình Yên (1978) đã thống kê danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa địnhloại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc

Trang 3

nước ta và “ Định loại các loài cá Nam Bộ” do Mai Đình Yên chủ biên với cáccộng sự: Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa BạchLoan (1992), mô tả định loại 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam Đây là hai côngtrình tổng hợp đầy đủ nhất hiện nay về khu hệ cá nước ngọt miền Bắc và miềnNam nước ta, được sử dụng như một tài liệu chính trong việc định loại các loài

cá nước ngọt Việt Nam [31], [32]

Những nghiên cứu của thời kỳ này đã gắn bó được với việc bảo vệ nguồnlợi, bảo vệ môi trường với thực tiễn sản xuất nghề cá Những dẫn liệu về thànhphần loài, đặc tính sinh học, sinh thái của quần chủng cá ngày càng phong phú vàhoàn thiện Tuy nghiên, các công trình công bố cũng chỉ mới tập trung ở thủyvực phía Bắc và phía Nam, nơi gần trung tâm nghiên cứu quốc gia

Ở vùng nước ngọt miền Trung, Tây Nguyên đã có một số công bố về đặcđiểm, thành phần khu hệ cá sông suối, hồ đầm phá ven biển miền Trung gồm cáccông trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dực (1994) [33]; Võ Văn Phú (1995,

2000, 2001,…); Võ Văn Phú và Trương Thị Thu Hà (2003); Võ Văn Phú,Nguyễn Duy Chinh, Hồ Thị Hồng (2004) [20]

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu cuộc sống ngày càngcao, những ngư cụ và phương pháp đánh bắt cá dần dần được cải tiến hơn đã làmtăng sản lượng khai thác, nên khai thác cá không chỉ để cung cấp nguồn thựcphẩm trong nước mà còn chế biến sản phẩm xuất khẩu qua các nước khác Điềunày đã tác động đến điều kiện tự nhiên của thủy vực nội địa, gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến tài nguyên sinh học, trong đó có các loài cá kinh tế Vì vậy việcnghiên cứu cá đã gắn liền với việc bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường và thực

tế sản xuất cá Các nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh thái, phân bố của cácloài cá có giá trị kinh tế càng được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và

số lượng đàn cá nuôi

Các nghiên cứu về đặc tính sinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ởĐầm Phá (Thừa Thiên Huế) của Võ Văn Phú, Đặng Thị Diệu Tâm (1978) [22];

Võ Văn Phú (1991, 1994, 1995, 1999, 2000) [7], [9]

Trang 4

Nghiên cứu về đặc trưng phân bố các loài và đặc điểm địa động vật họccủa cá nước ngọt Việt Nam có các tác giả Mai Đình Yên (1983), Nguyễn Thái

Tự (1983,1997, 1998) và Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991), Võ Văn Phú(1995,1997, 1999, 2000), Nguyễn Quốc Nghị, Ngô Sĩ Vân (1999), Nguyễn ThịThu Hè (2000), [31], [33], [13], [14], [15], [16]…

Hoàng Đức Đạt, Thái Trọng Trí, Nguyễn Xuân Thư, 2003 “Nghiên cứu

một số đặc điểm sinh học loài cá Lăng Nha (mytus nemurus)”, Những vấn đề cơ

bản trong Khoa học sự sống [1]

Phan Nữ Phước Hồng (2004), Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và phân

bố của một số loài cá ở sông Hương, Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ khoa

học, Khoa sinh Trường Đại Học Khoa Học Huế [6]

Võ Văn Phú, Nguyễn Hữu Quyết, Hồ Thị Hồng (2005) “ Đặc điểm sinh

học của cá Dầy (cyprinus centralus) vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế” [26]

Bùi Minh Thắng (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh

học của cá Niên (Onychostoma laticeps Gunther,1896) tại hồ Phú Ninh và vùng

phụ cận, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại Học Khoa Học Huế[28]

Võ Văn Phú, Đặng Thị Thanh Huyền (2008), Nghiên cứu đặc điểm sinh

học của cá Thát lát – Notopterus notopterus (Pallas, 1769) ở hồ Phú Ninh, tỉnh

Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Thủy sản, Đại học Nha Trang [23]

Nhìn chung những nghiên cứu toàn diện về cá đang được đẩy mạnh và cónhững bước tiến vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, bảo vệ vànuôi trồng có hiệu quả cao hơn

2 Tình hình nghiên cứu cá ở Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, địa hình phức tạp vàchịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo cho Thừa Thiên Huế sự đadạng về sinh cảnh, là tiên đề cho sự đa dạng hệ động- thực vật nhưng việc nghiên

Trang 5

cứu hệ động thực vật ở đây còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng củavùng.

Ở Thừa Thiên Huế có các công trình của các tác giả như: Võ Văn Phú:Thành phần loài cá ở đầm Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế, (1994); Lê Vũ Khôi,Ngô Đắc Chứng, Lê Trọng Sơn: Đa dạng sinh học Vườn Quốc Gia Bạch Mã,(2004); Võ Văn Phú: Dẩn liệu bước đầu về thành phần loài cá khe suối VườnQuốc Gia Bạch Mã

Những kết quả đã nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến cáccông trình của các tác giả:

Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá

Dìa (Siganus guttatus) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế

Võ Văn Phú (1991): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh

tế ở vùng đầm phá, tỉnh thừa Thiên Huế

Võ Văn Phú (1991): Góp phần tìm hiểu đặc tính sinh học của cá Mòi Cờ

chấm (Clupanodon punctatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [13].

Võ Văn Phú (1994): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Căng bốn sọc

(Pelates quadrilineatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [14].

Võ Văn Phú (1995): Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế

ở hệ đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [15]

Võ Văn Phú, Đặng Thị Thu Hiền, Phan Văn Cư (1996): Đặc điểm sinh

học của cá Móm gai dài (Gerres filamentosus Cuvier) ở hệ đầm phá tỉnh Thừa

Thiên Huế [16]

Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng (2001), “Đặc tính sinh sản của cá Dầy

(Cyprinus centralus Nguyen et Mai,1994) ở phá Tam Giang Cầu Hai, tỉnh Thừa

Thiên Huế” [18]

Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Hữu Dực (2002) đã tiến hành nghiên cứu cấutrúc thành phần loài khu hệ cá phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế đãthống kê được 117 loài thuộc 129 giống của 73 họ trong 18 bộ khác nhau Nghiên

Trang 6

cứu đã bỗ sung thêm về sự phong phú và đa dạng thành phần loài cá được điềutra, định loại tại khu vực này [5].

‘Dẫn liệu về đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá Trê (clarias

fuscus) ở Thừa Thiên Huế’ của Lê Thị Nam Thuận, (2003) [23].

Các nghiên cứu của Võ Văn Phú cùng Huỳnh Quang Huy (2007): Nghiên

cứu đặc điểm sinh học của cá Diếc (Carassius auratus) ở thủy vực Thừa Thiên

Huế [23]

Võ Văn Phú (2009) trong quá trình nghiên cứu: “Cấu trúc thành phần loài

cá ở hệ thống sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế”, đã lập được danh lục thành phầnloài cá ở hệ thống sông Ô Lâu bao gồm: 109 loài cá nằm trong 76 giống thuộc 31

họ của 11 bộ khác nhau Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tính đa dạng sinh học ở

hệ thống sông Ô Lâu không chỉ thể hiện ở taxon bậc loài mà còn thể hiện ở các bậctaxon cao hơn Tính bình quân, mỗi bộ chứa 2,82 họ; 6,91 giống; 9,91 loài Mỗi họchứa 2,45 giống; 3,52 loài và mỗi giống chứa 1,43 loài [24]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục đẩy mạnh vàquan tâm, có những bước tiến vững chắc Tuy nhiên chưa có một công trìnhnghiên cứu nào công bố một cách toàn diện về thành phần loài cá ở miền Trungnói chung, Thừa Thiên Huế nói riêng

II ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Tên: Cá Thát lát (Cá Phát lát) Notopterus notopterus (Pallas, 1769).

Giống: Cá Thát lát Notopterus Lacépède, 1800.

Họ: Cá Thát lát Notopteridae

Bộ: Cá Thát lát Osteoglossiformes

Lớp: Cá xương Osteichthyeo

Trang 7

Hình 2.1 Cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769)

2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1 Địa điểm

Thu mẫu ở 5 vùng khác nhau gồm: xã Lộc An, xã Lộc Hòa, xã Lộc Bổn,

xã Lộc Sơn và trị trấn Phú Lộc, thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Bảng 2.1 vị trí các vùng thu mẫu

2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 2/2012 đến tháng 5/2012

3 phương pháp nghiên cứu

Trang 8

3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Kế thừa có chọn lọc các thông tin, số liệu từ các công trình nghiên cứu cóliên quan đã công bố qua các sách báo, tạp chí, tài liệu lưu trữ

3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

- Thu mẫu cá Thát lát bằng nhiều cách khác nhau:

+ Đánh bắt cùng ngư dân

+ Mua tại các hộ ngư dân

+ Thu mua từ các chợ cá đầu mối

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu nghiên cứu ở huyện Phú Lộc

Trang 9

- Thu thập thông tin về tình hình khai thác, đối tượng nghiên cứu ở các

khu vực nghiên cứu bằng phỏng vấn trực tiếp ngư dân hoặc bằng phiếu điều tra,

Quan sát về tình hình khai thác, đánh bắt ở các thủy vực khác nhau trênđịa bàn huyện Phú Lộc Từ đó có căn cứ để đánh giá hoặc phỏng vấn trực tiếpcác ngư dân để tìm hiểu các thông tin khác ( mùa vụ khai thác, nhu cầu, thị hiếutiêu dùng…)

- Mẫu cá thu được phải tươi, không có dị tật và tiến hành cân đo để nghiêncứu một số đặc điểm sinh học

3.2.1 Thu mẫu nghiên cứu sinh trưởng

Mẫu xử lí khi còn tươi, đo các chỉ tiêu về chiều dài thân L(mm) và

L0(mm); cân trọng lượng W (g) và W0 (g) của cá

Trong đó:

- L: Chiều dài cơ thể cá từ mõm đến hết đuôi dài nhất (mm)

- L0: Chiều dài cơ thể cá từ mõm đến hết phần vẩy trên vây đuôi (mm)

- W: Trọng lượng toàn thân cá (g)

- W0: Trọng lượng cá bỏ nội quan (g)

Để xác định tuổi chúng tôi lấy vẩy ở vùng xem tuổi rõ nhất ( thường lấyvẩy ở vùng bên sườn, trên đường bên, ngay dưới trước vây lưng)

3.2.2 Thu mẫu nghiên cứu dinh dưỡng

Mẫu cá được xử lí ngay khi còn tươi sống, được giải phẫu theo từng nhómchiều dài để quan sát ruột và lấy thức ăn trong ống tiêu hóa, định hình ống tiêuhóa trong dung dịch Fomol 4% hoặc cồn 700

3.2.3 Thu mẫu nghiên cứu sinh sản

Mẫu cá khi thu được giải phẫu, xác định trọng lượng và các giai đoạn chínmuồi sinh dục của tuyến sinh dục về hình thái theo thang 6 bậc của K.A.Kiselevits (1923); O Xakums và A Buskaia (1968), sau đó định hình bằng dungdịch Bouin

Trang 10

3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

3.3.1 Chỉ tiêu hình thái phân loại

- Đo đếm các chỉ tiêu phân loại dựa vào các tài liệu nghiên cứu cá củaPravdin, V [17], Mai Đình Yên [32],…

- So sánh với mẫu chuẩn

3.3.2 Về sinh trưởng

- Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng

Dựa vào các chỉ số về chiều dài và trọng lượng để xác định tương quancủa cá theo phương trình của R J H Beverton – S J Holt (1956):

W = a×Lb

Trong đó:

W: Trọng lượng toàn thân của cá (g)

L: Chiều dài toàn thân của cá từ mút mõm đến hết tia vây đuôi dài nhất(cm)

a, b: Hệ số cần xác định, tính theo phương trình tính toán hồi quy thựcnghiệm

- Xác định tuổi:

Dùng vẩy để xác định tuổi của cá Vẩy quan sát được ngâm trong dungdịch NaOH 4% để tẩy mỡ, các chất bẩn, các sắc tố bám trên vẩy Sau đó vớt ralàm sạch các chất bẩn hay các sắc tố trên vảy để có được vẩy cá trong suốt Rửabằng nước sạch Sau đó lau khô, quan sát vòng năm bằng kính lúp 2 mắt và đobán kính vẩy, kích thước vòng năm dưới kính hiển vi và gắn trắc vi thị kính

3.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá

- Xác định thành phần thức ăn: Mẫu cá thu được phân thành 4 nhóm cókích thước khác nhau Tách thức ăn ra khỏi ruột và dạ dày của từng cá thể , quansát dưới kính hiển vi hoặc kính lúp 2 mắt định loại các thành phần thức ăn đếntừng bậc taxon có thể phân loại được (giống, bộ, họ) Đếm số lượng thức ăn để

Trang 11

xác định tần số xuất hiện cũng như mức độ tiêu hóa thức ăn của cá theo “Hướng

dẫn nghiên cứu cá” của Pradin I F (1973).

- Xác định độ no: Dựa vào sức chứa thức ăn trong ống tiêu hóa để đánhgiá cường độ bắt mồi của cá Độ no của cá được xác định theo thang 5 bậc củaLebedep [17]

Bậc 0: Ruột và dạ dày không có thức ăn

Bậc 1: Ruột có ít thức ăn, dạ dày không có thức ăn

Bậc 2: Ruột và dạ dày đều có thức ăn ở mức thông thường

Bậc 3: Dạ dày và ruột chứa nhiều thức ăn, phình to căng

Bậc 4: Dạ dày và ruột chứa nhiều thức ăn, vách dạ dày phình to Dưới tácdụng của áp suất khi giải phẫu có thể vỡ ra

- Xác định độ mỡ: Theo thang 5 bậc của Prozorovskaia [17]

- Xác định hệ số béo: Thống nhất với quan điểm của G V Nikolxki(1963), chúng tôi dùng cả hai phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928) đểxác định hệ số béo của cá [17]

Công thức Fulton (1902): Q = W 100/L3

Công thức Clark (1928): Q = W0 100/L3

Trong đó, Q: Hệ số béo của cá

L: Chiều dài toàn thân cá (mm)

W, W0: Trọng lượng toàn thân và bỏ nội quan cá (g)

3.3.4 Về sinh sản

- Xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục:

Xác định các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá theo thang 6 bậc củaKiselevits (1923) [26] và O Xakun và A Buskaia (1968) [34] Trên cơ sở đó,đánh giá được thời gian đẻ trứng của cá

Để làm tiêu bản nghiên cứu chúng tôi tiến hành bảo quản tuyến sinh dụctrong dung dịch Fomol 10% và tiến hành đúc cắt mẫu ở Bệnh viện TW Huế

Trang 12

Đọc tiêu bản dưới kính hiển vi có độ phóng đại 40 lần theo quan điểm của

O F Xakun và A N Buskaia (1968) Kiselevits (1923) [23] và Xakun (1968)[23] và tiến hành chụp ảnh hiển vi tuyến sinh dục

- Xác định sức sinh sản: Xác định sức sinh sản theo phương pháp cântrọng lượng Cân toàn bộ tuyến sinh dục, lấy mẫu ở 3 vùng khác nhau trên chiềudài của tuyến Số trứng trong buồng trứng là sức sinh sản tuyệt đối của cá Đếmlặp lại nhiều lần số trứng ở cả 3 vùng trên một đơn vị trọng lượng bằng phòngđếm động vật để có kết quả chính xác Dựa vào sức sinh sản tuyệt đối, chúng tôitính được sức sinh sản tương đối là số trứng trên một đơn vị trọng lượng cơ thể

Xác định sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối của cá theo côngthức:

+ Sức sinh sản tuyệt đối: T = m/Wt

+ Sức sinh sản tương đối: t = T/W

Trong đó:

T: Sức sinh sản tuyệt đối (tế bào trứng/ cá thể)

t: Sức sinh sản tương đối (trứng/ g)

Trang 13

III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI

1 Điều kiện tự nhiên

Vùng đồng bằng bán sơn địa nằm xuyên phía Bắc huyện, gồm vùng đấtven phá và dãy đồi, chạy dọc theo vùng núi cao, giáp với đầm Cầu Hai [2]

1.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Hệ thống sông ngòi Phú Lộc phân bố đều trên lãnh thổ Đại bộ phận sôngsuối đều bắt nguồn từ vùng núi rừng thuộc sườn phía Tây của dãy Trường Sơn vàvùng núi Bạch Mã Vùng đồng bằng nhỏ hẹp lại có các cồn chắn ngang trướcvùng tiếp giáp với biển Với đặc trưng địa hình trên, cùng với lượng mưa và hoạtđộng khác của người dân đã ảnh hưởng không nhỏ đến chế độ thủy văn của cáccon sông huyện Phú Lộc, đặc biệt là sông Truồi, con sông lớn nhất và quan trọngnhất vùng này [2]

Sông Truồi có chiều dài dòng chính là 24 km, khoảng 2/3 chiều dài sôngchảy qua vùng núi và rừng rậm có độ cao 200 - 820, có diện tích lưu vực khoảng

149 km độ dốc bình quân lòng sông là 34,5 m/km Vùng thượng lưu phần lớn làđồi trọc, cây cối thưa thớt, vùng hạ lưu sông rộng khoảng 20 km Sông Truồi tuybắt nguồn từ vùng núi có thảm thực vật phủ rậm, rừng khá nguyên sinh (vườnquốc gia Bạch Mã) nhưng chảy qua vùng đồi trọc, cây thưa thớt, hạ lưu sôngTruồi là vùng đồng bằng rộng khoảng 2000ha nối liền với vùng đồng bằng sông

Trang 14

Hương Đặc biệt dọc sông Truồi phía thượng lưu bên bờ trái là vùng núi cao,vách núi dốc đưa ra sát sông, nhưng bên bờ trái là vùng trung du thấp nước ngậpsâu, khu vực này dân cư sống đông đúc, mặt cắt ngang sông có hình chữ U, lòngsông khá cân đối, thảm thực vật phủ 2 bên bờ rất nhiều cây cối chủ yếu là tre vàcây lâu năm, cây thấp có bụi gai Lưu vực sông Truồi có mùa mưa bắt đầu từtháng IX đến tháng II, mùa cạn từ tháng III đến tháng VII Những trận lũ thườngxuất hiện vào tháng X đến tháng XI, tuy nhiên cũng có lũ Tiểu mãn xuất hiệnngay cả trong các tháng IV đến tháng IV.

Do địa hình đầu nguồn của sông dốc, dòng chảy ngắn nên dễ gây ra xói lở.Hiện tượng xói lở và bồi tụ xảy ra thường xuyên nhất và các tháng mùa mưa lũ,

có nơi xói vào đất liền đến 5m và tạo bậc cấp cao lên đến 3m trên sông Hiệntượng này ở thượng lưu núi Diều Gà đã xây dựng đập Hồ Truồi phục vụ chocông tác điều tiết nước cho nông nghiệp cũng như điều tiết lũ cho hạ lưu sôngTruồi

Ngoài ra ở lưu vực núi Diều Gà đã xây dựng hồ nước Truồi có dung tích

50 triệu mét khối nước phục vụ tưới ruộng và điều tiết nước vùng hạ lưu

1.3 Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng là 24,40C miền núi là 25,20C.Vào mùa khô nhiệt độ cao tuyệt đối ở đồng bằng là 8,80C , miền núi là 430 C

Trang 15

Vào mùa mưa nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất ở vùng đồng bằng là 8,80C , miền núi

là 11,20C

Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, Phú Lộc có bức xạ dồi dào,mỗi năm mặt trời có 2 lần thiên đỉnh vào đầu tháng V và đầu tháng VII Tổnglượng bức xạ hằng năm: 8.5000C - 9.0000C, vùng ven biển từ 7.8000C - 8.3000C

Do độ cao mặt trời lớn (các tháng đều trên 500C), thời gian chiếu sáng dài

và quang năm (trên 11 giờ/ ngày), nên lượng bức xạ chiếu xuống huyện Phú Lộcrất lớn Cán cân bức xạ vượt quá tiêu chuẩn nhiệt đới (trên 75Kcal/cm2/năm).Riêng ở vùng núi do ảnh hưởng của mây và hơi nước nên các giá trị đặc trưngcủa bức xạ đều thấp hơn vùng đồng bằng [2]

1.4 Lượng mưa

Lượng mưa trung bình của huyện trên 3200 mm/năm nhưng do phân bốkhông đều theo mùa, 78% lượng mưa rơi và các tháng mùa mưa (từ tháng IX đếntháng II năm sau)

Nhìn chung lượng mưa tăng dần từ Tây sang Đông và từ Bắc vào Nam.Giữ vùng trung tâm mưa lớn và vùng ít mưa là vùng chuyển tiếp bao gồm vung

gò đồi phía tây và vùng đồng bằng từ Phú Bài đến Truồi có lượng mưa 2800 –3200mm/ năm Vào mùa mưa, lượng mưa kéo dài gây ngập lụt, sạt lở ven sông,ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản

Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có địa hình và mạng lướisông phức tạp nhất Trung Trung Bộ Chế độ mưa lũ tại đây cũng rất khắc nhiệt

và thường xuyên gây ảnh hưởng đến kinh tế xã hội hằng năm

Trên địa bàn Thừa Thiên Huế, hệ thống sông Hương có lưu vực sông lớnnhất Bên cạnh đó còn có các lưu vực sông khác như: sông Ô Lâu ở phía Bắc,sông Truồi và sông Bù Lu ở phía Nam Hằng năm lũ cũng thường xuyên xuấthiện và gây ngập lụt làm ảnh hưởng đến dân sinh kế ở khu vực này

Trang 16

2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Phú Lộc có vị trí hết sức quan trọng, quốc lộ 1A và tuyến đường sắt BắcNam chạy dọc theo chiều dài của huyện, điểm nằm giữa của 2 thành phố trọngtâm là Huế và Đà Nẵng Đồng thời cảng nước sâu Chân Mây là một trong cáccửa ngõ quan trọng thông ra biển của hành lang Đông Tây qua trục quốc lộ 1A,trục đường 9 hoặc cửa khẩu Cù Lai (A Lưới) nối Việt Nam với Lào và Đông BắcViệt Nam

Toàn huyện có 16 xã và 2 thị trấn với diện tích đất tự nhiên là 728,09 km2.Dân số trung bình của toàn huyện năm 2004 là 149,875 người, mật độ trung bìnhkhoảng 206 người/ km Huyện cách thành phố Huế 40km về phía Nam

Về cơ sở vật chất kỹ thuật thiết yếu: Đây là yếu tố cơ bản giúp đầu tư cho

sự phát triển kinh tế xã hội của toàn huyện, các nguồn vốn cung cấp đã đầu tưcho nông nghiệp, giao thông, bưu điện, điện, thủy lợi, giáo dục Điều đó đã gópphần phát triển kinh tế của huyện

Về giao thông vận tải, trên địa bàn huyện ngoài tuyến đường quốc lộ chạydọc theo chiều dài của huyện, đường Quốc lộ 49 B chạy song song với các xãven biển, tuyến đường sắt Bắc Nam, giao thông đường thủy cũng đóng góp vaitrò quan trọng Giao thông đường thủy của huyện chủ yếu là các tuyến đường nội

bộ trên đầm phá và 4 con sông chính với tổng chiều dài 130 km

Hiện nay, cầu cảng biển số 1 Chân Mây đã đi vào hoạt động là tuyếnđường giao thông rất thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hóa, với các nướctrong khu vực và thế giới bằng đường biển

Với vị trí kinh tế thuận lợi, Phú Lộc đang được nhà nước tập trung xâydựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện nước, bến cảng, kho hàng…) tạo môitrường thuận lợi hình thành đô thị mới, khu công nghiệp tập trung, trung tâmthương mại, dịch vụ Đó là những tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế chungcủa huyện, trong đó có sự phát triển của nghành nông nghiệp trong thời gian tới.Những điều này đã tạo ra nhiều thời cơ và thách thức cho công tác bảo tồn vàphát triển nguồn thủy sản nói chung và cá Thát lát nói riêng ở khu vực này [2]

Trang 17

Phần 2.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm hình thái và phân bố của cá thát lát

1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái

D I, 7-8; A.97-111; P.I, 14-15; H/L0=25,5; T/L0=24,5; O/T=23,1;OO/T=26,4

Hình 4.1 Hình thái cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769)

Cá Thát lát có lưng sẫm, thân xám, bụng nhạt, hình giống như con dao.Nhìn nghiêng, phía mặt lưng lồi hoặc cong nhẹ Thân cá dẹp bên, đuôi nhỏ,miệng rộng hơi nhô ra Xương lá mía và xương khẩu cái đều có răng Đường bênhoàn toàn, chạy giữa thân

Trang 18

Vảy nhỏ, xếp đều trên thân, khó rụng Vảy ở đầu lớn hơn vảy ở thân.Trước mang có 6 - 8 hàng vảy nhỏ Có nhiều đốm nhỏ màu xám trên thân và trênđầu.

Vây lưng nhỏ, khoảng cách từ gốc vây lưng đến đầu lớn hơn khoảng cách

từ gốc vây lưng đến đuôi So với vây bụng và vây lưng, vây ngực tương đối lớn,nằm thấp phía bên dưới Vây bụng bé trong suốt nằm ngay trước khởi điểm củavây hậu môn Vây hậu môn gắn liền với vây đuôi

1.2 Phân bố

Cá Thát lát sống ở hầu hết các thủy vực nước ngọt từ Bắc Trung Bộ (sôngLam Nghệ An) trở vào phía Nam Tất cả các thủy vực ở đồng bằng sông CửuLong đều có cá Thát lát, nhất là ở các vùng trũng Đôi khi còn tìm thấy chúng ởcác thủy vực nước lợ ven biển Cá có kích thước trung bình từ 200 - 300mm CáThát lát thuộc loài cá ăn tạp, thức ăn gồm cả thực vật lẫn động vật: Mùn bã, côntrùng, thực vật thủy sinh… Cá hoạt động vào lúc về đêm và tờ mờ sáng Cá đẻtrứng vào mùa hè từ tháng V đến tháng VII, trứng cá bám ở đáy và được cá đựcbảo vệ

Cá Thát lát còn được xếp vào danh sách các loài cá nước ngọt dùng làm cácảnh Trong cuốn sách “Danh từ đối chiếu các loài cá kinh tế miền tây thái bình

dương” của Ủy ban nghiên cứu cá miền Tây Thái Bình Dương, Notopterus

notopterus được gọi với tên Việt Nam là cá Óc nóc.

Ở huyện Phú Lộc cá Thát lát phân bố ở các thủy vực sông, suối, ao, đầm,ruộng nước ngọt Tuy nhiên mật độ và sản lượng khai thác lớn tập trung ở cácđiểm: Lộc Bổn, Lộc Sơn, Lộc Hòa, Lộc An, Phú Lộc đây cũng là khu vực có cáccon sông: sông Truồi, sông Nong, sông Cầu Hai chảy qua

2 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng chủng quần

Mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng cá có tầm quan trọng lớn trong

sự nghiên cứu nghề cá, là thước đo tình trạng sức khỏe tương đối của cá Sự biến

Trang 19

đổi về chiều dài hoặc trọng lượng của một cá thể hoặc một nhóm cá thể cho biếttoàn thể sự sống của chủng quần và sự phát triển của tuyến sinh dục Sự tươngquan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Thát lát nghiên cứu trong tự nhiên thểhiện qua bảng 4.1.

Bảng 4.1 Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Thát lát

Nhóm tuổi 0+ có chiều dài dao động 76 - 179mm, ứng với trọng lượngdao động 4 - 55g có số lượng cá thể chiếm tỷ lệ cao nhất (60,60%)

Nhóm tuổi 1+ có chiều dài dao động 157 - 245mm, ứng với trọng lượngdao động 39 - 126g, chiếm tỷ lệ 35,8%

Nhóm tuổi 2+ có chiều dài dao động 230 - 270mm, ứng với trọng lượngdao động 174 - 208g có số lượng cá thể chiếm tỷ lệ thấp nhất (3,6%)

Ngoài ra, sự tương quan về chiều dài và trọng lượng giữa con đực và concái trong cùng một nhóm tuổi có sự khác nhau ở nhóm tuổi 0+ và 1+ con đực cótrọng lượng trung bình và kích thước lớn hơn con cái Ngược lại con đực cótrọng lượng trung bình và kích thước nhỏ hơn con cái ở nhóm tuổi 2+ Điều nàyliên quan đến sự chín muồi sinh dục

Trang 20

Từ các số liệu về kích thước và trọng lượng cá nghiên cứu phương trìnhtương quan chiều dài và trọng lượng của cá Thát lát được xác định như sau: W= 21793×10-9×L2,79024

Đồ thị về mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Thát láttheo phương trình trên có dạng hình parabol hướng lên trên nhận các giá trị L(mm) và W (g) làm trục quy chiếu Đồ thị cho thấy giai đoạn đầu cá tăng nhanh

về chiều dài, giai đoạn sau cá tăng nhanh về trọng lượng Điều này phù hợp vớiquy luật chung về đặc tính sinh học cá nhiệt đới

Hình 4.2 Đồ thị biểu diển sự tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá Thát lát

So sánh kích thước trung bình của cá Thát lát ở Phú Lộc với kích thướctrung bình của cá Thát lát ở sông Hương (Phan Nữ Phước Hồng, 2004) [6], trongcùng một nhóm tuổi, kích thước trung bình ở các nhóm tuổi 0+, 1+, 2+ đều có kíchthước trung bình của cá Thát lát ở sông Hương Chứng tỏ điều kiện môi trường ởPhú Lộc thích hợp hơn ở sông Hương đối với sự phân bố của cá Thát lát

Trang 21

Bảng 4.2 So sánh kích thước trung bình của cá Thát lát ở Phú Lộc với kích thước trung bình của cá Thát lát ở sông Hương

3 Cấu trúc tuổi và đặc tính sinh trưởng của cá

3.1 Hình thái vẩy và dạng vòng năm

Vẩy cá Thát lát có dạng hình ô van nhỏ, vẩy mỏng, bám sát da, càng lùisau cuống đuôi vẩy càng có kích thước bé Tâm vẩy càng lùi sâu về phía sau.Vân sinh trưởng phát triển mạnh ở phần trước và phần sau vẩy Ở phần trướccủa vẩy xuất hiện các tia phóng xạ, từ 6 - 9 tia Các sắc tố lipit bám trên vẩy cáThát lát thuộc loại dễ bong Các vẩy ở vùng lưng sẫm màu, chứa nhiều sắc tố hơncác vẩy vùng bụng

Hình 4.3A Vẩy cá Thát lát tuổi 0 + Hình 4.3B Vẩy cá Thát lát tuổi 1 +.

Trang 22

Quan sát vẩy ở 2 vùng lấy vẩy, chúng tôi nhận thấy vẩy ở vùng trước vâylưng phía trên đường bên có vòng năm xuất hiện rõ hơn vùng phía sau và bêndưới đường bên Vì vậy chúng tôi chọn vùng này để lấy vẩy trên cá Thát lát.

3.2 Cấu trúc tuổi của chủng quần

Đặc tính sinh trưởng của cá là sinh trưởng liên tục trong suốt đời sống và

có tính chất chu kì trong năm Vào mùa ấm cá đồng hóa thức ăn trong môitrường tốt hơn mùa lạnh nên sinh trưởng nhanh hơn Về mùa lạnh, đôi khi nhiệt

độ hạ xuống thấp, cá ăn ít, thậm chí ngừng dinh dưỡng, kết quả là cá sinh trưởngchậm, đó là nguyên nhân dẫn tới hình thành vòng năm của cá Cấu trúc tuổi cáđược xác định qua bảng 4.3

Từ bảng 4.3 cho thấy cá Thát lát ở Phú Lộc gồm 3 nhóm tuổi Trong đó,nhóm tuổi cao nhất là 2+ và nhóm tuổi thấp nhất là 0+

Số lượng cá thu được nhiều nhất tập trung vào nhóm tuổi 0+ có chiều dàitrung bình 132,25mm, ứng với trọng lượng trung bình 18,71g, chiếm tỷ lệ60,60% trong tổng số cá thể thu được

Nhóm tuổi 1+ có chiều dài trung bình 194,62mm, ứng với trọng lượngtrung bình 58,45g, chiếm tỷ lệ 35,82% trong tổng số cá thể thu được

Nhóm tuổi 2+ có chiều dài trung bình 234,17mm, ứng với trọng lượngtrung bình 155,67g, chiếm tỷ lệ 3,58% trong tổng số cá thể thu được

Bảng 4.3 Cấu trúc tuổi của cá Thát lát

Trang 23

Trong 3 nhóm tuổi của cá Thát lát nhóm tuổi 0+ có số lượng cá thể đôngnhất, kế đến là nhóm tuổi 1+, nhóm tuổi 2+ có số lượng không nhiều Nếu cấu trúctuổi này phù hợp với chủng quần cá trong tự nhiên thì tiềm năng phát triển củachủng quần cá khá lớn, theo đó cấu trúc tuổi cá ở Phú Lộc tương đối ổn định vàphát triển.

3.3 Tốc độ tăng trưởng hằng năm theo chiều dài cá Thát lát

Dựa vào số liệu phân tích về chiều dài 335 cá thể cá thu được và kích thướcvẩy tương ứng, chúng tôi tính ngược tốc độ sinh trưởng chiều dài hàng năm Hệ

số a theo phương trình sinh trưởng của Rosa Lee (1920) được xác định là0,81mm Đó là kích thước của cá khi bắt đầu hình thành vẩy Kích thước vẩytăng trưởng dần theo sự tăng trưởng về chiều dài cá, cá càng lớn thì kích thướcvẩy càng lớn

Phương trình tính ngược sinh trưởng của cá Thát lát theo Rosa Lee đượcviết dưới dạng: Lt = (L - 0,81)× Vt / V

Dựa vào phương trình tính ngược sinh trưởng, chúng tôi xác định được sinhtrưởng chiều dài hằng năm và tốc độ sinh trưởng chiều dài tương ứng

Ngày đăng: 12/08/2020, 18:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w