1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ văn hóa học đồng dao và trò chơi dân gian trẻ em ở huyện khoái châu – hưng yên

158 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Hưng Yên, vùng quê cuả nhãn lồng - vùng phù sa văn hóa, người ta thường biết đến một “thương cảng nổi tiếng ở ĐàngNgoài”, với di tích đền Hóa Dạ Trạch thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung

Trang 1

HOÀNG CÔNG DỤNG

ĐỒNG DAO VÀ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRẺ EM

Ở HUYỆN KHOÁI CHÂU – HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

HOÀNG CÔNG DỤNG

ĐỒNG DAO VÀ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRẺ EM

Ở HUYỆN KHOÁI CHÂU – HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60 31 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Xuân Kính

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể quýthầy, cô của Viện Nghiên cứu Văn hóa, trường Đại học Văn hóa, trường Đạihọc sư phạm Nghệ thuật TW, Vụ Giáo dục Mầm non – Bộ Giáo dục và Đàotạo, Ban Văn hóa huyện Khoái Châu – Hưng Yên đã tạo điều kiện cho tôitrong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Nguyễn Xuân Kính, ngườigiúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn chắc chắn không tránhkhỏi thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, quý thầy, cô giáo chỉ dạy thêm đểgiúp tôi mở rộng kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn nghiên cứu vàcông tác sau này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2010

Tác giả luận văn

Hoàng Công Dụng

Trang 4

Đây là kết quả công trình nghiên cứu, tổng hợp của riêng tôi Các sốliệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến khoa học được

đề cập trong luận văn chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2010

Tác giả luận văn

Hoàng Công Dụng

Trang 5

2 Mục đích nghiên cứu 5

Chương 1: Khái quát về lịch sử, văn hóa và con người Khoái Châu 10 1.1 Tổng quan về lịch sử, thiên nhiên và môi trường của huyện Khoái Châu 10

2.2.1 Đồng dao có nội dung nhắc nhở, răn dạy điều hay lẽ phải 31

2.2.2 Đồng dao chứa đựng tri thức về hoàn cảnh, môi trường sống và quan hệ cộng

2.2.4 Đồng dao khôi hài, chế nhạo hay nhằm mục đích giải trí 38

3.2 Khái quát về trò chơi dân gian ở huyện Khoái Châu 74

3.3.1 Trò chơi dân gian phản ánh môi trường sống của trẻ 77

3.3.5 Trò chơi dân gian phát huy sức mạnh tập thể và quan hệ cộng đồng 102

3.4.1 Giá trị của trò chơi dân gian trong văn hóa truyền thống 109

Trang 6

UNESCO : United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

- Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

 :tiếp đến

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

Châu thổ Bắc Bộ là vùng văn hóa rất đặc trưng của nền nông nghiệplúa nước với lịch sử hình thành và phát triển từ rất sớm Cư dân sống theo tổchức làng xã, tự nguyện chung sống với nhau từ nhiều đời tạo thành một thiếtchế xã hội, một đơn vị tổ chức của nông thôn trên cơ sở địa vực, địa bàn cưtrú Bởi vậy, huyện Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên), một vùng cộng cư và định

cư từ thời vua Hùng dựng nước với tổ chức xã hội mà đơn vị cơ sở làng xã, lànhững tế bào sống là một phần của xã hội Việt rất sinh động và vững bền Đờisống văn hóa nông thôn liên quan, gắn bó với các yếu tố chính trị, kinh tế, xãhội Môi trường văn hóa là những thiết chế làng xã gắn với cảnh quan nhưruộng lúa, lũy tre xanh, bến nước, sân đình… Sức sống văn hóa chính là nănglực tiếp nhận, thực hành và sáng tạo văn hóa của từng chủ thể và của cả cộngđồng

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 của Đảng,phần nói về văn hóa có đoạn viết: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Mọihoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnhcho sự phát triển xã hội”

Kể từ đó đến nay, song song với chính sách mở cửa nhằm thúc đẩynền kinh tế xã hội phát triển, Đảng và nhà nước đã luôn chú trọng tới việckhôi phục, duy trì và phát triển nền văn hóa truyền thống đã có từ lâu đời củadân tộc

Trang 8

Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trườnghọc thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-

2013 đã yêu cầu nhà trường “tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt độngvui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh”

Tài liệu “Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2008 – 2009” đối với giáo dụcmầm non có nêu một trong ba vấn đề trọng tâm triển khai cuộc vận động là

“lựa chọn và đưa bài hát dân ca, trò chơi dân gian vào hoạt động vui chơi tíchcực cho trẻ”

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả dày công sưu tầm, biênsoạn và tìm hiểu những bài đồng dao, những trò chơi dân gian của nhiều vùngmiền trong cả nước Đối với Hưng Yên, vùng quê cuả nhãn lồng - vùng phù

sa văn hóa, người ta thường biết đến một “thương cảng nổi tiếng ở ĐàngNgoài”, với di tích đền Hóa Dạ Trạch thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung, với háttrống quân, hát ả đào, hát chèo… Ngoài ra, đây cũng là nơi sản sinh, lan tỏa

và tiếp thu nhiều bài đồng dao, nhiều trò chơi dân gian gắn với lịch sử lâu đời,với môi trường địa lý phong phú của địa phương

Đối với hai thể loại “đồng dao” và “trò chơi dân gian” đã có nhiềucách nhìn nhận khác nhau, nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau

Đối với đồng dao, nhóm tác giả Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu

Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ

em người Việt của Viện Nghiên cứu Văn hóa (Nxb Văn hóa) đã nêu: “Đồng

dao là những bài hát truyền miệng của trẻ em lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên.Vốn là những sáng tác dân gian không rõ tên tác giả, về sau từ vần điệu củaloại hình này, một số người sáng tác những bài thơ cho trẻ em hát, có tên tácgiả cũng được các nhà nghiên cứu gọi là đồng dao”[16, tr.5] Nguyễn Tấn

Trang 9

Long, Phan Canh trong “Đồng dao” (Thi ca bình dân tập IV, năm 1969) thì

đưa ra một khái niệm sơ giản “đồng dao tức là ca dao nhi đồng”[16, tr.683]

Có lẽ do tác giả tách hai chữ “đồng” và “dao” ra để giải thích nghĩa của cụm

từ đó chăng? Trong luận văn thạc sỹ văn hóa học với đề tài Từ đồng dao đến

những bài hát – đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay (Viện

Nghiên cứu Văn hóa, 2007), tác giả Đỗ Thị Minh Chính đã quan niệm đồng

dao như sau: “đồng dao là những bài hát dân gian truyền miệng của trẻ em,

cho trẻ em, trên cơ sở những lời văn vần (của tác giả xác định hoặc vô danh),

có hình ảnh và nhịp điệu đơn giản, gắn với các trò chơi Trẻ em là đối tượnghưởng thụ, cũng có khi là chủ thể sáng tạo, nhưng dù ở cương vị nào thì các

em cũng luôn luôn là người giữ vai trò “diễn xướng” và đồng dao đã thấm sâu

vào đời sống tinh thần của chúng”[3, tr.12] Trong cuốn Tìm hiểu đồng dao

người Việt do Nhà xuất bản Thuận Hóa công bố năm 2009, tác giả Triều

Nguyên đã bóc tách, tổng hợp về mặt ngôn ngữ đối với hình thức, nội dungcủa đồng dao cũng như dùng biện pháp so sánh để phân biệt nó với các thểloại khác như ca dao, vè, câu đố, thơ thiếu nhi và đưa ra một định nghĩa chothuật ngữ đồng dao như sau: “Đồng dao là một thể loại của văn học dân gian,thuộc phương thức biểu đạt tự sự bằng văn vần, gồm phần lời của những bàihát dân gian trẻ em (những bài hát ấy có thể kèm trò chơi hay không)”[17,tr.51]

Chúng ta có thể thấy đồng dao là một hiện tượng văn hóa Nó đượchình thành và phát triển từ đời sống, sinh hoạt dân gian và đối tượng sử dụngchính là trẻ nhỏ “Đồng dao” có thể hiểu là ca dao nhi đồng, nhưng có lẽ đó làcác bài ca dao, bài vè có nội dung phù hợp được chúng hát đồng thanh nhằm

bổ trợ cho các động tác, hình ảnh… trong khi chơi, lúc giúp cha mẹ làmnhững việc nhà hay đồng áng nhẹ nhàng hoặc trông em Có khi lúc đầu trẻ chỉđọc các bài đó độc lập với các nội dung miêu tả môi trường sống xung quanh,

Trang 10

đúc rút kinh nghiệm cuộc sống hoặc châm biếm, hài hước theo cách nhìn contrẻ, rồi dần dà phát triển thêm các hình thức đọc, hát khác.

Chuyện vui chơi chẳng phải chỉ của trẻ em Con người ở mọi lứa tuổi,giới tính đều cần vui chơi, giải trí thích hợp để sinh tồn và phát triển Bêncạnh lao động, học tập, giao tiếp, đó cũng là một trong những hoạt động cơbản, có xu hướng ngày càng tăng trong cuộc sống của con người Trong cáclứa tuổi, nếu trẻ càng nhỏ thì hoạt động vui chơi càng quan trọng Thực ra,những hoạt động cơ bản trên đan xen nhau Cho đến bây giờ có ai đó bỏ lỡhoặc thậm chí cấm đoán thì cũng không dập bỏ được nhu cầu bẩm sinh này.Trái lại bằng cách nào đấy, chúng vẫn cứ tự phát chơi Và như thế sẽ nảy sinhvấn đề hai chiều lợi và hại trong khi trẻ tham gia các cuộc chơi

Trong bài viết “Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em”đăng trên tạp chí Giáo dục Mầm non số 3/1992, GS.TSKH Phan Đăng Nhậtquan niệm trò chơi cổ truyền của trẻ em được hình thành và lưu truyền theophương thức của văn hóa dân gian Chủ thể thưởng thức, hưởng thụ và sửdụng đồng thời cũng là chủ thể sáng tạo và lưu truyền sản phẩm Việc sángtạo được thực hiện trong một quá trình lâu dài bao gồm sáng tạo – lưu truyền– sử dụng – điều chỉnh Trong quá trình đó thực tiễn là thước đo, là khuôn đúc, đông đảo công chúng làm vai trò tái tạo

Cũng nói về trò chơi trẻ em, trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em

người Việt [16, tr.5], các tác giả nêu khái niệm “Trò chơi trẻ em là những trò

vui có lời (bài hát) hoặc không có lời, những trò này cũng mang những tínhchất của sáng tác dân gian: tính tập thể, tính dị bản…”

Trò chơi dân gian nhìn từ góc độ quyền trẻ em, PGS.TS Nguyễn ThịBích Hà, Khoa Việt Nam học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội cho rằng tròchơi dân gian cũng là một loại của di sản văn hóa Việt Nam “Nó được kết

Trang 11

thành từ quá trình lao động và sinh hoạt, trong đó tích tụ cả trí tuệ và niềm vuisống của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam xưa Đặc biệt, đối với trẻ em, tròchơi dân gian với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho thế giớitrẻ thơ nhiều điều thú vị và bổ ích, đồng thời thể hiện nhu cầu giải trí, vuichơi, quyền được chia sẻ niềm vui của các em với bạn bè và cộng đồng.”[42]

Từ các quan niệm trên, chúng ta thấy trò chơi dân gian được nhìn nhậntheo các góc độ khác nhau Tuy nhiên, nó đều có điểm chung là trò chơi nảysinh từ cuộc sống lao động, sinh hoạt, từ nhu cầu vui chơi, giải trí của conngười và nó mang tính cộng đồng cao, cho dù có những trò chơi có ít người,thậm chí chỉ một người Bởi vậy, trò chơi dân gian mang đậm tính lịch sử,tính xã hội và mỗi trò chơi lại biểu hiện tính nghệ thuật nhất định Ngoài cáctrò chơi có diễn biến, luật chơi, quá trình chơi, chúng tôi coi việc làm những

đồ chơi từ các vật liệu sẵn có trong tự nhiên, được trẻ khai thác, sáng tạo vàlưu truyền từ xưa cũng là những trò chơi dân gian

Là chuyên viên công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về giáo dụcmầm non, chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu một mảng văn hóa dân gian củavùng quê xứ nhãn lồng - vùng phù sa văn hóa Hưng Yên; đó là những bài hátđồng dao, những trò chơi dân gian với đời sống sinh hoạt của trẻ thơ ở huyệnKhoái Châu, nơi mang nhiều đặc tính của đồng bằng châu thổ sông Hồng vớicác vùng bãi bồi, những cánh đồng trồng hoa màu và những cánh đồng lúa phìnhiêu, với ao, hồ, sông ngòi, cừ, mương, máng; làng quê phủ một màu xanhbát ngát của những lũy tre rậm rì Qua đó, chúng tôi mong muốn đóng gópmột phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy, ứng dụng vào đời sống sinh hoạtcũng như bổ sung cho các hoạt động sinh hoạt vui chơi, giáo dục trong nhàtrường

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 12

- Tìm hiểu đặc điểm lịch sử, môi trường, địa lý ảnh hưởng sự ra đời,lan tỏa, tiếp thu và tiếp biến của đồng dao, trò chơi dân gian ở huyện KhoáiChâu.

- Nêu và phân tích hình thức, nội dung một số bài đồng dao, trò chơi tiêu biểu của địa phương

- Nhận diện các giá trị văn hóa và giáo dục của đồng dao và những trò chơi dân gian trong cuộc sống hiện nay

- Đưa ra các đề xuất và giải pháp nhằm hệ thống hóa mảng văn hóadân gian này và đưa vào cuộc sống sinh hoạt trong xã hội cũng như trong nhàtrường nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, xã hội cũng như ý nghĩagiáo dục của đồng dao và trò chơi dân gian

3 Tình hình nghiên cứu

Trên thực tế, việc bóc tách, tìm hiểu, nghiên cứu đồng dao và trò chơidân gian ở nước ta chưa được nhiều mà chủ yếu các tác giả sưu tầm, biên soạnsách nhằm giới thiệu và sử dụng vào những mục đích nhất định

Về lịch sử nghiên cứu, giới thiệu đồng dao, NCS Chu Thị Hà Thanh

đã có một tập hợp trong luận án tiến sĩ của mình những bài viết về đồng daomang tính chất giới thiệu và những công trình mang tính chất nghiên cứu Tuynhiên tổng số công trình mà chị thu thập được trong hai mục này chỉ có bảy

bài giới thiệu và bốn bài nghiên cứu Cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người

Việt của nhóm tác giả Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy

Hồng và Trần Hoàng sưu tầm và biên soạn đã nêu định nghĩa và phân loại cácbài đồng dao, các trò chơi cụ thể Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã giới thiệu loạtbài nghiên cứu, bình luận, cảm nhận và đánh giá, nhận xét hai thể loại này của

15 tác giả từ năm 1935 đến năm 1995 Trong đó đáng kể nhất là các bài của

các tác giả Doãn Quốc Sỹ trong Lời mở đầu cuốn Ca dao nhi đồng, Nxb Sáng

Trang 13

tạo xuất bản năm 1969; Nguyễn Tấn Long, Phan Canh trong “Đồng dao”, thi

ca bình dân cũng năm 1969; Tô Ngọc Thanh, Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc trong tạp chí Văn học số 4/1974; Vũ Ngọc Khánh với Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam, trong tạp chí Văn học số 4/1974.

Trong những năm gần đây, trò chơi dân gian, các bài đồng dao đượcchú ý hơn Tuy nhiên, như trên đã nói thì mới chủ yếu là sưu tầm, tuyển chọn

Cuốn Trò chơi dân gian của tác giả Nguyễn Thanh Thảo [21] giới thiệu 75 trò

chơi nhưng hầu hết là những trò khá quen thuộc mà hoàn toàn không có biểuhiện sắp xếp theo trật tự nào và cũng không có bất cứ nhận xét, đánh giá nào

Trong 4 tập Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố của Viện

chiến lược và chương trình giáo dục tái bản năm 2008 cũng nêu một số tròchơi nhưng chỉ hướng dẫn cách chơi là chủ yếu [29] Một số trang web nhưVăn hóa Việt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Trung tâmUNESCO giao lưu văn hóa quốc tế, hay thậm chí cả trang web nước ngoài(1)cũng chỉ nêu, giới thiệu một số trò chơi dân gian, truyền thống hay cùng lắm

là một vài cảm nghĩ chứ không nghiên cứu sâu vấn đề này Gần đây nhất,

cuốn Tìm hiểu đồng dao người Việt (Nxb Thuận Hóa, 2009) của tác giả Triều

Nguyên là một công trình nghiên cứu rất công phu về đồng dao người Việt.Trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu dựa trên phương diện phân tích về ngônngữ để nhận diện hình thức, nội dung, cách phân loại đồng dao

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chủ yếu của đề tài là các bài đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ ở độ tuổi thiếu niên, nhi đồng tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề sau:

(1) Xem Tài liệu tham khảo

Trang 14

- Đặc điểm môi trường, địa lý của huyện Khoái Châu tác động, ảnhhưởng tới sự ra đời, lan tỏa, tiếp thu và tiếp biến của đồng dao, trò chơi dângian.

- Phân tích đặc trưng của đồng dao và trò chơi dân gian của địa

phương

- Giá trị văn hóa và ý nghĩa giáo dục của đồng dao và những trò chơi dân gian trong cuộc sống hiện nay; việc bảo tồn và phát huy các giá trị đó

5 Phương pháp nghiên cứu

- Điền dã, thu thập tài liệu, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình hoạt động sinhhoạt đồng dao và các trò chơi thực tiễn của trẻ tại một số xã như Hồng Tiến,Việt Hòa, Đại Hưng, Đông Tảo, thị trấn Khoái Châu thuộc huyện Khoái

Châu, Hưng Yên;

- Điều tra, phỏng vấn bằng phiếu và trực tiếp khoảng 50-60 người lớn, cao tuổi và 200 trẻ ở độ tuổi thiếu niên, nhi đồng;

- Xử lý, tổng hợp, phân tích các dữ liệu;

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như văn học, âm nhạc, folklore, tâm lý lứa tuổi, sư phạm…

6 Những đóng góp của luận văn

- Đây là công trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu, khảo sát thực tiễn trẻ

em sử dụng đồng dao và tổ chức vui chơi các trò dân gian ở một vùng đặctrưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng;

- Là công trình nghiên cứu thực trạng lan tỏa, tiếp thu và tiếp biếncũng như nội dung, ý nghĩa, tác động của đồng dao và trò chơi dân gian đốivới trẻ

Trang 15

- Việc nghiên cứu nhằm tham gia vào việc khôi phục, hệ thống hóamảng văn hóa dân gian này ứng dụng vào đời sống sinh hoạt cũng như bổsung cho các hoạt động sinh hoạt vui chơi, giáo dục trong nhà trường.

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Khái quát lịch sử, văn hóa và con người Khoái Châu

Chương 2: Đồng dao

Chương 3: Trò chơi dân gian

Trang 16

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI KHOÁI CHÂU

1.1 Tổng quan về lịch sử, thiên nhiên và môi trường của huyện KhoáiChâu

1.1.1 Sự hình thành và phát triển

Khoái Châu là một vùng đất cổ xưa, được hình thành từ thời các VuaHùng (1289-258 TrCN) Lúc đó Khoái Châu thuộc bộ Dương Tuyền, nướcVăn Lang Từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc (211 TrCN) đô hộ nước ta chotới thời thuộc Đông Hán, Tống, Tề, Lương, Trần đều thuộc huyện Chu Diên,quận Giao Chỉ Đến thời vua Đinh Tiên Hoàng (967-979) đổi là Châu Diên,

và Tiền Lê (979-1009) vua Lê Ngọa Triều đổi là Phủ Thái Bình Thời nhà Lý(1010-1225), vùng đất thuộc huyện Khoái Châu ngày nay đổi thành huyệnĐông Kết, thuộc Khoái Lộ Thời Lý Cao Tông (1176-1210) tách Khoái Lộthành Châu Đằng và Châu Khoái thì Đông Kết thuộc Châu Khoái Đến thờiTrần sau chiến thắng Nguyên Mông lần thứ ba (1288), vua Trần ban đất ChâuKhoái cho Nguyễn Khoái thì Châu Khoái đổi thành Khoái Châu

Tới thời Lê, giữa niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) vùng đất huyệnKhoái Châu ngày nay đổi là Đông Yên thuộc Sơn Nam thừa tuyên Đời LêTrung Hưng chia Sơn Nam thành Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ thì KhoáiChâu thuộc Sơn Nam thượng Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), triều đình chothực hiện cải cách hành chính, bỏ các trấn lập ra tỉnh, chia cả nước thành 30tỉnh Khi ấy phủ Khoái Châu (trong đó có huyện Đông Yên) thuộc tỉnh HưngYên Tháng 12/1890, toàn quyền Piquet ký Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy

có bốn huyện mới, đã cắt của huyện Đông Yên ba tổng là Khóa Nhu, Tử

Trang 17

Dương, Yên Phú để cùng với các tổng khác cắt từ Văn Giang (Bắc Ninh),Đường Hào (Hải Dương), Ân Thi (Hưng Yên) để thành lập huyện Yên Mỹ.Phủ Khoái Châu có 10 tổng (Đại Quan, Mễ Sở, Yên Cảnh, Yên Lạc, YênVĩnh, Yên Lịch, Phú Khê, Đông Kết, Bình Dân, Ninh Tập), 76 xã Như vậy,

từ thế kỉ thứ XV, phủ Khoái Châu là một đơn vị hành chính lớn hơn cấphuyện, bao gồm đất huyện Khoái Châu hiện nay và một số huyện lân cận nhưKim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, Ân Thi; còn huyện Khoái Châu là một huyệnthuộc phủ, với tên gọi Đông Yên (Đông An)

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ bỏ cấp phủ,tổng thành lập các huyện, xã, thôn Hưng Yên có 8 huyện và 116 xã Tháng 8năm 1946 thị xã Hưng Yên được thành lập Đông Yên trở thành huyện KhoáiChâu từ đó Ngày 14/4/1946, Chính phủ ra sắc lệnh số 63 về bầu cử Hội đồngnhân dân cấp tỉnh và xã, huyện Khoái Châu cũng tiến hành hợp nhất 76 xãnhỏ thành 22 xã lớn, các xã đó tồn tại đến năm 1955 Sau nhiều lần chia tách,hợp nhất, đổi tên, huyện Khoái Châu có 25 xã là: Bình Minh, Đông Tảo, DạTrạch, Hàm Tử, Ông Đình, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, ĐạiTập, Chí Tân, Liên Khê, Phùng Hưng, Thuần Hưng, Đại Hưng, Thành Công,Nhuế Dương, Việt Hòa, Hồng Tiến, Đồng Tiến, Dân Tiến, Bình Kiều, An Vĩ,Đông Kết và Kim Ngưu (nay là thị trấn Khoái Châu)

Ngày 24 tháng 2 năm 1979, Chính phủ ra Quyết định số 70-QĐ/CPthành lập huyện Châu Giang gồm 25 xã của huyện Khoái Châu, 9 xã củahuyện Văn Giang cũ và 5 xã của huyện Yên Mỹ (Hoàn Long, Yên Phú, YênHòa, Việt Cường, Minh Châu)

Huyện Châu Giang tồn tại được 20 năm Đến ngày 24 tháng 7 năm

1999, Chính phủ ra Nghị định số 60-NĐ/CP tách huyện Châu Giang làm hai

Trang 18

huyện Khoái Châu và Văn Giang như cũ, chuyển 5 xã về huyện Yên Mỹ.[1],[14], [36].

1.1.2.Thiên nhiên và môi trường địa lí

Bản đồ hành chính huyện Khoái Châu, Hưng Yên năm 2009 [36]

Huyện Khoái Châu nằm ở tọa độ 20045’45” – 20054’05” vĩ tuyến Bắc

105055’30” – 106002’15” kinh độ đông Phía bắc giáp huyện Văn Giang; phíanam giáp huyện Kim Động; phía đông giáp huyện Yên Mỹ và Ân Thi; phíaTây giáp Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) ngăn cách bởi sông Hồng Khoái Châu códiện tích 13.086ha Trong đó đất canh tác nông nghiệp chiếm diện tích tới

Trang 19

67.1% (8.779ha), còn lại 32.9% là đất thổ cư, đường xá, sông ngòi, công trìnhcông cộng, đình chùa, nhà thờ … Khoái Châu thuộc đồng bằng châu thổ sôngHồng nên có địa hình tương đối bằng phẳng Đồng đất Khoái Châu thích hợpvới cấy lúa, trồng rau màu, cây công nghiệp (chủ yếu là cây đay) và cây ănquả Hưng Yên vốn là vùng đất nổi tiếng về cây nhãn và Khoái Châu cũng cónhững vườn nhãn lớn, những hàng cây trồng nhãn dài dặc hai bên đường liên

xã, liên huyện

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng

Trên bờ vải nhãn hai hàng

Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

Khí hậu Khoái Châu là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều.Mùa nước to từ tháng 5 đến tháng 10 Có hai mùa mưa gió rõ rệt: Gió mùađông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với cái rét ngọt và mưa phùn ẩmướt; từ tháng 6 đến tháng 10 thường có gió bão, mưa to Đối với mùa này,không thể không nói tới công trình trị thủy sông Hồng là con đê và những lần

vỡ đê, ngập lụt của người dân đồng bằng châu thổ sông Hồng mà Khoái Châu

là huyện có đoạn sông dài tới 21,4km chảy qua Đê sông Hồng là một côngtrình vĩ đại nhất của đất nước trong công cuộc phòng chống thiên tai bão lụt.Việc đắp đê, hộ đê, rồi làm thủy lợi nội đồng chống hạn, chống úng ngập quahàng ngàn năm là cuộc vật lộn với thiên nhiên vô cùng gian khổ, là một nétphẩm chất riêng của người nông dân đồng bằng châu thổ sông Hồng Khởicông từ thời Lý, đời Trần, thảm họa vỡ đê xảy ra nhiều nhất vào triềuNguyễn Công cuộc đắp đê trị thủy sông Hồng căn bản hoàn thành vào nửasau thế kỷ XX Nếu chỉ tính từ năm 1831 (năm thành lập tỉnh Hưng Yên) đếnnăm 1945 đã có tới 32 trận hồng thủy – vỡ đê đã làm cho người dân dọc sông

Trang 20

Hồng nói chung và người dân huyện Khoái Châu nói riêng rất vất vả, điêuđứng Để chủ động trong việc chống úng, hạn, tưới tiêu cho ba tỉnh HưngYên, Hải Dương, Bắc Ninh, Chính phủ quyết định xây dựng công trình đạithủy nông Bắc-Hưng-Hải Ngày 1/10/1958 khởi công xây dựng cống XuânQuan-đầu mối của công trình Ngày 1/5/1959 thì hoàn thành công trình Hai

hệ thống Kênh Đông và Kênh Tây đã chạy và tưới tiêu cho 17 xã thuộc huyệnKhoái Châu, góp phần không nhỏ vào việc canh nông cho địa phương

Trên công trường thủy lợi Bắc-Hưng-Hải (ảnh tư liệu của tỉnh Hưng Yên)

Khoái Châu nằm trên trục đường Thăng Long – Phố Hiến nổi tiếngphồn hoa cuối thế kỉ 17 đầu thế kỉ 18, nằm bên tả ngạn sông Hồng là đườnggiao thông thủy quan trọng từ biển Đông qua cửa Ba Lạt để tới Thăng Long,Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai

Huyện có 21,4 km đê sông Hồng chảy qua 9 xã của huyện là BìnhMinh, Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân,Nhuế Dương Ngoài ra, Khoái Châu còn có một loạt các con sông nhỏ như

Trang 21

sông Cửu Yên đào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sông tiêu Từ Hồ - Sài Thị,sông Kim Ngưu, sông Tây Tân Hưng, sông Điện Biên, sông Mười, sông CấpTiến – Tân Dân, sông Đồng Quê…

Hệ thống giao thông đường bộ của Khoái Châu khá thuận tiện Phíađông có đường 39A là đường nối từ quốc lộ 5 tới thị xã Hưng Yên (nay làthành phố Hưng Yên), chạy qua bốn xã của huyện là Dân Tiến, Đồng Tiến,Hồng Tiến và Việt Hòa Ngoài ra còn có các đường liên xã là đường 199 làđường được làm từ năm 1892 nên còn được gọi là đường Tây, chạy từ xãBình Minh qua Đông Tảo và một phần của vùng đất của huyện Yên Mỹ rađường 39A; đường 205 chạy xuyên dọc giữa huyện; đường 195 là đê sôngHồng dài 21,4km chạy từ xã Bình minh qua Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, TânChâu, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân, Nhuế Dương Dọc đường này có tới 5-6bến đò lớn nhỏ khác nhau Ngoài ra còn có các đường 205C, đường 208,đường 206, đường 209, đường 204, đường 199B, đường 199C và đường209C

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông chủ yếu là thuyềnbuồm chở khách và hàng hóa trên sông Hồng, ngược lên Hà Nội, xuôi phốHiến, Nam Định, Thái Bình, thuyền trên sông Cửu Yên từ Nghi Xuyên quaKim Động, Ân Thi sang huyện Thanh Miện (Hải Dương)… Hàng hóa chủyếu là lâm sản như gỗ, tre, nứa, lá gồi, củ nâu hoặc than đá, đá để nung vôi.Đường bộ có xe ca chở khách từ phố Phủ đi Hà Nội, và xe ngựa chở khách đilại trong huyện và các huyện xung quanh Từ năm 1955 có ô tô chở khách từphố Phủ đi Hà Nội và từ phố Phủ đi thị xã Hưng Yên Trên sông Hồng có ca

nô chở khách từ phố Phủ đi Hà Nội đến thị xã Hưng Yên, Nam Định vàngược lại Từ năm 1990 theo sự phát triển chung của xã hội và theo cơ chế thịtrường, phương tiện giao thông đường bộ phát triển nhanh Tại bến xe phố

Trang 22

huyện có nhiều ô tô chở khách đi lại khắp các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc [1],[36].

1.2 Văn hóa và con người Khoái Châu

1.2.1 Cư dân Khoái Châu

Như trên đã nói, Khoái Châu là một vùng đất cổ Người Việt cổ đã đến

cư trú sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá và khai hoang, thau chua, rửamặn, bắt đầu gieo cấy lúa nước Việc phát hiện ra trống đồng Đông Sơn ởCửu Lao, Liên Nghĩa, huyện Văn Giang, giáp Khoái Châu chứng tỏ vùng đấtnày thời đó đã có dân cư, có chung nền văn hóa Đông Sơn, như trong “HùngVương dựng nước” tập I đã ghi “Trong thời Hùng Vương đồng bằng ở phíaNam sông Hồng mở rộng mãi ra”

Truyền thuyết Chử Đồng Tử-Tiên Dung đời Hùng Duệ Vương cho biếtthời đó Khoái Châu đã có nhiều trang trại và cư dân đông đúc mà truyềnthuyết nhắc đến các tên Đa Hòa, Dạ Trạch, Ông Đình, Đông Tảo Thời Hai

Bà Trưng khởi nghĩa đã có nhiều tướng đóng quân ở Đa Hòa (xã Bình Minh)

Bà Bạt Kiếm hy sinh ở Tiểu Quan (xã Phùng Hưng) Năm 547, Đại tướngquân Triệu Quang Phục đưa 20.000 quân về đóng ở đầm Dạ Trạch, năm 548lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, lập tiền đồn ở Đa Hòa, An Vĩ, NhuếDương thực hiện kế hoạch “trì cửu chiến” Nhân dân Khoái Châu đã đầu quân

và giúp Triệu Quang Phục xây đồn lũy, tiếp tế quân lương và trinh sát cáchoạt động của địch báo cho nghĩa quân Đến thời nhà Lý, vua Lý Cao Tông(1175-1210) đã ban cho tể tướng phụ chính Đỗ Anh Vũ 3.000 mẫu ruộng gọi

là “Tam thiên mẫu” nằm ở phía đông nam huyện Khoái Châu, tây bắc huyện

Ân Thi và bắc Kim Động Tể tướng Đỗ Anh Vũ đã chiêu mộ dân nghèo lậpthêm hàng chục làng ấp mới Đến đời Trần, đê sông Hồng được hoàn chỉnh.Sau khi thắng giặc, vua nhà Trần ban đất Khoái Châu cho tướng Nguyễn

Trang 23

Khoái thì thôn ấp phát triển nhanh Nhà Lê xóa bỏ chế độ điền trang, cấmnuôi nô tỳ, nông dân nghèo được cấp ruộng, trở thành nông dân tự do Vàođầu triều Nguyễn (Gia Long Thiệu Trị, Minh Mệnh, đầu Tự Đức), so với cáchuyện khác ở đồng bằng châu thổ sông Hồng thì Khoái Châu có tốc độ pháttriển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhanh Phố Phủ lànơi dân cư đông đúc, cửa hàng san sát, cuộc sống của người dân khấm khá.Điều này đã được sử sách ghi lại: “Trước năm 1870, nghĩa là trước những vụ

vỡ đê tàn khốc của huyện Văn Giang, Hưng Yên sống thịnh vượng lắm.Ngoại thương và nội thương thật khả quan”

Cuối năm 1891, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại, Pháp và quan lạiNam Triều chiếm đoạt ruộng đất của nông dân thành lập nhiều ấp trại mớinhư ấp An Bình (Vân Trì), ấp Hàn Sắc, Bá Tôn (Phùng Hưng), ấp Cự Hiên(thị trấn Khoái Châu)… chiêu mộ dân siêu bạt các nơi đến làm tá điền để thu

tô, tức Các địa chủ, kỳ hào ở các xã chiếm đoạt nhiều ruộng đất, một số nôngdân tự do khai hoang, phục hóa biến Bãi Sậy thành ruộng canh tác

Trong những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, huyện Khoái Châu đãchịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và ách cai trị của Pháp Đời sống vănhóa, xã hội của nhân dân ít được quan tâm, chú ý Trong khi đó các hủ tục machay, cưới xin, khao vọng, bán quan, mua tước đặt ra nặng nề, tốn kém Lệlàng rất ngặt nghèo, bắt buộc mọi người phải tuân thủ Ví dụ như ở xã TânDân, con gái lấy chồng phải nộp cheo cho làng hai mâm đồng Sau đó chứcdịch bán đấu giá để lấy tiền chè chén Từ sau phong trào cải lương hươngchính thì bán mâm để mua gạch xây đường làng Sau thành lệ, con gái đi lấychồng nộp cheo khao chức sắc, đóng lon cai, đội đều phải xây cho làng từ 1đến 3 mét đường làng Ở Đại Quan, Thuần Lễ, nếu không khao thì cả đời bị

Trang 24

bạch đinh1 Nhiều người phải bán ruộng để khao, mang công mắc nợ Trai lấy

vợ phải nộp ba đồng tiền (tương đương với 10 thùng thóc) treo lễ cho nhà gái.Con gái đi lấy chồng phải nộp cho làng 2-3 đôi hoành phi, câu đối hoặc mâmthau Nạn cờ bạc, rượu chè, hát cô đầu ở làng, xã nào cũng có

Đến năm 1933, dân số huyện Khoái Châu có 93.515 người, bằng 21%dân số toàn tỉnh Năm 1959 là 100.341 người Đến năm 1965 thì tăng lênthành 108.100 người Dân số năm 1974 là 119.553 người Năm 1999 chiatách huyện Châu Giang trở về thành Khoái Châu thì dân số huyện Khoái Châu

là 180.105 người

Khoái Châu có 23 nhà khoa bảng tính từ năm 1463 đến năm 1523,trong đó có một Trạng nguyên là Nguyễn Kỳ ở xã Tân Dân thi đỗ Trạngnguyên năm 1541

Ai về qua xã Tân Dân

Có Đinh Ngô Tướng, có văn chỉ thờ

Có ông Đổng Quế tế cờ

Có ông Tán Thuật dựng cờ nghĩa quân

Có bà công chúa Từ Quang

Theo ông nghè Tố 2 về làng kết duyên

Nhưng ông đã có vợ hiền

Bà bèn cắt tóc trụi thuyền qui y

Có Trạng nguyên Nguyễn Oăn Ri

Cho nên văn chỉ dựng về quê ta [1]

1 Bạch đinh là những thanh niên không có chức vị gì trong làng, là đối tượng đàn áp của cường hào

2 Nguyễn Đình Tố xã Tân Dân đỗ tiến sĩ năm 1769

Trang 25

Ở Khoái Châu còn có các nhân vật không đỗ Đại khoa, nhưng tài giỏinức tiếng như Nguyễn Huy Lạc (tức Quán) hai lần thi Hội (1763 và 1766) đềuđậu Tam trường Ông là một trong “Sơn Nam hạ xứ hữu tứ kiệt nhân” (bốnngười tài giỏi của Sơn Nam hạ) .[1], [14].

1.2.2 Khoái Châu - vùng phù sa văn hóa

Là vùng đất thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, Khoái Châu mangđậm nét của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước với đầy đủ các thành tố tạolên, từ môi trường địa lí, lịch sử hình thành và phát triển cũng như sự giaothoa văn hóa với các vùng lân cận và văn hóa ngoại bang du nhập

Đồng bằng Bắc bộ là vùng văn hóa-lịch sử cổ, là cái nôi hình thành dântộc Việt, là quê hương của các nền văn hóa nổi tiếng, đó là văn hóa Đông Sơnthời các vua Hùng; Thăng Long thời Đại Việt… Từ cái nôi của dân tộc, từquê hương của các nền văn hóa Việt Nam, trong quá trình Nam tiến mở mang

bờ cõi dọc bờ biển Đông (thế kỷ XI đến Quảng Trị, thế kỷ XVIII đến hết NamBộ), văn hóa Việt Nam từ cái nôi ban đầu đã dần dần đón nhận những yếu tốvăn hóa Chăm, Khơme… đồng thời cũng tự thân thích ứng với môi trườngsinh thái mới của duyên hải Nam Trung bộ, tạo nên những sắc thái văn hóađịa phương đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam Là nguồn cội nhưngcũng đồng thời là trung tâm của đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của đấtnước, cư dân đồng bằng Bắc Bộ đã hình thành và định hình những truyềnthống văn hóa lâu đời, thể hiện trong đời sống sản xuất, sinh hoạt vật chất, cácquan hệ xã hội và đời sống tinh thần Đó là kết tinh từ những tri thức và ứng

xử của con người đồng bằng Bắc Bộ, mà ngày nay, tùy theo từng trường hợp,truyền thống ấy đã trở thành bản lĩnh và sức mạnh tạo đà cho con người đivào thế giới hiện đại, và cũng không ít trường hợp nó lại là gánh nặng níukéo, cản trở bước tiến bộ của cộng đồng

Trang 26

Đối với vùng châu thổ sông Hồng, người dân sống theo tổ chức làng xã

từ xưa và khá ổn định, bền vững với những thiết chế xã hội cộng đồng và thiếtchế tín ngưỡng, tôn giáo, có cổng làng với lũy tre bao bọc xung quanh Lũytre bao bọc, gìn giữ “văn hóa làng” với những phong tục tập quán tốt đẹpnhưng cũng vừa lưu giữ những tập quán, thói quen lạc hậu, cản trở sự giaolưu hòa nhập với thế giới bên ngoài

Hưng Yên nằm ở tiểu vùng văn hóa Sơn Nam mà trung tâm là ngã tưsông Phủ Lý, sông Hồng, sông Luộc, nơi xưa là Phố Hiến, một đô thị cổ, mộtthương điếm sầm uất xưa của nước ta mà chúng ta thường nghe nói “nhấtKinh kỳ, nhì Phố Hiến” Tiểu vùng này bao gồm phần đất từ tả ngạn sôngHồng đến hữu ngạn sông Thái Bình Vùng này được khai phá từ khá sớm,khoảng sát sau công nguyên, nhưng phát triển nhất có lẽ từ thời Trần, chậmhơn vùng Thăng Long một chút

Với địa thế nằm bên bờ sông Hồng, người dân nơi đây đã biết tận dụngđiều kiện tự nhiên, sinh sống bằng nghề chài lưới nghề trồng lúa nước cũng

có nhiều tiềm năng, dựa vào chất đất phù sa màu mỡ, nguồn nước dồi dào củasông Hồng Ở đoạn sông Hồng chảy qua khu đền thờ Chử Đồng Tử - TiênDung, cứ vào dịp từ tháng Chạp đến tháng Ba (âm lịch) hàng năm, cá mòi tậptrung về đây khá nhiều Cá mòi nổi tiếng đến mức có câu tục ngữ nói về con

cá này: “Thời ngư nhục mĩ hiềm đa cốt” (Cá mòi thịt ngon nhưng nhiềuxương) Đã có một thời, cá mòi trở thành thước đo để phân biệt bữa ăn của kẻgiàu sang và người nghèo hèn:

Phú ông cơm trắng cá mòi

Bần nông cơm bột lại đòi rau dây.[14, tr.426]

Và nó cũng góp mặt trong lời hát giao duyên tình tứ:

Muốn ăn cơm trắng cá mòi

Trang 27

Trốn cha trốn mẹ về Gòi 3 cùng anh.[14, tr.426]

Cho đến nay, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản vẫn có vị trí quantrọng trong lĩnh vực kinh tế của huyện Khoái Châu Chăn nuôi chủ yếu là trâu

bò để cày kéo, số lượng không lớn lắm Một số xã có nghề trồng dâu nuôitằm, thả cá Các làng nghề thủ công ở Khoái Châu rất phát triển:

Mễ Nhạn có đất buôn nâu

Phú Trạch có đất trồng dâu nuôi tằm

Phú Thị nhuộm vải, bán chăn

Thiết Chu nấu rượu tế thần mọi nơi

Đa Hòa đập đá nung vôi

Bàng Nha dệt cửi là nơi thanh nhàn… [14, tr.64]

Đa Hòa có nghề dệt vải, nung vôi; Cốc Phong, Cao Quán, Hương Quất,Bằng Nha có nghề dệt lụa; Quan Xuyên có nghề dệt sồi; Hoàng Vân Nội,Hoàng Vân Ngoại có nghề rèn Thợ rèn Hoàng Vân không những hoạt độngtrong huyện mà còn đi nhiều tỉnh lập nghiệp; nhiều làng ven sông Hồng cónghề nung gạch, ngói, vôi, nấu mật mía, làm đường phên

Kênh Khê thì đi riu tôm

Bái Khê hàng xáo nói năng hay thề

Trung Châu thừng chão đã ghê

Mạo Xuyên bới lạc là nghề tinh nhanh

Tổng Mễ có đất trồng hành

Cửa sông chẻ nứa đan mành ta mua [14, tr.65]

3Làng Gòi thuộc xã Tân Châu, huyện Khoái Châu

Trang 28

Làng Kênh Khê, làng Cửa Sông thuộc xã Liên Khê Làng Bái Khê,Trung Châu thuộc xã Đông Kết Làng Mạo Xuyên thuộc xã Tứ Dân củahuyện Khoái Châu.

Làng Quan Xuyên nằm trên bờ sông Hồng có một thương cảng xuấthiện cùng thời với cảng Phố Hiến, cho đến năm 1930 – 1935 vẫn còn nhữngthương gia lớn kinh doanh nhiều bè gỗ, tre, nứa, lá cùng nhiều hàng lâm sảnkhác, có xưởng mộc, đại lí bán các loại hàng hải sản, mở cả lò sành sứ ChợPhủ mỗi tháng họp 6 phiên để bán trâu, bò Người các huyện khác cũng đếnmua bán rất đông

Khoái Châu gần vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) là trung tâm Phậtgiáo từ thế kỉ thứ 3 Nhân dân còn thờ các vị thánh, thần là các thiên thần,thủy thần Theo thống kê, các vị thần được thờ ở Khoái Châu là Chử Đồng Tử

- Tiên Dung, một số tướng lĩnh của vua Hùng, Hai Bà Trưng; các vị vua, quan, tướng lĩnh các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê

Trên địa bàn Khoái Châu hiện nay có sự hiện diện của nhiều di tích lịchsử-văn hóa, lưu giữ di vật quý với nhiều dấu ấn văn hóa và tín ngưỡng bản địagắn liền với các sự kiện lịch sử của quá khứ Huyện có 74 di tích lịch sử-vănhóa, trong đó có 20 di tích đã được xếp hạng Khu vực Đa Hòa-Dạ Trạch vớinhiều di tích thờ Chử Đồng Tử-Tiên Dung là một trong ba cụm di tích lớn củatỉnh Hưng Yên Các di tích này năm dọc theo sông Hồng, cùng với một số ditích năm bên kia bờ sông (thuộc địa phận tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội) tạolên khu vực thờ tự chính của tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử - một trong Tứ Bất

tử được nhân dân ta tôn thờ từ bao đời nay Truyền thuyết về Chử Đồng Tửbao gồm nhiều lớp văn hóa lắng đọng, có sự gắn bó chặt chẽ với tâm thức của

cư dân vùng sông nước, đầm lầy Ngoài ra còn có những di tích nổi tiếng nhưđền Vua Rừng ở An Vĩ thờ Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) chống giặc

Trang 29

Lương ở thế kỷ thứ VI, đền Cót thờ Linh Lang thời Lý, đền An Lạc thờ ĐỗAnh Vũ thời Lý; các chùa Lạc Thủy, am Tự Thông xây dựng từ thời Lý [1]

Bãi Tự Nhiên gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung [36]

Khoái Châu nằm ở trung tâm vùng văn minh sông Hồng lại tiếp giápvới Thăng Long, Phố Hiến, Kinh Bắc nên có nền văn hóa phong phú, đa dạng.Nơi đây có hát trống quân, hát đối đáp mà nổi tiếng là Dạ Trạch, Ông Đình,Phùng Hưng, Đông Kết, Bình Minh… Khoái Châu cũng là đất có truyềnthống hát chèo từ lâu đời, có thời kỳ nhiều xã có 3-4 đội chèo Ca dao, hò vènói về tình yêu lứa đôi, ca ngợi cảnh đẹp của quê hương, chống phong kiến,

đế quốc xuất hiện rất nhiều và còn lưu truyền đến ngày nay

Đặc điểm địa lí và đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây đã nảysinh nhiều trò chơi dân gian và các bài đồng dao mang đậm nét của văn hóalàng xã với thiên nhiên, sông nước, ruộng đồng, làng quê trù phú cũng nhưcác thói hư tật xấu, sự hài hước, châm biếm…

Khoái Châu cũng là vùng đất có nhiều truyền thuyết như Chử ĐồngTử-Tiên Dung; truyền thuyết về tướng Đỗ Mục đóng quân ở Bối Khê giúp

Trang 30

Hùng Duệ Vương đánh Thục; truyền thuyết về bà Bạt Kiếm thời Hai BàTrưng (năm 40-43) ở Tiểu Quan (Phùng Hưng); truyền thuyết về Dạ TrạchVương ở xã Dạ Trạch, xã An Vỹ; truyền thuyết về Nguyễn Siêu, một trongmười hai sứ quân thế kỷ thứ X xã Đông Kết, truyền thuyết về công chúa QuếHoa con vua Lê Đại Hành ở Cót Ấp (Chí Tân)… [1], [14], [36].

Vài nét phác họa lịch sử, môi trường và con người huyện Khoái Châutrên đây chính là những nhân tố có tầm quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến

sự hình thành bản sắc văn hóa dân gian nơi đây Đó là mối quan hệ giữa mộtbên là thực thể khách quan và một bên là sản phẩm sáng tạo của con người,xét cho cùng là quan hệ giữa thiên nhiên và con người Quan hệ ấy chịu sự tácđộng của truyền thống tư duy, quan niệm thẩm mỹ, thế ứng xử của con ngườitrước thiên nhiên qua tiến trình lịch sử Từ môi trường này đã ra đời nhiều câu

ca dao, vè, đồng dao miêu tả từng ngóc ngách, từng góc cạnh của đời sốngcon người Những trò chơi dân gian là những hành động tự phát từ môi trường

tự nhiên, từ sinh hoạt lao động với những đặc trưng về nghề nghiệp, công việccủa người lớn cũng như của con trẻ Từ đó, nó phản ánh đậm nét thái độ củacon người đối với thiên nhiên, với môi trường sống xung quanh mình

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỒNG DAO

2.1 Phân loại đồng dao

Đồng dao vốn là một thể loại văn hóa dân gian mà đối tượng sử dụngchủ yếu là trẻ em Hình thức, nội dung có thể rất rõ ràng, tập trung vào miêu

tả, nêu lên một vài vấn đề, nhưng cũng có thể đan xen, hòa trộn Có những bàilại dùng những phép ẩn dụ thật tinh tế, sâu sắc để biểu đạt một vấn đề nào đó.Việc bóc tách, phân loại ở đây trở nên tương đối và mang tính chất khái lược,

tổng quát Trong Trẻ con hát trẻ con chơi của Nguyễn Văn Vĩnh in trong Tứ

dân văn uyển năm 1935, tác giả có phân làm ba mục, “theo cái lẽ trước sau tựnhiên của người mẹ người vú thường theo mà dạy con trẻ:

- Trước hết là những câu vừa hát vừa chơi, bởi vì đối với con trẻ, cái nghĩa câu hát ở ngay trong cái trò chơi, không phải ai diễn giải nó cũng hiểu

- Sau là đến những câu hát không phải có cuộc chơi, thì tất nó đã có cáitrừu tượng hơn một chút Con trẻ đã hiểu được ít nhiều tiếng rồi thì mới thuộcđược

- Thứ ba nữa là đến những câu ru trẻ ngủ Mục này để về sau là vì hát

mà ru trẻ tùy người mẹ người vú thuộc ít hay thuộc nhiều, muốn hát câu gìcũng được Trong câu ru, cái nghĩa lý nhiều khi là để cho người ru nghe, duychỉ có cái giọng ru, và cái tiếng ề! A! hỡi hời hời! bống bông bông! Là để chotai nghe mà thôi Tuy vậy cũng có nhiều câu ru có cái nghĩa riêng đối với đứa trẻ ngủ” [16, tr.662]

Trong lời mở đầu của cuốn Ca dao nhi đồng, tác giả Doãn Quốc Sỹ đã

phân loại đồng dao theo các loại chính:

Trang 32

- Những bài hát luân lý: là những bài hát ru mộc mạc mà sâu sắc Vàonhững trưa hè oi nồng, hay trong đêm thanh tĩnh mịch có tiếng các bà mẹ, cácchị vừa đưa võng kẽo kẹt vừa cất tiếng hát ru êm ái ngọt ngào Những lờinhắn nhủ hiền hòa đó vang lên êm đềm, nỉ non, theo nhịp điệu, thật là cả mộtphương pháp giáo dục tuyệt hảo Em bé thoạt tuy không hiểu nhưng nghe mãidần dà thấm thía, nhất là khi em đã lớn, tới tuổi cắp sách đến trường, em vẫn

có thể nghe lại những bài đó hát ru em bé của mình, do đấy các em đã đượcthấm nhuần tới tiềm thức những lời mẹ hay chị khuyên răn nhắc nhở

- Những bài hát vui: Tối đại đa số những bài ca dao nhi đồng đều cótính cách vui tươi ngộ nghĩnh để trẻ em đọc lên thấy thích thú ngay; có thể là

kể một câu chuyện vui hay kể một câu chuyện ngược đời để chọc cười hoặc làbài hát không thành câu chuyện gì hết mà chỉ cốt có vần điệu một cách ngộnghĩnh, làm nở trên môi các em những nụ cười, gieo vào lòng các em cái vuitươi

- Con cò trong ca dao Việt Nam: Thực chất trong mục này, tác giảkhông chỉ đề cập đến hình ảnh con cò mà còn nói đến các con vật gần gũi vớiđời sống nông dân như con cá bống, con chuột, con ong, con cáo Theo tácgiả, hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam được nhân cách hóa một cách gầngũi, thân mật như một sự kiện độc đáo của riêng ca dao Việt Nam, khi thìtượng trưng người mẹ quê, khi là cô gái quê, khi là em bé quê, khi thì làm mộthình ảnh khởi hứng

- Những bài nói về nếp sống nông nghiệp và những tập tục xưa: nhữngbài này được giới thiệu để các em cảm thấy hết cái đẹp của nếp sống gần thiênnhiên của nhà nông xưa cùng một số tập tục ngộ nghĩnh có thể là xa lạ với các

em ngày nay

Trang 33

- Linh tinh: gồm những bài ca dao không thuộc loại trên, nhưng lời và

ý ngộ nghĩnh đẹp vẫn thích hợp với các em [16, tr.673]

Trong bài viết Hát ru và hệ thống diễn xướng đồng dao, tác giả Nguyễn

Hữu Thu đã phân chia đồng dao theo các cấp độ dựa vào sự phát triển theolứa tuổi của trẻ như sau:

- Dưới một tuổi mẹ có thể tập cho con chơi “đi chợ”, trò làm xấu Lớnhơn, anh chị cho trẻ chơi “Chi chi chành chành”, rồi thi chân đẹp… qua cácbài đồng dao “Chi chi chành chành”, “Xỉa cá mè”…

- Những bài đồng dao không gắn liền với trò chơi Đó là những bài hát

về những con vật, về hoa quả, chim muông… Trẻ tự hát, hoặc một số trẻ tụtập nhau lại đồng xướng về một bài nào đó

- Những bài đồng dao gắn liền với trò chơi của lứa tuổi nhi đồng [16, tr.744]

Trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt của Viện Nghiên

cứu văn hóa dân gian (nay là Viện Nghiên cứu văn hóa), nhóm tác giả nguyễnThúy Loan - Đặng Diệu Trang – Nguyễn Huy Hồng – Trần Hoàng đã phânchia đồng dao thành ba mục lớn:

- Đồng dao (sắp xếp theo chủ đề): gồm các chủ đề về thế giới quanh ta

và cuộc sống; quan hệ gia đình và xã hội; lao động và nghệ nghiệp; châmbiếm và hài hước

- Đồng dao – Chị ru em: Phần này gồm những bài mà các em lớn (từ 10đến 12-13 tuổi) thường hát ru em

- Đồng dao – Hát vui chơi: Phần này gồm những bài hát trong các trò vui hoặc những bài hát vui, không kèm trò chơi

Trang 34

Ngoài ra cuốn sách còn giới thiệu một phần khá lý thú, đó là “Đồng dao

có tên tác giả” giới thiệu những bài thơ theo phong cách đồng dao cổ của cáctác giả như Nguyễn Khuyến (nửa cuối thế kỷ XIX), Nam Hương (nửa đầu thế

kỷ XX) và một số cây bút nghiệp dư sau Cách mạng tháng Tám [16]

Trong cuốn Đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ mầm non, chúng tôi

đã căn cứ vào mục đích sử dụng của cuốn sách theo chương trình giáo dụcmầm non mà phân chia thành các chủ đề như sau:

- Chủ đề động vật:

Gồm các bài đồng dao về các con vật như:

Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dưới nước, khỉ ngồi trên cây.

Hay:

Bê là bê vàng

Bê đừng rềnh ràng

Bê đi với mẹ

Bê đừng chạy xuống bể

Bê đừng chạy lên ngàn

Mà cọp mang

Mà sấu nuốt…

- Chủ đề thực vật:

Các bài đồng dao nói về một số rau, củ, quả và tính chất của nó như:

Khế với sung, khế chua, sung chát

Mật với gừng, mật ngọt, gừng cay

Trang 35

Anh nào nhảy đẹp

Anh nào nhảy cao

Nhảy qua hàng rào

Chiếm ngay giải nhất.

Trang 36

Bắt cuống lên hoa

Bắt gà mổ thóc

Bắt học cho thông

Cày đồng cho sớm

Nuôi lợn cho chăm

Nuôi tằm cho rỗi

Dệt cửi cho mau

Nuôi trâu cho mập.

Trang 37

Một phần cho anh…[5]

Ngoài một số cách phân loại trên, chúng ta còn thấy có cách phân loạikhác như phân loại đồng dao dựa vào mục đích hát; phân loại đồng dao theothể thơ; phân loại đồng dao theo kết cấu… Và nhằm mục đích dễ tra cứu, tác

giả Đặng Anh Tú trong cuốn Đồng dao Việt Nam đã lấy từ đầu tiên của các

bài đồng dao mà sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái (Alphabet) [27]

Về thực chất, việc phân loại nào cũng chỉ mang tính tương đối Chúngphụ thuộc vào từng mục đích phân loại của tác giả, vào các góc nhìn khácnhau về đồng dao Chẳng hạn như với các nhà ngữ văn, họ sẽ dựa vào cấutrúc, hình thức, nội dung… của đồng dao Với các nhà giáo dục, họ sẽ dựavào nội dung, sự tác động của các bài đồng dao đó như thế nào trong việc gópphần phát triển nhân cách trẻ để phân loại

Tuy nhiên, cho dù cách phân loại nào thì cũng chủ yếu căn cứ vào nộidung và hình thức của đồng dao Do đó, chúng ta có thể phân loại một cáchkhái quát như sau:

- Đồng dao có nội dung nhắc nhở, răn dạy điều hay lẽ phải

- Đồng dao chứa đựng tri thức về hoàn cảnh, môi trường sống và quan

hệ cộng đồng

- Đồng dao khôi hài, chế nhạo hay nhằm mục đích giải trí

2.2 Nội dung của đồng dao

2.2.1 Đồng dao có nội dung nhắc nhở, răn dạy điều hay lẽ phải

Trên thực tế, rất khó xác định đối tượng sáng tác đồng dao thuộc lứatuổi nào bởi không thể căn cứ vào cấu trúc của bài có chặt chẽ hay không, nộidung đề cập đến vấn đề gì Do đó, các bài đồng dao có nội dung nhắc nhở, răn

dạy điều hay lẽ phải chỉ có thể giả thiết là người lớn sáng tác cho trẻ hát, trẻ

Trang 38

chơi Các bài dạng này có nội dung giản dị, lời lẽ đơn giản, dễ hiểu, sử dụngngôn ngữ không hoa mĩ mà vẫn toát lên được sự sâu sắc trong cuộc sống,trong cách ứng xử và các quan hệ xã hội Ở Khoái Châu, người ta thường biếtđến những bài đồng dao có nội dung đề cập đến những hình ảnh quen thuộcnhư đồng ruộng, làng quê và những người lao động cần mẫn, chăm chỉ vớicác nghề đặc trưng ở nơi đây như nông nghiệp, buôn bán và một số nghề phụ.Thông qua đó mà truyền tải cho người nghe biết gìn giữ môi trường, trântrọng lao động.

Ăn một bát cơm Nhớ người cày ruộng

Ăn đĩa rau muống Nhớ người đào ao

Ăn một quả đào Nhớ người vun gốc

Ăn một con ốc Nhớ người đi mò Sang đò

Nhớ người chèo chống Nằm võng

Nhớ người mắc dây Đứng mát gốc cây Nhớ người trồng trọt.

(Bà Nguyễn Thị Vui, sn 1957, Đại Hưng)

Trang 39

Những trò chơi vô cùng đơn giản, nhẹ nhàng kèm những lời đồng dao

dí dỏm, những hình ảnh quen thuộc mà làm cho trẻ thấm dần những điều hay

lẽ phải Ví dụ như bài đồng dao trong trò chơi “Cò cưa kéo xẻ” chẳng hạn.Chỉ có năm dòng, nhưng nó đã tạo nên một trò chơi mô phỏng sự lao độngcủa người lớn một cách sinh động Những câu hát vừa hài hước, vui vẻ lại vừaghi nhận sự ứng xử rõ ràng, rành mạch với những người có công và kẻ lườinhác Điều rất đáng chú ý ở đây là sự thưởng, phạt theo hình thức rất ngộnghĩnh phù hợp lứa tuổi, không nặng nề mà vẫn có sức nhắc nhở, cảnh báo;

(Cụ ông Nguyễn Đức Nghiên, sn 1938, Đại Hưng)

Đồng dao còn nhắc nhở, khuyên bảo con trẻ yêu lao động, sự tự giác,tích cực trong cuộc sống, Quý trọng tình cảm và các mối quan hệ trong giađình

Trang 40

Có những bài đồng dao ở Khoái Châu thông qua việc dùng những lời

lẽ giản dị, dễ hiểu để miêu tả, phản ánh diện mạo, tính cách của nhân vậtthông qua loài vật:

…Bồ nông cà mỏ chua ngoa

Lênh đênh mặt nước thế mà hiển vinh

Kìa như sơn thủy hữu tình

Gắt như tu hú ai khinh nỗi gì

Bìm bịp rủ rỉ rù rì

Bắt gà như chớp ai thì chẳng ưa

Anh mòng có tính say sưa

Móng cùi tốt dáng mà dơ cả đời…

(Cụ bà Nguyễn Thị Định, 85 tuổi, Thông Quan Hạ)

Bài này toát lên thái độ, quan điểm của con người (người sáng tác) đốivới hình thức và nội dung của đối tượng một cách rõ ràng Việc nhận định này

có thể vượt lên trên cả tư duy trẻ thơ với lời lẽ khá trau chuốt, đay nghiến, chỉtrích thói hư tật xấu của nhân vật Đây là thủ pháp nhân cách hóa, mượn đặcđiểm của đối tượng là các con vật (loài chim – một loài vật rất gần gũi với trẻthơ Khoái Châu, thường có mặt ở đồng ruộng, ao hồ và các cây trồng quanhnhà) mà một lúc đạt được hai mục đích: 1 hiểu thêm về con vật đó; 2 có thái

độ trước các đặc điểm, sự vật cụ thể, áp dụng vào phép ứng xử của loài người

Bằng việc chỉ bảo, dạy dỗ trẻ thơ thông qua ngôn ngữ dí dỏm, hàihước hay chỉ trích, đay nghiến, qua vần, nhịp điệu đặc trưng, đồng dao đã nhẹnhàng tiếp cận, chiếm lĩnh vị trí đáng kể trong tâm trí của trẻ, giúp chúng dầnnhận biết, thấu hiểu điều hay lẽ phải cũng như rèn luyện kĩ năng sống, thái độ

Ngày đăng: 12/08/2020, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Khoái Châu (2004), Lịch sử Đảng bộ huyện Khoái Châu – Tập I: 1928-1975, Xí nghiệp In Hưng Yên, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộhuyện Khoái Châu – Tập I: 1928-1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Khoái Châu
Năm: 2004
2. Trần Văn Bính chủ biên (2000), Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trịcủa Đảng ta hiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính chủ biên
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2000
3. Đỗ Thị Minh Chính (2007), Từ đồng dao đến những bài hát – đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, lưu tại Viện Nghiên cứu Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đồng dao đến những bài hát – đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay
Tác giả: Đỗ Thị Minh Chính
Năm: 2007
4. Đào Ngọc Dung sưu tầm và biên soạn (2003), Đồng dao con cò, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng dao con cò
Tác giả: Đào Ngọc Dung sưu tầm và biên soạn
Nhà XB: Nxb Âmnhạc
Năm: 2003
5. Hoàng Công Dụng (2009), Đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Công Dụng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Hoàng Công Dụng, Tổ chức trò chơi dân gian ở trường mầm non, Tạp chí Giáo dục Mầm non số 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức trò chơi dân gian ở trường mầm non", Tạp chí "Giáo dục Mầm non
7. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội tái bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội tái bản
Năm: 1976
8. Phan Hồng Giang chủ biên (2005), Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long
Tác giả: Phan Hồng Giang chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
Năm: 2005
9. Huy Hà (1992), Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam
Tác giả: Huy Hà
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1992
10.Hội Folklore châu Á (2006), Giá trị và tính đa dạng của folklore châu Á trong quá trình hội nhập, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và tính đa dạng của folklore châu Á trong quá trình hội nhập
Tác giả: Hội Folklore châu Á
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
11. Vũ Ngọc Khánh (2009), Trò chơi dân gian Việt Nam (Dành cho trẻ em), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian Việt Nam (Dành cho trẻ em)
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
12.Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2006
13.Vũ Tiến Kỳ, Lễ hội Hưng Yên trong ca dao, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1/2009, tr. 74-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Hưng Yên trong ca dao," Tạp chí "Nguồn sáng dân gian
35.Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Namhttp://www.cinet.gov.vn/?ctl=usc_NewsViewsdetail&zoneid=131&ro otId=19&newsid=19401 Link
36. Trang web tỉnh Hưng Yên http://www.hungyen.gov.vn 37.Thơ lục bát Link
38.Tổng cục du lịch Việt Nam (Vietnam tourism)http://www.vietnamtourism.com/v_pages/country/overview.asp?ml=03&mn=0203 Link
39.Trung tâm UNESCO giao lưu văn hóa quốc tếhttp://www.unesco-cep.org.vn/van-hoa-viet/le-hoi-tro-choi-dan-gian.html Link
40.Thư viện E-bookhttp://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=1084041.Văn hóa Việt Link
42.Viện nghiên cứu Văn hóa và ngôn ngữ http://www.vienvhnn.net Link
43.ActMalaysiahttp://www.terengganutourism.com/traditional_games.htm 44. Topics Online Magazine Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w