1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp thực trạng tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau

50 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 119,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiHiện nay, Việt Namđang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phấn đấu sớm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp, kết quả đã đạt được nhiều thành tựu trong thời gian qua.Theo đó,sự ra đời nhiều thành phần kinh tế, cùng vớilực lượng lao động ngày càng lớn mạnhđang nảy sinh mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ lao động và được Nhà nước điều chỉnh bằng các nguyên tắc khung pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm cơ sở cho các bên tự thương lượng, thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ cụ thể, phù hợp với điều kiện khả năng thực tế trong mối quan hệ này. Trong thực tiễn vẫn còn nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận, chưa chú trọng đến quyền lợi của người lao động, mặt khác phía người lao động cũng hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, hiểu biết về pháp luật và ý thức chấp hành kỷ luật lao động. Điều đó sẽ có nguy cơ khiến cho quan hệ lao động bị phá vỡ, sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như cơ hội kinh doanh của doanh nghiệpnếu giữa người sử dụng lao động và người lao động không thực hiện tốt các chế định về thương lượng tập thể, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể. Trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện có 2 Khu công nghiệp được thành lập, thu hút đầu tư được 24 doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho hơn 1500 lao động, dự kiến số lượng lao động sẽ tiếp tục tăng. Do vậy, việc xây dựng mối quan hệ lao động tích cực hài hòa, tiến bộ là cần thiết để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển một cách bền vững và đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho người lao động được thực thi đúng theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế của địa phương. Xuất phát từ những lý do trên,cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp thực trạng tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau”là rất cần thiết, phù hợp để vận dụng vào thực tiễnnên em đã quyết định chọn làm luận văn tốt nghiệp của mình.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứuMục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống lạicác quy định của pháp luật và nâng cao nhận thức vềtầm quan trọng của thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp.Từ đó, làm cơ sở để đánh giá về thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau.3. Phạm vi nghiên cứuViệc nghiên cứu đề tài được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật Lao động Việt Nam về thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của triết học Mác – Lênin, cơ sở đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật. Đồng thời, để đảm bảo tính logic, chân thực, chính xác, thì người viết còn vận dụng các phương pháp diễn giải, phân tích, tổng hợp và khai thác thông tin, số liệu từ những tài liệu có liên quan. 5. Kết cấu nội dung luận vănNgoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì bố cục nội dung luận văn được chia thành 3 chương:Chương 1. Khái quát về thỏa ước lao động tập thểdoanh nghiệp.Chương 2. Quy định của pháp luật về thương lượng tập thể, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp.Chương 3. Thực trạng việc chấp hành quy định pháp luật về thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp tại cácKhu công nghiệp tỉnh Cà Mau.

Trang 1

T RƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ĐẠI HỌC CẦN THƠ HỌC CẦN THƠ C CẦN THƠẦN HƠ T

T HỎA LUẬT ƯỚC LA LUẬTO ĐỘN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTG ẬTP CỬ NHÂN LUẬT HỂ DOANH NGHIỆP DOA LUẬTN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTH N VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT T T

T HỰC RẠN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTG ẠI CÁC KHU CÔN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTG N VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT T T

T ỈN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTH CÀ A LUẬTU M

hư d :

G ĐẠI HỌC CẦN THƠiảng viên hướng dẫn: viên ớng viên hướng dẫn: ẫn Sin viên h th c h ực hiện: iện :

Th s Võ Thị Bảo Trâm Th ị Bảo Trâm Bảo Trâm Tr âm N VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTguyễn 123.doc 123 o Trâm d c

t Thư

Bộ môn Luật Thương mại môn Luật Thương mại ơng viên hướng dẫn: mại Di độ môn Luật Thương mạing viên hướng dẫn: 0777 828 700 :

Lớp: GC1632 G ĐẠI HỌC CẦN THƠC CẦN THƠ1632H1 :

MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, Việt Namđang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phấn

đấu sớm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp, kết quả đã đạt được

nhiều thành tựu trong thời gian qua.Theo đó,sự ra đời nhiều thành phần kinh tế,

cùng vớilực lượng lao động ngày càng lớn mạnhđang nảy sinh mâu thuẫn về

quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ lao động và được Nhà

nước điều chỉnh bằng các nguyên tắc khung pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm

cơ sở cho các bên tự thương lượng, thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ cụ thể, phù

hợp với điều kiện khả năng thực tế trong mối quan hệ này

Trong thực tiễn vẫn còn nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận,

chưa chú trọng đến quyền lợi của người lao động, mặt khác phía người lao động

cũng hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, hiểu biết về pháp

luật và ý thức chấp hành kỷ luật lao động Điều đó sẽ có nguy cơ khiến cho quan

hệ lao động bị phá vỡ, sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, ảnh hưởng đến lợi nhuận

cũng như cơ hội kinh doanh của doanh nghiệpnếu giữa người sử dụng lao động

và người lao động không thực hiện tốt các chế định về thương lượng tập thể, ký

kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện có 2 Khu công nghiệp được thành lập, thu

hút đầu tư được 24 doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải

quyết việc làm cho hơn 1500 lao động, dự kiến số lượng lao động sẽ tiếp tục tăng

Do vậy, việc xây dựng mối quan hệ lao động tích cực hài hòa, tiến bộ là cần thiết

để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển một

cách bền vững và đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho người lao động được

thực thi đúng theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an

toàn xã hội và phát triển kinh tế của địa phương

Trang 3

Xuất phát từ những lý do trên,cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Thỏa ước

lao động tập thể doanh nghiệp - thực trạng tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà

Mau”là rất cần thiết, phù hợp để vận dụng vào thực tiễnnên em đã quyết định

chọn làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống lạicác quy

định của pháp luật và nâng cao nhận thức vềtầm quan trọng của thỏa ước lao

động tập thể doanh nghiệp.Từ đó, làm cơ sở để đánh giá về thực trạng và đề xuất

một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thỏa ước lao động tập

thể doanh nghiệp tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau

3 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp

luật Lao động Việt Nam về thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp và thực tiễn

áp dụng tại các Khu công nghiệp tỉnh Cà Mau

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của triết học Mác – Lênin, cơ sở

đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Đồng thời,

để đảm bảo tính logic, chân thực, chính xác, thì người viết còn vận dụng các

phương pháp diễn giải, phân tích, tổng hợp và khai thác thông tin, số liệu từ

những tài liệu có liên quan

5 Kết cấu nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì bố cục nội

dung luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Khái quát về thỏa ước lao động tập thểdoanh nghiệp.

Chương 2 Quy định của pháp luật về thương lượng tập thể, ký kết và

thực hiện thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp.

Trang 4

Chương 3 Thực trạng việc chấp hành quy định pháp luật về thỏa ước

lao động tập thể doanh nghiệp tại cácKhu công nghiệp tỉnh Cà Mau.

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm, ý nghĩa thỏa ước lao động tập thể

1.1.1.Khái niệm thỏa ước lao động tập thể

Nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây

dựng quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,

góp phần phát triển quan hệ lao động lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã

hội Ngày 18/6/2912, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã

thông qua Bộ luật Lao động năm 2012 thay thế cho Bộ luật Lao động năm 1994

quy định còn phù hợp trong chế định thỏa ước lao động tập thể của Bộ luật Lao

động trước, Bộ luật Lao động năm 2012 đã phát triển thêm một bậc thông qua

việc ghi nhận hai nội dung là đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể

Tư tưởng chung của chế định này là nhằm ổn định quan hệ lao động giữa tập thể

người lao động và người sử dụng lao độngthông qua cơ chế đối thoại tại nơi làm

việc, khuyến khích các bên có sự đồng thuận để có thỏa ước lao động tập thể thực

chất Thỏa ước lao động tập thể được coi như là biện pháp pháp lý để điều chỉnh

mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo cho quan hệ lao động được

phát triển hài hòa, ổn định

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 73 Bộ luật Lao động năm 2012: “Thỏa

ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử

dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua

thương lượng tập thể”.2Với khái niệm này, Bộ luật Lao động năm 2012 không

chỉ khái quát được bản chất và các yếu tố cơ bản của thỏa ước lao động tập thể

1 Bộ luật Lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo luật 35/2002/QH10 ngày 02/4/2002, Luật

74/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Luật 84/2007/QH11 ngày 02/4/2007 (đã hết hiệu lực).

2 Khoản1 Điều 73 Bộ luật Lao động năm 2012.

Trang 6

mà còn nêu được phương thức thương lượng tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa các

bên trên cơ sở những kết quả thể hiện sự đồng thuận về ý chí của các bên chủ thể

Tuy không mang tính bắt buộc, song có thể thấy thỏa ước lao động tập thể

có vai trò rất lớn đối với các chủ thể trong quan hệ lao động Đối với người lao

động, thỏa ước lao động tập thể đem lại các điều kiện lao động tốt hơn so với

những quy định của pháp luật Đối với người sử dụng lao động, thỏa ước lao

động tập thể có thể giúp họ tập trung sức lực vào cải tiến việc điều hành doanh

nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.1.2 Ý nghĩa thỏa ước lao động tập thể

Một là, thỏa ước lao động tập thể góp phần tạo dựng quan hệ lao động hài

hòa về quyền và lợi ích giữa người sử dụng lao động và tập thể người lao động.

Thỏa ước lao động tập thể là sự hợp tác, cộng đồng trách nhiệm giữa tập

thể lao động và người sử dụng lao động Về mặt xã hội, thỏa ước lao động tập thể

có ý nghĩa rất quan trọng, nó thể hiện sự hợp tác giữa người lao động và người sử

dụng lao động, mà bình thường lợi ích của hai bên đối lập nhau Sẽ không thể nói

đến sự hợp tác nếu quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao

động chỉ là sự lệ thuộc, nhưng khi người lao động liên kết lại thành tập thể mà đại

diện là công đoàn thì tương quan mối quan hệ này trở nên bình đẳng Sự hợp tác,

cộng đồng trách nhiệm được thể hiện trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ

phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động và cụ thể trong thỏa ước lao động tập thể

Quá trình thương lượng xây dựng thỏa ước lao động tập thể sẽ giúp người sử

dụng lao động với người lao động có cơ hội đối thoại với nhau thông qua tổ chức

đến thống nhất quan điểm chung

Việc tạo điều kiện cho người lao động được tham gia vào quá trình thương

lượng để đưa ra các quyết định liên quan đến quyền lợi của chính họ là thể hiện

3 Khoản 1 Điều 18 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động năm 2012.

Trang 7

sự tôn trọng, thiện chí, cam kết của người sử dụng lao động sẽ có tác động tích

cực đến tinh thần của người lao động và giúp họ cảm thấy an tâm, gắn bó làm

việc lâu dài tại doanh nghiệp, từ đó năng xuất lao động được nâng cao

Thỏa ước lao động tập thể góp phần hạn chế những cạnh tranh không lành

mạnh, ngăn ngừa những mâu thuẫn và điều hòa quyền và lợi ích của hai bên chủ

thể Trước hết, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể giúp cho người lao động và

người sử dụng lao động thể hiện rõ ràng và cụ thể sự đồng thuận của hai bên về

việc phân định trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa các bênbằng văn bản, góp

phần tránh được những hiểu lầm hoặc những cách diễn giải khác nhau vốn được

xem như là một trong những nguyên nhân chính của các tranh chấp lao động

Mục đích của thỏa ước lao động tập thể là để xúc tiến mối quan hệ lao động tốt

đẹp giữa doanh nghiệp với công đoàn, cụ thể hơn là để tạo ra một sự hiểu biết rõ

ràng về những vấn đề và điều kiện làm việc của họ trong thời gian thỏa ước có

hiệu lực, đồng thời nhằm cung cấp những phương tiện để giải quyết những hiểu

lầm có thể xảy ra do những cách giải thích khác nhau hoặc về bất kỳ nội dung nào

của thỏa ước

Hai là, thỏa ước lao động tập thể tạo ra sự gắn bó đoàn kết giữa các cá

nhân người lao động, các nhóm người lao động và tập thể người lao động với

nhau, qua đó hạn chế được xung đột và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh

vực lao động trên thị trường lao động

Thỏa ước lao động tập thể được ký kết và thực hiện giữa các bên sẽ thống

nhất được chế độ lao động áp dụng chung, không có sự phân biệt cho tất cả

những người lao động ở cùng một đơn vị doanh nghiệp Như vậy, thỏa ước lao

động tập thể cũng sẽ giúp loại trừ sự cạnh tranh không lành mạnh giữa những

người lao động ở cùng một doanh nghiệp, họ sẽ gạt bỏ những lợi ích cá nhân, cục

bộ, để đảm bảo ổn định việc làm Chính điều này đã tạo cho họ sự đoàn kết, nhất

trí, hạn chế được những xung đột và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường

lao động cũng như trong mối quan hệ với người sử dụng lao động

Trang 8

Trước hết đối với người sử dụng lao động, thỏa ước lao động tập thể là

nguồn quy phạm thích hợp, tại chỗ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc quản lý, điều

hành sản xuất kịp thời, tạo điều kiện cho quan hệ lao động trong doanh nghiệp

được gắn bó, hài hòa, ổn định và nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động

Thỏa ước lao động tập thểsẽ giúp kiềm chế xu hướng lạm quyền của người sử

dụng lao động đối với người lao động, đồng thời giúp họ thoát khỏi những đòi hỏi

hoặc yêu sách cá nhân đòi tăng quyền lợi trong thời gian thỏa ước có hiệu lực từ

phía người lao động, đảm bảo cho họ có thể xây dựng được kế hoạch chắc chắn,

chủ động trong sản xuất, kinh doanh để phát triển doanh nghiệp

Về phía người lao động, thỏa ước lao động tập thể sẽ tạo điều kiện cho họ

bình đẳng trong mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động Thỏa ước lao

động tập thể giúp nâng cao vị thế của người lao động, tạo điều kiện để họ có lợi

hơn so với điều kiện của pháp luật và tiêu chuẩn lao động về quyền lợi và điều

kiện lao động Nếu thỏa ước lao động tập thể được thực hiện tốt có thể đảm bảo

tồn tại một cách hài hòa,ổn định và phát triển của quan hệ lao động tại đơn vị sử

dụng lao dộng, trong thời gian thỏa ước có hiệu lực

Ba là, thỏa ước lao động tập thểlà một trong những biện pháp hữu hiệu để

hạn chế xung đột và tranh chấp lao động nhưng đồng thời cũng là một trong

những cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp lao động.

Thỏa ước lao động tập thể có mối liên hệ trực tiếp với các chế định đình

công và công đoàn, ba chế định này có mối quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau Có

thể thấy, về phía người lao động thì thỏa ước lao động tập thể thường do công

đoàn khởi xướng và soạn thảo, ký kết Trong quá trình thương lượng, đình công

trở thành vũ khí lợi hại của công đoàn và trong nhiều trường hợp với việc đe dọa

đình công hoặc đình công sẽ mở đường cho những cuộc thương lượng để ký kết

thỏa ước lao động tập thể và xem như bản hòa ước giữa hai bên nhằm duy trì sự

hợp tác và trách nhiệm của các bên đối với nhau trong quan hệ lao động nhằm

hạn chế đình công Ngoài ra, cả ba chế định này đều đặt việc thương lượng giữa

Trang 9

người sử dụng lao động và người lao động trên bình diện tập thể Tính tập thể này

dẫn đến sự thống nhất trong chế độ lao động, sự thống nhất giữa những người lao

động trong cùng một doanh nghiệp về điều kiện lao động và sử dụng lao động,

điều mà hợp đồng lao động của từng cá nhân người lao động không có được

Như vậy thỏa ước lao động tập thể chính là một công cụ pháp lý quan

trọng để tập thể người lao động và người sử dụng lao động xây dựng mối quan hệ

lao động hài hòa, ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển bền vững của doanh

nghiệp và vì lợi ích của mỗi bên, tạo điều kiện cho sự gắn bó chặt chẽ qua lại giữa

cá nhân người sử dụng lao động với tập thể người lao động Thỏa ước lao động

tập thể đã tạo điều kiện cho các mối quan hệ lao động diễn ra tốt đẹp, bảo đảm

được sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp, hạn chế được các xung đột và

tranh chấp trong quan hệ lao động

Khi có tranh chấp lao động xảy ra, thì thỏa ước lao động tập thể luôn là

một cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ xem

xét, giải quyết tranh chấp Đối với tranh chấp lao động cá nhân thường là những

tranh chấp các vấn đề đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, tuy nhiên nếu nội

dung của hợp đồng lao động mà trái với thỏa ước lao động tập thể, theo hướng

bất lợi cho người lao động thì nội dung đó bị coi là vô hiệu và phải căn cứ vào

thỏa ước lao động tập thể để giải quyết Đối với tranh chấp lao động tập thể bao

gồm: tranh chấp về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng

lao độngphát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp

luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa

lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp

luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế,

thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể người lao

4 Khoản 8 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012.

5 Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012.

Trang 10

trong các cơ sở, căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xác định tranh chấp tập thể xảy

ra là tranh chấp về quyền hay tranh chấp về lợi ích

Bốn là, thỏa ước lao động tập thể là nguồn quy phạm bổ sung cho các quy

định của pháp luật lao động tại đơn vị đồng thời góp phần hoàn thiện và phát

triển pháp luật lao động

Thỏa ước lao động tập thể hướng đến những quy định mang tính cụ thể, rõ

ràng để giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong thực tiễn quan hệ lao

động Thỏa ước lao động tập thể không chỉ bổ sung cho pháp luật lao động mà

còn góp phần điều chỉnh một cách phù hợp, chính xác đối với mọi quan hệ lao

động trong doanh nghiệp và rất có tính khả thi

Thỏa ước lao động tập thể được hình thành, xuất phát từ thực tiễn thi

hành pháp luật lao động, từ sự đáp ứng những đòi hỏi rất sinh động của đời

sống Quá trình thực thi thỏa ước lao động tập thể sẽ có ý nghĩa thực nghiệm và

tập dượt cho những quy định mới để rút ra kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện quy

định của pháp luật

1.2 Bản chất của thỏa ước lao động tập thể

Về bản chất pháp lý, thỏa ước lao động tập thể vừa có tính chất là một hợp

đồng, vừa có tính chất là một văn bản có tính quy phạm

Tính hợp đồng của thỏa ước lao động tập thể biểu hiện rất rõ qua việc giao

kết dựa trên sự thương lượng giữa các bên người sử dụng lao động và tập thể

người lao động dưới hình thức văn bản Đối với việc xây dựng thỏa ước lao động

tập thể, một trong các bên đều có quyền đề xuất ký kết với bên còn lại để cùng

nhau thương lượng Trong quá trình thương lượng, mỗi bên đều có quyền đưa ra

ý kiến của mình về các vấn đề trong thỏa ước và các ý kiến này có giá trị ngang

nhau Yếu tố hợp đồng này còn được thể hiện rất rõ trong việc tạo lập thỏa ướclao

động tập thể, do đó các bên tự nguyện tham gia thỏa ước, không thể có thỏa ước

nếu không có sự tự nguyện tham gia của các bên

Trang 11

Tính quy phạm của thỏa ước lao động tập thể được thể hiện trong nội dung

thỏa ước, trình tự ký kết và hiệu lực của thỏa ước Trước hết, nội dung của thỏa

ước lao động tập thể là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật về các điều kiện

lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ

lao động cho phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị Vì vậy, nội dung của thỏa

ước thường được xây dựng dưới dạng các quy phạm, theo kết cấu điều khoản thể

hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như việc làm, tiền

lương, thời gian làm việc… Để có hiệu lực, quá trình ký kết thỏa ước phải tuân

theo một trình tự nhất định, đó là tổ chức công đoàn phải lấy ý kiến của tập thể

người lao động về nội dung của thỏa ước, và chỉ khi có trên 50% người lao động

trong doanh nghiệp đồng ý thì thỏa ước mới được ký kết Những quy định trong

nội bộ doanh nghiệp, những thỏa thuận trong hợp đồng trái với thỏa ước lao động

tập thể theo hướng bất lợi cho người lao động phải được sửa đổi lại cho phù hợp

Sau khi ký kết thì thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực trong phạm vi toàn doanh

nghiệp, nó không chỉ bắt buộc thực hiện đối với các thành viên ký kết, mà còn đối

với cả những bên không cùng tham gia ký kết hoặc thậm chí không thuộc tổ chức

của các bên như công nhân không phải là đoàn viên công đoàn hoặc công đoàn

viên nhưng không tham gia thảo luận ký kết vẫn phải thực hiện theo quy định của

thỏa ước Với tính chất nói trên, thỏa ước lao động tập thể được xem như là một

quy phạm pháp luật, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động

1.3 Đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể

Một là, tính tập thể của thỏa ước lao động tập thể

Về chủ thể, một bên của thỏa ước lao động tập thể bao giờ cũng là đại

diện của tập thể lao động Đại diện tập thể người lao động tham gia thương

lượng thỏa ước không phải vì lợi ích cá nhân hay một số người lao động mà vì

lợi ích của tất cả mọi người lao động trong doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy theo cơ

cấu tổ chức, quy mô của từng doanh nghiệp mà tập thể lao động ở đây có thể

được xác định trong phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc cũng có thể chỉ trong một

Trang 12

bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp Pháp luật nước ta cũng như pháp luật của hầu

hết các nước khác đều thừa nhận tổ chức công đoàn là đại diện chính thức cho

tập thể lao động tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể với

người sử dụng lao động

Về nội dung, các thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể bao giờ cũng

liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của tập thể người lao động trong doanh

nghiệp Nó không chỉ có hiệu lực đối với các bên ký kết, các thành viên hiện tại

của doanh nghiệp mà còn có hiệu lực đối với các thành viên tương lai kể cả

những người không phải là thành viên của tổ chức công đoàn Vì thế, tranh chấp

về thỏa ước bao giờ cũng được xác định là tranh chấp lao động tập thể Điều này

thể hiện ở việc tranh chấp luôn có sự tham gia của đông đảo người lao động trong

doanh nghiệp Nội dung của tranh chấp luôn liên quan đến quyền và lợi ích chung

của tập thể lao động Do đó, tranh chấp về thỏa ước lao động tập thể bao giờ cũng

thỏa mãn các dấu hiệu của tranh chấp lao động tập thể

Hai là, những thỏa thuận có lợi cho người lao động trong thỏa ước lao

động tập thể luôn được Nhà nước khuyến khích

Đây là một điểm rất đặc thù của thỏa ước lao động tập thể, xuất phát từ

bản chất của quan hệ lao động là quan hệ mà trong đó người sử dụng lao động do

nắm vị trí cao hơn về mặt kinh, về điều hành sản xuất nên thường có ưu thế hơn

so với người lao động trong quá trình thương lượng, ký kết thỏa ước, việc phía

người lao động có những thỏa thuận có lợi hơn so với quy định của pháp luật do

vậy là rất khó, bên cạnh sự đấu tranh của người lao động cũng cần được Nhà

nước khuyến khích và bảo hộ cả hai bên hướng tới mục tiêu này Đồng thời, đây

cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định của bản thỏa ước lao động tập thể mà nếu

không đạt được thì bản thỏa ước lao động tập thể sẽ chỉ là sự sao chép lại các quy

định của pháp luật một cách hình thức và không đem lại lợi ích thiết thực nào đối

với người lao động

Ba là,thỏa ước lao động tập thể phải thể hiện bằng hình thức văn bản

Trang 13

Do thỏa ước lao động tập thể có tính chất quy phạm nên thỏa ước phải

được thể hiện bằng văn bản để các bên có thể theo dõi việc thực hiện dễ dàng

cũng như phân xử giữa các bên khi có tranh chấp xảy ra Điều này không chỉ có ý

nghĩa đối với việc thực thi những quyền và nghĩa vụ mang tính chất phổ biến

trong phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể (như thỏa ước lao động của

doanh nghiệp được áp dụng chung cho cả doanh nghiệp) mà còn có ý nghĩa rất

thiết thực đối với từng cá nhân người lao động khi căn cứ vào bản thỏa ước lao

động tập thể để giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động Cũng vì lẽ đó, ở

một số nước, đối với những doanh nghiệp đã có ký kết thỏa ước lao động tập thể

thì thông thường người lao động không nhất thiết phải giao kết hợp đồng cá nhân

mà đương nhiên được hưởng mọi quyền và nghĩa vụ đã được thỏa ước lao động

tập thể quy định

Ngoài ra, thỏa ước lao động tập thể nhất thiết phải được thể hiện bằng

hình thức văn bản bởi lẽ để có hiệu lực thì nó còn phải được đăng ký với cơ

quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Sẽ không thể đăng

ký được một bản thỏa ước lao động tập thể nếu nó không được thể hiện bằng

hình thức văn bản

Bốn là,thỏa ước lao động tập thể phải được đăng lý với cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

Thỏa ước lao động tập thể không giống như hợp đồng lao động, theo quy

định của pháp luật Việt Nam thỏa ước lao động tập thể phải được đăng lý để cho

cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra và công nhận tính hợp pháp của nó

Ngoài ra, việc đăng ký thỏa ước lao động tập thể còn giúp cho các cơ quan quản

lý nắm bắt, theo dõi tình hình quan hệ lao động tại doanh nghiệp để phục vụ cho

công tác quản lý nhà nước về lao động

1.4 Phân loại thỏa ước lao động tập thể

Trong khoa học luật lao động có nhiều cách phân loại thỏa ước lao động

tập thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể:

Trang 14

1.4.1 Theo phạm vi và chủ thể ký kết

Đây là tiêu chí phân loại thỏa ước lao động tập thể phổ biến nhất trong

khoa học luật lao động Theo cách này, thương lượng tập thể diễn ra ở phạm vi

nào thì sẽ dẫn đến thỏa ước lao động tập thể được ký kết ở phạm vi đó với chủ thể

có thẩm quyền ký kết trong từng phạm vi theo quy định của pháp luật sẽ khác

nhau Ở nước ta, thỏa ước lao động tập thể được ký kết ở phạm vi doanh nghiệp,

phạm vi ngành, cụ thể như sau:

Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp

Được ký kết giữa đại diện tập thể người lao động tại doanh nghiệp với

người sử dụng lao động trên cơ sở kết quả đồng thuận của thương lượng trong

phạm vi doanh nghiệp về các vấn đề trong quan hệ lao động Đối với thỏa ước lao

động tập thể doanh nghiệp,do phạm vi nhỏ nên về phía người sử dụng lao động

khi thương lượng với tập thể người lao động trong doanh nghiệp sẽ thuận lợi và

có thể tự mình đứng ra thương lượng trực tiếp đối với đại diện tập thể người lao

động, hơn nữa kết quả đàm phán dễ thành công hơn vì hai bên đã hiểu rõ tình

hình thực tế của nhau

Thỏa ước lao động tập thể ngành

Được ký kết giữa đại diện tập thể lao động của ngành với đại diện người

sử dụng lao động của ngành trên cơ sở kết quả đồng thuận của thương lượng

trong phạm vi ngành về các vấn đề quan hệ lao động Thỏa ước lao động tập thể

ngành có ý nghĩa quan trọng, nó tạo ra sự thống nhất, đồng đều về các điều kiện

lao động, chế độ lao động cho những người lao động có cùng một trình độ, tay

nghề trong ngành Nếu có thỏa ước lao động tập thể ngànhthì các doanh nghiệp

trong ngành phải áp dụng và chỉ khi có điều kiện thuận lợi hơn mới cần thương

lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp

1.4.2 Theo thời hạn của thỏa ước lao động tập thể

Trang 15

Nếu căn cứ vào thời hạn thì thỏa ước lao động tập thể có hai loại:“Thỏa

ước lao động tập thể có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm; Thỏa ước lao động tập thể

có thời hạn dưới 1 năm, đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thỏa ước lao động

tập thể thì có thể ký kết với thời hạn này” 6

Như vậy, doanh nghiệp đã ký kết thỏa ước lao động tập thể từ lần thứ hai

trở đi thì chỉ có một lựa chọn duy nhất là buộc phải sử dụng thỏa ước lao động tập

thể có thời hạn từ 1 đến 3 năm Doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thỏa ước lao

động tập thể có hai sự lựa chọn cho thời hạn của thỏa ước: lựa chọn thỏa ước lao

động tập thể có thời hạn dưới 1 năm hoặc lựa chọn thỏa ước lao động tập thể có

thời hạn từ 1 đến 3 năm

Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết

thỏa ước lao động tập thể nên chọn thời hạn dưới 1 năm để có thể sớm được sửa

đổi, bổ sung nếu thỏa ước có những điểm chưa thực sự phù hợp với tình hình thực

tiễn của doanh nghiệp sử dụng lao động Bởi vì, khác với hợp đồng lao động các

bên có thể đề xuất sửa đổi bất cứ lúc nào nhưng đối với thỏa ước lao động tập thể

pháp luật quy định chỉ sau 3 tháng thực hiện đối với thỏa ước lao động tập thể có

thời hạn dưới 1 năm hoặc 6 tháng đối với thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ

1 đến 3 năm thì các bên mới có quyền đề xuất sửa đổi, bổ sung thỏa ước

1.4.3 Theo tính hợp pháp của thỏa ước lao động tập thể

Căn cứ theo tính hợp pháp thì thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước

lao động tập thể hợp phápvà thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Thỏa ước lao động tập thể hợp pháp là thỏa ước đáp ứng các điều kiện

theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Về nội dung, đòi hỏi toàn bộ nội dung của thỏa ước lao động tập thể không

được trái pháp luật, đặc biệt đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp nội

dung không được trái với thỏa ước lao động tập thể ngành Bên cạnh đó, nội dung

6 Điều 85 Bộ luật Lao động năm 2015.

Trang 16

của thỏa ước lao động tập thể phải được xây dựng trên cơ sở những nội dung đã

được các bên chủ thể thỏa thuận nhất trí thông qua thương lượng và được tập thể

người lao động đồng ý thông qua quy trình tổ chức lấy ý kiến của tập thể người

lao động theo quy định của pháp luật

Về chủ thể thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể, đòi hỏi đại

diện thương lượng và đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể phải đúng thẩm

quyền pháp luật quy định

Về quy trình thương lượng để ký kết thỏa ước lao động tập thể, khác với

hợp đồng lao động quy trình thương lượng, giao kết không được luật hóa và các

bên chủ thể có thể bỏ qua một trong số các bước của quy trình mà không ảnh

hưởng đến hiệu lực của hợp đồng lao động thì quy trình thương lượng, ký kết

thỏa ước lao động tập thể được luật hóa theo các bước rất cụ thể Do vậy, nếu các

bên vi phạm quy trình này, bỏ qua một hoặc một số bước quá trình thương lượng,

ký kết thỏa ước sẽ dẫn đến thỏa ước vô hiệu toàn phần

Thỏa ước lao động tập thể vô hiệulà loại thỏa ước không đảm bảo đầy đủ

các điều kiện của pháp luật quy định.

Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn phần khi có toàn bộ nội dung trái

pháp luật, chủ thể thương lượng và chủ thể ký kết không đúng thẩm quyền, vi

phạm quy trình thương lượng tập thể để ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội

dung của thỏa ước trái pháp luật, khi thỏa ước bị tuyên bố vô hiệu thì quyền lợi

và nghĩa vụ của các bên ghi trong thỏa ước tương ứng với toàn bộ hoặc phần bị

tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận

hợp pháp khác trong hợp đồng lao động

Trang 17

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ DOANH NGHIỆP

Trang 18

2 1 Nguyên tắc ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể có tính chất là một hợp đồng, vì lẽ đó các

nguyên tắc cơ bản của hợp đồng là tự nguyện, bình đẳng cần được tôn trọng

Ngoài ra, thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa tập thể người lao động với

người sử dụng lao động nhưng lại có giá trị ràng buộc đối với tất cả những người

lao động, kể cả những người không trực tiếp tham gia ký kết Chính vì thế,

nguyên tắc công khai cũng là một nguyên tắc cần tuân thủ khi ký kết thỏa ước lao

Nguyên tắc tự nguyện

Thỏa ước lao động tập thể là một loại hợp đồng đặc biệt nên cũng như mọi

hợp đồng khác, nó phải được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện Nguyên tắc

tự nguyện trong quá trình thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể thể

hiện ở các bên có ý thức tự giác, xuất phát từ nhận thức rằng vì quyền lợi của

mình mà tự nguyện tham gia và nhận rõ trách nhiệm trong việc xúc tiến ký kết

thỏa ước Nguyên tắc tự nguyện chẳng những không chấp nhận một sự ép buộc từ

một bên đối với bên kiamà còn không chấp nhận bất kỳ sức ép nào từ phía người

thứ ba Chỉ có những thỏa ước được ký kết trên tinh thần tự nguyện mới có cơ sở

để các bên tự giác chấp hành sau này, và như vậy mục đích của việc giao kết thỏa

ước lao động tập thể mới đạt được

Nguyên tắc bình đẳng

Trong quá trình lao động, tuy người lao động và người sử dụng lao động

có địa vị kinh tế khác nhau, có các quyền và nghĩa vụ khác nhau, nhưng lại gặp

nhau ở một điểm chung là lợi ích kinh tế Đối với người sử dụng lao động là hiệu

quả sản xuất kinh doanh, là lợi nhuận Còn người lao động quan tâm đến thu nhập

của mình Cả hai bên lại rất cần có nhau trong suốt quá trình lao động Vì vậy, để

đảm bảo được lợi ích của cả hai phía, họ phải biết đối xử với nhau trên tinh thần

bình đẳng, tôn trọng và hợp tác

7Đoàn Phương Diệp (Chủ biên), Luật lao động, Nxb Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, 2016, tr 187.

Trang 19

Trong việc ký kết thỏa ước lao động tập thể, nguyên tắc bình đẳng gắn bó

chặt chẽ với nguyên tắc tự nguyện và là cơ sở của nguyên tắc tự nguyện vì suy

cho cùng, nếu không có bình đẳng thì cũng không thể có tự nguyện

Nguyên tắc bình đẳng yêu cầu các bên không thể lấy ưu thế về địa vị kinh

tế hoặc ở số đông người để gây áp lực, áp đặt yêu sách cho phía bên kia, mặc dù

các bên có quyền mặc cả trên cơ sở ưu thế của mình Nguyên tắc bình đẳng còn

thể hiện ở chỗ số lượng đại diện tham gia thương lượng để ký kết thỏa ước lao

động tập thể là ngang nhau giữa các bên

Nguyên tắc công khai

Để một thỏa ước lao động tập thể được ký kết với một sự nhất trí cao thì

mọi nội dung của thỏa ước kể từ khi sơ thảo phải được công khai Nguyên tắc

công khai trong việc thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể yêu cầu

mọi nội dung thương lượng và ký kết phải được tập thể lao động biết và tham gia

góp ý kiến Tính công khai này đặc biệt quan trọng đối với tập thể lao động, bởi

vì những cam kết trong thỏa ước liên quan đến quyền lợi cần thiết của họ và cũng

sẽ chính họ là người chủ yếu, quan trọng trong việc thực hiện thỏa ước lao động

tập thể đã ký kết Có thực hiện tốt nguyên tắc công khai trong việc ký kết thỏa

ước lao động tập thể thì thỏa ước mới thực hiện có hiệu quả, góp phần thúc đẩy

sản xuất, đảm bảo quyền lợi của hai bên; đồng thời các bên thấy rõ được nghĩa vụ

phải làm và quyền lợi kèm theo Tính công khai, rõ ràng của việc ký kết thỏa ước

còn có ý nghĩa trong trường hợp giải quyết tranh chấp về thỏa ước, khi có tranh

chấp xảy ra

2.2 Chủ thể ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết trên cơ sở những nội dung đã

được thỏa thuận, thống nhất thông qua thương lượng và được tập thể người lao

động biểu quyết tán thành Việc ký kết thỏa ước lao động tập thể dựa trên kết quả

của sự thương lượng tập thể trong phạm vi doanh nghiệp đó Tuy nhiên, quá trình

thương lượng có đạt được hay không và có đi đến thống nhất chung về ý chí của

Trang 20

đôi bên giao kết thỏa ước hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết, thái

độ và kỹ năng thương lượng của các chủ thể tham gia Nếu các chủ thể tham gia

trong quá trình thương lượng có kiến thức chuyên môn chưa vững, chưa am hiểu

đầy đủ về pháp luật, tình hình thực tiễn tại doanh nghiệp, thiếu thiện chí hợp tác

và kỹ năng thương lượng hạn chế thì việc thương lượng khó đạt được kết quả mà

còn có nguy cơ dẫn đến tranh chấp phát sinh, bất đồng giữa các bên chủ thể làm

ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp

Đại diện thương lượng thỏa ước lao động tập thể

Bên tập thể lao động, là đại diện tập thể lao động tại cơ sở Với doanh

nghiệp đã thành lập tổ chức công đoàn thì tổ chức đại diện tập thể lao động là

Ban chấp hành Công đoàn cơ sở; với doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công

đoàn thì tổ chức đại diện tập thể lao động là Ban chấp hành Công đoàn cấp trên

trực tiếp cơ sở

Bên người sử dụng lao động, là người sử dụng lao động hoặc người đại

diện của người sử dụng lao động

Trên thực tế, vai trò và vị thế của công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp bị

hạn chế bởi nhiều lý do Vì vậy, để các bên trong thỏa ước lao động tập thể có thể

thương lượng một cách bình đẳng và có hiệu quả với người sử dụng lao động rất

cần sự hỗ trợ, tham gia trực tiếp của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hoặc của

những chuyên gia bên ngoài là những người có hiểu biết, năng lực và kỹ năng

thương lượng tập thể tốt Tuy nhiên, chủ thể thương lượng tại cấp doanh nghiệp

nên phía người lao động ở những doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn là Ban

chấp hành công đoàn cơ sở Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở được quy định là

có thể tham dự phiên họp thương lượng nếu có yêu cầu của một trong hai bên Co

thể thấy, vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong thương lượng tập thể

tại doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn là chưa thực sự rõ ràng và cụ thể

Thương lượng tập thể là một quá trình chứ không phải là chỉ đơn giản là những

phiên họp thương lượng Do đó, trường hợp đặt ra là công đoàn cấp trên có trực

Trang 21

tiếp tham gia cùng công đoàn cơ sở hay chỉ thay mặt cho công đoàn cơ sở để tiến

hành thương lượng hay chỉ tham dự những phiên họp thương lượng như là những

quan sát viên Thực tế đã có nhiều trường hợp người sử dụng lao động từ chối sự

tham gia trực tiếp của công đoàn cấp trên trong quá trình thương lượng Việc quy

định công đoàn cấp trên chỉ có quyền hỗ trợ công đoàn cơ sở hoặc trực tiếp tham

gia phiên họp thương lượng khi có yêu cầu của một trong hai bên đã làm giảm

bớt vai trò của cấp công đoàn này

Với quy định đối với doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công đoàn thì

công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền thay mặt người lao động để tiến hành

thương lượng tập thể, quy định này nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp lấn áp đối

với người lao động, trong trường hợp như vậy nếu không có tổ chức công đoàn

cấp trên trực tiếp cơ sở đứng rat hay mặt công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp để bảo

vệ quyền lợi cho người lao động thì rất khó để một cá nhân người lao động đó có

thể tự bảo vệ quyền lợi cho mình Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách

nhiệm đại diện cho người lao động thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập

thể theo ý chí và nguyện vọng của tập thể người lao động trong doanh nghiệp để

người lao động yên tâm hơn trong trường hợp doanh nghiệp thiếu đi sự có mặt

của tổ chức công đoàn cơ sở

Khi nhận được văn bản đề nghị tham dự phiên họp thương lượng tập thể

của một trong hai bên thương lượng tập thể thì cấp thẩm quyền có trách nhiệm cử

người tham dự phiên họp thương lượng tập thể Người được cử tham dự phiên

họp thương lượng tập thể yêu cầu bên có văn bản đề nghị tham dự phiên họp

cung cấp thông tin có liên quan đến nội dung phiên họp thương lượng tập thể,

chuẩn bị tài liệu, tư liệu cần thiết và hướng dẫn pháp luật về lao động, hỗ trợ cho

các bên tiến hành thương lượng đảm bảo nguyên tắc khách quan, tôn trọng quyền

8 Điều 4 Thông tư 29/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

hướng dẫn một số điều về thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao

động theo quy định tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 22

Đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể 9

Bên tập thể lao động, là Chủ tịch công đoàn cơ sở hoặc Chủ tịch công đoàn

cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn

Bên người sử dụng lao động, là người sử dụng lao động hoặc người đại

diện của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật

Trường hợp người ký kết thỏa ước lao động tập thể được quy định như

trên không thể trực tiếp ký kết thỏa ước lao động tập thể được thì ủy quyền hợp

pháp bằng văn bản cho người khác ký kết thỏa ước lao động tập thể Người được

ủy quyền không được tiếp tục ủy quyền cho người khác ký kết thỏa ước lao động

tập thể

2.3 Nội dung của thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể

2.3.1 Nội dung của thương lượng tập thể

Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với

người sử dụng lao động nhằm mục đích xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn

định và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký

kết thoả ước lao động tập thể; giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc

Nội dung thương lượng tập thể bao gồm: tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp

và nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca;

bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao

Với những mục đích và nội dung nêu trên thì thương lượng tập thể là

những vấn đề quan trọng,cốt lõi làm cơ sở ký kết thỏa ước lao động tập

thể.Những vấn đề này cần được cụ thể hóa rõ ràng của các bên cho phù hợp với

9 Điều 18 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số nội dung của Bộ luật Lao động năm 2012.

10 Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2012.

11 Điều 70 Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 23

điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp trên nguyên tắc phải có lợi hơn cho

người lao động so với quy định của pháp luật

2.3.2 Nội dung ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể phải là những thỏa thuận có lợi hơn cho người

lao động so với quy định của pháp luật Có như vậy thỏa ước lao động tập thể

mới thật sự có ý nghĩa và quyền lợi của các chủ thể mới được đảm bảo, đặc biệt

là quyền lợi của người lao động

Căn cứ vào nội dung thương lượng tập thể để xác lập những điều kiện

làm cơ sở ký kết thỏa ước lao động tập thể, thông thường liên quan đến các nội

dung sau:

Về tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương.

Đây cũng là một trong những nội dung thu hút được sự quan tâm của

người lao động khi đàm phán thương lượng để ký kết thỏa ước lao động tập thể,

bởi người lao động tham gia quan hệ lao động cũng chính là vì mục tiêu này Hơn

nữa đối với vấn đề tiền lương, pháp luật lại chỉ quy định mức lương tối thiểu

vùng, còn mức tiền lương cụ thể sẽ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nên

việc thương lượng thỏa ước lao động tập thể sẽ tạo cơ hội, đảm bảo cho người lao

động có được những thỏa thuận về tiền lương cao hơn.Do đó, trong thỏa ước lao

động tập thể các bên cần thỏa thuận mức lương tối thiểu, thang, bảng lương áp

dụng trong doanh nghiệp, phương thức điều chỉnh tiền lương khi giá cả thị trường

biến động, nguyên tắc xây dựng và điều chỉnh đơn giá tiền lương, nguyên tắc và

điều kiện nâng bậc lương, các loại trợ cấp, vấn đề trả lương làm thêm giờ Ngoài

ra, các bên có thể thỏa thuận về tiền thưởng cũng như điều kiện thưởng, hình thức

và mức thưởng, về nâng lương và điều kiện nâng lương

Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca

Đối với vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, pháp luật thường quy

định ở mức tối đa Do đó, trên cơ sở điều kiện khả năng thực tế tại doanh nghiệp,

Trang 24

các bên sẽ thỏa thuận cụ thể cho phù hợp với quy định của pháp luật Cụ thể các

bên có thể thương lượng về độ dài thời gian làm việc trong ngày, trong tuần,

trong thời gian nghỉ ngơi giữa ca, nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng

năm, các trường hợp huy động làm thêm giờ

Về đảm bảo việc làm đối với người lao động

Đây là nội dung rất quan trọng, bởi nó chi phối hầu hết các nội dung khác

trong quan hệ lao động Với nội dung này các bên sẽ thỏa thuận các vấn đề nhằm

ổn định việc làm cho người lao động, bố trí hợp lý lao động như các biện pháp

đảm bảo việc làm, các công việc áp dụng cho các đối tượng lao động, các trường

hợp chấm dứt hợp đồng lao động Những vấn đề về nâng cao tay nghề, đào tạo lại

lao động khi doanh nghiệp có sự thay đổi cũng là một trong những vấn đề mà các

bên thỏa thuận tại nội dung này Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận về các

chế độ trợ cấp cho người lao động trong các trường hợp bị mất việc làm vì lý do

kinh tế

Về đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động

An toàn lao động, vệ sinh lao động cũng là vấn đề mà người lao động rất

quan tâm khi thực tế tai nạn lao động xảy ra tương đối nhiều An toàn, vệ sinh lao

động đồng thời cũng là một nội dung quan trọng của nội quy lao động bởi bản

chất của nó nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các bên trong việc đảm bảo

môi trường làm việc an toàn và vệ sinh cho người lao động, hạn chế các tai nạn

lao động và bệnh nghề nghiệp nên rất cần được thương lượng để làm cơ sở xác

lập nội dung của thỏa ước lao động tập thể và cũng là cơ sở để người lao động

thực hiện tốt nội quy lao động Tại nội dung này, các bên cần thỏa thuận về các

biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người

lao động khi xảy ra tai nạn, bệnh nghề nghiệp

Ngoài ra, nội dung của thỏa ước lao động tập thể còn có thể liên quan đến

các vấn đề khác mà hai bên quan tâm như tiền ăn giữa ca, phúc lợi tập thể, trợ

cấp hiếu hỷ.

Trang 25

2.4 Quy trình thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương lượng, trước khi

ký kết thỏa ước lao động tập thể các bên phải tiến hành và đảm bảo quy trình

thương lượng theo đúng quy định của pháp luật Thỏa ước lao động tập thể chỉ

được ký kết khi các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập

thể Quy trình thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể được tiến hành

theo các bước cụ thể sau:

Bước 1, yêu cầu thương lượng

Thương lượng được hiểu là các bên quan hệ có lợi ích chung và lợi ích

riêng khác nhau, ngồi lại cùng nhau thảo luận nhằm tìm kiếm thỏa thuận chung về

một hoặc một số vấn đề cụ thể Thương lượng tập thể là thương lượng giữ hai bên

chủ thể của quan hệ lao động nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung về các vấn đề

liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động, kể cả về trách

nhiệm xã hội Do vậy quá trình thực hiện quan hệ xã hội, nếu các bên chủ thể

thấy có những vấn đề hai bên cần phải thỏa thuận một cách rõ ràng và phải ghi

nhận thành văn bản để nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của mình hoặc để hạn chế

các tranh chấp, bất đồng, đình công xảy ra, thực hiện tốt hơn kế hoạch lao động

sản xuất chung của doanh nghiệp thì một trong hai bên có quyền đưa ra lời đề

nghị thương lượng để ký kết thỏa ước lao động tập thể

lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng;

trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các

bên thoả thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng Trường hợp một bên

không thể tham gia phiên họp thương lượng đúng thời điểm bắt đầu thương

lượng theo thỏa thuận, thì có quyền đề nghị hoãn, nhưng thời điểm bắt đầu

thương lượng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng

tập thể.Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương

12 Điều 68 Bộ luật Lao động năm 2012.

Ngày đăng: 11/08/2020, 16:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w