Tập hợp chi phí sản xuất và xác định chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ tại Công ty cổ phần Cổ phần Hồng hà Dầu khí...58 2.3.3.Tính giá thành sản phẩm xây lắp tại côn
Trang 1DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4
1.1 Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp 4
1.2 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 7
1.2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp 7
1.2.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 9
1.2.3.Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 11
1.3 Đối tượng và Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất xây lắp 13
1.3.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất xây lắp 13
1.3.3 Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp 16
1.4 Đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành 22
1.4.1 Đánh giá sản phẩm dở dang 22
1.4.2 Tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành 23
1.5 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong điều kiện khoán 25
1.6 Kinh nghiệm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở một số nước 26
1.6.1 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Mỹ 26
1.6.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Pháp.27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HỒNG HÀ DẦU KHÍ 29
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu Khí 29
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty CP Hồng hà dầu khí 29
2.1.2 Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Hồng hà Dầu khí 30
2.1.3 Đặc điểm về tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Hồng hà Dầu khí 32
Trang 22.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí 36
2.1.5 Đặc điểm công tác kế toán tại Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu khí 38
2.2 Quản lý và các chính sách quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí 41
2.3.Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu khí 45
2.3.1 Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp tại Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu khí 47
2.3.2 Tập hợp chi phí sản xuất và xác định chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ tại Công ty cổ phần Cổ phần Hồng hà Dầu khí 58
2.3.3.Tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần Hồng hà Dầu khí 60
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HỒNG HÀ DẦU KHÍ 63
3.1 Đánh giá thực trạng hình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng Hà Dầu khí 63
3.1.1 Ưu điểm: 63
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 64
3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng Hà Dầu khí 66
3.3 Yêu cầu hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng Hà Dầu khí 67
3.4 Các giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí 68
3.4.1 Hoàn thiện dưới góc độ kế toán tài chính 68
3.4.2 Xây dựng kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu khí 71
3.5 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu khí 85
3.5.1 Về phía nhà nước và các cơ quan chức năng 85
3.5.2 Về phía các doanh nghiệp 86
KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3BHXH B¶o hiÓm x· héi
Trang 4SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.01: Sơ đồ cơ cầu bộ máy quản lý công ty CP Hồng hà Dầu khí 32
Sơ đồ 2.02: Quỳ trình sản xuất sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng Hà Dầu Khí .37 Sơ đồ 2.03: Khái quát tổ chức bộ máy kế toán 40
tại Công ty cổ phần Hồng Hà dầu khí 40
Sơ đồ 3.01: tổ chức bộ máy kế toán tại Doanh nghiệp 72
BẢNG Bảng 3.01: Phân loại chi phí theo cách ứng của chi phí 75
Bảng 3.02: Báo cáo dự toán của Trung tâm chi phí 77
Bảng 3.03 Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 79
Bảng 3.04 Biến động về chi phí nhân công trực tiếp 80
Bảng 3.05: Biến động chi phí sản xuất 81
Bảng 3.06: Báo cáo thực hiện của trung tâm chi phí 83
Bảng 3.07: Báo cáo dự toán của trung tâm lợi nhuận 84
Bảng 3.08: Báo cáo thực hiện của trung tâm lợi nhuận 85
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu quan trọng vàphức tạp nhất trong toàn bộ công tác kế toán của mỗi doanh nghiệp Hạch toán chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phản ánh và giám đốc toàn bộ quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn là tấm gương phản chiếutoàn bộ bộ máy tổ chức, trình độ quản lý và công nghệ mà một doanh nghiệp đã vàđang tiến hành trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, bên cạnhnhiều ngành sản xuất vật chất quan trọng khác thì ngành xây dựng là một ngành sảnxuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Sản phẩm xây lắp là
cơ sở hạ tầng, là huyết mạch của nền kinh tế, là điều kiện tiền đề để phát triển cácngành kinh tế khác và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên hàng năm tổng mức đầu tưxây dựng công trình của ngành sản xuất xây lắp chiếm một tỷ trọng lớn trong tổngNgân sách Nhà Nước Để sản xuất ra sản phẩm xây lắp thì ngành xây dựng cũngphải hao phí các chi phí và kết tinh trong sản phẩm Thực tế tại các doanh nghiệpxây lắp hiện nay, việc quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp còn nhiềuđiểm bất cập cần phải khắc phục như công tác quản lý chi phí còn yếu kém, giáthành của sản phẩm xây lắp chưa phản ánh đúng với thực tế phát sinh Vì vậy, việchạch toán các chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách chính xác,đầy đủ, kịp thời là một yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanhcủa các đơn vị xây lắp Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, đạt được mụctiêu tiết kiệm và tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra lợi ích cho xã
hội, tôi đã chọn đề tài: Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu Khí.
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu thực trạng hạch toán chi phí, giá thành sản phẩm xây lắptại Công ty CP Hồng Hà Dầu Khí từ đó rút ra nhận xét và đề xuất những biện phápgiúp Công ty nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp nói chung đưa báocáo tài chính trung thực, chính xác, đáng tin cậy cho các đối tượng sử dụng thôngtin bên ngoài doanh nghiệp cũng như tăng cường thông tin cho các nhà quản trịdoanh nghiệp kinh doanh trong việc đưa ra quyết định kinh doanh để mang lại hiệuquả cao
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận là hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm, thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmtại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp thuộc Công Ty CP Hồng Hà Dầu khí
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp thuộc Công Ty CP Hồng
Hà Dầu khí
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Cácphương pháp toán học, phương pháp thống kê học, phương pháp phân tích kinh tế,phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp trình bày kết hợp giữa diễn giải và quynạp, đồng thời luận văn kết hợp lý luận khoa học chuyên ngành kế toán- kiểm toán
để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kế toán chi phí xây lắp và tính giáthành sản phẩm tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí đồng thời nêu rõ những tồn tại cơbản cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới trên phương diện kế toán tài chính và
kế toán quản trị
- Căn cứ vào lý luận và kết quả khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất một số giảipháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí, doanh thu và xác định kết quảkinh doanh xây lắp tại Công Ty CP Hồng Hà Dầu khí
Trang 76 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí
Trang 8CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí
và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Hoạt động sản xuất xây lắp có những điểm riêng mang tính đặc thù do vậyphương pháp và cách thức tổ chức quản lý nói chung và công tác hạch toán nóiriêng Những đặc điểm cơ bản có thể kể đến là:
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc rõ rệt, mỗi sản phẩm là mộtcông trình hay hạng mục công trình được xây lắp theo thiết kế kỹ thuật, mỹ thuậtkết cấu, hình thức, phương thi công, địa điểm thi công, địa điểm thi công xây dựngkhác nhau, riêng biệt theo từng hợp giao nhận thầu xây lắp của bên giao thầu, đặcbiệt sản phẩm được sản xuất ngay tại nơi tiêu thụ Do vậy, việc tổ chức quản lý và
tổ chức kế toán quản trị nhiều, nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công Điềunày giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể giám sát các chi phí phát sinh đối vớitừng công trình và tổ chức kế toán quản trị tương đối chính xác về giá trị công trình.Mặt khác, do mỗi sản phẩm xây lắp có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ và đượcsản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nên chi phí bỏ vào sản xuất thicông cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ở các địa điểm khác nhau vớiđiều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của côngtrình cũng khác nhau (vì đơn giá vật liệu, nhân công ở các địa phương khác nhau làkhác nhau) Vì vậy kế toán phải tính chi phí, giá thành và kết quả thi công cho từngcông trình xây lắp riêng biệt Một điều đặc biệt nữa là do sản xuất xây lắp được thựchiện theo các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng nên ít phát sinh chi phí trong quátrình lưu thông, tiêu thụ
Thứ hai, sản phẩm xây lắp chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có đơn đặt hàng(hợp đồng giao thầu) của chủ đầu tư (người giao thầu, người mua sản phẩm) Nóikhác là sản phẩm xây lắp thường được sản xuất theo hợp đồng đã được đăng ký kết
Trang 9do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp thường không thể hiện rõ nét Sảnphẩm được bán theo giá dự toán hay giá thoả thuận với người giao thầu từ trước.Hầu hết các sản phẩm hoàn thành được nghiệm thu và bàn giao không qua nhậpkho Bên cạnh đó, tình hình và điều kiện sản xuất xây lắp thiếu tính ổn định, luônbiến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng cụ thể là trong xây dựng,con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này sang côngtrình khác, còn sản phẩm xây lắp (công trình xây dựng) thì hoàn thành đứng yênmột chỗ, một đặc điểm ngược lại và hiếm thấy đối với các ngành sản xuất khác.Phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất luôn phải thay đổi theotừng địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này gây khó khăn cho việc tổ chứcsản xuất, khó cải thiện điều kiện làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lựclượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: Chi phi điều động nhâncông, máy móc thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt bằng tập kết vật liệu
và máy thi công đòi hỏi kế toán phải phản ánh chính xác chi phí này và phân bốchi phí cho hợp lý
Thư ba, sản phẩm xây lắp có giá trị lớn vượt quá số vốn lưu động của doanhnghiệp xây lắp Hơn nữa thời gian thi công thường kéo dài, trong thời gian thi côngxây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng rất nhiềunguồn lực điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất củadoanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắpphải lựa chọn phương án thi công hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có quyước thanh toán chia thành nhiều giai đoạn theo giai đoạn thi công, dự trữ vốn phùhợp, theo dõi sát chi phí phát sinh trong quá trình thi công tránh thất thoát, lãng phí.Mặt khác, do thời gian thi công trình thường kéo dài nên kỳ tính giá thànhkhông phải hàng tháng như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà thường tuỳvào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện qua phương pháp lập
dự toán và phương thức thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhận thầu Cũng nhưchu kỳ sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài nên đối tượng tính giá thành có thể là toàn
bộ công trình xây lắp hoàn thành hay đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý Sản phẩm xây
Trang 10lắp có thể có kết cấu phức tạp nên giá trị sản phẩm xây lắp đòi hỏi tính toán tỉ mỉ.Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầuquản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lýthi công trong từng thời kỳ nhất định.
Thứ tư, hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động trực tiếpcủa môi trường, khí hậu, thời tiết Năng lực sản xuất của doanh nghiệp xây lắp trong
cả năm gây khó khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi vật tư dự trữ nhiềuhơn Đặc điểm này yêu cầu các doanh nghiệp xây lắp trong quá trình thi công phải
tổ chức phân phối, điều hoà, cắt cử lực lượng lao động, vật tư hợp lý đảm bảo thicông nhanh, gọn, hiệu quả Hơn thế nữa, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi,
có thể có nhiều rủi ro bất ngờ như bão lụt làm phát sinh các khoản thiết hại phải làmlại, thiệt hại do ngừng sản xuất Những khoản thiệt hại này đòi hỏi các doanh nghiệpxây lắp phải theo dõi riêng Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sátchặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán: Các nhàthầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình, khi hết hạn bảo hành công trình mớitrả lại cho đơn vi xây lắp
*Đặc điểm của sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong đơn vị xây lắp :
Đối tượng hạch toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạncông việc của hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công trinh… từ đóxác định phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
Đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình đã hoàn thành, các giaiđoạn công việc đã hoàn thành, khối lượng xây lắp có tính dự toán riêng đã hoànthành…từ đó xác định phương pháp tính giá thành thích hợp: Phương pháp tính giátrực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số, hoặc tỷ lệ
Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán trong XDCB dự toánđược lập theo từng hạng mục chi phí Để có thể so sánh kiểm tra chi phí sản xuấtxây lắp thực tế phát sinh với dự toán, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theonguyên, vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung
Trang 111.2 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp.
Khái niệm về chi phí sản xuất xây lắp
Chi phí xây lắp biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, laođộng vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp xây lắp đã chi ra để tiến hànhhoạt động xây lắp trong một thời kỳ nhất định Có thể nói về bản chất của chi phísản xuất kinh doanh trong hoạt động xây lắp hay chi phí của hợp đồng xây dựng làchi phí phát sinh trong khâu sản xuất và cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp
do doanh nghiệp xây lắp thực hiện Việc xác định đúng, đủ chi phí của hoạt độngxây lắp cụ thể là chi phí của từng công trình, hạng mục công trình gắn liền với từnghợp đồng xây dựng là rất quan trọng Đây là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đếnviệc xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp
Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Có nhiều cách phân loại chi phí sản xuất như: phân loại chi phí sản xuất theotính chất kinh tế, nội dung kinh tế của chi phí; phân loại chi phí theo mục đích, côngdụng của chi phí; phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và đốitượng tập hợp chi phí; phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của quá trìnhsản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp; phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mốiquan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động,…Trong hoạt động xây lắp, theo cơ cấu
dự toán hiện nay chi phí sản xuất thường được phân loại theo mục đích, công dụngcủa chi phí, bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Trong hoạt động xây lắp là những chi phí
vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệuluân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thựchiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như:
Vật liệu xây dựng: cát, đá, sỏi, sắt, thép, xi măng
Vật liệu khác: bột màu, đinh, dây,
Nhiên liệu: than củi dùng để nấu nhựa rải đường
Vật kết cấu: bê tông đúc sẵn
Trang 12Thiết bị gắn liền với vật kiến trúc như: thiết bị vệ sinh, thông gió, ánh sáng.
Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số
ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng xây lắp, côngnhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vimặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công,không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài
Chi phí sử dụng máy thi công: Máy thi công là loại xe máy chạy bằng động
lực (điện, xăng dầu, khí nén, ) được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các côngtrình như: máy trộn bê tông, cần cẩu, máy đào xúc đất, máy ủi, máy đóng cọc, ô tôvận chuyển đất đá ở công trường Các loại phương tiện thi công này doanh nghiệp
có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chiphí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thicông và được chia thành hai loại: Chi phí thường xuyên là những chi phí phát sinhtrong quá trình sử dụng máy thi công, được tính thẳng toàn bộ vào giá thành ca máynhư tiền lương của công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe máy, chi phí vềnhiên liệu, vật liệu dùng cho xe máy thi công, khấu hao và sửa chữa thường xuyên
xe máy thi công, tiền thuê xe máy thi công, và chi phí tạm thời là những chi phíphải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy thi công như: chi phí tháo lắp, vậnchuyển, chạy thử máy thi công khi di chuyển từ công trường này đến công trườngkhác
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức,
phục vụ và quản lý thi công của đội xây lắp ở các công trường xây dựng Chi phísản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm các khoản chi phí khác nhau thường cómối quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp như: tiền lương nhân viên quản lýđội xây dựng; khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trêntiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp và nhân viên quản lý đội (thuộcbiên chế của DN); khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và những chi phíkhác liên quan đến hoạt động của đội
Trang 13Cách phân loại chi phí sản xuất này xuất phát từ phương pháp lập dự toántrong xây dựng cơ bản Dự toán được lập theo từng hạng mục công trình và lập theotừng khoản mục chi phí Đây là căn cứ để so sánh, kiểm tra, phân tích chi phí sảnxuất xây lắp thực tế phát sinh với dự toán.
1.2.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về laođộng sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tớikhối lượng xây lắp đã hoàn thành
Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá Số tiền thuđược từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra đểsản xuất sản phẩm đó Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầu vào mới chỉ làđáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn Trong khi đó mục đích chính của cơ chếthị trường là tái sản xuất mở rộng tức là giá tiêu thụ hàng hóa sau khi bù đắp chi phíđầu vào vẫn phải bảo đảm có lãi Do đó, việc quản lý, hạch toán giá thành sao chovừa hợp lý, chính xác vừa bảo đảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thành sảnphẩm có vai trò vô cùng quan trọng
Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm Tùy theo tiêu chí lựa chọn
mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợp sau:
- Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giáthành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế
+ Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế
kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tínhtheo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản phẩmxây lắp theo công thức:
Giá thành dự toán
sản phẩm xây lắp =
Giá trị dự toán sảnphẩm xây lắp -
Thu nhập chịuthuế tính trước
Trang 14+ Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào
kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chiphí của kỳ kế hoạch Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liềnvới điều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhấtđịnh
(1.2)
Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạchgiá thành, là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp
+ Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, khác với giáthành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và khôngbiến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xây dựng trên cơ sởcác định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạchnên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chiphí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành
+ Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết
thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quátrình sản xuất sản phẩm
Giá thành kế hoạch
sản phẩm xây lắp =
Giá thành dựtoán sản phẩmxây lắp
-
Mức hạ giáthành dựtoán
+ Chênh lệch định mức
Trang 15Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xácđịnh được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán Từ đó, điềuchỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp
- Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thànhsản xuất và giá thành tiêu thụ
+ Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên
quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất Đốivới các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhâncông, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung
+ Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh
toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩmxây lắp hoàn thành Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau đây:
(1.3)
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinhdoanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Tuynhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phânloại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu
1.2.3.Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Để xác định được một các chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp cần phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất xây lắp và giá thành sản phẩm xây lắp giống nhau về chấtnhưng khác nhau về lượng Chi phí sản xuất xây lắp là tổng chi phí phát sinh trongmột thời kỳ nhất định còn giá thành sản phẩm xây lắp là tổng chi phí sản xuất gắn
Giá thành toàn
bộ của sản
phẩm
= Giá thành sản xuấtcủa sản phẩm +
Chi phí quản lýdoanh nghiệp +
Chi phíbán hàng
Trang 16liền với một khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành và bàn giao Chi phí sản xuấttrong kỳ không những liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến
cả chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ Trong khi đó giá thành sản phẩm xây lắp liênquan đến cả chi phí của khối lượng công tác xây lắp kỳ trước chuyển sang nhưngkhông bao gồm chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ Chi phí sảnxuất xây lắp là tiền đề, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm xây lắp
Nghiên cứu mối quan hệ và sự khác biệt giữa chi phí sản xuất xây lắp và giáthành sản phẩm xây lắp sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tập hợp chi phí sản xuất vàđặc biệt là tính giá thành một cách chính xác
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau.Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm hay nói cách khác giáthành sản phẩm chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp Tuynhiên giữa chúng cũng có sự khác nhau thể hiện:
- Khi nói đến chi phí sản xuất là xem xét tới các hao phí trong một thời kỳnhất định, còn giá thành sản phẩm là xem xét các hao phí liên quan đếnsản phẩm đã hoàn thành
- Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau Sự khác nhaunày thể hiện qua công thức tính giá thành sản phẩm tổng quát
(1.4)
Khichiphí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không
có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phátsinh trong kỳ
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
Chi phísản xuất
dở dangđầu kỳ +
Chi phísản xuất phátsinh trong kỳ
-Chi phísản xuất
dở dangcuối kỳ
Trang 17Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản là khối lượng sản phẩm đã hoànthành bàn giao theo từng hạng mục công trình hoặc theo từng công trình nên giáthành được tính chỉ khi nào hạng mục công trình hoặc công trình được hoàn thành
có nghĩa là giá thành bao gồm chi phí sản xuất của kỳ này và có thể cả chi phí sảnxuất của kỳ trước chuyển sang chứ không theo một thời gian nhất định như chi phí
1.3 Đối tượng và Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất xây lắp
1.3.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất xây lắp
Để xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất phải căn cứ vàođặc điểm phát sinh chi phí, các yếu tố, tính chất sản xuất như đặc điểm quy trìnhcông nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất, yêu cầu và trình
độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh
Trong các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sảnphẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạngmục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phísản xuất là công trình, hạng mục công trình hoặc có thể là bộ phận thi công, từnggiai đoạn công việc hay từng đơn đặt hang
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác, đòihỏi công việc đầu tiên mà người làm kế toán phải làm là xác định đối tượng hạchtoán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
Trong các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sảnphẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạngmục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phísản xuất là công trình, hạng mục công trình hoặc có thể là bộ phận thi công, từnggiai đoạn công việc hay từng đơn đặt hàng
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là đối tượng để tập hợp chi phí sảnxuất, là phạm vi giới hạn nhất định mà các chi phí sản xuất xây lắp cần được tậphợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành sảnphẩm Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thực chất là xác định nơiphát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí Đối với doanh nghiệp xây lắp, đối tượng
Trang 18kế toán chi phí sản xuất là nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí chính là côngtrình, hạng mục công trình.
Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng có tác dụng phục vụtốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất phục vụ cho công tác tính giá thànhsản phẩm được kịp thời
1.3.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất xây lắp
Cơ sở xuất phát từ đối tượng hạch toán chi phí để xác định phương pháphạch toán chi phí cho thích hợp
Đối tượng hạch toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạncông việc của hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công trình…
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thốngcác phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất theo đốitượng hạch toán chi phí
Bao gồm:
Phương pháp phân bổ trực tiếp:
Áp dụng trong trường hợp các chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đòi hỏiphải tổ chức việc ghi chép ban đầu (chứng từ gốc) theo từng đối tượng, trên cơ sở
đó, kế toán tập hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng đối tượng liên quan và ghitrực tiếp vào các tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc các chi phí theo đúng đối tượng.Phương pháp phân bổ trực tiếp bảo đảm việc tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đốitượng chi phí với mức độ chính xác cao
Phương pháp phân bổ gián tiếp:
Áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan với nhiềuđối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà không thể tổ chức việc ghi chép ban đầuriêng rẽ theo từng đối tượng được Phương pháp này đòi hỏi phải ghi chép ban đầucác chi phí sản xuất có liên quan tới nhiều đối tượng theo từng địa điểm phát sinhchi phí, trên cơ sở đó tập hợp các chứng từ kế toán Sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ
để tính toán phân bổ chi phí sản xuất đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan
Trang 19Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chiphí sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục côngtrình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tậphợp cho công trình, hạng mục công trình đó
- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phátsinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng
đó Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từkhi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó
- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phươngpháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khoán.Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ, đội sản xuất haycác khu vực thi công Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đốitượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình
Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một sốphương pháp hạch toán trên Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phí phát sinhliên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các khoản chi phí nàymột cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng
Nội dung chủ yếu của các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế toán
mở thẻ (sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phảnánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phítheo từng đối tượng Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng với một loại đối tượnghạch toán chi phí nên tên gọi của phương pháp này biểu hiện đối tượng mà nó cầntập hợp và phân loại chi phí
Do đặc thù của ngành xây dựng nên các đơn vị sản xuất xây lắp sử dụngphương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình hoặctheo đơn đặt hàng và sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàngtồn kho
Trang 20Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánhthường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn vật tư trên sổ kế toán
1.3.3 Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp
1.3.3.1.Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loại nguyên vật liệucấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định một cách tách biệt
rõ ràng cụ thể cho từng sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí
về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệuluân chuyển tham gia cấu thành nên thực thể sản phẩm xây lắp Chi phí nguyên vậtliệu được tính theo giá thực tế khi xuất dùng bao gồm cả chi phí thu mua, vậnchuyển từ nơi mua về nơi nhập kho hoặc xuất thẳng đến chân công trình
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá vốn hàngbán, thường từ 60-70% Vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nàothì phải được tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó dựa trên cơ sởchứng từ gốc theo giá thực tế của vật liệu và số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình đã hoàn thành, tiến hành kiểm kê số vật liệucòn lại tại công trình để giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng hạng mục côngtrình, công trình Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượngtập hợp chi phí, không thể tổ chức kế toán riêng được thì phải áp dụng phương phápphân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng liên quan Tiêu thức phân bổ thườngđược sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao theo hệ số, trọng lượng, số lượngsản phẩm
Công thức phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu
phân bổ Cho từng đối tượng
Tổng chi phí vật liệu Cần phân bổ Tổng tiêu thức lựa chọn
để phân bổ cho các đối tượng
Tiêu thức phân
bổ cho từng đối tượng
Trang 21*Chứng từ sử dụng:
- Hoá đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi
- Hợp đồng mua bán
Vật liệu mua về có thể nhập kho hoặc có thể xuất thẳng cho công trình.Trường hợp các đơn vị thi công tự đi mua vật tư thì chứng từ gốc là hoá đơn kiêmphiếu xuất kho của người bán Phiếu xuất kho và chứng từ liên quan như hoá đơnvận chuyển tạo thành bộ chứng từ được chuyển về phòng kế toán làm số liệu hạchtoán Dựa trên hợp đồng, hóa đơn sẽ làm giấy đề nghị tạm ứng tiền chi trả cho nhàcung cấp
*TK sử dụng: Tài khoản 621 dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu dùngcho sản xuất phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm Kết cấu TK 621 như sau:
Bên Nợ: Trị giá gốc thực tế của nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sảnxuất sản phẩm xây lắp
Bên Có: Trị giá nguyên liệu vật liệu sử dụng không hết nhập kho, Kếtchuyển chi phí NVL vào TK 154- Chi phí SXKD dở dang
TK 621 không có số dư cuối kỳ Tài khoản này được mở chi tiết cho từngcông trình, hạng mục công trình
* Phương pháp kế toán được khái quát qua Sơ đồ hạch toán nguyên vật liệutrực tiếp (Phụ lục 1.01)
1.3.3.2.Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao phải trả cho người laođộng trực tiếp tham gia công tác thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình.Chi phí nhân công trực tiếp thuộc hoạt động sản xuất xây lắp bao gồm các khoảnphải trả cho người lao động thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp và các khoảnphải trả cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc Chi phí nhân công trực
Trang 22tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá vốn hàng bán, từ 15-20%.Chi phí nhân côngtrực tiếp được trả lương theo các hình thức sau: trả lương theo thời gian, trả lương theo sảnphẩm, trả lương theo khối lượng công việc.
Chi phí nhân công trực tiếp nếu tính theo từng loại công việc hoặc tiền lươngtrả theo thời gian nhưng có liên hệ trực tiếp với từng loại đối tượng tập hợp chi phí
cụ thể thì dùng phương pháp tập hợp trực tiếp Đối với chi phí nhân công trực tiếpsản xuất trả theo thời gian có liên quan tới nhiều đối tượng và không hạch toán trựctiếp được và các khoản tiền lương phụ của công nhân sản xuất xây lắp thì phải dùngphương pháp phân bổ gián tiếp Tiêu chuẩn được dùng để phân bổ hợp lý là phân bổtheo giờ công định mức hoặc theo tiền lương định mức, hay phân bổ theo giờ côngthực tế
*Chứng từ sử dụng:
- Bảng chấm công hoặc theo dõi công tác của các tổ
- Phiếu làm thêm giờ
- Hợp đồng giao khoán
- Bảng tính lương
- Bảng thanh toán lương và BHXH cho người lao động
*Tài khoản sử dụng: TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sảnphẩm xây lắp bao gồm tiền lương, tiền thuê lao động, không có các khoản trích trênlương về BHXH, BHYT, KPCĐ
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ TK 154- Chi phíSXKD dở dang
TK 622 không có số dư cuối kỳ Tài khoản này được mở chi tiết cho từngcông trình, hạng mục công trình
*Phương pháp kế toán được thể hiện qua sơ đồ hạch toán chi phí nhân côngtrực tiếp (Phụ lục 1.02)
1.3.3.3.Hạch toán chi phí máy thi công
Trang 23Chi phí sử dụng máy thi công phản ánh các chi phí liên quan trực tiếp đếnviệc sử dụng máy thi công (Vật liệu, nhân công, khấu hao máy) nhằm thực hiệnkhối lượng công tác xây lắp bằng máy, chiếm từ 5-10% giá vốn hàng bán.
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụngmáy thi công: doanh nghiệp thuê ngoài máy thi công hoặc doanh nghiệp sử dụngmáy thi công trong trường hợp các doanh nghiệp có tổ chức đội máy thi công riêng
*Chứng từ sử dụng:
- Phiếu theo dõi hoạt động xe máy thi công
- Nhật ký theo dõi hoạt động xe máy thi công
* Tài khoản sử dụng: TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
Bên nợ: Các chi phí liên quan đến máy thi công (chi phí nghuyên liệu chomáy thoạt động, chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương, tiền công của côngnhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa máy thi công)
Bên có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào bên Nợ TK 154 – Chiphí sản xuất kinh doanh dở dang
Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ
TK 623 có 6 TK cấp I
+ TK 6231 – Chi phí nhân công: Dùng để phản ánh lương chính, lương phụ:phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, côngnhân phụ vụ máy thi công kể cả khoản tiền ăn giữa ca của các công nhân này TKnày không phản ánh khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính theo tỷ lệ trên tiềnlương của công nhân sử dụng xe, máy thi công Khoản tính trích này được phản ánhvào TK 627: Chi phí sản xuất chung
+ TK 6232: Chi phí vật liệu: Dùng để phản ánh chi phí nhiên liệu như xăng,dầu, mỡ ) vật liệu khác phục vụ xe máy thi công
+ TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất: Dùng để phản ánh công cụ, dụng cụlao động liên quan tới hoạt động của xe, máy thi công
+ TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công: Dùng để phản ánh khấu hao máymóc thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình
Trang 24+ TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài: Dùng để phản ánh chi phí dịch vụmua ngoài như thuê ngoài sửa chữa xe, máy thi công, bảo hiểm xe, máy thi công,chi phí điện, nước, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ…
+ TK 6238: Chi phí bằng tiền khác: Dùng để phản ánh các chi phí bằng tiềnphục vụ cho hoạt động của xe, máy thi công, khoản chi cho lao động nữ…
* Phương pháp kế toán được thể hiện qua sơ đồ hạch toán chi phí sử dụngmáy thi công ( Phụ lục 1.03, 1.04)
1.3.3.4 Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng cần phảitổng hợp rồi cuối kỳ phân bổ cho các đối tượng theo tiêu thức thích hợp
Chi phí sản xuất chung gồm lương nhân viên trông coi công trình, vật liệulàm lán trại cho công nhân sinh hoạt, khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả của côngnhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội(thuộc biên chế của doanh nghiệp), khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạtđộng của đội và những chi phí khác có liên quan đến hoạt động của đội
* Chứng từ sử dụng: là những chứng từ hợp pháp, hợp lệ phục vụ cho sảnxuất chung như hoá đơn bán hàng, bảng kê phải nộp BHXH, BHYT, KPCĐ, tiềnđiện, tiền nước dụng riêng cho từng công trình
* Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng TK 627: Chi phí sản xuất chung
Bên nợ: Các chi phí sản xuất cung phát sinh trong kỳ
Bên có:
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung voà bên Nợ TK 154
TK 627 không có số dư cuối kỳ
TK 627 có 6 TK cấp 2
TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272: Chi phí vật liệu
TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
Trang 25TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278: Chi phí bằng tiền khác
Phương pháp kế toán thể hiện qua sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung(Phụ lục 1.05)
1.3.3.5.Tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp
Tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp bao gồm những chi phí có liên quan trựctiếp đến từng đối tượng và những chi phí không thể tập hợp trực tiếp theo từng đốitượng thì phải tính phân bổ các chi phí này cho từng đối tượng theo tiêu thức thíchhợp Trong ngành xây dựng cơ bản thường phân bổ chi phí sử dụng máy thi công vàphân bổ chi phí sản xuất chung
Phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công được phân bổ cho các đối tượng xây lắp theophương pháp thích hợp căn cứ vào số ca máy hoặc khối lượng phục vụ thực tế
Phân bổ chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng công trường, hoặc đội thicông hoặc toàn doanh nghiệp và tính phân bổ cho từng công trình, hạng mục côngtrình theo phương pháp thích hợp như phân bổ theo chi phí sản xuất chung địnhmức, phân bổ theo giờ công sản xuất kinh doanh định mức hoặc thực tế, phân bổtheo chi phí nhân công, phân bổ theo chi phí trực tiếp (chi phí nguyên vật liệu trựctiếp và chi phí nhân công trực tiếp)
Để tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp sử dụng TK 154 - Chi phí sản xuất,kinh doanh dở dang
Kết cấu của TK 154
Bên nợ: Các chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trựctiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liênquan đến giá thành sản phẩm xây lắp công trình
Bên có:
- Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao
Trang 26Số dư bên nợ:
- Chi phí sản xuất kinh doanh còn dở dang cuối kỳ
Phương pháp kế toán thể hiện qua sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sảnxuất xây lắp (Phụ lục 1.06)
1.4 Đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành
1.4.1 Đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quytrình sản xuất, chế biến, đang nằm trên dây chuyền công nghệ hoặc đã hoàn thànhmột vài quy trình chế biến nhưng vẫn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sảnphẩm hoàn chỉnh
Sản phẩm dở dang của các doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạngmục công trình chưa hoàn thành khối lượng công tác xây lắp trong kỳ và chưa đượcchủ đầu tư nghiệm thu chấp nhận thanh toán
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu Việc đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý là yếu
tố quan trọng quyết định tính trung thực, hợp lý của giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ và từ đó xác định được chính xác lãi ròng của doanh nghiệp cuối kỳ kinh doanh
Muốn đánh giá sản phẩm dở dang một cách chính xác cần phải tiến hànhkiểm kê khối lượng nguyên nhiên vật liệu chưa sử dụng đến ở công trường thi công
Bộ phận kế toán cần kết hợp chặt chẽ với cán bộ kỹ thuật tại công trường thi công
để xác định mức độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dở dang
Việc đánh giá trị sản phẩm dở dang trong sản xuất xây lắp phụ thuộc vàophương thức thanh toán, bàn giao khối lượng xây lắp giữa bên nhận thầu và bêngiao thầu
Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang mà doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng là:
Trang 27- Đánh giá theo chi phí thực tế phát sinh: áp dụng đối với các công trình bàn
giao thanh toán hoàn thành toàn bộ, tổng chi phí sản xuất từ khi khởi công đến khihoàn thành chính là giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành Thực chất, đến khicông trình hoàn thành toàn bộ thì không có đánh giá sản phẩm dở dang
- Đánh giá theo giá dự toán và mức độ hoàn thành của sản phẩm xây lắp dở dang: áp dụng đối với các trường hợp công trình, hạng mục công trình bàn giao
thanh toán theo từng giai đoạn hoàn thành, sản phẩm dở dang là các giai đoạn xâylắp chưa hoàn thành Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ theo phương phápphân bổ chi phí thực tế căn cứ vào giá thành dự toán và mức độ hoàn thành theo cácbước sau:
(1.6)
1.4.2 Tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành
Đối tượng tính giá thành
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong công tác tínhgiá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, lao vụ cần phải tính giá thành vàgiá thành đơn vị
Căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành cũng giống như căn cứ để xácđịnh đối tượng hạch toán chi phí sản xuất như đặc điểm quy trình công nghệ sản
Giá thành dự toán khối lượng dở
Dang cuối kỳ của từng giai đoạn
Tỷ lệ hoàn thành của từng giai đoạn
Giá thành dự toán của từng
Tổng giá thành dự toán khối lượng Dở dang cuối kỳ của các giai đoạn
Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ +
+
Giá thành dự toán Khối lượng dở dang Cuối kỳ của từng giai
đoạn
Trang 28xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm loại hình sảnxuất: đơn chiếc hay hàng loạt, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Do đặc thù của ngành sản xuất xây lắp nên đối tượng tính giá thành sảnphẩm xây lắp là hạng mục công trình, công trình hoặc từng đơn hàng
Kỳ tính giá thành:
Việc tính giá thành chỉ được thực hiện ở một kỳ nhất định gọi là kỳ tính giáthành Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán cần phải tiến hành công việctính giá cho đối tượng tính giá thành Giá thành sản phẩm, lao vụ không thể tính vàobất kỳ thời điểm nào, mà tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất dài hay ngắn và đặc điểmsản xuất sản phẩm để xác định kỳ tính giá thành cho phù hợp
Đối với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm tổ chức sản xuất và hình
thức nghiệm thu, bàn giao thanh toán khối lượng xây lắp sản phẩm hoàn thành nên
kỳ tính giá thành là thời điểm sản phẩm được hoàn thành, nghiệm thu và bàn giaothanh toán
Phương pháp tính giá thành
Phương pháp tính giá thành là phương pháp tính toán, xác định giá thành đơn
vị sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành theo các khoản mục chi phí quy định
Do đặc điểm về tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ của sản phẩm xâylắp nên có các phương pháp tính giá thành sản phẩm sau:
-Tổng chi phí Sản xuất Phát sinh Trong kỳ
Chi phí SXKD
Dở dang Cuối kỳ
=
(1.8)
Trang 29Phương pháp này được các doanh nghiệp áp dụng để tính giá thành sản phẩmxây lắp vì nó cho phép tính chính xác nhất giá thành sản phẩm.
Phương pháp đơn đặt hàng:
Trong trường hợp, các doanh nghiệp xây lắp có đối tượng hạch toán chi phísản xuất là từng đơn đặt hàng, đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm hoànthành của từng đơn đặt hàng Giá thành của từng đơn đặt hàng là toàn bộ chi phí sảnxuất phát sinh kể từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến lúc hoàn thành hay giao chokhách hàng
Phương pháp tổng cộng chi phí:
Được áp dụng khi doanh nghiệp xây lắp khoán theo công việc cho các đơn vịnhận khoán khác nhau của cùng một công trình hoặc hạng mục công trình Như vậygiá thành công trình hoặc hạng mục công trình bàn giao được xác định bằng tổngcộng chi phí sản xuất theo công việc của các đơn vị nhận khoán
1.5 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong điều kiện khoán
Cơ chế khoán trong doanh nghiệp xây lắp là những nội dung, những điềukhoản quy định thống nhất có tính quy chế về các vấn đề liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ, trách nhiệm giữa đơn vị giao khoán, đơn vị nhận khoán Thực hiện cơ chếkhoán liên quan đến các mối quan hệ giữa tổng công ty, công ty, các xí nghiệpthành viên với các đội thi công, giữa các xí nghiệp thành viên với nhau, giữa các xínghiệp thành viên với các đội thi công Các mối quan hệ này thể hiện qua quyền lợi
và trách nhiệm của các bên mà trong đó quy chế về phân phối thu nhập có ý nghĩaquyết định
Để thể hiện trách nhiệm của đơn vị giao khoán và đơn vị nhận khoán, khinhận khoán hai bên phải lập hợp đồng giao khoán trong đó ghi rõ nội dung côngviệc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên cũng như thời gian thực hiện hợp đồng Khihoàn thành công trình nhận khoán, bàn giao, hai bên lập biên bản thanh lý hợpđồng
Các hình thức giao khoán sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Trang 30- Xét theo khối lượng công việc có các hình thức
+ Khoán gọn công trình, hạng mục công trình
+ Khoán gọn theo khối lượng lớn của từng loại công việc cụ thể
- Xét theo mức độ khoán chi phí có các hình thức
+ Khoán gọn toàn bộ chi phí
+ Khoán theo từng khoản mục chi phí
Sơ đồ kế toán tổng quát thanh toán về giá trị khối lượng xây lắp nội bộ tạiđơn vị giao khoán trong trường hợp đơn vị nhận khoán nội bộ có bộ máy kế toánriêng và được phân cấp quản lý tài chính (Phụ lục 1.07)
Sơ đồ kế toán tổng quát thanh toán về giá trị khối lượng xây lắp nội bội tạiđơn vị nhận khoán nội bộ có bộ máy kế toán riêng và được phân cấp quản lý tàichính (phụ lục 1.08)
1.6 Kinh nghiệm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở một số nước.
1.6.1 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
ở Mỹ
Nội dung cơ bản của Kế toán quản trị chi phí và giá thành theo mô hình kếtoán Mỹ là cung cấp thông tin cho việc kiểm tra, kiểm soát chi phí phục vụ cho việclập các báo cáo cho việc điều hành hoạt động ở các bộ phận sản xuất, báo cáo tiềnthuê phân xưởng, tổng hợp giờ công lao động thực tế của từng bộ phận, bảng tổnghợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, phân tích số liệu để lập kế hoạchngắn hạn và dài hạn Theo hệ thống kế toán Mỹ chi phí cũng được phân loại theonhiều tiêu thức để phục vụ cho việc quản lý và kiểm soát chi phí Tuy nhiên theo hệthống kế toán này, đặc biệt quan tâm đến việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí -khối lượng - lợi nhuận, phân tích báo cáo bộ phận và áp dụng phương pháp tính lãitheo biến phí trong quá trình tính toán chi phí cũng như kế hoạch linh động, phântích chi phí chung từ đó có thể tính được giá phí, tác động lên giá phí và cung cấpthông tin phục vụ cho quá trình ra các quyết định trong quản lý Về hệ thống xácđịnh chi phí và giá thành có thể vận dụng một trong ba hệ thống đó là: Giá thành
Trang 31thực tế, giá thành định mức (giá thành theo chi phí tiêu chuẩn) và giá thành kết hợpgiữa chi phí thực tế với chi phí định mức.
Khái niệm giá thành được sử dụng trong kế toán Mỹ như là một chỉ tiêu đolường các khoản hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất ra sảnphẩm
Khái niệm giá thành cũng được chia thành 2 loại: giá thành sản phẩm và giáthành chung cho kỳ
Giá thành sản phẩm (giá phí sản xuất) là các giá phí liên hệ đến quá trình sảnxuất sản phẩm
Giá thành chung cho kỳ là các giá phí liên hệ đến các hoạt động bán hàng vàcác hoạt động chung cho kỳ kế toán
Đối với doanh nghiệp sản xuất xây lắp, giá thành sản phẩm hoàn thành sauquá trình sản xuất gồm có 3 yếu tố:
- Giá thành nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản phẩm đó
- Giá thành lao động trực tiếp cho sản phẩm đó
- Chi phí sản xuất chung , các chi phí gắn liền với quá trình quản lý và phục
vụ sản xuất
Ba yếu tố này được tổng hợp lại để xác định tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
1.6.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
ở Pháp
Xuất phát từ quan điểm giá thành sản phẩm bao gồm tất cả các khoản chi phíthuộc về tất cả các đầu vào nhằm mục đích tạo ra những đầu ra tương ứng nên nộidung và phương pháp hạch toán giá thành của Pháp có những đặc điểm đặc thù biểuhiện những quan hệ kinh tế - pháp lý của nền kinh tế thị trường phát triển cao
Chi phí được phân biệt thành 3 hình thức khác nhau:
Các chi phí có thể đưa thẳng vào sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu, nhâncông trực tiếp sản xuất
Trang 32Các chi phí có thể đưa thẳng vào mỗi bộ phận hoạt động như nhân công trựctiếp và gián tiếp cho mỗi bộ phận: động lực, năng lượng, tu bổ sửa chữa, khấuhao…
Các chi phí gián tiếp có tính chất chung cần phải phân chia trước khi đưavào chi phí
Việc xác định đúng đắn các loại chi phí trong từng hình thức chi phí là điềukiện quan trọng để tính được giá thành đúng đắn
Giá thành sản phẩm là khái niệm được sử dụng để xác định những hao phívật chất được dùng cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp phải bùđắp bằng doanh thu bán hàng hay còn gọi là chi phí của doanh nghiệp
Chi phí của doanh nghiệp được phân thành các loại:
- Chi phí sản xuất kinh doanh
- Chi phí tài chính
- Chi phí đặc biệt (hay chi phí bất thường)
Chi phí sản xuất kinh doanh là loại chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phát sinh thường xuyên và thay đổi liên tụctheo quá trình sản xuất kinh doanh
Chi phí tài chính là loại chi phí phát sinh trong các hoạt động tài chính củadoanh nghiệp như chi trả lãi tiền vay, chiết khấu thanh toán chấp nhận cho ngườimua,…
Chi phí đặc biệt là loại chi phí bất thường như khoản phạt do vi phạm hợpđồng, phạt về thuế…
Trang 33CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HỒNG HÀ DẦU KHÍ
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu Khí
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty CP Hồng hà dầu khí
- Tên Công ty: Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu khí
- Tên tiếng anh: Hong ha Petroleum joint stock company
- Trụ sở: 206 A - Nguyễn Trãi - Trung Văn - Từ Liêm - Hà Nội
- Điện thoại: 04 35540845 - Fax: 04 35540847
- Website: www.pvchongha.vn
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp số: 0100109674 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 10 tháng 8 năm 2010; đăng kýthay đổi lần 10
- Giai đoạn 1993 đến 1999
Công ty cổ phần Hồng hà Dầu khí tiền thân là Công ty Xây dựng Hồng Hàđược thành lập năm 1993 trực thuộc Công đoàn Xây dựng Việt Nam theo quyếtđịnh thành lập số: 6223 QĐ/UB ngày 29/11/1993 của UBND Thành phố Hà Nội.Năm 1999, Công ty được Bộ Xây dựng tiếp nhận và giao cho Tổng Công ty Xâydựng Sông Hồng quản lý theo quyết định số 1361/ QĐ - BXD của Bộ trưởng BộXây dựng về việc tiếp nhận Công ty Xây dựng Hồng Hà từ Công đoàn xây dựngViệt Nam
- Giai đoạn 2004 đến 2009
Ngày 28/12/2004, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký Quyết định số 2076/ QĐ BXD về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty Xây dựng Hồng Hà - TổngCông ty Xây dựng Sông Hồng thành Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Hồng
-Hà với tên giao dịch tiếng Anh là “HONGHA Investment and Construction Joint
Trang 34Stock Company“, viết tắt là HONGHA JSC.Sau hơn 5 năm hoạt động sau cổ phầnhoá, Công ty luôn luôn tăng trưởng ổn định Doanh thu trong hai năm 2007 và 2008đều đạt hơn 300 tỷ đồng, doanh thu năm 2009 của Công ty đạt hơn 600 tỷ Lợinhuận sau thuế năm 2007 là 8,4 tỷ đồng, năm 2008 là 6,3 tỷ đồng, năm 2009 là 19,5
tỷ Đạt được kết quả kinh doanh như trên là nhờ Công ty đã nỗ lực khai thác đượccác hợp đồng xây dựng lớn, luôn đảm bảo chất lượng các công trình xây dựng vànhận được sự tín nhiệm của các chủ đầu tư công trình
Tháng 3/2009, Công ty trở thành thành viên của Tổng Công ty CP Xây lắpDầu khí Việt Nam thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc Gia Việt Nam và đổi tên “Công ty
Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Hồng Hà” thành “Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầukhí” Hiện nay vốn điều lệ là 50 tỷ đồng
2.1.2 Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Hồng hà Dầu khí
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tập trung vào các lĩnh vực sau:
Nhận thầu thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, hạtầng kỹ thuật khu đô thị và khu công nghiệp
Đầu tư bất động sản, kinh doanh phát triển nhà và văn phòng
Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng
Về hoạt động kinh doanh xây lắp, ngoài việc nhận thầu các công trình có nguồnvốn ngân sách Nhà nước và vốn tự có của các doanh nghiệp, Công ty còn hướng tớiviệc làm tổng thầu EPC trên cơ sở hợp tác với đơn vị tư vấn có uy tín Năm 2007Công ty đã trúng thầu và ký được 26 hợp đồng xây lắp với tổng giá trị là 358 tỷđồng Số công trình, hạng mục công trình hoàn thành trong năm 2009 đã bàn giao là
18 công trình Các đơn vị trực thuộc đã có nhiều cố gắng đóng góp vào việc hoànthành kế hoạch sản xuất của Công ty Một số công trình được các chủ đầu tư đánhgiá cao về tiến độ và chất lượng Trong những năm tới, định hướng của Công ty làtiếp tục phát triển hoạt động xây lắp, xây dựng các công trình dân dụng, côngnghiệp
Trong năm 2009, công tác đầu tư đã được quan tâm, đẩy mạnh, Công ty đã tìmđược hướng đi đúng để thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản phù hợp
Trang 35với sự phát triển chung của thị trường và phù hợp với năng lực của Công ty Ngoài
ra, Công ty đã ký được 2 hợp đồng nguyên tắc với đối tác để xây dựng tòa nhà vănphòng cho thuê tại K3B Thành Công, Hà Nội và Trung tâm Văn hóa, Dịch vụThương mại và văn phòng cho thuê tại số 8 Nguyễn Trung Trực, Quận I, TP Hồ ChíMinh
Bên cạnh đó, việc đầu tư vào các công ty con và công ty liên kết cũng đượcCông ty quan tâm Đầu tư trang thiết bị thi công và tài sản cố định là một chiến lượctrong kế hoạch phát triển kinh doanh của Công ty Năm 2009, Công ty đã đầu tưtrang thiết bị thi công cho Xí nghiệp Xây lắp và Thi công cơ giới tại Miền Bắc và
Xí nghiệp Xây lắp và Thi công cơ giới Hồng Hà tại Miền Nam với tổng giá trị đầu
tư là 19 tỷ đồng
Trang 362.1.3 Đặc điểm về tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Hồng hà Dầu khí
Mối quan hệ điều hành trực tiếp Mối quan hệ phụ thuộc
Đơn vị trực thuộc Công Ty
Sơ đồ 2.01: Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý công ty CP Hồng hà Dầu khí
Đơn v ị thành viên
Phòng Quản lý thi công
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng Tài chính kế toán
Phòng Tài chính kế toán
Các Xí nghiệp QLTB & Thi công cơ giới
Kế toán trưởng Các Phó tổng giám đốc
Phòng Phát triển
dự án
Phòng Phát triển
dự án
Các đơn vị xây lắp khu vực
Các đơn vị xây lắp khu vực
Các đội xây lắp trực thuộc
Các đội xây lắp trực thuộc
Các công ty con
*
Các công ty con
*
Hội đồng quản trị Chủ tịch Hđqt Các thành viên
Hội đồng quản trị Chủ tịch Hđqt Các thành viên
Đại hội đồng cổ đông
Ban Kiểm Soát
Trang 37Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
quyền lực cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều
lệ Công ty quy định Đặc biệt, các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàngnăm của Công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty
để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ nhữngvấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông HĐQT có trách nhiệm giám sátTổng Giám đốc và những người quản lý khác Quyền và nghĩa vụ của HĐQT doLuật pháp và Điều lệ Công ty, các quy chế nội bộ của Công ty và Nghị quyếtĐHĐCĐ quy định
Ban kiểm soát: Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ
đông bầu ra Ban Kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạtđộng kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập vớiHội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc
Tổng Giám đốc:
Tổng Giám đốc Công ty là người Đại diện của Công ty trong việc điều hành mọihoạt động sản xuất kinh doanh Tổng Giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổnhiệm và miễn nhiệm Tổng Giám đốc Công ty chịu trách nhiệm trước Hội đồngquản trị và pháp luật về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Phó Tổng Giám đốc:
Các Phó Tổng Giám đốc Công ty giúp việc cho Tổng Giám đốc điều hành mọi hoạtđộng của Công ty trong các lĩnh vực theo sự phân công và uỷ quyền của Tổng Giámđốc, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc Công ty và pháp luật về nhiệm vụ đượcphân công và uỷ quyền
Kế toán trưởng:
Kế toán trưởng của Công ty giúp Tổng Giám đốc Công ty chỉ đạo và tổ chức thựchiện công tác kế toán, tài chính của Công ty theo quy định của pháp luật
Trang 38Khối tham mưu: Gồm các phòng, ban có chức năng tham mưu và giúp việc cho Ban
Tổng Giám đốc, trực tiếp điều hành theo chức năng chuyên môn và chỉ đạo của BanTổng Giám đốc Khối tham mưu của Công ty gồm Phòng Kinh tế - Kế hoạch; PhòngQuản lý Thi công; Phòng Tài chính - Kế toán; Phòng Tổ chức Hành chính; PhòngPhát triển dự án với chức năng được quy định như sau:
1- Phòng Kinh tế - Kế hoạch:
Phòng Kinh tế - Kế hoạch có nhiệm vụ giúp lãnh đạo Công ty và các đơn vị trựcthuộc trong công tác quản lý kế hoạch sản xuất, thực hiện công tác đấu thầu, pháttriển các dự án đầu tư, công tác đầu tư, nghiên cứu, phổ biến và hướng dẫn các đơn
vị trực thuộc các qui định mới của Nhà nước về quản lý xây dựng và các công táckhác theo sự phân công của lãnh đạo Công ty Hàng tháng phòng kinh tế kế hoạchkiểm tra đối chiếu khối lượng kế hoạch với thực tế Từ đó Giám đốc có kế hoạchduyệt dự trù tài chính cho các công trình Công tác kiểm tra và duyệt dự trù tàichính đã giúp cho phòng kế toán kiểm soát được tiền ứng của công trình chặc chẽtránh được tình trạng ứng vượt, ứng không đúng
2-Phòng Quản lý Thi công:
Phòng Quản lý Thi công có nhiệm vụ giúp lãnh đạo công ty và các đơn vị trựcthuộc trong công tác quản lý chất lượng, biện pháp kỹ thuật thi công, an toàn laođộng, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng quản lý và điều hành tổ trắc đạc của Công ty vàcác công tác khác theo sự phân công của lãnh đạo Công ty Phòng quản lý thi côngphối hợp với phòng kế toán để quản lý chi phí đi đúng hướng đảm bảo chất lượngcông trình Phòng báo cáo cho phòng kế hoạch biết công trình đang thi công đếngiai đoạn nào, nắm bắt thực tế để phòng kế hoạch có cơ sở kiểm tra đối chiếu sốliệu của công trình báo lên
3- Phòng Tài chính - Kế toán:
Phòng Tài chính kế toán có nhiệm vụ giúp lãnh đạo Công ty và các đơn vị trựcthuộc trong công tác quản lý tài chính Muốn quản lý được chặt chẽ chi phí thìphòng kế toán phối hợp các phòng ban để có những quyết định trong việc ghi nhậnchi phí cũng như các khoản tiền ứng của công trình
Trang 39Các đơn vị trực thuộc Công ty bao gồm:
- Chi nhánh Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Hồng Hà tại Đà Nẵng
- Chi nhánh Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Hồng Hà tại TP Hồ Chí Minh
- Xí nghiệp xây lắp và thi công cơ giới (hoạt động ở khu vực Miền Bắc)
- Xí nghiệp xây lắp và thi công cơ giới Hồng Hà (hoạt động ở khu vực Miền
Nam)
- Các đơn vị thi công xây lắp khu vực
- Các đội thi công xây lắp trực thuộc
Mối quan hệ giữa Công ty với các đơn vị trực thuộc:
Công ty là cấp trên của các đơn vị trực thuộc Sự điều hành của Công ty đối với cácđơn vị trực thuộc được thể hiện bằng sự phân cấp Mối quan hệ kinh tế giữa Công
ty với các đơn vị trực thuộc được thể hiện bằng hợp đồng giao khoán chi nội bộ.Hợp đồng giao khoán chi nội bộ là hợp đồng kinh tế giữa Công ty và các đơn vịthành viên, thể hiện trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên trong việc thực hiệnmột phần hoặc toàn bộ công việc mà Công ty giao cho đơn vị, căn cứ vào hợpđồng kinh tế của Công ty ký với Chủ đầu tư Các điều khoản trong hợp đồnggiao khoán chi nội bộ không được trái với Hợp đồng kinh tế mà Công ty đã kývới Chủ đầu tư Tổng Giám đốc Công ty là Bên giao và Thủ trưởng đơn vị trựcthuộc là Bên nhận
Trang 40Các Công ty con: Là các Công ty do Công ty CP Hồng Hà Dầu khí nắm cổ phần
chi phối (trên 51% vốn điều lệ), bao gồm:
- Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Hồng Hà số 1 (Công ty CP Hồng Hà Dầukhí chiếm 62% Vốn Điều lệ)
- Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư & Quản lý xây dựng Hồng Hà (Công ty CPHồng Hà Dầu khí chiếm 64 % Vốn Điều lệ)
- Công ty CP tư vấn thiết kế xây dựng Hồng Hà Dầu khí (Cty CP Hồng Hà Dầukhí chiếm 51%)
- Công ty Cổ phần Thanh Phong (Công ty CP Hồng hà Dầu khí chiếm 95%)
- Công ty TNHH XD và TM Quang Long (Cty CP Hồng hà Dầu khí chiếm51%)
- Công ty CP Tứ Hiệp (Công ty CP Hồng Hà Dầu khí chiếm 51%) là chủ đầu tư
dự án khu đô thị mới Tứ Hiệp – Thanh trì – HN
Mối quan hệ giữa Công ty với các đơn vị thành viên:
Các Công ty con là các Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu,tài khoản và mã số thuế riêng, có đăng ký hoạt động riêng do địa phương cấp, cóđiều lệ riêng và do Công ty cổ phần Hồng Hà Dầu khí nắm cổ phần chi phối (trên51% vốn điều lệ)
Quan hệ phân cấp quản lý giữa Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu khí và các công ty
cổ phần thành viên thực hiện theo mô hình quản lý Công ty Mẹ - Con theo Luậtdoanh nghiệp Quan hệ kinh tế giữa Công ty Cổ phần Hồng Hà Dầu khí và CácCông ty Con thể hiện bằng các hợp đồng kinh tế Các quy định cụ thể trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh giữa Công ty Mẹ với các Công ty Con được thể hiện bằngQuy chế riêng
2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất tại Công ty CP Hồng hà Dầu khí
Tổ chức sản xuất sản phẩm xây lắp chủ yếu ngoài hiện trường, quá trình sảnxuất rất phức tạp tiêu hao lớn về nhân lực, vật lực; có nhiều chủ thể và sử dụngnhiều công nghệ khác nhau tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm xây lắp