Việc mở rộngxuất khẩu để tăng thu ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụphát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại.Nhà nước đã và đang t
Trang 1Chương 1 Khái quát về chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu hàng hoá
1.1 Khái niệm và các bộ phận của chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm chính sách xuất khẩu
1.1.1.1 Khái niệm
Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt độngkinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở rộngxuất khẩu để tăng thu ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụphát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại.Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướngtheo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyếtcông ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước Tuy nhiên để cho hoạt độngxuất khẩu diễn ra một cách có hiệu quả cần có sự quản lý tập trung của nhà nướcthông qua chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu là một bộ phận củaquản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, nó là sự quản lý của các hoạt động kinhdoanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Chính sách xuất nhập khẩu nghĩa rộngbao gồm các bộ phận cấu thành như chính sách mặt hàng, chính sách thị trường,chính sách thuế quan, các biện pháp cấm đoán, hạn chế, kiểm soát hay khuyếnkhích xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Do đó, chính sách xuất nhập khẩu ảnhhưởng đến khối lượng cũng như cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu từ đó ảnhhưởng đến cung cầu của nhiều loại hàng hóa khác nhau trong nước, ảnh hưởngđến môi trường cạnh tranh, quy mô đầu tư cũng như mô hình tăng trưởng của cảnền kinh tế Như vậy, chính sách xuất nhập khẩu có thể tác động đến mọi hoạtđộng kinh tế- xã hội của đất nước
Trang 2Chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại, là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh hoạt động xuất khẩu ở những thời kỳ nhất định nhằm đặt được mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh
+ Tôn trọng cam kết với nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế + Đảm bảo quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong hoạt động kinhdoanh và và sự quản lý của Nhà nước
+ Kinh doanh xuất khẩu phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội
+ Đảm bảo mối quan hệ hợp lý giưa xuất khẩu và nhập khẩu Đảm bảocân đối giữa các ngành và vùng kinh tế
Như vậy có thể thấy chính sách xuất khẩu là một bộ phận quan trọngtrong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, khi tham giavào sân chơi toàn cầu và nếu là thành viên của WTO thì việc xây dựng và thựcthi chính sách này đòi hỏi phải phù hợp với các quy định trong các hiệp địnhcũng như các nguyên tắc và hành vi thương mại quy định trong WTO
1.1.1.2 Các xu hướng xây dựng chính sách xuất khẩu
Mỗi quốc gia có chính sách thương mại quốc tế khác nhau, tuy nhiênchúng đều vận động theo những quy luật chung và chịu sự chi phối của hai xuhướng cơ bản là xu hướng bảo hộ mậu dịch và xu hướng tự do hóa thương mại
- Xu hướng bảo hộ
Trang 3Bảo hộ mậu dịch là sự gia tăng can thiệp của Nhà nước hay Chính phủ vàlĩnh vực buôn bán quốc tế Trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế thế giới, sựcan thiệp của Nhà nước mang tính chọn lựa và giảm thiểu phạm vi, quy mô…can thiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của sự can thiệp.
Cơ sở khách quan của xu hướng này là sự phát triển không đồng đều và
sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia nên cần phải có cácbiện pháp bảo hộ đối với sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh với cácmặt hàng sản xuất nước ngoài nhằm đảm bảo chủ quyền kinh tế cho quốc gia,tránh sự lệ thuộc với các quốc gia khác trong quá trình phát triển kinh tế Xuhướng này được hình thành còn xuất phát từ nguyên nhân lịch sử trong quan hệhợp tác kinh tế nói chung và trong quan hệ giữa các nước nói riêng hay đôi khicòn nhằm mục đích tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, tạo cơ hộicho các ngành công nghiệp non trẻ phát triển
Xu hướng bảo hộ mậu dịch xuất hiện ngay từ khi hình thành và tiếp tụcđược củng cố trong quá trình phát triển của nền thương mại quốc tế với công cụhành chính, các biện pháp kỹ thuật khác trước sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽcủa các luồng hàng hóa từ bên ngoài, cũng tức là bảo vệ lợi ích quốc gia Để xâydựng chính sách thương mại theo xu hướng bảo hộ mậu dịch Chính phủ và các
bộ ngành thực hiện việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các biện pháp công cụchính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường kinh tế quốc tế cũngnhư mục tiêu, điều kiện phát triển trong nước để bảo vệ cho nền sản xuất trongnước trước sự cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài đồng thời nâng cao hiệu quảkhai thác các nguồn lực trong nước
- Xu hướng tự do hóa
Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng, mềm hóa sự can thiệp của Nhànước hay Chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế
Trang 4Xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giớivới những cấp độ toàn cầu hóa và khu vực hóa, lực lượng sản xuất phát triểnvượt ra ngoài phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao động quốc
tế và phát triển cả về bề rộng và bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia đượctăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở”với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh cho mỗi quốc gia dù trình độphát triển có khác nhau và nó phù hợp với xu thế phát triển chung của nền vănminh nhân loại
Nội dung của tự do hóa thương mại là Nhà nước áp dụng các biện phápcần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan vàhàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế cả bề rộng và bề sâu Tự
do hóa thương mại nhằm mục đích phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hànghóa, cụ thể là phát triển khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác đồngthời mở rộng hoạt động nhập khẩu những hàng hóa không có điều kiện để sảnxuất hoặc sản xuất có hiệu quả thấp Thông qua chính sách tự do hóa thươngmại, các doanh nghiệp trong nước có động lực quan trọng để nâng cao khả năngcạnh tranh để tồn tại trong môi trường cạnh tranh của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế Kết quả của tự do hóa thương mại là tạo điều kiện mở cửa thị trườngnội địa để hàng hóa, công nghệ nước ngoài cũng như hoạt động dịch vụ quốc tếđược xâm nhập dễ dàng vào thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợicho việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài Điều đó có nghĩa là cầnphải đạt tới một sự hài hòa giữa tăng cường xuất khẩu với nới lỏng nhập khẩu
Các biện pháp để thực hiện tự do hóa thương mại bao gồm việc điềuchỉnh theo hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên cơ sở cácthỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo
hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế Quá trình tự
Trang 5do hóa gắn liền với những biện pháp có đi có lại trong khuôn khổ pháp lý củamỗi quốc gia
Xây dựng chính sách xuất khẩu theo xu hướng tự do hóa thương mại, Nhànước tiến hành cắt giảm các công cụ biện pháp gây hạn chế cho hoạt động xuấtkhẩu như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính… nhằm tạo điều kiệncho hoạt động xuất khẩu diễn ra một cách thuận lợi Bên cạnh đó, Nhà nước còntừng bước thực hiện các chính sách và biện pháp quản lý như các quy định vềtiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnhtranh và chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệuhàng hóa theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã ký kết và theo chuẩnmực chung của thế giới Đồng thời, Chính phủ các nước cũng phải có biện pháp
hỗ trợ kịp thời và thích hợp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụngđược những cơ hội cũng như vượt qua được những thử thách trong quá trình mởcửa thực hiện tự do hóa thương mại
Hai xu hướng bảo hộ mậu dịch và tự do hóa thương mại không bao giờđược thực hiện một cách triệt để hoàn toàn mà thường được kết hợp với nhautrong quá trình xây dựng các chính sách TMQT của các quốc gia trong đó xuhướng bảo hộ mậu dịch được điều chỉnh theo hướng giảm dần đồng thời xuhướng tự do hóa ngày càng được các quốc gia tăng cường với các biện pháp bảo
hộ mậu dịch từng bước được chuyển từ những biện pháp truyền thống như thuếquan, hạn ngạch sang các biện pháp hiện đại hơn như các rào cản về kỹ thuật,chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độcquyền, biện pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ
1.1.2 Các bộ phận của chính sách xuất khẩu
1.1.2.1 Chính sách thuế quan
Trang 6Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào hàng mậu dịch,phi mậu dịch được phép xuất nhập khẩu khi đi qua khu vực hải quan của mộtnước
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ rất quan trọng để nhà nướcthực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hộicủa mỗi nước mà thuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau
Thuế xuất khẩu có thể được dùng để giảm xuất khẩu do nhà nước khôngkhuyến khích xuất khẩu các mặt hàng sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếmđang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng của nó đối với sự antoàn lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết Thuế xuất nhập khẩucòn được dùng để tăng thu ngân sách cho nhà nước
Thuế xuất khẩu rất ít được sử dụng một cách rộng rãi, đặc biệt tại cácnước công nghiệp phát triển Cơ cấu thuế xuất khẩu ở các nước đang phát triểnrất khác nhau, đặc biệt là các nước Châu Phi và các nước Đông Nam Á Tại cácnước này, thuế không chỉ đánh vào nguyên liệu thô như gỗ (Bờ Biển Ngà), thiếc(Malaysia), đây (Parkistan)… mà còn vào cả sản phẩm lương thực gạo (TháiLan), cà phê (Colombia), chè (Srilanca)…
Hàng rào thuế quan được WTO cho phép sử dụng để bảo hộ thị trườngtrong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và cólịch trình cắt giảm, do vậy xu hướng này ngày càng giảm đi
1.1.2.2 Chính sách phi thuế quan
Hàng rào phi thuế quan được coi là công cụ linh hoạt, tác động nhanh,mạnh của chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động xuât nhập khẩu hànghóa Hàng rào phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo hộ thị trường
Trang 7nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế khá có hiệu quả mà còn
là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại
Theo quy định của WTO, chính sách phi thuế quan gồm các biện pháphạn chế định lượng như cấm xuất, nhập khẩu, hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan,giấy phép xuất, nhập khẩu
Các biện pháp hạn chế định lượng là những quy định của các quốc gia về
số lượng hoặc giá trị hàng hóa được xuất đi hay nhập về từ một thị trường nào
đó Đây là nhóm biện pháp mang tính đặc thù chủ quan nhất tác động đếnthương mại quốc tế Do vậy, trong các biện pháp phi thuế quan thì đây là nhómrào cản được WTO quy định khá chặt chẽ
- Hạn ngạch:
Hạn ngạch là biện pháp dung để hạn chế về số lượng hoặc giá trị hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định(thông thường là một năm) Điều XI- GATT/1994 đã quy định các nước khôngđược sử dụng biện pháp này, vì nó làm ảnh hưởng nhiều đến thương mại thếgiới Biện pháp này được quy định nghiêm ngặt hơn thuế quan bởi hai lý do :
Thứ nhất, các biện pháp phi thuế quan nói chung và những biện pháp địnhlượng nói riêng không thể hiện tính minh bạch như thuế quan do tính pháp lýkhông cao bằng thuế và thời gian quy định thông thường chỉ trong vòng mộtnăm
Thứ hai, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng dễ biến tướnghơn thuế quan Nhiều khi chỉ cần thay đổi cách gọi tiên biện pháp nhưng nộidung thực chất vẫn là hạn ngạch
Tuy nhiên, tại điều XVIII- GATT/1994, WTO vẫn cho phép được sử dụnghạn ngạch trong những trương hợp đặc biệt như:
Trang 8+ Áp dụng hạn ngạch nhằm hạn chế tạm thời, ngăn ngừa, khắc phục sựkhan hiếm trầm trọng về lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếukhác.
+ Áp dụng hạn ngạch nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cáncân thanh toán của nước mình Khi sự thâm hụt nghiêm trọng về dự trữ tiền tệ,hoặc khi có số dự trữ quá ít, cần thiết phải nâng mức dự trữ lên một mức hợp lý
+ Các nước đang phát triển có thể áp dụng hạn chế số lượng trong chươngtrình trợ giúp của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển kinh tế, hoặc hạn chế đẻbảo vệ cho một số ngành công nghiệp
Ngoài ra hạn ngạch còn được áp dụng trong các trường hợp như bảo vệđạo đức xã hội, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật quý hiếm, xuấtnhập khẩu vàng bạc, tài sản quốc gia liên quan đến văn hóa nghệ thuật, lịch sử,khảo cổ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Khi sử dụng hạn ngạch, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải thựchiện các điều kiện kèo theo sau:
+ Thực hiện các biện pháp này phải kèm theo việc hạn chế sản xuất haytiêu dùng trong nước
+ Cam kết không làm ảnh hưởng tới lợi ích của các nước thành viên khác,đồng thời phải dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã khôi phục, sau đó
dỡ bỏ hoàn toàn nhằm thực hiện nguyên tắc chung của WTO
+ Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ một năm trởlại, nên khi tiến hành áp dụng hạn ngạch, các quốc gia phải công bố thời gian cụthể và những thay đổi nếu có
- Cấm xuất khẩu:
Cấm xuất khẩu là biện pháp mang tính bảo hộ, gây hạn chế đối vớithương mại quốc tế WTO không cho phép các nước thành viên được sử dụngbiện pháp này Tuy nhiên, trình độ phát triển giữa các nước thành viên không
Trang 9đồng đều nên các quốc gia vẫn có thể thi hành các biện pháp cấm nhập khẩu trên
cở sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp theo quy định, cụ thể là :
+ Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;
+ Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội;
+ Cần thiết để bảo vệ con người, động thực vật;
+ Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc;
+ Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảocổ;
+ Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Tuy nhiên việc thực hiện biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việchạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng Tại GATT/1994điều XX cũng quy định các trường hợp được phép sử dụng biện pháp cấm xuấtkhẩu như:
+ Được áp dụng một các tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếmlương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
+ Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạnghay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế
- Giấy phép xuất khẩu:
Đây là hình thức cơ quan có thẩm quyền cho phép các nhà kinh doanhđược xuất khẩu Công cụ này có hiệu lực mạnh hơn so với thuế quan nhưngthuộc nhóm hạn chế phi thuế quan nên xu hướng chung là các nước dần dần ít
sử dụng
Giấy phép xuất khẩu có nhiều loại :
+ Giấy phép chung: Chỉ quy định tên hàng và thị trường không hạn chếđịnh lượng và không ghi rõ địa chỉ doanh nghiệp cấp
+ Giấy phép riêng: Cấp riêng cho từng nhà kinh doanh, ghi rõ số lượng,giá trị, thị trường và mặt hàng cụ thể
Trang 10Ngoài ra còn có các hình thức khác như giấy phép có điều kiện, giấy phépđổi hàng, giấy phép ưu tiên…
- Trợ cấp xuất khẩu :
Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu còn có những công cụdùng để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu Chính phủ có thể áp dụng các biện pháptrợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu trongnước Bên cạnh đó, Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãivới các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua bán các sản phẩm do nướcmình sản xuất và để xuất khẩu ra bên ngoài Đây chính là khoản tín dụng “việntrợ” mà Chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp dụng khi cho các nướcđang phát triển vay (thường có kèm theo các điều kiện chính trị)
Theo quan điểm của WTO thì trợ cấp là việc Chính phủ dành cho doanhnghiệp những lợi ích mà trong điều kiện thông thường doanh nghiệp không thể
có Như vậy, trợ cấp xuất khẩu chính là những ưu đãi mà Chính phủ một nướcdành cho các doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu bao gồm phạm vi rất rộng như: Chính phủ trực tiếp cấpvốn, cho vay, góp cổ phần, đảm bảo tín dụng; Chỉnh phủ bỏ qua hay không thucác khoản thu mà doanh nghiệp phải nộp; Chính phủ cung cấp hàng hóa haydịch vụ nói chung hoặc mua hàng vào; Chính phủ đóng góp tiền vào một cơ chếtài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một cơ quan tư nhân thực thi một hay nhiều côngviệc trên đây; hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá khi xuất khẩu
Mục đích của trợ cấp xuất khẩu là giúp người xuất khẩu tăng thu nhậpnâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, do đó đẩy mạnh được xuất khẩu
Các hình thức trợ cấp xuất khẩu:
+ Trợ cấp trực tiếp là việc nhà nước trực tiếp dành cho doanh nghiệp
những thuận lợi khi xuất khẩu hàng hóa như: Trực tiếp cấp tiền (cấp vốn, chovay ưu đãi hoặc góp cổ phần) hoặc Chính phủ bảo lãnh các khoản vay Chính
Trang 11phủ miễn những khoản lẽ ra phải đóng như thuế, phí và áp dụng thuế suất ưu đãiđối với hàng xuất khẩu…Chính phủ cho các nhà xuất khẩ được hưởng các giá
ưu đãi cho các đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu như điện, nước, vận tải, thôngtin liên lạc, trợ giá xuât khẩu…Từ đó, trợ cấp xuất khẩu trực tiếp làm giá thànhtăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu
+ Trợ cấp gián tiếp là Nhà nước gián tiếp hỗ trợ cho các doanh nghiệp giatăng xuất khẩu như: giới thiệu, triển lãm, quảng cáo, đào tạo, tạo điều kiện thuậnlợi cho các giao dịch xuất khẩu Nhà nước cũng có thể giúp đỡ kỹ thuật hoặc đàotạo chuyên gia cho các doanh nghiệp xuất khẩu Khác với tín dụng xuất khẩu,khi người xuất khẩu nhận được một khoản trợ cấp dù gián tiếp hay trực tiếp họkhông phải hoàn trả lại cho Nhà nước
Tác dụng của trợ cấp xuất khẩu:
+ Trợ cấp xuất khẩu góp phần phát triển công nghiệp nội địa và thúc đẩyxuất khẩu
+ Trợ cấp xuất khẩu góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinhtế
+ Trợ cấp xuất khẩu còn được sử dụng như một công cụ để “mặc cả”trong đàm phàn quốc tế
Trong hoàn cảnh thị trường không hoàn hảo, Chính phủ các nước đềumuốn sản phẩm của các doanh nghiệp nước mình đủ sức cạnh tranh và giànhgiật được thị trường tiêu thụ ở nước ngoài Vì vậy, đối với nhiều quốc gia, trợcấp xuất khẩu được sử dụng như một công cụ để đẩy mạnh xuất khẩu
Do trợ cấp xuất khẩu có tính hợp lý về mặt kinh tế nên Điều 26 khoản 1của GATT và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO chophép các nước thành viên duy trì các hình thức trợ cấp không gây bóp méothương mại hoặc gây tổn hại tới lợi ích của các nước thành viên khác Tại điều
27 của Hiệp định thừa nhận ”Trợ cấp là một công cụ phát triển hợp pháp và
Trang 12quan trọng của các nước đang phát triển” và quy định đãi ngộ đặc biệt, và khác
biệt liên quan đến trợ cấp cho các nước thành viên đang phát triển
Tuy nhiên, trợ cấp xuất khẩu cũng có những mặt trái của nó như trợ cấp
có thể mang lại những hậu quả kinh tế, chính trị không mong muốn:
+ Trợ cấp bóp méo tín hiệu thị trường trong môi trường thương mại tự do.+ Chi phí cơ hội của trợ cấp rất lớn và xét về dài hạn, trợ cấp có thể cảntrở sự phát triển của chính ngành được trợ cấp, do tạo nên sự độc quyền, ỷ lại do
có được sự ưu đãi của nhà nước
+ Trợ cấp không hiệu quả về mặt tài chính ngân sách
+ Xác suất chọn sai đối tượng trợ cấp khá cao
+ Trợ cấp có thể dẫn đến hành động trả đũa
- Tín dụng xuất khẩu
Tín dụng xuất khẩu là một trong những biện pháp, chính sách tài chínhnhằm khuyến khích sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu Chính sách này có ý nghĩaquan trọng góp phần làm tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu, tạo nên lợi thếcạnh tranh của một quốc gia Do vậy, chính sách này được rất nhiều nước ápdụng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu Tín dụng xuất khẩu bao gồm các hình thức:
+ Nhà nước bảo lãnh tín dụng xuất khẩu
Nhà nước bảo lãnh trước ngân hàng cho nhà xuất khẩuHầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thuộc các nướcđang phát triển khi thực hiện các thương vụ đều phải vay vốn các ngân hàngthương mại Nhưng muốn ngân hàng cấp tín dụng cần phải thế chấp hoặc phải
có sự bảo lãnh nào đó Trong trường hợp này nhà nước đứng ra bảo lãnh chodoanh nghiệp vay và sẽ chịu mọi rủi ro đối với khoản vay đó
Nhà nước bảo lãnh trước khoản tín dụng mà nhà xuất khẩu thựchiện cấp cho nhà nhập khẩu
Trang 13Để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, nhiều doan nghiệp thực hiện việcbán chịu hoặc trả chậm, với lãi suất ưu đãi đối với người mua hàng nướcngoài Việc bán hàng như vậy thường có những rủi ro có thể không thu hồiđược vốn Trong trường hợp đó, để khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạnxuất khẩu hàng hóa bằng cách bán chịu, Nhà nước đứng ra bảo lãnh, đền bùnếu bị mất vốn Tỷ lệ đền bù có thể lên đến 100% vốn bị mất, nhưng thường tỷ
lệ đền bù có thể lớn đến 60-70% khoản tín dụng để các nhà sản xuất phải quantâm đến việc kiểm tra khả năng thanh toán của các nhà nhập khẩu và quan tâmđến việc thu tiền bán hàng sau khi hết thời hạn tín dụng
Nhà nước đứng ra bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, ngoài việc thúc đẩy xuấtkhẩu còn nâng được giá bán hàng vì giá bán chịu bao giờ cũng cao hơn giá bántrả tiền ngay và phí tổn đảm bảo lợi tức Đây là một hình thức khá phổ biếntrong chính sách xuất khẩu của nhiều nước để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnhthị trường
+ Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Mặc dù có đủ điều kiện được các ngân hàng cho vay, nhưng nhiều doanhnghiệp còn lo lắng khi xuất khẩu sang một số thị trường có nhiều biến động, dễgặp rủi ro Nhà nước sẽ khuyến khích các doanh nghiệp này thông qua việc bảohiểm tín dụng Nếu có rủi ro trong quá trình đi vay hay bán chịu, các doanhnghiệp sẽ được các cơ quan bảo hiểm đền bù theo mức phí mà doanh nghiệpmua
Hai hình thức nói trên tuy có tác dụng tốt cho xuất khẩu hưng dễ vi phạmquy định của WTO, vì đây chính là những hành vi can thiệp tài chính của cácnhà nước Mặc dù vậy, nhiều nước đã áp dụng kể cả những nước trong nhómG7
+ Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu:
Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài
Trang 14Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để sử dụng
số tiền đó mua hàng của nước cho vay Nguồn vốn cho vay thường lấy từ ngânsách nhà nước Việc cho vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế và chínhtrị có lợi cho nước cho vay
Hình thức này có tác dụng giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vì
có sẵn thị trường Đồng thời, do các nước cho vay thường là những nước cótiềm lực kinh tế nên hình thức Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài trên khíacạnh nào đó giúp các nước này giải quyết tình trạng dư thừa hàng hóa trongnước
Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nướcVốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thườngrất lớn Người xuất khẩu cần có được một số vốn cả trước khi giao hàng và saukhi giao hàng để thực hiện một số hợp đồng xuất khẩu Nhiều khi người xuấtkhẩu cũng cần có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dànhcho người mua nước ngoài Đặc biệt, khi bán hàng theo phương thức bán chịu,thu tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín dụng xuất khẩu trước khi giao hànghết sức quan trọng
Nhiều chương trình phát triển xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tíndụng của Chính phủ theo những điều kiện ưu đãi Điều đó càng giảm được cácchi phí xuất khẩu Các ngân hàng thường hỗ trợ cho các chương trình xuất khẩubằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước và sau khi giaohàng Tín dụng trước khi giao hàng là hình thức tín dụng ngân hàng cần chongười xuất khẩu để đảm bảo cho các khoản chi phí như : chi phí mua nguyên vậtliệu, sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất bao bì cho xuất khẩu, chi phí vận chuyểnhàng ra bến cảng, sân bay…để xuất khẩu, các loại phí khác như bảo hiểm, thuếv.v…
Trang 15Lãi suất tín dụng xuất khẩu là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức cạnhtranh của người xuất khẩu Vì vậy nhiều nước đã cấp tín dụng theo lãi suất ưuđãi, thấp hơn lãi suất thương mại để người xuất khẩu có thể bán được giá thấp cósức cạnh tranh ở thị trường nước ngoài Lãi suất càng thấp thì chi phí xuất khẩucàng giảm và khả năng cạnh tranh của người xuất khẩu càng tăng.
Tín dụng xuất khẩu sau khi giao hàng là loại tín dụng do ngân hàng cấpdưới hình thức mua (chiết khấu) hối phiếu xuất khẩu bằng cách tạm ứng theocác chứng từ hàng hóa Loại hối phiếu này cùng với các điều kiện thanh toán dongười xuất khẩu và nhập khẩu thỏa thuận là những cơ sở quan trọng để ngânhàng cấp tín dụng sau khi giao hàng Tín dụng sau khi giao hàng thường đượcvay để trả các khoản tín dụng trước khi giao hàng Nó còn được vay cho cáckhoản tiền thuế sẽ được hoàn lại trong tương lai cho người xuất khẩu
Tín dụng xuất khẩu trước và sau khi giao hàng theo mức lãi suất ưu đãikhông đơn giản chỉ là giúp người xuất khẩu thực hiện được chương trình xuấtkhẩu của mình mà còn giúp họ giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu cũngnhư giảm giá thành xuất khẩu Ngoài ra, tín dụng xuất khẩu còn làm cho ngườixuất khẩu có khả năng bán được hàng của mình theo điều kiện dài hạn, hàng hóa
có sức cạnh tranh hơn trước đối thủ của mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làmsao để đảm bảo mọi lô hàng xuất khẩu đều có thể được cấp tín dụng cả trước vàsau khi giao hàng Người xuất khẩu cần phải có được các loại đảm bảo về tàichính của phía ngân hàng bằng các loại trái phiếu, hoặc sự bảo lãnh của ngânhàng…có nghĩa là cần có sự bảo lãnh đối với hầu hết các dịch vụ xuất khẩu mộtcách gián tiếp Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng và uy tín của người xuấtkhẩu
Trang 161.2 Vai trò và sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập
1.2.1 Vai trò của chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
- Góp phần tác động đến quá trình tái sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơcấu kinh tế đất nước, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùngmạnh mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xuhướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với đất nước ta
Khi hướng nền sản xuất vào hoạt động xuất khẩu, thị trường thế giới sẽ làhướng quan trọng để tổ chức sản xuất Hay nói cách khác, hoạt động tổ chức sảnxuất trong nước sẽ xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới Điều đó có tácđộng tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sựtác động này đến sản xuất trong nước thể hiện ở:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuậnlợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việcphát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi hay thuốc nhuộm, côngnghiệp tạo mẫu…Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuấtkhẩu, dầu thực vật, chè… có thể sẽ kéo theo sự phát triển của các nghành côngnghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sảnxuất phát triển và ổn định
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nângcao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phươngtiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài nhằm
Trang 17hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới Đồngthời, xuất khẩu cũng là cơ sở để hình thành cơ cấu sản xuất mới thích nghi vớithị trường.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoànthiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thịtrường
Tuy nhiên, nếu chính sách xuất khẩu thiếu đồng bộ, không phù hợp vàminh bạch sẽ dẫn đến kìm hãm sự phát triển và tăng trưởng của bản thân hoạtđộng xuất khẩu đồng thời bóp méo và làm sai lệch chuyển dịch cơ cấu sản xuấthàng hóa cũng như làm sai lệch trong quan hệ đối tác với các bạn hàng
- Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển, khai thác triệt để các lợi thế sosánh của nền kinh tế, tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ CNH, HĐHđất nước,
CNH đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắcphục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để CNH đất nước trongmột thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị,
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Nguồn vốn để phục vụ hoạt động nhập khẩu baogồm: xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động
du lịch, xuất khẩu lao động…Tuy nhiên, các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài,vay nợ viện trợ…tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cáchkhác Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, CNH đất nước là xuất khẩu.Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu
- Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trườngThông qua xuất khẩu, hàng hóa của nước ta nước sẽ tham gia vào cuộccạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Muốn đứng vững đượctrên thị trường cạnh tranh khốc liệt này đòi hỏi hàng hóa xuất khẩu phải có sứccạnh tranh Điều này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản
Trang 18xuất luôn thích nghi với thị trường và để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa cókhả năng cạnh tranh được trên thị trường thế giới.
- Là cơ sở để thực hiện các cam kết quốc tế, mở rộng và thúc đẩy cácquan hệ KTQT của đất nước
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộclẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đốingoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuấtkhẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư,
mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại trên lạitạo tiền đề để mở rộng xuất khẩu
Tuy nhiên, khi tham gia vào sân chơi toàn cầu đòi hỏi các nước cũng phảituân thủ “luật chơi chung” chính là các thông lệ quốc tế, các cam kết songphương, đa phương… Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của WTO thì hoạtđộng kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng phải tuân thủcác nguyên tắc của tổ chức này Những nguyên tắc cần tuân thủ của chính sáchxuất nhập khẩu khi quốc gia là thành viên WTO có thể kể đến : nguyên tắc minhbạch, nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc cạnh tranh tự do và lànhmạnh Như vậy, việc xây dựng chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạtđộng xuất khẩu phù hợp các thông lệ và cam kết quốc tế chính là cơ sở để ViệtNam mở rộng và thúc đẩy các quan hệ KTQT
1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạtđộng xuất khẩu hàng hoá trong điều kiện hội nhập
1.2.2.1 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế không ngừng của đất nước
Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thànhtựu đáng kể, cơ bản chuyển từ một nền kinh tế trì trệ, lạm phát cao và bị cô lậpvào cuối những năm 80 sang một nền kinh tế mở, tăng trưởng bền vững và ổnđịnh như hiện nay
Trang 19Tốc độ tăng GDP tăng liên tiếp trong hơn 10 năm qua:
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam và Tổng cục thống kê
Việt Nam đã thiết lập được những yếu tố cơ bản hệ thống kinh tế địnhhướng thị trường, bao gồm: hệ thống giá cả tự do, khư vực tư nhân năng độngtuy chưa phát triển mạnh mẽ nhưng đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởngkinh tế, chế độ ngoại thương mở cửa, tích cực hội nhập với kinh tế bên ngoài.Việt Nam cũng đã nhanh chóng thực hiện được toàn diện các chính sách kinh tế
vĩ mô kết hợp với một số biện pháp cơ cấu then chốt để giảm nhanh lạm pháttrong một thời gian tương đối ngắn Những cải cách kinh tế kể từ khi mở cửacũng đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bổ lại nhữngnguồn lực Việt Nam đã phối hợp hài hòa các chính sách tài chính đi kèm vớinhững đổi mới hệ thống để đạt được mục tiêu ổn định và phát triển
Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ chỗ bị bao vây, cô lập, Việt Nam đãbắt đầu hội nhập với nền kinh tế bên ngoài Trong bối cảnh môi trường cạnhtranh ngày càng gay gắt cả ở thị trường trong nước và nước ngoài, đồng thời,thời hạn thực hiện những cam kết của ta với các nước, các tổ chức kinh tế khuvực và thế giới đang đến gần Vì vậy, để tiếp tục duy trì và phát huy đà phát triểnkinh tế đã đạt được, Nhà nước cần có những điều chỉnh hợp lý đối với chính
Trang 20sách thương mại quốc tế nói chung chính sách xuất khẩu nói riêng nhằm tạo môitrường tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu trong điều kiện mới Ngoài ra việc điềuchỉnh này còn có tác dụng định hướng, đi tắt đón đầu xu hướng phát triển củathế giới.
1.2.2.2 Xu hướng tự do hoá thương mại và yêu cầu của tiến trình hội nhập
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh Hội nhập kinh tếcủa Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu Từ chỗ chỉ hợp tácthương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tácsong phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương Cho đến giữa năm 2007,Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã
ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại,
51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81thoả thuận về đối xử tối huệ quốc Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương làviệc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, hiệp định thương mạiViệt Nam- Hoa Kỳ, còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn “WTO Plus”, nghĩa là chấpnhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại, đầu tư, mua sắm của chính phủ caohơn so với mức độ quy định trong các văn kiện có hiệu lực đang áp dụng củaWTO
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 về
hội nhập kinh tế quốc tế “Chủ động hội nhập KTQT và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập chủ quyển và định hướng xã hội, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Trang 21Hội nhập kinh tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh Đây là một thửthách rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam Hội nhập KTQT của Việt Nam là cầnthiết và phù hợp với quy luật phát triển chung của nhân loại, hội nhập cho phépViệt Nam tận dụng nhiều điều kiện thuận lợi và cơ hội cũng như vượt qua nhữngkhó khăn, thách thức để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, thực hiện thành công sựnghiệp CNH-HĐH đất nước Việc hội nhập kinh tế giúp Việt Nam tránh đượctình trạng phân biệt đối xử trong quan hệ với các nước, đặc biệt là nước lớn, cóthể tận dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế để giải quyết tranh chấpkhi phát sinh, vừa bảo vệ được lợi ích quốc gia vừa tăng thêm uy tín của ViệtNam trong thương mại quốc tế Mở cửa hội nhập giúp mở rộng thị trường xuấtkhẩu, tìm kiếm nguồn cung cấp đầu vào cho sản xuất trong nước, tăng sức thuhút đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ từ nước khác, tạo cơ hội để doanhnghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ, học tập, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiêntiến, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường mới và đẩy mạnh xuấtkhẩu
Đáp ứng yêu cầu cấp bách của hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mạiđòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện hơn nữa chính sách quản lý của nhà nước đốivới hoạt động xuất khẩu theo hướng tự do và mở cửa Đây là thách thức rất lớnđối với một nước đang phát triển chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung sang nềnkinh tế thị trường Tuy nhiên tiến trình hoàn thiện đó cũng là cần thiết và thực sự
là quá trình đổi mới sâu sắc và toàn diện nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp bách của hộinhập KTQT
1.2.2.3 Tuân thủ các các cam kết quốc tế và quy định của WTO
Kể từ khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã hội nhập mạnh mẽ vào sânchơi toàn cầu với việc trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN, tham gia diễn đànhợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, diễn đàn hợp tác kinh tế Á- ÂuASEM, khu vực mậu dịch tự do ASEAN+3…Và đặc biệt với việc trở thành
Trang 22thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trìnhhội nhập KTQT của đất nước ta Tham gia vào các sân chơi chung đó đòi hỏichúng ta cũng phải tuân thủ các cam kết khu vực cũng như các cam kết songphương và đa phương Chính vì vậy mà việc xây dựng, hoàn thiện chính sáchthương mại quốc tế nói chung và chính sách xuất khẩu nói riêng cũng phải phùhợp với các cam kết đó và tuân thủ thông lệ quốc tế.
Sau khi trở thành thành viên ASEAN, Việt Nam bắt đầu thực hiện nghĩa
vụ và các cam kết trong Chương trình miễn giảm thuế quan có hiệu lực chungCEPT/AFTA Việt Nam cam kết giành chế độ MFN và NT trên cơ sở có đi có lạicho các nước thành viên ASEAN và cung cấp thông tin có liên quan khi cầnthiết Việt Nam cũng đã thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình, thực hiệnhiệp định khung về tự do đầu tư, sở hữu trí tuệ…Việt Nam đã đưa ra lời cam kếtchính thức trước cộng đồng các nước thành viên ASEAN về thực hiện lộ trìnhcắt giảm thuế quan cho hàng nhập khẩu theo CEPT/AFTA Đồng thời, Việt Namcũng đã thực hiện nghiêm túc đúng thời hạn cam kết này, qua đó góp phần đưanước ta vào một thời kỳ mới- thời kỳ phát triển kinh tế đất nước trong mối quan
hệ chặt chẽ với các nền kinh tế khác trong khu vực, đảm bảo hội nhập sâu rộngvào nền kinh tế khu vực và toàn cầu
Việt Nam cũng đã ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, điểnhình là hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản, hiệp định thương mại ViệtNam- Hoa Kỳ Đây là những hiệp định thương mại có tính chất bước ngoặt,đánh dấu mốc phát triển của chính sách thương mại quốc tế nói chung và chínhsách xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng Trong khuôn khổ Hiệp địnhthương mại Việt Nam - Hoa Kỳ những quy định chủ yếu về thuế quan và phithuế quan đối với Việt Nam là : thực hiện quy chế MFN đối với 246 dòng thuếđánh vào hàng nhập khẩu từ Mỹ và cắt giảm thuế quan theo các nấc khác nhau,
áp dụng quy chế NT về phi thuế quan cho các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ và
Trang 23thực hiện loại bỏ dần các biện pháp hạn chế định lượng và các biện pháp phithuế quan khác theo các lộ trình khác nhau đối với từng loại nhóm mặt hàng.
Đặc biệt, bộ văn kiện gia nhập WTO là thỏa thuận thương mại đồ sộ nhất
cả về quy mô và mưc độ cam kết mà Việt Nam đã từng ký kết Đó là tổng hợpkết quả của hơn 11 năm đàm phán và là cơ sở để Việt Nam trở thành thành viênWTO Các cam kết đa phương này của Việt Nam được xây dựng trên nền tảngcác nguyên tắc được quy định trong các hiệp định của WTO Đây là nhữngnguyên tắc mang tính ràng buộc với mọi thành viên nhằm mục đích đưa hệthống luật lệ và cơ chế điều hành thương mại của các nước thành viên phù hợpvới chuẩn mực chung Về cơ bản, chúng ta cam kết thực hiện toàn bộ các hiệpđịnh WTO ngay thời điểm gia nhập Tuy nhiên do nước ta đang phát triển ở trình
độ thấp lại đang trong quá trình chuyển đổi nên Việt Nam yêu cầu và được cácnước WTO chấp nhận cho hưởng thời gian chuyển đổi để thực hiện một số camkết có liên quan đến tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinhdoanh…Những cam kết về thương mại hàng hóa Việt Nam bao gồm cam kết vềtrợ cấp phi nông nghiệp, trợ cấp nông nghiệp, quyền kinh doanh, thuế nhậpkhẩu…
Như vậy, khi tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới ViệtNam cam kết thực hiện tự do hóa trong quan hệ thương mại Các cam kết ràngbuộc với các tổ chức mặc dù có khác nhau về mức độ thương mại nhưng lạitương đối giống nhau về nội dung Vì vậy việc thực hiện các cam kết trongASEAN chính là bước đi đầu tiên đặt nền móng cho việc thực hiện những camkết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và rộng hơn nữa là vớiWTO Do vậy, việc điều chỉnh và hoàn thiện chính sách quản lý của nhà nướcđối với hoạt động xuất khẩu phù hợp với các cam kết này là một tất yếu kháchquan
Trang 241.3 Kinh nghiệm quản lý hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các nước và bài học đối với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc trong những năm gầnđây nhất là lĩnh vực xuất khẩu được đánh giá là hết sức ngoạn mục Hiện nayhàng Trung Quốc đang tràn ngập thị trường thế giới nhờ lợi thế cạnh tranh vềmẫu mã, chủng loại và giá cả Với 30 năm kiên trì chính sách mở cửa, TrungQuốc đã phát huy vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế thế giới
Kể từ khi mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc đã chủ trương thực hiện chínhsách cái cách ngoại thương: đưa quyền tự chủ kinh doanh ngoại thương xuốngcác địa phương, phát triển toàn diện và phối hợp cải cách các thể chế liên quan,phát triển các cơ quan thương vụ ở nước ngoài Bên cạnh thực hiện các mụctiêu, chiến lược dài hạn để phát triển kinh tế chính sách ngoại thương của TrungQuốc thời mở cửa đã hướng tới thực hiện các mục tiêu riêng tư như: mở rộngquyền hạn chủ động kinh doanh ngoại thương, khơi dậy tính tích cực, năng độngsang tạo của các đơn vị hoạt động ngoại thương, đẩy mạnh việc mở rộng kênhtiêu thụ hàng hóa ra thị trường nước ngoài, tăng cường sức cạnh tranh và nângcao vị trí của hang hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế, đồng thời mở rộngquan hệ mậu dịch của Trung Quốc với các nước trên thế giới, tăng thu ngoại tệcho ngân sách nhà nước, khai thác lợi thế so sánh của đất nước
Chính sách ngoại thương của Trung Quốc bao gồm các chiến lược như:chiến luợc mậu dịch, chiến lược đa dạng hóa thị trường và chiến lược lấy khoahọc kỹ thuật thúc đẩy mậu dịch Chính sách này thực hiện dựa trên các nguyêntắc: có đi có lại, bình đẳng cùng có lợi, không phân biệt đối xử và cạnh tranhcông bằng
Từ khi thực hiện đổi mới nền kinh tế năm 1978 đến nay, ngoại thương củaTrung Quốc đã ngày càng được coi trọng và đẩy mạnh đáng kể Trung Quốc đạt
Trang 25được những thành quả to lớn trong việc chuyển thể chế ngoại thương truyềnthống của nền kinh tế hiện vật trên cơ sở công hữu đơn nhất sang thể chế mới đadạng, linh hoạt phù hợp với nền kinh tế thị trường Trung Quốc đã thực hiệntừng bước quyền lực kinh tế tập trung, dành quyền tự chủ rộng rãi trong mậudịch đối ngoại của địa phương, xí nghiệp và công ty ngoại thương, cải cách mộtcách đồng bộ các thể chế có liên quan Nhờ vậy, quan hệ ngoại giao Trung Quốc
đã phát triển với quy mô lớn Hiện nay Trung Quốc có quan hệ buôn bán vớihơn 230 quốc gia và khu vực trên thế giới Từ tháng 4/1994, Quốc vụ viện TrungQuốc đã quyết định cải cách ngoại thương mạnh mẽ và tích cực hơn và tiếnhành hội nhập theo chiều sâu Nội dung chủ yếu của cải cách này là điều chỉnhchính sách quản lý xuất nhập khẩu, hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô của Nhànước trong lĩnh vực ngoại thương, triển khai nhiều biện pháp cụ thể và mở rộng
ra nhiều lĩnh vực
Chính sách thuế quan: Đối với hàng hóa xuất khẩu, để khuyến khích xuấtkhẩu Trung Quốc hầu như không thu thuế trừ một số nguyên liệu và vật tư quantrọng Thuế xuất khẩu ở Trung Quốc chỉ áp dụng cho rất ít chủng loại hàng hóa.Năm 1985 có 35 loại hàng hóa chịu thuế xuất khẩu ở mức 10-60% Năm 1987chỉ còn 8 loại hàng hóa chịu thuế xuất khẩu Hiện nay ở Trung Quốc hình thứcmiễn thuế xuất khẩu, hoàn thuế xuất khẩu được áp dụng rộng rãi nhằm khuyếnkhích các doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu Thủ tục hoàn thuế xuất khẩu củaTrung Quốc có quy định: các doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động xuấtkhẩu hàng hóa có thể nộp báo cáo hàng tháng lên Cục thuế sau khi tiến hànhxuất khẩu hàng hóa theo đúng thủ tục tài chính và khai báo hải quan để xin hoànthuế hoặc miễn thuế GTGT và thuế tiêu dùng Sự thống nhất là điểm cơ bản đạtđược trong chính sách hoàn thuế đối với tất cả các doanh nghiệp Trung Quốc vàcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chấm dứt tình trạng trợ giá xuấtkhẩu tràn lan như trước đó, từ đó khuyến khích cạnh tranh xuất khẩu giữa các
Trang 26doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy xuất khẩu Trung Quốc còn thực hiện chínhsách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời có chính sáchthuế ưu đãi đặc biệt đối với doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hoạt động trongcác đặc khu kinh tế và khu kinh tế mở nhằm khuyến khích các doanh nghiệp nàyphát huy tối đa nội lực sẵn có, mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu
Các biện pháp phi thuế: Trung Quốc áp dụng hệ thống cấp giấy phép chohàng xuất nhập khẩu nhưng đã dần dần xóa bỏ các hình thức cấp giấy phép xuấtnhập khẩu và hạn ngạch Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO vẫn tiếp tục sử dụngmột số biện pháp phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo đảm sựcạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc với hàng hóa của các nước khác Trongvòng 3 năm sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã tiến hành thống nhất vàminh bạch hóa việc thực hiện các chính sách thương mại trên toàn quốc, củng cố
hệ thống luật pháp có liên quan đến thương mại và sớm thông qua các luật lệ cầnthiết, thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm loại bỏ dần độc quyền xuất nhậpkhẩu đối với tất cả các loại hàng hóa
Ngoài ra, Trung Quốc cũng thực hiện trợ giá xuất khẩu để khuyến khíchxuất khẩu thu ngoại hối, nâng đỡ tín dụng đối với các xí nghiệp xuất khẩu, cho
xí nghiệp nhập khẩu giữ lại một phần ngoại hối, cho vay ưu đãi về lãi suất đốivới những đơn vị mua hàng để xuất khẩu hoặc để mua vật tư sản xuất hàng hóaxuất khẩu Thậm chí các doanh nghiệp này bị thua lỗ còn có thể treo nợ hoặcxóa nợ tại ngân hàng Từ năm 1994, các doanh nghiệp có thu ngoại hối từ xuấtkhẩu sẽ bán cho ngân hàng theo tỷ giá hiện hành và khi cần ngoại hối, doanhnghiệp có thể chuyển từ đồng nội tệ sang ngoại tệ ở ngân hàng khi có đủ tài liệu
có hiệu lực Trong giai đoạn đầu, Trung Quốc cũng thực hiện các biện phápkhuyến khích xuất khẩu khác như chế độ hoàn thế xuất khẩu, thưởng xuất khẩu
và tăng cường các biện pháp xúc tiến thương mại hỗ trợ marketing cho các
Trang 27doanh nghiệp xuất khẩu, cho vay tín dụng xuất khẩu, đầu tư phát triển cơ sở hạtầng, cấm xuất nhập khẩu một số mặt hang…
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc cũng được xây dựng theo nhucầu của thị trường thế giới và phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.Năm 1989 tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chiếm tới 84,2% trong đósản phẩm máy móc thiết bị viễn thông, thiết bị nhỏ đồng bộ trở thành những sảnphẩm xuất khẩu quan trọng, những sản phẩm sơ cấp không còn phù hợp và giảmdần Xuất khẩu hàng dệt may đã thay thế vai trò chủ đạo của xuất khẩu dầu mỏvào năm 1986 Trong suốt hơn 20 năm, ngành này tăng trưởng bình quân đạt17% Đến năm 1995 xuất khẩu máy móc và sản phẩm điện tử lại vượt dệt may
Nhờ chính sách ngoại thương phù hợp, trong đó phải kể đến chính sách
ưu đãi thuế, hoàn thuế xuất khẩu, thưởng xuất khẩu tạo động lực cho các doanhnghiệp Trung Quốc mở rộng quy mô sản xuất sản phẩm xuất khẩu; chính sáchngoại hối giúp Trung Quốc tạo được thị trường ngoại tệ ổn định mang tính thịtrường, đồng thời áp dụng những biện pháp phi thuế quan và các biện pháp khácmột cách hợp lý đã đưa Trung Quốc trở thành nước phát triển mạnh mẽ, sánh vaivới các cường quốc phát triển Kết quả là là hoạt động xuất nhập khẩu của TrungQuốc đã phát triển mạnh mẽ Năm 1978 tổng mức xuất nhập khẩu của TrungQuốc là 20,6 tỷ USD chỉ chiếm chưa đầy 5% giá trị công nông nghiệp của cảnước Trong 10 năm 1980- 1989 tổng mức xuất nhập khẩu đã tăng lên 559,52 tỷUSD Riêng năm 1994, tổng mức xuất nhập khẩu tăng vọt tới 236,7 tỷ USD,bằng 1/2 tổng mức xuất nhập khẩu của 10 năm trước đó Từ vị trí thứ 32 vềtổng mức xuất nhập khẩu trên thế giới, năm 1993 Trung Quốc đã vươn lên thứ
11 và năm 1997 đứng thứ 10 thế giới Đến năm 2003 xuất nhập khẩu của TrungQuốc đạt 851,21 tỷ USD, tăng 37,1% so với năm 2002
Trong những năm gần đây nền kinh tế Trung Quốc đã có sự phát triểnvượt bậc Tổng cục Hải quan Trung Quốc mới đây công bố, năm 2009, xuất
Trang 28khẩu của Trung Quốc đạt khoảng 1200 tỉ USD, con số này cơ bản có thể xácđịnh trong năm 2009, Trung Quốc đã vượt Đức, trở thành nước xuất khẩu lớnnhất thế giới.
Với những nét tương đồng về vị trí địa lý, tập quán, điều kiện kinh tế- xãhội, những kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO sẽ là những bàihọc quý của Việt Nam
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cũng như các nước Châu Á khác, với xuất phát điểm thấp với nền kinh tếchủ yếu là nền nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn và chịu sự tàn phá nặng nề củachiến tranh, Hàn Quốc thực hiện chiến lược CNH-HĐH đất nước để khôi phục
và phát triển đất nước
Nhìn lại chặng đường phát triển kinh tế của Hàn Quốc, có thể thấy tốc độphát triển kỷ lục mà đất nước này đã đạt được trong những thập niên sau chiếntranh thế giới thứ hai Thành công đó trước hết bắt nguồn từ sự lựa chọn chiếnlược, phát triển phù hợp để từ đó có thể khai thác tối đa các nguồn lực trongnước, vừa tận dụng tối đa các lợi thế quốc tế để phát triển Ngày nay, thế giớibiết đến Hàn Quốc với tư cách là một quốc gia công nghiệp phát triển Quátrình CNH-HĐH của Hàn Quốc được bắt đầu từ năm 1962 khi chính phủ tiếnhành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Kể từ đó con đường CNH-HĐH đất nước đềutuân thủ theo nguyên tắc chủ đạo của kế hoạch 5 năm Chính sách ngoại thươngcủa Hàn Quốc được hình thành từ những năm 60 nhưng bước sang những năm
70 chính sách này mới thực sự được phát triển, mở rộng trong đó chính sáchxuất khẩu của nước này đã được điều chỉnh một cách linh hoạt cho phù hợp vớimục tiêu phát triển trong từng giai đoạn :
Năm 1964 Hàn Quốc phá giá gần 100% đồng nội tệ và bắt đầu áp dụng hệthống tỷ giá thả nổi Điều này đã làm tăng khả năng xuất khẩu của Hàn Quốc
Trang 29Giai đoạn 1962- 1971 xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiềulao động, tiền lương thấp, có tính cạnh tranh cới nước ngoài nhằm thay thế cácsản phẩm thô và sơ chế Năm 1964 Hàn Quốc đã thành lập tổ chức xúc tiếnthương mại Hàn Quốc và hiệp hội các nhà thương mại Hàn Quốc thu lệ phí 1%tổng giá trị xuất khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa Hàn Quốc tích cực tổchức các hoạt động xúc tiến thương mại như hội nghị đẩy mạnh xuất khẩu đượctiến hành hàng tháng và ngày xuất khẩu được tổ chức mỗi năm một lần Bêncạnh đó, chính phủ Hàn Quốc còn ban hành luật giúp các công ty về mặt tàichính tín dụng Chính phủ thực hiện trợ cấp xuất khẩu thiết lập các tổ chức tàichính, tín dụng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp miễn giảm thuế cho cáccông ty trong 4 năm đầu hoạt động từ 50% đến 100%, hai năm tiếp theo là 20-30% Ngoài ra, chính phủ nước này còn thực hiện các hình thức tín dụng xuấtkhẩu được áp dụng với lãi suất thấp
Giai đoạn 1972-1981 Hàn Quốc thực hiện chiến lược xuất khẩu sản phẩmcông nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất chủ yếu là tơ sợi, hóa dầu và thiết bịvận tải, tàu thuyền Song song với việc thay đổi cơ cấu mặt hang xuất khẩu, giaiđoạn này Hàn Quốc còn thực hiện chiến lược đa dạng hóa thị trường, không chỉtập trung vào Nhật Bản, Tây Âu mà còn mở rộng sang Châu Á Thái BìnhDương, Đông Âu, Mỹ La tinh, Châu Phi… Bên cạnh đó, Hàn Quốc vẫn tiếp tụcthực hiện các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu
Từ sau năm 1982 đến nay Hàn Quốc chuyển sang xuất khẩu sản phẩm trithức, có hàm lượng công nghệ cao dần dần thay thế các sản phẩm cần nhiềuvốn: điện tử, robot, điện, ô tô, hang không, vi điện tử…Giai đoạn này Hàn Quốcvẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ tín dụng ngân hàng, thuế, ưu tiên chocác ngành có trình độ công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn đồng thời tiếnhành thu hút công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển
Trang 30Như vậy có thể thấy chính sách xuất khẩu của Hàn Quốc đã được điềuchỉnh và thực hiện một cách linh hoạt qua các thời kỳ khác nhau phù hợp vớiđiều kiện kinh tế của đất nước và của thế giới Chính sự linh hoạt của này đã gópphần tạo ra thành công cho Hàn Quốc trong lĩnh vực xuẩt khẩu nói riêng vàcùng với các chính sách khác đưa Hàn Quốc trở thành nước công nghiệp pháttriển như hiện nay.
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên Nhật Bản xácđịnh chỉ thông qua nhập khẩu mới có được nguyên liệu đầu vào và kỹ thuật chosản xuất trong nước Để có ngoại tệ nhập khẩu thì phải đẩy mạnh xuất khẩu.Chính vì vậy, Nhật Bản đưa ra mục tiêu chủ yếu của chính sách xuất nhập khẩu
là mở rộng quan hệ với các nước, tăng cường nhập khẩu nguyên vật liệu để pháttriển sản xuất trong nước đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thu được ngoại tệphục vụ cho nhập khẩu Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu là một phần của chínhsách xuất nhập khẩu được Nhật Bản thực hiện thông qua các các chính sách,biện pháp cụ thể :
Trước hết Nhật Bản xây dựng chính sách xuất nhập khẩu theo hướng tự
do hóa thương mại Chính sách tự do hóa thương mại trong những năm 1960được thể hiện dưới hình thức dỡ bỏ các hạn ngạch nhập khẩu, cắt giảm xuấtkhẩu, tự do trao đổi ngoại tệ và đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản theo đuổi
tự do hóa mậu dịch trong khuôn khổ của Hiệp định GATT cho đến cuối nhữngnăm 1990 Gần đây dự theo đuổi các hiệp định thương mại tự do FTA của NhậtBản cho thấy những thay đổi chính sách buôn bán của Nhật Bản từ quan điểmđơn tuyến dựa trên việc tự do hóa mậu dịch đa phương của GATT sang quanđiểm đa tuyến, gồm cả tự do hóa đa phương và đơn phương Chính sách này đãgóp phần làm cho Nhật Bản trở thành một nước lớn và đưa công nghiệp NhậtBản phát triển một cách bền vững trong nền kinh tế thế giới
Trang 31Chính sách khuyến khích xuất khẩu là một trong những nội dung quantrọng trong chính sách thương mại của Nhật Bản trước hết là nhằm tăng thungoại tệ để chi trả cho việc nhập khẩu nguyên liệu thô bù đắp cho sự thiếu hụtcán cân thanh toán Một loạt các biện pháp khuyến khích xuất khẩu đã được banhành và thực thi rất có hiệu quả ở Nhật Bản Một hệ thống cung cấp tài chính ưutiên cho xuất khẩu, một hệ thống thuế khuyến khích xuất khẩu và một hệ thốngbảo hiểm xuất khẩu là những biện pháp chủ yếu mà các cơ quan có thẩm quyềnvận dụng để triển khai thực hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu Hệ thốngbảo hiểm xuất khẩu mà Nhật Bản đã áp dụng từ năm 1959 đã giúp cho các nhàxuất khẩu tránh được rủi ro trong trong các giao dịch xuất khẩu Hệ thống thuếkhuyến khích xuhững rỉất khẩu cũng được áp dụng dưới dạng giảm thuế thunhập từ xuất khẩu ở mức 1% đến 5% giá trị xuất khẩu, đồng thời gia tăng khấuhao cho xuất khẩu Sau năm 1972, những biện pháp khuyến khích xuất khẩu quathuế đã giảm dần cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xuất khẩu
Bên cạnh các chính sách, biện pháp trên, Nhật Bản đã thành lập tổ chứcngoại thương (JETRO) vào năm 1954 nay là tổ chức xúc tiến ngoại thương NhậtBản Tỏ chức này đã có những đóng góp trực tiếp cho hoạt động xuất khẩuthông qua việc cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết để phát triển thị trườngbên ngoài Trong nhiều trường hợp JETRO còn đảm nhận vai trò trung gian môigiới xúc tiến xuất khẩu
1.3.4 Bài học đối với Việt Nam
1.2.1.1 Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, tự do hóa thương mại, điềuchỉnh chính sách xuất khẩu hàng hóa một cách linh hoạt qua các thời kỳ
Thực tiễn đã cho thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện tự dohóa thương mại là một xu thế tất yếu khách quan của thời đại Tuy nhiên việc
mở cửa nền kinh tế sẽ có ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế Bởi vậy,thông qua chính sách xuất nhập khẩu, các nước cần có những chính sách, biện
Trang 32pháp phù hợp để bảo đảm cho nền kinh tế của mình phát triển bền vững Chínhsách tự do hóa của Nhật Bản là một ví dụ điển hình Nhật Bản thực hiện tự dohóa thương mại một cách thận trọng, chắc chắn và hiệu quả trên cơ sở phân tíchmức độ và khả năng cạnh tranh của hàng hóa Tự do hóa được áp dụng trước hết
ở những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh và ít có phản đối về mặt chính trị, xãhội Tự do hóa được thực hiện theo từng bước, theo những lộ trình nhất định đốivới ngành công nghiệp chế tạo Công nghiệp Nhật Bản tự do hóa chỉ ở mứcthấp
Quá trình thực hiện nền kinh tế mở ở Trung Quốc cũng được thực hiện rấtthận trọng mặc dù dây là chính sách quốc gia được coi là quan trọng nhất củanước này Trước hết, Trung Quốc xây dựng các khu kinh tế mở ở các vùng biêngiới và ven biển và coi đây là bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình mở cửatrên phạm vi cả nước
Việt Nam mở cửa nền kinh tế chậm hơn so với nhiều nước trên thế giớinên có điều kiện để nghiên cứu, học hỏi, rút kinh nghiệm từ các nước đi trước đểvận dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hôi của mình cũng như bối cảnh kinh
tế thế giới trong từng thời kỳ khác nhau
1.2.1.2 Hướng vào xuất khẩu đồng thời kết hợp với chính sách thay thế nhậpkhẩu
Mục đích của xuất khẩu là để tăng thu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu Giaiđoạn đầu, hầu hết các nước đều thực hiện chính sách hướng vào sản xuất trongnước để thay thế nhập khẩu, trước hết là tập trung vào những ngành có lợi thếphát triển Chẳng hạn như Nhật Bản tập trung vào các ngành sử dụng nhiều laođộng như hàng dệt, gốm sứ…Với Trung Quốc cũng tập trung và những ngành sửdụng nhiều lao động giá rẻ, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của đất nước.Thông qua chính sách sản xuất thay thế nhập khẩu, với hàng rào thuế quan vàphi thuế quan cao hơn so với các lĩnh vực khác đã giúp cho các ngành có lợi thế
Trang 33của Nhật Bản và Trung Quốc có điều kiện phát triển, nâng cao khả năng cạnhtranh của ngành
Giai đoạn sau các nước Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đều hướngvào xuất khẩu Giai đoạn 1955-1973 được coi là thời kỳ tăng trưởng cao củaNhật Bản do chính sách xuất nhập khẩu thời này đã chuyển hướng sang khuyếnkhích xuất khẩu Với Trung Quốc cũng coi xuất khẩu là tiền đề, là cơ sở vật chất
để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật tiên tiến Chính sách khuyến khích xuấtkhẩu của Trung Quốc đã giúp cho nền kinh tế nước này đạt được tốc độ tăngtrưởng cao nhất thế giới trong nhiều năm với thặng dư thương mại luôn ở mứccao
Bối cảnh kinh tế hiện nay đã có nhiều thay đổi, chính sách hướng về xuấtkhẩu đã trở thành xu hướng chủ đạo của nhiều quốc gia Tuy nhiên trong điềukiện kinh tế đang phát triển như Việt Nam hiện nay cần kết hợp hài hòa giữa sảnxuất hướng về xuất khẩu và sản xuất thay thế nhập khẩu vừa tận dụng các lợi thế
so sảnh trong nước, tăng thu ngoại tệ và hạn chế nhập siêu
1.2.1.3 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất hàng hóa xuấtkhẩu
Để thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu cần phải cóchính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài hấp dẫn Chính sách thu hút vốn đầu
tư nước ngoài của Trung Quốc có thể coi là một kinh nghiệm điển hình Chínhsách này của Trung Quốc rất hấp dẫn và nhờ đó đưa Trung Quốc trở thành nướcthu hút vốn đầu tư nước ngoài hấp dẫn nhất thế giới năm 2002 với gần 50 tỷUSD Những biện pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài liên quan đến thươngmại mà Trung Quốc đã áp dụng là bãi bỏ việc áp đặt đối với thương mại, yêucầu cân đối ngoại tệ, yêu cầu về xuất khẩu theo các quy định của pháp luật,không áp dụng yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa hay bắt buộc phải mua sản phẩm
Trang 34trong nước Trung Quốc cũng khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển giao côngnghệ hay thành lập trung tâm nghiên cứu phát triển
Nhờ những chính sách rất linh hoạt và hợp lý này Trung Quốc đã thu hútđược lượng đầu tư rất lớn vào sản xuất xuất khẩu Đây cũng chính là kinhnghiệm mà Việt Nam cần học hỏi để áp dụng cho đất nước mình
1.2.1.4 Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu pháttriển
Ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều hiểu rõ ý nghĩa của hoạt độngxuất khẩu và có chính sách, biện pháp khuyến khích xuất khẩu Bên cạnh mụcđích tăng trưởng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, xuất khẩu còn tạo điều kiệncung cấp đầu vào, mở rộng đầu ra cho các ngành sản xuất trong nước, nâng caonăng lực cạnh tranh của hàng hóa và của cả nền kinh tế Tuy nhiên vấn đề đặt rađối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu là vốn, công nghệ, thuế và cácthủ tục…để có thể phát triển sản xuất hàng xuất khẩu Vì vậy, cần phải có sự hỗtrợ của Nhà nước để các doanh nghiệp xuất khẩu có được nguồn vốn đầu tư chosản xuất, thu hút được công nghệ, đơn giản hóa các thủ tục xuất khẩu Ví dụ nhưChính phủ Nhật Bản đã dành những ưu đãi tín dụng với lãi suất thấp, thực hiệnbảo lãnh, tái chiết khấu hóa đơn xuất khẩu cho nhà sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu
Để giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho xuất khẩu, các nước cũng sử dụngchính sách miễn, giảm và hoàn thuế liên quan đến hàng hóa xuât khẩu như NhậtBản, Trung Quốc và Hàn Quốc Các loại thuế được hoàn là thuế sản phẩm, thuếGTGT, thuế doanh thu và thuế tiêu dùng…Những thủ tục chứng từ quản lý hàngxuất khẩu được các nước đơn giản hóa nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtcho hoạt động xuất khẩu Trung Quốc còn thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái
có lợi cho xuất khẩu khi thường xuyên làm mất giá đồng Nhân dân tệ giúpdoanh nghiệp xuất khẩu có lợi
Trang 35Tóm lại, những bài học quý giá rút ra từ việc tìm hiểu quá trình điều chỉnhchính sách xuất khẩu của Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản trên đây cần đượcrút kinh nghiệm và áp dụng phù hợp với Việt Nam.
Chương 2
Trang 36Thực trạng chính sách quản lý của nhà nước đối với
hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
2.1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua
2.1.1 Về quy mô xuất khẩu
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, hoạt động kinh doanh xuất khẩucủa Việt Nam đã không ngừng phát triển Năm 1988, lần đầu tiên kim ngạchxuất khẩu của nước ta đạt con số 1 tỷ Rúp đô la Những năm tiếp theo, kimngạch xuất khẩu không ngừng tăng với mức tăng trưởng xuất khẩu trung bìnhgiai đoạn 1991-1995: 30,8%, 1996-2000: 19,4%, 2001-2005: 17,5%
Năm 1998, tuy bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực saumấy năm Việt Nam gia nhâp ASEAN, nhưng kim ngạch xuất khẩu không nhữngkhông giảm sút mà vẫn tăng 1,9% Giai đoạn 2001-2005 quy mô và tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu hàng hóa đều vượt chỉ tiêu đặt ra cho giai đoạn này trong
chiến lược xuất khẩu 2001-2010 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa trung bình cả giai đoạn đạt 17,5%/ năm, vượt chỉ tiêu đặt ra là 16%/năm.Trong hai năm đầu, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình đạt mức 7,4%/năm,trong ba năm cuối đã có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bìnhđạt 24,7%/năm
Sau khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫntiếp tục tăng với tốc độ tăng trưởng năm 2007, 2008 là 21,9% và 29,1% Tuynhiên, tăng trưởng xuất khẩu năm 2007 và 2008 chưa thể hiện sự bứt phá so vớicác năm trước và như kỳ vọng sau khi nước ta gia nhập WTO Tăng trưởng kimngạch xuất khẩu bình quân hai năm 2007-2008 là 25,5% và trong ba năm 2007-
2009 là 12,8%, thấp hơn so với mức tăng trưởng bình quân của giai đoạn trước.Năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 57,6 tỷ USD giảm sụt so với nămtrước gần 5,6 tỷ USD hay 8,9% Tuy nhiên, sự sụt giảm xuất khẩu năm 2009 là
do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân quan trọng là do tác động tiêu cực của cuộc
Trang 37khủng hoảng tài chính và suy thoải kinh tế thế giới Trong các ngành và lĩnhvực, xuất khẩu được coi là lĩnh vực bị tác động trực tiếp, lớn nhất từ khủnghoảng Giá xuất khẩu giảm mạnh so với năm trước trực tiếp làm cho kim ngạchxuất khẩu giảm Dầu thô giảm giá 38,5%, gạo giảm giá 26,6%, xăng dầu giảmgiá 37,6%, cà phê giảm giá 26,5%, than đá giảm giá 26,6%, hạt tiêu giảm giá24,5%, chè giảm giá 4,7% Chỉ với 9 mặt hàng kể trên đã làm giảm 7.533 triệuUSD, bằng 36,1% kim ngạch xuất khẩu trong năm trước của 9 mặt hàng này,còn lớn hơn mức giảm 5,6 tỷ USD Như vậy kim ngạch xuất khẩu năm 2009giảm là do giá giảm trong khi lượng xuất khẩu vẫn tăng
Biểu đồ 2.1 : KNXK từ năm 2005 đến năm 2009
(Đ/v: Triệu USD)
Nguồn: Báo cáo tổng kết 2009 – Bộ Công thương
Bảng 2.1 : Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 1993- 2009
Trang 38Nguồn: Kinh tế 2009-2010 Việt Nam và Thế giới
Mục tiêu xuất khẩu năm 2010 là tăng 6%, tức là đạt khoảng 60 tỷ USD
Số liệu thực tế xuất khẩu quý I đạt 14,46% tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳnăm trước Theo số liệu báo cáo tại hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của BộCông thương, tình hình xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2010 đang diễn biến theochiều hướng tích cực So với quý I, xuất khẩu quý II tăng 23% Tính chung 6tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 32,12 tỷ USD, bằng 53% kếhoạch năm 2010 và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2009 Kim ngạch xuất khẩubình quân đạt 5,35 tỷ USD/tháng, mức cao nhất từ trước đến nay Từ những số
Năm
KN Xuất khẩu (triệu USD)
Trang 39liệu xuất khẩu đạt được có thể dự báo xuất khẩu 2010 có thể tăng cao hơn mụctiêu đề ra Năm 2010, giá xuất một số mặt hàng đã tăng lên, các khó khăn về thịtrường, về thanh toán đã được cải thiện hơn do tăng trưởng của các đối tác chủyếu đã được phục hồi dần, nhu cầu đầu tư, tiêu dùng tăng trở lại
2.1.2 Về mặt hàng xuất khẩu
Cơ cấu hàng xuất khẩu trong giai đoạn 1986-2000 có sự thay đổi mạnh ởnhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản Sự thay đổi này là do Việt Namtăng dần xuất khẩu dầu thô Năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô với
số lượng 1,5 triệu tấn, đến năm 2000 xuất khẩu mặt hàng này đã tăng lên 15,5triệu tấn Giai đoạn này, nhóm hàng nông lâm thủy sản cũng giảm dần trong cơcấu xuất khẩu Năm 1986, nhóm các hàng nông, lâm, thủy sản chiếm hơn 63%trong tổng giá trị xuất khẩu, năm 1995 và 1998 giảm xuống còn 48,46 và 35,6%.Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu thời kỳ này còn rất lạc hậu Tỷ trọng hàng thô vàhàng sơ chế chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu Điều này có nghĩa làphần lớn nguồn tài nguyên chúng ta khai thác được hoặc là đem xuất khẩu ngayhoặc chỉ sơ chế rồi đem xuất khẩu Tình trạng này không những làm cho hiệuquả xuất khẩu thấp, mà còn không tận dụng được lực lượng lao động dồi dàotrong nước vẫn đang thiếu việc làm Giai đoạn 2000-2005, sự chuyển dịch trong
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chậm và không ổn định qua các năm Tỷ trọng củanhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ có xu hướng tăng nhẹ không đều
và chiếm tỷ trọng 34,8% trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu năm 2005
Trong hơn 20 năm đối mới, nhờ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quátrình hát triển CNH HĐH nên tỷ trọng nhóm hàng chế biến cũng dần tăng lên.Nếu năm 1991 nhóm hàng chế biến chỉ chiếm có 8% thì đến năm 2000 đã tănglên, chiếm 44,2%; năm 2002: 50,4%; năm 2003: 55%; năm 2004: 57% Điềunày cho thấy, Việt Nam đã chú ý khai thác lợi thế so sánh của mình trong nhữngngành chế tạo, ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu Đặc biệt, trong các mặt
Trang 40hàng xuất khẩu chủ lực đã xuất hiện các mặt hàng điện tử, máy tính, cơ khí điện.Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu này vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng
đã có kim ngạch tăng đột biến như sản phẩm nhựa, túi xách và ví Các mặt hàngchế biến khác cũng tăng nhưng chậm hơn Trong khi xuất khẩu các mặt hàngnông sản năm 2007 tăng cao có thể do nguồn cung ở các nước chủ lực sản xuấtcác sản phẩm này giảm thì việc mở rộng xuất khẩu túi xách, hàng điện tử, sảnphẩm nhựa, dệt may chủ yếu là nhờ tham gia WTO
Tính đến năm 2007, đã có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷUSD gồm: Dầu thô, dệt may, giầy dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và máytính, cà phê, gạo, cao su, than đá Từ năm 2008, nhìn vào bảng mặt hàng xuấtkhẩu có thể thấy trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có thêm cácmặt hàng chủ lực: sắn và sản phẩm sắn, đá quý, kim loại quý và sản phẩm, máymóc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải và phụ tùng Dây điện và cáp điệncũng xuất khẩu lại kể từ năm 2000 Đến cuối năm 2008 và năm 2009, kim ngạchxuất khẩu của các mặt hàng chế biến đã bắt đầu giảm, một phần do khủng hoảngtài chính trở nên trầm trọng hơn từ giữa năm 2008 nên nhiều đơn hàng bị hủy
bỏ Mặc dù vậy, một số mặt hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu cao trong năm 2008 như hàng nhựa, linh kiện máy tính, túi xách, hàngthủy sản