Thông qua nghiên cứu thực tiễn, đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm
Trang 1Chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn - Tiến sỹ
…, sự chỉ bảo, dạy dỗ, tạo điều kịên của các thầy, cô, các cán bộ của trường Đại họcKinh tế quốc dân, Viện đào tạo sau Đại học và khoa Kế toán- Kiểm toán đã giúp tácgiả hoàn thành đề tài này
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý 4
1.1.1 Khái niệm chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 4
1.1.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 7
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát 7
1.1.2.2 Hệ thống thông tin kế toán 10
1.1.2.3 Các thủ tục kiểm soát 12
1.2 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 13
1.2.1 Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 13
1.2.2 Rủi ro tín dụng và nguyên nhân gây rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 14
1.2.2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 14
1.2.2.2 Nguyên nhân gây rủi ro tín dụng 16
1.2.3 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SEABANK 35
2.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động của Seabank có ảnh hưởng đến tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ 35
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển của Seabank 35
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Seabank 38
2.1.3 Hoạt động tín dụng tại Seabank 40
2.1.3.1 Kết quả hoạt động tín dụng của Seabank trong thời gian qua 40
Trang 32.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank 48
2.2.1 Môi trường kiểm soát 48
2.2.2 Thủ tục kiểm soát hoạt động tín dụng 61
2.2.2.1 Kiểm soát trong hoạt động tín dụng 64
2.2.2.2 Kiểm soát sau đối với hoạt động tín dụng 77
2.2.3 Hệ thống thông tin kế toán 83
2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank 88
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SEABANK 97
3.1 Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Seabank 97
3.2 Những giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank 100
3.2.1 Nâng cao nhận thức của lãnh đạo Ngân hàng với quản lý tín dụng 100
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng 102
3.2.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý tín dụng 104
3.2.4 Hoàn thiện mô hình kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ 105
3.2.5 Hoàn thiện thủ tục kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng 108
3.2.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm soát viên 112
3.3 Một số kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank 113
3.3.1 Kiến nghị đối với chính phủ 113
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 115
3.3.3 Kiến nghị với ban lãnh đạo của Seabank 118
KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4Hội đồng quản trị HĐQT
Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN
Trang 5Bảng 2.1- Kết quả hoạt động của Seabank giai đoạn 2006 – 2008 36
Bảng 2.2 - Sản phẩm tín dụng của Seabank 40
Bảng 2.3 - Hệ thống chính sách tín dụng tại Seabank 44
Bảng 2.4 - Phân loại nợ và trích lập dự phòng của Seabank 49
Bảng 2.5 - Quy định mức cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo 51
Bảng 2.6 - Thống kê số lượng sai phạm trong hoạt động tín dụng giai đoạn 2006 – 2008 79
Biểu đồ 2.1 - Chỉ tiêu tăng trưởng quy mô của Seabank giai đoạn 2006 – 2008 37
Biểu đồ 2.2 - Dư nợ tín dụng của Sebank giai đoạn 2005-2008 41
Biểu đồ 2.3 - Dư nợ tín dụng của Seabank theo ngành kinh tế 42
Biểu đồ 2.4 - Tỉ lệ nợ quá hạn của Seabank giai đoạn 2006 - 2008 43
Biểu đồ 2.5 – Cơ cấu nhân sự của Seabank 54
Sơ đồ 2.1- Tổ chức bộ máy quản lý SeaBank 39
Sơ đồ 2.2 - Sơ đồ tổ chức Phòng kiểm soát nội bộ 56
Sơ đồ 2.3 - Quy trình cho vay tổng thể tại Seabank 62
Sơ đồ 2.4 – Quy trình cho vay trong hạn mức của trưởng đơn vị tín dụng 68
Sơ đồ 2.5- Quy trình cho vay thông qua HĐTD chi nhánh 69
Sơ đồ 2.6- Quy trình cho vay trong hạn mức Ban Tổng giám đốc 70
Sơ đồ 2.7- Quy trình cho vay trong thông qua HĐTD hội sở 71
Sơ đồ 2.8- Quy trình luân chuyển chứng từ của Seabank 83
Sơ đồ 3.1- Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ đề xuất 106
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Xây dựng một hệ thống tài chính ngân hàng mở và mang tính cạnh tranh cótầm quan trọng quyết định và là yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát triểnkinh tế của mọi quốc gia Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng toàn cầuhoá, khu vực hoá mang đặc trưng tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chính đangchi phối khuynh hướng, cấu trúc vận động của hệ thống tài chính – ngân hàng Hoạtđộng tín dụng trong các ngân hàng thương mại không chỉ là một tất yếu khách quan
mà còn là lẽ sống của chính các ngân hàng Thực tế cho thấy, môi trường kinhdoanh ngân hàng trong thời gian qua ngày càng trở nên khó khăn, lãi suất trên thị tr-ường thế giới liên tục giảm gây áp lực lên hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động tíndụng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 60 – 70% danh mục tài sản có) vàđặc biệt nguồn tín dụng này đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo cho các doanhnghiệp trong nền kinh tế Với vai trò là trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạtđộng tín dụng của các ngân hàng thương mại là không thể tránh khỏi Để đảm bảohiệu quả hoạt động tín dụng và phòng ngừa rủi ro, đòi hỏi các ngân hàng thươngmại phải thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và đủ mạnh Việcxây dựng một cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp và hiệu quả sẽ cho phép các ngânhàng chống đỡ mọi rủi ro cũng như đảm bảo an toàn tài sản và hiệu quả kinh doanh
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Sea bank) được thành lập từ
1994 và là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có mặt sớm nhất tạiViệt Nam và đã đạt được những thành công hết sức khả quan Ý thức được tầmquan trọng cũng như những rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, trong thời gianqua ngân hàng Đông Nam Á¸ cũng rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống kiểmsoát nội bộ nói chung cũng như các quy trình thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tíndụng nói riêng Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt độngtín dung ở đây còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý Vì vậy hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt
Trang 7động tín dụng nói riêng là công việc cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhcũng như sức cạnh trnah của ngân hàng.
Qua nghiên cứu lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ và thực tế tìm hiểu tại
Sea bank, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động
tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á” cho luận văn thạc sỹ của
mình
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống nhữngvấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ Nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạtđộng của hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam
Á Thông qua nghiên cứu thực tiễn, đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ trong quan hệ với hoạtđộng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Đề tài chỉ nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với một hoạt động cụ thểtại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á là hoạt động tín dụng
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín
dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại
ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank)
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
với hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank)
Trong Chương I, Luận văn trình bày khái niệm chung về hệ thống kiểm
soát nội bộ, Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ và đặc điểm hệ thốngkiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại Cụ thể, tácgiả trình bày và phân tích sâu về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, nguyên nhândẫn đến rủi ro tín dụng tác động đến hoạt động của NHTM Tiếp theo, Tác giả đặc
Trang 8điểm hệ thống kiểm soát nội bộ và vai trò của nó đối với hoạt động tín dụng Đặcbiệt, phần Chương I đi sâu vào trình bày các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soátnội bộ trong kiểm soát rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Các yếu tốgồm: Thứ nhất, Môi trường kiểm soát (bao gồm nhận thức, thái độ và hành độngcủa người quản lý trong ngân hàng đối với kiểm soát và tầm quan trọng của kiểmsoát) Thứ hai, Hệ thống kế toán được sử dụng để ghi nhận, tính toán, phân loại, kếtchuyển vào sổ cái, tổng hợp và lập báo cáo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thỏamãn chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động kế toán Thứ ba, Thủ tục kiểm soát,
là những cách thức giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát hoạt động.Thủ tục kiểm soát rủi ro tín dụng trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàngphải được thiết lập dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phân công phân nhiệm
rõ ràng, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn
Trong Chương II, Luận văn trình bày khái quát về quá trình hình thành và
phát triển của Seabank Tác giả tập trung phân tích thực trạng hoạt động kiểm soátnội bộ với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng, từ đó phát hiện ra các rủi ro trong hoạtđộng tín dụng
Phần cuối của Chương II, Tác giả đưa ra đánh giá khái quát về hệ thống kiểmsoát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank
Thứ nhất, những ưu điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Seabank:
Seabank đã xây dựng được quy chế kiểm soát khá chặt chẽ với hoạt động tíndụng, nâng cao năng lực nhận biết, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Từngbước thiết lập hệ thống quản trị điều hành rủi ro thông qua việc phân lập tráchnhiệm, phân quyền truy cập vừa đảm bảo bảo mật thông tin ngân hàng vừa ngănchặn việc sử dụng vốn ngân hàng sai mục đích
Seabank đã thiết lập các chốt kiểm soát trong quy trình tín dụng khá hợp lý,kiểm soát viên được bố trí ở hầu hết các nút kiểm soát quan trọng (quyết định chovay, quyết định giải ngân, quyết định gia hạn nợ và tất toán hợp đồng tín dụng) đã
có tác dụng ngăn ngừa và phát hiện các sai phạm kịp thời
Trang 9Hoạt động kiểm tra sau của bộ máy kiểm soát nội bộ góp phần tích cực trongviệc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trong toàn hệ thống thông qua việcphát hiện sai phạm và kiến nghị điều chỉnh Nhờ hoạt động kiểm tra, kiểm soát cácsai phạm được phát hiện và sửa chữa kịp thời hạn chế được những tác động tiêu cựccủa các sai phạm.
Các thủ tục kiểm soát được xây dựng tương đối hợp lý, phù hợp cới nhữngquy định về quy chế cho vay do ngân hàng nhà nước ban hành, đảm bảo nguyên tắcgiám sát lẫn nhau trong các hoạt động đã góp phần hạn chế những gian lận tronghoạt động tín dụng tại ngân hàng
Thứ hai, những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng.
Về môi trường kiểm soát bên trong
Quan điểm quản lý tín dụng còn nhiều hạn chế Thực thế cho thấy chính sáchcho vay của Seabank hiện nay quá chặt chẽ, chưa có tiêu thức cụ thể để đánh giá và
dự đoán về khách hàng Bên cạnh đó danh mục đầu tư của Seabank cũng rất hạnchế, các biện pháp phòng tránh rủi ro như công tác phân tích và đánh giá kháchhàng rất được sử dụng rất hạn chế
Chính sách nhân sự chưa chú trọng đến việc nâng cao trình độ cán bộ tíndụng Nguồn nhân lực chủ yếu là các sinh viên mới ra trường, chưa có nhiều kinhnghiệm, trong khi đó việc đào tạo chuyên sâu về công tác thẩm định gần như khôngđược Ngân hàng thực hiện
Cơ cấu tổ chức quản lý tín dụng chưa phù hợp Mô hình tổ chức hoạt động tíndụng tại Seabank hiện nay chưa phân định rõ chức năng giữa các bộ phận kinhdoanh, bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận tác nghiệp Hiện nay các bộ phận kinhdoanh đang đồng thời thực hiện chức năng quản lý rủi ro và trực tiếp tác nghiệp.Vaitrò của Hội đồng tín dụng chưa rõ ràng, hoạt động của bộ phận này dường như là sựpha trộn giữa chức năng kinh doanh và chức năng quản lý rủi ro Bộ phận quản trịcho vay, nhập dữ liệu, lưu trữ hồ sơ đồng thời là cán bộ tín dụng nên không đảm
Trang 10bảo được tính độc lập, khách quan giữa bộ phận khởi tạo tín dụng và bộ phận tácnghiệp Mặc dù hiện nay trong quy chế của Seabank quy định tách bạch bộ phận tíndụng và quản lý giải ngân nhưng trên thực tế rất ít chi chánh thực hiện đúng yêucầu.
Mô hình kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ không đảm bảo được chấtlượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Hiện nay hệ thống kiểm tra, kiểm soát vàkiểm toán của Seabank được thiết lập thông qua hoạt động của một bộ phận chuyêntrách với tên gọi là Phòng kiểm soát nội bộ Bộ phận này chịu sự quản lý của Tổnggiám đốc theo hệ thống ngành dọc tại trụ sở chính và tới các chi nhánh Chức năngkiểm soát nội bộ bị đánh đồng với chức năng kiểm toán nội bộ và chỉ dừng lại ởcông tác hậu kiểm do đó hạn chế tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa và quản
lý rủi ro tín dụng
Trong khi đó, công tác kiểm soát sau của hệ thống kiểm tra nội bộ chưa thực
sự độc lập và khách quan Ngoài ra phải kể đến một hạn chế nữa của Phòng Kiểmsoát nội bộ là nhân sự kiểm soát ít, trình độ của nhân viên và kiểm soát viên còn hạnchế
Về Môi trường kiểm soát bên ngoài.
Hệ thống pháp lý liên quan đến hoạt động tín dụng chưa hoàn thiện Các quyđịnh của pháp luật vừa thiếu đồng bộ, vừa không rõ ràng gây nên khó khăn choNgân hàng trong quá trình tác nghiệp Luật pháp và công cụ thực thi pháp luật chưanghiêm minh, chưa tạo được sự hỗ trợ đầy đủ cho Ngân hàng chủ động xử lý tài sảnđảm bảo nợ vay
Hoạt động thanh tra kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự hiệuquả Hoạt động thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soátthị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu
Hệ thống thông tin quản lý ngân hàng còn nhiều bất cập Hiện nay thông tin
do Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) cung cấp còn đơn điệu, không cập
Trang 11nhật, trong khi đó vẫn chưa có quy định bắt buộc về việc cung cấp thông tin từ cácTCTD cho trung tâm.
Hệ thống kế toán kiểm toán còn nhiều bất cập và chưa hoàn toàn thống nhấtvới các chuẩn mực kế toán Các khách hàng thường cung cấp những số liệu tàichính không trung thực, điều này gây ra những rủi ro cho Ngân hàng
Về Các thủ tục kiểm soát.
Thủ tục kiểm soát với hoạt động tín dụng còn chưa chặt chẽ cụ thể: Không
có sự kiểm tra chéo định kỳ và đột xuất; Không có sự luân chuyển cán bộ tín dụng,cán bộ quản lý khách hàng vay; Không có biện pháp kiểm soát quyền thực thi phánquyết của giám đốc chi nhánh; các loại rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng chưa đượcquản lý tập trung và báo cáo cho một lãnh đạo khối duy nhất Rủi ro tác nghiệpchưa được quan tâm và chưa có biện pháp đánh giá phù hợp
Trong Chương III, Trước hết, Tác giả nêu lên sự cần thiết và phương
hướng hoàn thiệt hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Seabank.Trên cơ sở đó, Tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ vớihoạt động tín dụng tại Seabank, đó là:
Thứ nhất, Nâng cao nhận thức của lãnh đạo Ngân hàng với quản lý tín dụng
Với quan điểm “An toàn tín dụng là mục tiêu hàng đầu” ban lãnh đạoSeabank đã tạo ra một hành lang khá an toàn cho hoạt động tín dụng của Ngânhàng, tuy nhiên việc xây dựng chính sách tín dụng chưa thực sự phù hợp với mụctiêu phát triển tín dụng của Ngân hàng Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi ban lãnhđạo Ngân hành phải xây dựng một chính sách cho vay linh hoạt, phản ánh đúng tìnhhình hiện tại và để duy trì sự hiệu quả của các công cụ kiểm soát Do đó, để kiệntoàn hệ thống kiểm soát nội bộ với mục tiêu quản lý hoạt động tín dụng, để đạt đượcđiều này ban lãnh đạo Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến việc thiết kế các chínhsách tín dụng hướng tới các nội dung cụ thể: Tuân thủ nghiêm các quy định củaNgân hàng Nhà nước; Xác định quyền hạn của các cấp quản lý điều hành hoạt độngtín dụng; Chính sách cho vay phải xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá, dự báo
Trang 12tình hình kinh tế - xã hội Cụ thể, Seabank nên thiết kế lại chính sách cho vay theohướng sau:Về chính sách lãi suất, trong điều kiện cạnh tranh hiện nay thì chính sáchlãi suất nên xây dựng tuỳ thuộc vào uy tín của khách hàng, tính khả thi của phương
án kinh doanh; Về chính sách khách hàng, Seabank nên đa dạng hoá đối tượngkhách hàng nhằm tăng thị phần và phân tán rủi ro; Về chính sách sản phẩm tín dụngSeabank nên có chính sách đa dạng hoá sản phẩm tín dụng, góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động của ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng; Về chính sách với tài sảnđảm bảo, nên chú trọng việc thu thập thông tin có liên quan, nếu có biến động lớnthì cần xem xét định giá lại tài sản và nên tạo ra cơ chế hợp tác với các cơ quanchức năng trong việc xử lý tài sản đảm bảo
Thứ hai, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng
Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng,
nó quyết định chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của ngân hàng,
từ đó quyết định đến hiệu quả hoạt động tín dụng Cụ thể ngân hàng nên thực hiệnmột số giải pháp sau:
Một là, Ngân hàng cần quan tâm đúng hơn nữa việc đào tạo từ kiến thức cơbản đến chuyên sâu về từng nghiệp vụ, từng đối tượng khách hàng cụ thể Cập nhậtcác kiến thức nghiệp vụ và tập huấn các quy định pháp luật mới liên quan đến hoạtđộng ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Hai là, Tăng cường thêm đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng trong điềukiện Ngân hàng không ngừng phát triển về quy mô hoạt động
Ba là, Ngân hàng cần xây dựng những tiêu chí rõ ràng đối với đội ngũ nhânviên làm công tác tín dụng Về năng lực:Yêu cầu những cán bộ làm công tác liênquan đến hoạt động tín dụng phải thường xuyên nghiên cứu, học tập, nâng cao nănglực công tác, khả năng phân tích tình hình kinh tế - xã hội Về phẩm chất đạo đức:Đòi hỏi mỗi cán bộ phải luôn có ý thức tu dưỡng đạo đức, nêu cao tinh thần tráchnhiệm Đối với những cán bộ ở vị trí lãnh đạo thì càng phải gương mẫu
Trang 13Bốn là, Xây dựng chính sách đãi ngộ, khen thưởng hợp lý, công bằng Bêncạnh đó Ngân hàng cũng nên xây dựng một chính sách đãi ngộ nhân sự nhằm thuhút nguồn nhân lực có trình độ cao
Thứ ba, Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý tín dụng là một giải pháp hữu
hiệu trong việc giảm thiểu rủi ro, nâng cao tính hiệu quả của hoạt động kinh doanhngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Để thực hiện mục tiêu trên, Seabank cần tiến hành theo bước sau:
Một là, Tách biệt rõ ràng, phân công rõ trách nhiệm, chức năng của các bộ phận,
cá nhận trong các khâu: Tiếp xúc khách hàng, Phân tích tín dụng, Thẩm định tín dụng,Quyết định cho vay, Giải ngân, Đánh giá chất lượng, Cơ cấu lại khoản vay
Hai là, Đào tạo, bồi dưỡng đủ nguồn nhân lực được trang bị các kỹ năng vàtrình độ chuyên môn phù hợp với chất lượng và tính phức tạp của công việc
Ba là, Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để xử lý kịp thời các thông tinnhằm hỗ trợ toàn bộ quá trình quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng
Thứ tư, Hoàn thiện mô hình kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ
Mô hình kiểm soát nột bộ phổ biến ở các công ty nói chung và ngân hàng nóiriêng trên thế giới được phân chia rõ ràng thành hai mảng chính: hoạt động kiểmsoát nội bộ nằm trong quy trình nghiệp vụ và hoạt động kiểm toán nội bộ được thựchiện bởi Ban kiểm toán nội bộ- bộ phận chuyên trách của Đại hội đồng cổ đông,trực tiếp chịu sự quản lý và thực hiện chế độ báo cáo đối với Hội đồng quản trị - bộphận đại diện cho các cổ đông
Theo đó, Seabank có thể tổ chức lại hệ thồng kiểm soát nội bộ với hai mảngtách biệt là kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ
Kiểm toán nội bộ do Ban kiểm toán nội bộ thực hiện.
Kiểm soát nội bộ gồm hai hoạt động: Kiểm soát điều hành ngay trong quá trình tiến hành nghiệp vụ tín dụng được thực hiện dựa trên nền tảng là việc giao
Trang 14mức tín dụng thuộc thẩm quyền phán quyết đơn phương của Giám đốc Chi nhánh
và mức tín dụng phải có sự bàn bạc của Hội đồng tín dụng cơ sở;
Kiểm tra đột xuất đối với các hoạt động tín dụng tại chi nhánh
Với mô hình này, toàn bộ khối kiểm tra nội bộ hiện nay gồm các phòng kiểm tranội bộ tại chi nhánh và Ban kiểm tra nội bộ trực thuộc hội sở chính sẽ được giải thể
Ưu điểm của mô hình này là đảm bảo sự độc lập, khách quan của từng bộphận kiểm soát nội bộ trong phạm vi hoạt động của nó, đồng thời giảm thiểu chi phícho toàn hệ thống kiểm soát nội bộ, tránh được sự chồng chéo và trùng lặp trongcông tác kiểm tra Mô hình này cũng được phân định rõ ràng hơn về chức năngkiểm tra, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ
Thứ năm, Hoàn thiện thủ tục kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng
Nhằm mục đích khác phục những thiếu sót trong của các thủ tục kiểm soátnội bộ với hoạt động tín dụng theo tác giả Seabank nên hoàn thiện thủ tục kiểmsoát nội bộ theo các hướng sau: bổ sung các biện pháp kiểm soát vào quy trình hoạtđộng tín dụng Kiểm tra chéo định kỳ giữa các cán bộ tín dụng trong nội bộ chinhánh Thực hiện luân chuyển cán bộ tín dụng trong nội bộ chi nhánh và giữa cácchi nhánh trên cùng địa bàn Luân chuyển kiểm soát viên định kỳ (giám đốc, trưởngcác bộ phận quản trị cho vay, quản trị rủi ro và quản lý khách hàng) giữa các chinhánh trong cùng hệ thống.Thực hiện kết nối thông tin quản trị giữa chi nhánh vàhội sở, giao cho giám đốc chi nhánh một phân quyền trong hệ thống tín dụng, theo
đó giám đốc được phép duyệt các giao dịch tín dụng có mức tối đa bằng mức phánquyết được Tổng giám đốc giao, nếu vượt quá sẽ tự động bị loại khỏi hệ thống
Thứ sáu, Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm soát viên
Hiện nay số lượng nhân viên làm nhiệm vụ kiểm soát chưa đáp ứng nhu cầu,mặt khác trình độ đội ngũ làm công tác kiểm soát nghiệp vụ còn hạn chế Để nâng caochất lượng đội ngũ kiểm toán viên nhằm mục tiêu ngăn ngừa và phát hiện kịp thời cácsai phạm trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng cần thực hiện các biện pháp sau:
Trang 15Một là tăng cường các cán bộ có trình độ đã qua hoạt động nghiệp vụ tíndụng để bổ sung cho phòng kiểm soát
Hai là, Ban lãnh đạo ngân hàng nên có chính sách đào tạo thường xuyên vàkiểm tra chất lượng đội ngũ kiểm soát viên nội bộ Đặc biệt cần chú trọng đào tạođạo đức nghề nghiệp để cán bộ trong quá trình tác nghiệp tránh những sai phạm doyếu tố chủ quan
Ba là, trong quá trình thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng có thểtăng cường cán bộ làm trực tiếp ở bộ phận tín dụng, thẩm định và quản lý tín dụngcùng tham gia thực hiện
Bốn là, Ngân hàng cần quy định trách nhiệm cụ thể đối với từng cán bộ kiểm soát.Năm là để xây dựng đội ngũ cán bộ mạnh về cả chất lượng và số lượng thì hệthống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng cũng phải không ngừng tự đổi mới và hoànthiện các phương pháp kiểm tra, áp dụng một cách linh hoạt các biện pháp kiểm tratuỳ theo từng đối tượng, từng điều kiện cụ thể
Thực hiện được các biện pháp trên mới có thể đảm bảo cho bộ máy kiểm soátnội bộ của ngân hàng thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và góp phần tích cựcvào việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Seabank
Kiến nghị đối với chính phủ: Để đảm bảo cho hệ thống kiểm soát nội bộ tại
các ngân hàng thực sự phát huy được hiệu quả các ngân hàng rất cần sự hỗ trợ từphía các cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể: Hoàn thiện môi trường pháp lý liên quanđến hoạt động tín dụng của ngân hàng; Trong việc hoạch định chính sách cần cânđối một cách thích hợp giữa các mục tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, ổnđịnh tiền tệ và sự phát triển bền vững của hệ thống các ngân hàng thương mại; Thúcđẩy thị trường tài chính, trước hết là thị trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệnhằm xác định khuôn khổ hoạt động của các ngân hàng, tạo nhiều có hội đầu tư,
Trang 16phân tán rủi ro nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đa dạng hoá các công cụ thanhtoán nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng; Hoàn thiện cơ sở hạ tầng
kỹ thuật như hệ thống thông tin, kế toán, kiểm toán theo hướng phù hợp với chuẩn
mực quốc tế.
Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Nâng cao chất lượng quản lý điều hành;
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý
Kiến nghị với ban lãnh đạo của Seabank: Các nhà quản trị Seabank cần
nhận thức đầy đủ về vai trò của hệ thống kiểm soát nội với hoạt động của ngân hàngnói chung và hoạt động tín dụng nói riêng cũng như tạo môi trường thuận lợi choKTNB phát huy sức mạnh và cần một quy chế hoạt động cụ thể cho bộ phận kiểmtra, kiểm soát nội bộ và bộ phận kiểm toán nội bộ Cần có sự quan tâm thoả đángđến công tác đào tạo và bồi dưỡng các kiểm toán viên để nâng cao chất lượng hoạtđộng của bộ phận này
Ngân hàng xây dựng chính sách tuyển dụng, đào tạo thích hợp đối với độingũ nhân viên theo các khuyến nghị của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, kiểmsoát nội bộ ngân hàng Ngân hàng nên tăng cường hơn nữa công tác quản trị rủi rothông qua hoạt động giám sát và kiểm soát việc tuân thủ quy trình trong cẩm nangtín dụng đã ban hành Đồng thời tích cực đẩy mạnh công tác kiểm tra sau đối vớicác khoản vay
Trang 17LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, sự phát triểncủa hệ thống ngân hàng ở các quốc gia cũng đã có những bước tiến vượt bậc, cácngân hàng không chỉ làm chức năng là trung gian thanh toán mà tầm quan trọng của
nó còn thể hiện ở vai trò trung gian tài chính
Xây dựng một hệ thống tài chính ngân hàng mở và mang tính cạnh tranh
có tầm quan trọng quyết định và là yếu tố không thể thiếu trong chiến lược pháttriển kinh tế của mọi quốc gia Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng toàncầu hoá, khu vực hoá mang đặc trưng tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chínhđang chi phối khuynh hướng, cấu trúc vận động của hệ thống tài chính – ngân hàng.Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại không chỉ là một tất yếu kháchquan mà còn là lẽ sống của chính các ngân hàng
Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động tíndụng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 60 – 70% danh mục tài sản có) vàđặc biệt nguồn tín dụng này đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo cho các doanhnghiệp trong nền kinh tế Với vai trò là trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạtđộng tín dụng của các ngân hàng thương mại là không thể tránh khỏi Để đảm bảohiệu quả hoạt động tín dụng và phòng ngừa rủi ro, đòi hỏi các ngân hàng thươngmại phải thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và đủ mạnh Việcxây dựng một cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp và hiệu quả sẽ cho phép các ngânhàng chống đỡ mọi rủi ro cũng như đảm bảo an toàn tài sản và hiệu quả kinh doanh
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Sea bank) được thành lập từ
1994 và là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có mặt sớm nhất tạiViệt Nam và đã đạt được những thành công hết sức khả quan Ý thức được tầmquan trọng cũng như những rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, trong thời gianqua ngân hàng Đông Nam á cũng rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống kiểmsoát nội bộ nói chung cũng như các quy trình thủ tục kiểm soát đối với hoạt động tín
Trang 18dụng nói riêng Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt độngtín dung ở đây còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý Vì vậy hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạtđộng tín dụng nói riêng là công việc cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhcũng như sức cạnh trnah của ngân hàng.
Qua nghiên cứu lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ và thực tế tìm hiểu tại
Sea bank, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động
tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á” cho luận văn thạc sỹ của
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ trong quan hệ với hoạtđộng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Đề tài chỉ nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với một hoạt động cụthể tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á là hoạt động tín dụng
4.Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp chung là duy vật biện chứng, các phương pháp cụthể bao gồm: phương pháp hệ thống hoá, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,kết hợp với khảo sát thực tế … nhằm khái quát lý luận, tổng kết thực tiễn, đối chiếugiữa lý luận với thực tiễn để từ đó đề xuất các giảI pháp hoàn thiện
Trang 195.Những đóng góp của luận văn:
Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hoá và làm rõ các lý luận cơ bản về hệthống kiểm soát nội bộ, đặc biệt là vai trò chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộvới hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Về mặt thực tế, luận văn mô tả và phân tích rõ thực trạng hệ thống kiểmsoát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á, chỉ ra những điểm hạnchế hiện đang tồn tại của hệ thống này
Về các đề xuất, Luận văn lý giải sự cần thiết phảI hoàn thiện hệ thống kiểmsoát nội bộ và đưa ra các những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống kiểmsoát nội bộ với hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Ágóp phần đảm bảo sự an toàn cũng như khả năng phát triển trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng
6.Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín
dụng trong các ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại
ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank)
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội
bộ với hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phầnĐông Nam Á (Seabank)
Trang 20CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý
1.1.1 Khái niệm chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
Quá trình kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của conngười trong một tổ chức Chức năng kiểm tra kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọngtrong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm soát nội bộ củađơn vị
Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)
“ Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống các chính sách và thủ tục kiểmsoát nhằm 4 mục tiêu sau: Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán; Đảm bảo độ tin cậycủa các thông tin kế toán; Bảo đảm thực hiện các chế độ pháp lý; Bảo đảm hiệu quảhoạt động và năng lực quản lý”
Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị,
tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro trong từng khâu công việc để tìm ra biện phápngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị:
Thứ nhất là tài sản và sổ sách của đơn vị phải được bảo vệ: Tài sản ở đâytồn tại dưới nhiều hình thức, tài sản là vốn của doanh nghiệp và trong quá trình hoạtđộng vốn của doanh nghiệp được phản ánh trên sổ sách
Thứ hai là thông tin đảm bảo độ tin cậy: Thông tin là căn cứ quan trọng đểhình thành các quyết định quan trọng cho những người ở trong và cả ngoài doanhnghiệp, vì vậy thông tin phải đảm bảo tính chính xác, tin cậy và kịp thời
Thứ ba là đảm bảo thực hiện chế độ pháp lý và trong quá trình hoạt độngdoanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật
Trang 21Thứ tư là đảm bảo hiệu quả hoạt động, mục tiêu của doanh nghiệp là tối đahoá lợi nhuận vì vậy trong hoạt động phải đảm bảo hiệu quả nhằm ngăn ngừa lãngphí trong hoạt độngvà sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực.
Theo chuẩn mực kiểmtoán Việt Nam (VAS) 400: “Hệ thống kiểm soát nội
bộ là các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và ápdụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra kiểmsoát ngăn ngừa và phát hiện gian lận và sai sót để lập BCTC trung thực và hợp lýnhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”
Cách đề cập trên cho thấy phạm vi của hệ thống kiểm soát nội bộ tương đốirộng không chỉ giới hạn trong phạm vi của những hoạt động về tài chính, kế toán
mà bao trùm toàn bộ các lĩnh vực hoạt động đơn vị
Là một chức năng của quản lý, kiểm soát nội bộ thường bao gồm hai lĩnhvực và được chia làm hai loại chính: kiểm soát tổ chức và kiểm soát kế toán
Kiểm soát tổ chức là các quy định, thủ tục được thiết lập nhằm đảm bảo sựtuân thủ và hiệu quả, hiệu năng của tổ chức đối với các chính sách, các kế hoạchcũng như các quy định của pháp luật hiện hành bảo đảm cho các hoạt động diễn ratheo mục tiêu quản lý Kiểm soát tổ chức chủ yếu hướng vào các hoạt động về nhân
sự, về tổ chức bộ máy, về chất lượng, về kỹ thuật
Kiểm soát kế toán là hệ thống các chế độ thủ tục được thiết lập nhằm tậptrung vào hệ thống cung cấp, kiểm tra thông tin cho việc ra quyết định như hệ thống
sổ sách, hệ thống báo cáo tài chính Loại kiểm soát này bảo đảm cho tính tin cậy,xác thực, toàn vẹn của thông tin tài chính và thông tin nghiệp vụ đồng thời đây cũng
là những biện pháp nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị: kiểm soát nghiệp vụ, kiểm soátquản lý tài chính
Hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu do chính nhà quản lý của đơn vị xâydựng để phục vụ cho mục đích quản lý Khi thiết lập và vận hành một hệ thốngkiểm soát nội bộ, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn hướng tới các mục đích đã
Trang 22vạch sẵn Kết hợp các quan điểm có thể thấy hệ thống kiểm soát nội bộ có mục đíchchủ yếu:
Một là, Điều hành và quản lý kinh doanh một cách có hiệu quả.Các quy
định cũng như các thủ tục kiểm soát phải bảo đảm công việc được thực hiện mộtcách nhanh chóng, hiệu quả, ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp,tránh sự lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh dẫn tới việc sử dụng cácnguồn lực kém hiệu quả
Hai là, Đảm bảo chắc chắn các quy định và chế độ quản lý được thực hiện đúng thể thức Các nhà quản lý thường điều hành hoạt động của đơn vị mình thông
qua các quyết định và các quy chế quản lý Hệ thống kiểm sóat nội bộ sẽ giám sátmức độ hiệu năng, hiệu quả của các quyết định trong quá trình thực thi, bảo đảmtuân thủ đúng quy trình, đúng thể thức đã được quy định
Ba là, Phát hiện kịp thời những vướng mắc trong kinh doanh để hoạch định
và thực hiện các biện pháp đối phó Hoạt động trong nền kinh tế thị trường với sự
cạnh tranh quyết liệt không thể tránh khỏi những khó khăn vướng mắc Hệ thốngkiểm soát nội bộ thông qua các mắt xích của mình có nhiệm vụ phát hiện ra nhữngkhó khăn đó, để có những giải pháp phù hợp
Bốn là, Phát hiện, ngăn chặn những sai phạm và gian lận trong kinh doanh.Sai sót trong quá trình hoạt động là điều tất yếu Mọi hoạt động trong đơn vị
đều do con người thực hiện, họ hoàn toàn có thể mắc phải các sai sót thậm trí gianlận Để phát hiện và ngăn ngừa cần phải có hệ thống kiểm soát nội bộ với các bướckiểm soát chặt chẽ
Năm là, Ghi chép kế toán đầy đủ, tin cậy và đúng thể thức về các nghiệp vụ
và hoạt động kinh doanh Việc ghi nhận các hoạt động sản xuất kinh doanh thông
qua công tác kế toán không phải lúc nào cũng đầy đủ và đúng quy định Bằng việcthiết lập các quy trình về quản lý tài chính kế toán, về hệ thống cung cấp số liệu, hệthống kiểm soát nội bộ sẽ giúp cho việc ghi chép kế toán và lập BCTC đảm bảotuân thủ đúng theo quy định
Trang 23Sáu là, Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích.Tài sản và thông tin của doanh nghiệp là những thứ có thể bị mất cắp, thất
thoát hay bị lạm dụng Trong môi trường cạnh tranh gay gắt sẽ rất nguy hiểm nếuthông tin lọt vào tay đối thủ cạnh tranh Hệ thống kiểm soát nội bộ, thông qua cácquy trình kiểm soát của mình hạn chế một cách tối đa những tổn thất với đơn vị
1.1.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo quan điểm của IFAC cũng như Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa
Kỳ (AICPA), hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 3 bộ phận cơ bản cấu thành: Môitrường kiểm soát, Hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát
Bao gồm toàn bộ các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có tác động đếnviệc thiết kế, hoạt động và sự hữu hiệu của các chính sách và thủ tục kiểm soát củađơn vị Các nhân tố thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm:
Một là, Đặc thù về quản lý
Đặc thù về quản lý thể hiện qua nhận thức, quan điểm, triết lý và phongcách của người quản lý trong điều hành các hoạt động của đơn vị Những quanđiểm này có ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách, chế độ cũng như quy trìnhkiểm tra, kiểm soát trong đơn vị Một số nhà quản lý coi trọng vấn đề lợi nhuận cóthể sẵn sàng hành động mạo hiểm để đạt được mục tiêu Ngược lại, một số nhà quản
lý khác có thái độ dè dặt, thận trọng vì vậy có thể bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh.Những quan điểm khác nhau trong quản lý và điều hành tất yếu sẽ dẫn đến sự khácnhau trong xây dựng và áp dụng những chính sách và thủ tục kiểm soát
Đặc thù về quản lý còn được thể hiện ở cơ cấu quyền lực hay phân bổquyền lực trong đơn vị Ở một số đơn vị, việc quản lý tập trung và bị chi phối bởimột cá nhân Trong trường hợp này phẩm chất và năng lực của người nắm quyền cóảnh hưởng rất lớn đến chính sách và thủ tục kiểm soát Ngược lại ở một số đơn vịquyền lực được phân tán cho nhiều người trong bộ máy quản lý, vấn đề quan trọng
Trang 24lại là việc sử dụng quyền lực của những người được phân quyền theo hướng sửdụng đúng các quyền được giao, tránh lạm dụng quyền hạn.
Hai là, Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thực chất là sự phân chia nhiệm vụ, quyềnhạn và trách nhiệm giữa các thành viên trong đơn vị Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽbảo đảm cho các hoạt động trong đơn vị được thông suốt và hiệu quả, có khả năngngăn ngừa các vi phạm, loại bỏ những hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến saisót, gian lận Ngược lại, sự thiếu hợp lý trong việc bố trí cơ cấu tổ chức sẽ dẫn đến
sự lãng phí, chồng chéo hay bỏ sót hoặc sự lơ là thiếu trách nhiệm, từ đó dễ xảy racác sai phạm Như vậy bản thân cơ cấu tổ chức của đơn vị cũng ảnh hưởng đến cácchính sách cũng như các thủ tục kiểm soát tại đơn vị
Ba là, Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự bao gồm toàn bộ các chính sách, chế độ của đơn vị đốivới việc tuyển dụng, đánh giá, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật các nhân viên Mộtchính sách đúng đắn sẽ góp phần vào việc xây dựng một đội ngũ nhân viên tốt, làmgiảm những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc đào tạo, tuyển dụng, bố trícán bộ phù hợp với năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đồng thời mang tính
kế thừa và liên tục … được coi là một chính sách nhân sự phù hợp Con người làchủ thể của mọi hoạt động, vì lẽ đó mà chính sách nhân sự có ảnh hưởng quan trọngđến việc thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát Mọi chính sách thủ tục dùđúng đắn, chặt chẽ đến đâu cũng không phát huy được hiệu quả khi đội ngũ nhân sựthực thi yếu kém về trình độ, suy thoái về đạo đức và sa sút về tinh thần làm việc.Ngược lại, một chính sách nhân sự hữu hiệu sẽ khiến cho các chính sách, thủ tục kiểmsoát được tuân thủ một cách nghiêm túc, hạn chế đến mức thấp nhất những sai phạm
Bốn là, Công tác kế hoạch
Bao gồm hệ thống các kế hoạch và dự toán như kế hoạch sản xuất, tiêu thụ,tài chính cũng như các dự án, phương án chiến lược của bộ phận quản lý Hệ thống
Trang 25kế hoạch là một nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát Công tác kế hoạchđược tiến hành nghiêm túc, khoa học sẽ trở thành một công cụ kiểm soát hữu hiệu.
Năm là, Bộ phận kiểm toán nội bộ
Bộ phận KTNB là bộ phận độc lập trong đơn vị tiến hành kiểm tra và đánhgiá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ
Theo IFAC: “KTNB là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanhnghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá
và giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”
Là một nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ, bộ phận KTNB cungcấp một sự giám sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị Bộphận KTNB hoạt động hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được thông tin kịpthời và xác thực về các hoạt động, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịpthời điều chỉnh và bổ sung các thủ tục và quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quảhơn Để bộ phận KTNB phát huy tác dụng tốt:
Về tổ chức: Bộ phận KTNB phải không bị giới hạn phạm vi hoạt động,được giao quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động độc lập với các bộ phận đượckiểm tra
Về nhân sự: Phải tuyển chọn được những nhân viên có năng lực chuyênmôn và đạo đức nghề nghiệp đủ tiêu chuẩn để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán
Sáu là, Uỷ ban kiểm soát
Uỷ ban kiểm soát do HĐQT thành lập, thường bao gồm những người trong
bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý
và là những chuyên gia am hiểu lĩnh vực kiểm soát Ủy ban kiểm soát có nhiệm vụ
và quyền hạn sau:Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty; Kiểm tra và giámsát công việc của kiểm toán viên nội bộ; Giám sát tiến trình lập BCTC; Dung hoàbất đồng (nếu có) giữa Ban giám đốc và kiểm toán viên bên ngoài
Trang 26Bảy là Các nhân tố bên ngoài
Môi trường kiểm soát còn bao gồm các nhân tố bên ngoài, đó là nhữngnhân tố không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng lớn đếnthái độ, phong cách điều hành của các nhà quản lý cũng như sự thiết kế, vận hànhcác quy chế và thủ tục kiểm soát Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm: sự kiểm soátcủa các cơ quan chức năng nhà nước (cơ quan thuế, hải quan, tài chính, thống kê,kho bạc …), các chủ nợ, môi trường pháp lý, chính sách kinh tế vĩ mô …
1.1.2.2 Hệ thống thông tin kế toán
Là hệ thống dùng để thu thập, tính toán, phân loại, ghi sổ, xử lý tổng hợp vàlập báo cáo về các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị Hệ thống thông tin kế toáncủa đơn vị bao gồm:
Chứng từ kế toán:Bao gồm hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc và hướng
dẫn được lập để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm cơ sở pháp lý cho các
số liệu trên tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán
Tài khoản kế toán: Là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống kế toán
doanh nghiệp, hệ thống này bao gồm các tài khoản cấp 1 và cấp 2 dùng để phản ánhcác hoạt động kinh tế tại đơn vị Kiểm soát được luồng đi của các thông tin theo cácnội dung đã được phân loại
Sổ sách kế toán: Bao gồm các sổ kế toán chi tiết và tổng hợp được sử dụng
để ghi chép, hệ thống hoá và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo một trình
tự và phương pháp ghi chép nhất định Có nhiều phương pháp để xây dựng sổ kếtoán nhưng khi đã lựa chọn phương pháp nào thì đơn vị phải tổ chức sổ kế toán đầy
đủ theo phương pháp đó Một nguyên tắc thiết yếu khi ghi sổ kế toán là phải có đầy
đủ chứng từ hợp lý, hợp lệ
Báo cáo kế toán: Bao gồm các báo cáo phản ánh tổng quát, toàn diện tình
hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của đơn vị trong một kỳ hạch toán
Trang 27Thông qua việc quan sát, đối chiếu, tính toán và ghi chép các nghiệp vụkinh tế phát sinh, hệ thống kế toán không những cung cấp thông tin cho việc quản
lý mà còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động của đơn vị Chính vì vậy hệthống kế toán là một mắt xích, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống kiểmsoát nội bộ
Tính kiểm soát của hệ thống kế toán được thể hiện thông qua 3 giai đoạncủa quá trình kế toán đó là: Lập chứng từ kế toán, phản ánh vào sổ kế toán và lậpBCTC
Lập chứng từ kế toán là giai đoạn đầu của quá trình xử lý số liệu kế toán.Đây là giai đoạn hết sức quan trọng, việc lập chứng từ đầy đủ, hợp lý, hợp lệ vàphản ánh trung thực mọi nghiệp vụ phát sinh thì số liệu kế toán mới đảm bảo tínhchính xác và đáng tin cậy Thông qua giai đoạn lập chứng từ, kế toán có thể kiểmtra, phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm, bảo vệ tài sản, sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực của đơn vị
Phản ánh vào sổ kế toán là giai đoạn chính trong quá trình xử lý số liệu kếtoán, ở đây mọi nghiệp vụ phát sinh sẽ được ghi chép, phân loại, tính toán, tổng hợpvào sổ kế toán Hệ thống sổ có vai trò quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ.Các sổ chi tiết sẽ giúp các nhà quản lý thu thập thông tin để ra quyết định điều hànhđơn vị ngoài ra còn giúp tổng hợp, lưu trữ thông tin được khoa học và có hệ thống.Đóng vai trò là trung gian giữa chứng từ ban đầu và hệ thống báo cáo kế toán, sổsách kế toán là cơ sở để kiểm tra, đối chiếu các chứng từ
Lập báo cáo là giai đoạn cuối cùng của quá trình xử lý thông tin kế toánnhằm tổng hợp số liệu trên sổ kế toán thành những chỉ tiêu trên báo cáo kế toán.Thông tin thể hiện trên BCTC không đơn thuần chỉ là sự chuyển dịch số liệu từ sổ
kế toán mà còn phải phản ánh khái quát tình hình tài chính và kết quả kinh doanhcủa đơn vị và đồng thời phải được trình bày theo đúng các chuẩn mực kế toán vàcác quy định có liên quan
Trang 28Các thủ tục kiểm soát được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Theo nguyên tắc này, quyền hạn và trách nhiệm cần được phân chia chonhiều người trong một bộ phận hoặc một nhiều bộ phận trong một tổ chức Mụcđích của nguyên tắc này là không có một cá nhân hay một bộ phận nào được thựchiện một nghiệp vụ trọn vẹn từ khâu đầu đến khâu cuối Cơ sở của nguyên tắc này
là nhiều người cùng làm một công việc thì sai sót dễ phát hiện hơn và gian lận khóxảy ra hơn Việc phân công, phân nhiệm còn có tác dụng tạo nên sự chuyên mônhoá, tạo cơ chế kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau
Hai là, Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về trách nhiệm và quyền hạn đối vớimột số công việc trong quá trình quản lý nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vilạm dụng quyền hạn: như trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ với trách nhiệm ghi sổsách; trách nhiệm bảo quản tài sản với trách nhiệm ghi sổ kế toán
Ba là, Nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn
Uỷ quyền là sự phân quyền quản lý cho cấp dưới để giải quyết một số côngviệc trong phạm vi nhất định Phê chuẩn là biểu hiện cụ thể của việc quyết định vàgiải quyết một công việc trong phạm vi quyền hạn được giao Theo nguyên tắc nàyngười quản lý đơn vị không thể giải quyết mọi công việc, sự vụ trong đơn vị màphải uỷ quyền cho cấp dưới quyết định một số công việc trong một phạm vi nhấtđịnh Tuy nhiên người lãnh đạo vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc đó và vẫn
Trang 29phải duy trì một sự kiểm tra thích hợp Nguyên tắc này yêu cầu các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh đều được uỷ quyền cho các cán bộ cấp dưới phê chuẩn trong một phạm
vi nhất định
1.2 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.2.1 Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức cung cấp một danh mục cácdịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so vớibất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế Trong đó tín dụng là một khoản mục tàisản lớn và phản ánh hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) với bên đi vay Trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoảthuận, bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bêncho vay khi đến thời hạn thanh toán
Từ khái niệm trên có thể thấy bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sảntrên cơ sở hoàn trả với các đặc trưng cơ bản sau:
Một là, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm haihình thức là cho vay và cho thuê
Hai là, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyểngiao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trảđúng hạn Đây là yếu tố hết sức quan trọng trong quản lý tín dụng
Ba là, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nóicách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
Bốn là, trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở bên
đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán
Trang 30Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiềutiêu thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích quản trị.
Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành: chovay tiêu dùng cá nhân, cho vay SXKD, cho vay mua bán bất động sản …
Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành cácloại sau: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn
Dựa vào tín nhiệm của khách hàng có các hình thức cho vay như: cho vaykhông có tài sản đảm bảo, cho vay có tài sản đảm bảo
Dựa vào phương thức cho vay hoạt động tín dụng bao gồm: cho vay theomón vay, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng
Dựa theo xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng được phân chia thành: chovay trực tiếp và cho vay gián tiếp
Việc phân loại tín dụng góp phần cho việc phục vụ quản trị tốt hoạt độngtín dụng Chất lượng tín dụng được xem xét dưới nhiều góc độ từ phía ngân hàng,khách hàng và từ sự phát triển của nền kinh tế - xã hội
1.2.2 Rủi ro tín dụng và nguyên nhân gây rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngânhàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợkhông đúng hạn cho ngân hàng
Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập dựphòng (ban hành theo Quyết định Số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn
Trang 31thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy có thể nói rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ
mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không cókhả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay,chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh,bao thanh toán của ngân hàng
Hoạt động cho vay là hoạt động lớn nhất và chủ yếu của ngân hàng thươngmại, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập củangân hàng nhưng đây cũng đồng thời là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất Cóthể nói rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất trong thị trường tàichính Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậuquả nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng thương mại Xét về bản chất, rủi rotín dụng tại ngân hàng được phân loại như sau:
Một là, Rủi ro đọng vốn (Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn)
Khi thiết lập quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải thống nhất vềthời gian hoàn trả nợ vay Rủi ro đọng vốn xảy ra trong trường hợp đến hạn thanhtoán mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được khoản vốn vay Điều này sẽ dẫn tới việclàm đông cứng các khoản vốn tại ngân hàng, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụngvốn và gây khó khăn cho việc chi trả các khoản tiền gửi Trong trường hợp này,ngân hàng sẽ phải huy động vốn trên thị trường để bù đắp vốn cho vay chưa thu hồiđược, mất cơ hội cho vay, giảm hiệu quả sử dụng vốn và điều này ảnh hưởng đếnlợi nhuận của ngân hàng Hơn nữa ngân hàng là một tổ chức đi vay để cho vay.Chính vì thế khi huy động được vốn, ngân hàng phải lập tức thực hiện việc đầu tưcho vay Nếu khách hàng vay không hoàn trả đúng hạn sẽ gây cản trở cho ngânhàng trong việc thực hiện kế hoạch chi trả tiền gửi, điều này sẽ làm giảm khả năngthanh toán và uy tín của ngân hàng
Trang 32Hai là, Rủi ro bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn (Rủi ro không có khả năng trả nợ)
Đây là loại rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay mất khả năngthanh toán nợ vay Trong trường hợp này, ngân hàng chỉ có thể thu hồi vốn vaythông qua việc thanh lý tài sản đảm bảo Tuy nhiên việc này cũng gặp nhiều khókhăn do các nguyên nhân như giá trị tài sản thanh lý giảm nhiều so với thời gianthẩm định ban đầu hoặc giá trị của tài sản thanh lý thường phải chia sẻ với các chủ
nợ ưu tiên khác Do đó giá trị tài sản thu hồi không tương xứng với khoản nợ vay,ngân hàng phải chịu tổn thất một phần hoặc toàn bộ số tiền cho vay Nhìn chungđây là loại rủi ro phức tạp và là gánh nặng thực sự đối với các ngân hàng Rủi ronày sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí, dòng tiền, doanh thu và khả năng sinh lời cũngnhư uy tín của ngân hàng
1.2.2.2 Nguyên nhân gây rủi ro tín dụng
Đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là gắn liền với rủi ro Trênthực tế có rất nhiều nguyên nhân gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng Dưới đây làmột số nguyên nhân chủ yếu
Nguyên nhân chủ quan
Tín dụng là lĩnh vực đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng nhưngđồng thời cũng là hoạt động đem lại rủi ro lớn Nhiều nhà quản lý ngân hàng thườngchấp nhận đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Vì thế có thể khẳng định một trongnhững nguyên nhân gây rủi ro tín dụng xuất phát từ yếu tố chủ quan hay chính là từphía ngân hàng Cụ thể:
Thứ nhất, Chính sách tín dụng không phù hợp
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, đóng mộtvai trò quan trọng quyết định chất lượng tín dụng của ngân hàng Nếu một chínhsách tín dụng hợp lý sẽ khai thác hết lợi thế của ngân hàng, ngược lại nếu quá nhấnmạnh về lợi nhuận của khoản mục cho vay sẽ dễ tạo ra các khoản vay không lành
Trang 33mạnh Bên cạnh đó, quy định về tỷ lệ cho vay nếu có sơ hở sẽ tạo điều kiện chokhách hàng chiếm dụng vốn của ngân hàng Hệ quả của chính sách sẽ dẫn tới rủi rotín dụng cho ngân hàng.
Thứ hai, Cán bộ tín dụng thiếu đạo đức, yếu về chuyên môn.
Do đặc thù của ngành, cán bộ tín dụng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề,nhiều vùng, thậm trí nhiều quốc gia Để thực hiện tốt công việc đòi hỏi họ phải amhiểu khách hàng, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng và phải có khả năng dự báocác vấn đề kinh tế- xã hội có liên quan đến khoản vay Điều này đòi hỏi một cán
bộ tín dụng phải được đào tạo kỹ, liên tục và toàn diện Trong trường hợp cán bộyếu về chuyên môn nghiệp vụ sẽ dễ dàng dẫn tới rủi ro cho khoản vay
Đạo đức của cán bộ tín dụng cũng là một vấn đề đáng quan tâm Thực tếcho thấy, nhiều khoản vay lớn kém chất lượng, tồn đọng hay không có khả năng thuhồi đều xuất phát từ vấn đề đạo đức của cán bộ Vì vụ lợi, buông lỏng quản lý nêntrong quá trình thẩm tra, xét duyệt cho vay họ không thực hiện đúng các quy địnhhiện hành, tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng thậm trí thông đồng với khách hàngrút ruột ngân hàng
Thứ ba, Buông lỏng công tác quản lý sau cho vay:
Việc kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn vay sau giải ngân là mộttrong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngânhàng nói chung nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữakhách hàng và ngân hàng đảm bảo khoản vay sẽ được hoàn trả Tuy nhiên trongthời gian qua nhiều ngân hàng chưa thực hiện tốt công tác giám sát và quản lý saucho vay gây rủi ro cho ngân hàng Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gâyphiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tinquản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp đượckịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng thương mại yêu cầu
Trang 34Thứ tư, Trao đổi thông tin giữa các ngân hàng còn nhiều hạn chế
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt đi vay để cho vay, do vậy vấn
đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phảihợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản
lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngânhàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụthể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiềungân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thìrủi ro chia đều cho tất cả các ngân hàng
Thông tin về khách hàng không đầy đủ, không chính xác dẫn đến sự mấtcân xứng về thông tin giữa cán bộ tín dụng và khách hàng, khiến cho việc đưa raquyết định cho vay không phù hợp
Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối năm 1997, khi tập đoànEpco – Minh Phụng sụp đổ, vụ án kinh tế lớn nhất trong thập niên 90 đã tác độngmạnh vào hệ thống ngân hàng thương mại, sự thiệt hại vật chất lên đến hàng ngàn tỷđồng và thời gian để giải quyết những hậu quả để lại phải mất đến 10 năm Đó cũngchính là minh chứng về nguyên nhân chủ quan gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Nguyên nhân khách quan
Bên cạnh những nguyên nhân gây xuất phát từ phía ngân hàng, rủi ro tíndụng cũng có nguyên nhân từ phía khách hàng vay, nguyên nhân do môi trườngkinh tế kém ổn định, môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Thứ nhất, Khách hàng không có khả năng hoàn trả vốn vay
Nguyên nhân từ phía người vay là một trong những nguyên nhân chính gâyrủi ro tín dụng cho ngân hàng Với các đối tượng khác nhau, nguyên nhân gây rủi rotín dụng cũng có thể khác nhau do tính đặc thù của từng loại khách hàng
Đối với khách hàng cá nhân, phần lớn khoản cấp tín dụng cho cá nhân lànhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Với những khoản vay này, nguồn trả nợ chính là
Trang 35nguồn thu nhập ổn định của họ Vì vậy bất cứ nguyên nhân nào gây tính mất ổnđịnh về thu nhập của người vay đều có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng Có thể kểđến một vài nguyên nhân cụ thể như: người vay bị thất nghiệp, người vay gặp sự cốbất thường trong cuộc sống, hoặc dự tính không chính xác thu nhập có thể sử dụng
bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinhdoanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản củacác phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế Bêncạnh đó, những biến đổi về thị hiếu tiêu dùng trên thị trường cũng gây ảnh hưởngđáng kể đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Rủi ro do tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Rủi
ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở chỗ doanh nghiệp không thể đối phó vớicác nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ Rủi ro tài chính diễn ra cùng vớimức sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Đặc điểmchung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ,
tỷ trọng khoản Nợ phải trả chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn Ngoài ra, thói
Trang 36quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được cácdoanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà cácdoanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn làthực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệpdựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xácthực Điều này cũng dễ dẫn tới rủi ro cho các ngân hàng khi quyết định các khoảncho vay
Thứ hai, Môi trường kinh tế không ổn định
Môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tài chính của người đivay, thành công hay tổn thất của người cho vay Trong điều kiện hiện nay do sựbiến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới tác động lớnđến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vaynói chung Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấugia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanhnghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơthua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sựcạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trườnghội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếukém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lựctài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Bên cạnh đó, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến sản xuất bị đình trệ, ứđọng vốn làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của người vay Trong điều kiệnnền kinh tế phát triển người vay hoạt động tốt do điều kiện kinh tế thuận lợi, nhưngtrong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả của người vay giảm sút Lạm phátcũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến công việc kinh doanh làm cho cá nhân và doanhnghiệp gặp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng trên thị trường tăng cao,
Trang 37nợ không thay đổi tương xứng với sức mua của đồng tiền vì vậy đã trở thành gánhnặng cho người đi vay.
Ngoài ra, cạnh tranh là một thuộc tính tất yếu của nền kinh tế thị trường,các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ nhữngngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó luôn có sự chuyển dịch vốn từngành này qua ngành khác Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã pháttriển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch phù hợp, phâncông lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hộinghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và việc phân bổ vốn đầu tư khônghợp lý giữa các ngành, khu vực Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu
tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia vàgián tiếp gây rủi ro cho các doanh nghiệp là khách hàng chủ yếu của ngân hàng
Thứ ba, Môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanhbao gồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp đảm bảo cho pháp luật được thực thi
và ý thức chấp hành pháp luật Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự tác động của bayếu tố tạo thành môi trường pháp lý nói trên Các yếu tố này có quan hệ đan xen vàtác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách tổng hợp, hay nói cáchkhác chúng mang tính đồng bộ cao Nếu các yếu tố này tách rời nhau sẽ tạo ra sơ hởgây rủi ro cho các ngân hàng Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạonên môi trường cho vay của các ngân hàng thương mại
Trong thời gian qua,Việt Nam đã rất chú trọng đến việc tạo ra môi trườngpháp lý lành mạnh cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động củacác ngân hàng nói riêng, tuy nhiên qua thực tế hoạt động cho thấy hệ thống văn bảnpháp luật trong lĩnh vực ngân hàng còn thiếu, chưa đồng bộ và việc triển khai trongthực tế một số quy định còn nhiều khó khăn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn cho thấy rủi ro tín dụngcủa ngân hàng có thể do nhiều nguyên nhân Việc tìm hiểu các nguyên nhân cụ thể
Trang 38gây rủi ro tín dụng là cơ sở để các ngân hàng thực hiện các giải pháp trong việc hạnchế và phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu.
1.2.3 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng, quyết định sự thành bạicủa một doanh nghiệp nói chung và một tổ chức tín dụng nói riêng Theo định nghĩacủa Viện kiểm toán quốc tế: Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp bao gồm cácchính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàngđược thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của ngân hàng vàđảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro
Hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng được thiết lập nhằm các mục tiêu sau:Một là, bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật, các quy định,quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động cũng như các chuẩn mực đạo đức do ngânhàng đặt ra Đặc thù về tổ chức dẫn đến sự phân quyền mạnh mẽ trong nội bộ ngânhàng Do đó, ngoài việc đòi hỏi phải chấp hành pháp luật của nhà nước, ban quan trịngân hàng cũng yêu cầu rất ngặt nghèo đối với việc tuân thủ các quy chế nội bộ.Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ đảm bảo cho mọi thành viên trong hệthống tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, quy trình, quy chế nội bộ do banlãnh đạo thiết lập áp dụng cho từng hoạt động của ngân hàng Tín dụng là mộtnghiệp vụ mang tính phức tạp và rủi ro cao, do đó kiểm soát việc tuân thủ quy trìnhtín dụng là một biện pháp cần thiết để hạn chế tổn thất cho ngân hàng
Hai là, đảm bảo mức độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin tàichính và phi tài chính Hoạt động trên một phạm vi rộng với mạng lưới các chinhánh và phòng giao dịch, hàng ngày ngân hàng tiếp nhận một khối lượng thông tinrất lớn Các nhà quản lý ngân hàng cần có thông tin chính xác, cập nhật để ra nhữngquyết định quan trọng Do đó vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với việcđảm sự trung thực của thông tin là rất quan trọng
Trang 39Ba là, bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực kinh tế của ngânhàng một cách hiệu quả Cho vay là khoản mục sinh lời chủ yếu của ngân hàngthương mại, rủi ro từ khoản mục này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng Do đó ngân hàng phải đưa vấn đề an toàn tài sản, đặc biệt là
an toàn trong hoạt động tín dụng lên hàng đầu Hệ thống kiểm soát nội bộ được tổchức tốt và phù hợp giúp ngân hàng bảo vệ tài sản và góp phần đem lại hiệu quảcho hoạt động kinh doanh
Bốn là, hỗ trợ thực hiện các mục tiêu do ban lãnh đạo ngân hàng đề ra.Hệthống kiểm soát nội bộ vững mạnh đem lại hiệu quả và hiệu năng cho các hoạtđộng, giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng
Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mạigồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát
Một là, Môi trường kiểm soát là nền tảng cho toàn bộ các yếu tố của hệ thống
kiểm soát nội bộ, bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng, là nhữngnhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thốngkiểm soát nội bộ của ngân hàng Các nhân tố trong môi trường kiểm soát gồm:
Thứ nhất, Đặc thù về quản lý:
Đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm, triết lý và phong cách khácnhau trong điều hành hoạt động ngân hàng của các nhà quản lý Quan điểm và ý chí,trình độ, tầm nhìn của các nhà quản lý cao cấp của ngân hàng có ảnh hưởng sâu sắc
và quyết định đến chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như định hướngcho mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạtđộng kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động của một ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vàonhà quản lý tại ngân hàng đó Bởi lẽ HĐQT, Ban giám đốc là người đề ra các chínhsách, kế hoạch và quy chế nội bộ áp dụng cho các hoạt động của ngân hàng Nếucác nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ là quan trọng và khôngthể thiếu được đối với mọi hoạt động trong ngân hàng thì mọi thành viên của ngânhàng đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọi
Trang 40quy định cũng như chế độ đề ra để giảm thiểu tới mức tối đa các rủi ro gây ra chongân hàng Ngược lại, nếu các nhà quản lý theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, bất chấprủi ro sẽ khiến cho các thành viên trong ngân hàng hiểu rằng kiểm soát nội bộ chỉ làyếu tố thứ cấp, thì chắc chắn các quy chế, quy trình về kiểm soát nội bộ sẽ khôngđược vận hành một cách có hiệu quả và làm giảm tính hữu hiệu của hệ thống kiểmsoát nội bộ.
Trong quản lý tín dụng, Ban lãnh đạo ngân hàng nhiệm vụ xây dựng chiếnlược kinh doanh và chính sách tín dụng thể hiện quan điểm tài trợ của ngân hàng.Hội đồng Quản trị nhận thức rõ ràng những nguy cơ gây rủi ro và đề ra các mức độrủi ro tín dụng có thể chấp nhận Ban Tổng Giám đốc tiến hành các bước đi cầnthiết để thực thi các chiến lược và chính sách của Hội đồng Quản trị như phê duyệt,xây dựng các quy trình để nhận biết, định lượng, theo dõi và kiểm soát các rủi ro tíndụng, duy trì một cơ cấu tổ chức phân công rõ ràng trách nhiệm, thẩm quyền và cácquan hệ báo cáo; đảm bảo các trách nhiệm đã giao phó được thực hiện có hiệu quả,thiết lập các chính sách kiểm toán nội bộ hợp lý và theo dõi sự phù hợp cũng nhưtính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi rocho ngân hàng đảm bảo an toàn vốn, hoạt động hiệu quả
Thứ hai, Cơ cấu tổ chức quản lý::
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hoá với nhữngtrách nhiệm và quyền hạn nhất định, có mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm thựchiện chức năng khác nhau trong quản lý Xây dựng cơ cấu tổ chức của hệ thốngngân hàng là việc phân chia nó thành những bộ phận với chức năng và quyền hạn cụthể Một cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh đòi hỏi các bộ phận đều có những vị trí chủ chốt
có đủ năng lực kiểm soát hoạt động và thông tin kịp thời đến ban giám đốc Một cơcấu tổ chức hợp lý không chỉ tạo ra môi trường kiểm soát tốt mà còn còn góp phầnngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động của ngânhàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng