Thời lượng tiết học, mỗi tiết học tương đương 45 phút: - Nêu được mối quan hệ chức năng của răng, bộ răng sữa, bộ răng vĩnh viễn; - Gọi tên được các răng sữa và răng vĩnh viễn; - Mô tả đ
Trang 1TRUNG TÂM ĐÀO TẠO NHA KHOA
MÔN HỌC GIẢI PHẪU RĂNG
MỤC LỤC
Trang 2MÔ TẢ MÔN HỌC: 3
1 KẾT QUẢ CỤ THỂ SAU KHI HOÀN THÀNH MÔN HỌC: 3
2 NỘI DUNG MÔN HỌC: 4
Bài 1 GIỚI THIỆU MÔN HỌC VÀ CÁCH GỌI TÊN RĂNG 5
Bài 2 CẤU TRÚC CỦA RĂNG 10
Bài 3 CÁC THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA 14
Bài 4 GIẢI PHẪU NHÓM RĂNG TRƯỚC 20
Bài 5 GIẢI PHẪU NHÓM RĂNG PHÍA SAU 40
Bài 6 PHƯƠNG PHÁP HỌC GIẢI PHẪU 63
Bài 7 THỰC HÀNH VẼ RĂNG 66
Bài 8 THỰC HÀNH ĐIÊU KHẮC RĂNG BẰNG THẠCH CAO 72
Trang 3MÔ TẢ MÔN HỌC:
- Môn học cung cấp kiến thức căn bản về hình thái và mối quan hệ chức năng củarăng, bộ răng sữa, bộ răng vĩnh viễn
- Thuật ngữ giải phẫu
- Hướng dẫn các phương pháp gọi tên răng và một số thuật ngữ giải phẫu răng
- Giải phẫu chung của các nhóm răng, đặc điểm riêng biệt của từng răng
- Sau khi học xong học viên có thể nhận diện răng, mô tả giải phẫu từng răng và tạomẫu giải phẫu từng răng trên bản vẽ, mẫu thạch cao và vật liệu sáp theo tỉ lệ quyđịnh
Thời lượng (tiết học, mỗi tiết học tương đương 45 phút):
- Nêu được mối quan hệ chức năng của răng, bộ răng sữa, bộ răng vĩnh viễn;
- Gọi tên được các răng sữa và răng vĩnh viễn;
- Mô tả được giải phẫu răng cửa giữa hàm trên;
- Mô tả được giải phẫu răng cửa bên hàm trên;
- Mô tả được giải phẫu răng nanh hàm trên;
- Mô tả được giải phẫu răng cối nhỏ 1 và 2 hàm trên;
- Mô tả được giải phẫu răng cối lớn 1 và 2 hàm trên;
- Mô tả được giải phẫu răng cửa giữa và bên hàm dưới;
- Mô tả được giải phẫu răng nanh hàm dưới;
- Mô tả được giải phẫu răng cối nhỏ 1 và 2 hàm dưới;
- Mô tả được giải phẫu răng cối lớn 1 và 2 hàm dưới;
- Vẽ được giải phẫu các răng vĩnh viễn;
- Tạo được hình thể răng vĩnh viễn
Trang 42.NỘI DUNG MÔN HỌC:
- Mối quan hệ chức năng của bộ răng sữa và bộ răng vĩnh viễn;
- Các thuật ngữ giải phẫu;
- Đọc tên các răng;
- Răng cửa giữa hàm trên;
- Răng cửa bên hàm trên
- Răng nanh hàm trên;
- Răng cối nhỏ 1 và 2 hàm trên;
- Răng cối lớn 1 và 2 hàm trên;
- Răng cửa giữa và cửa bên hàm dưới;
- Răng nanh hàm dưới;
- Răng cối nhỏ 1 và 2 hàm dưới;
- Răng cối lớn 1 và 2 hàm dưới
Trang 5Bài 1 GIỚI THIỆU MÔN HỌC VÀ CÁCH GỌI TÊN RĂNG
Cơ quan răng: Cơ quan răng bao gồm
răng và nha chu (quanh răng), là đơn vị
hình thái và chức năng của răng
Răng là bộ phận trực tiếp nhai nghiền
thức ăn, nha chu là bộ phận giữ và nâng
đỡ răng, đồng thời là bộ phận nhạy cảm,
tiếp nhận và dẫn truyền lực nhai
Răng gồm có: Men, ngà, và tủy
Nha chu bao gồm: Xê măng (còn gọi là
xương chân răng, men răng), dây chằng,
xương ổ răng, nướu (lợi)
Hình 1.1 - Mô tả giải phẫu
Bộ răng là một thể thống nhất thuộc hệ thống nhai, tạo thành bởi sự sắp xếp có tổchức của các cơ quan răng
2 Tầm quan trọng của môn học giải phẫu răng:
Giải phẫu răng là môn nha khoa cơ sở cho các môn học nha khoa khác Giải phẫurăng mô tả hình thái răng và bộ răng bình thường, làm cơ sở để nhận biết về mặtthẩm mỹ và chức năng của từng răng làm căn cứ để phục hình răng cho bệnh nhân.Bằng việc cung cấp các kiến thức về hình thái và đặc điểm hình thái gắn với chứcnăng, giải phẫu răng ngày nay không chỉ là môn học về những chi tiết giải phẫu đơnthuần, khô cứng mà còn là môn học giúp người học bắt đầu vận dụng kiến thức đểquan sát
Học giải phẫu răng các bạn sẽ nhận thấy được vẻ đẹp tuyệt vời của từng chiếc răng tựnhiên, nó hoạt động ra sao, cấu tạo của nó có ý nghĩa như thế nào đối với đời sốngcon người và từng cá thể riêng rẽ Có thể nói giải phẫu răng như gốc rễ đối với mộtngười kỹ thuật viên phục hình Nếu có chìa khóa giải phẫu hình thể và sinh lý lý
Trang 6tưởng nó sẽ làm bàn đạp cho người kỹ thuật viên có thể đạt những thành công đỉnhcao trong nghề nghiệp.
Khi các bạn học và nghiên cứu cuốn sách này,
bạn sẽ nhanh chóng nhận diện được các điểm
chung các thành phần cấu trúc của răng Từ
đó các điểm khó trong phần giải phẫu răng sẽ
biến mất, điều bí ẩn sẽ lộ ra giúp các bạn dễ
dàng hiểu và nhận biết các đặc điểm đồng
nhất ở các răng
Khi đã nắm bắt được bí ẩn bạn sẽ thấy tất cả
các răng đều có điểm giống nhau ở phần cấu
trúc cơ bản Chúng chỉ khác nhau một chút về
hình dạng của các thành phần cấu trúc đó
Sau khi đã nắm rõ lý thuyết giải phẫu răng,
yêu cầu đối với các bạn đó là phải nhận diện
và vẽ lại được các đặc điểm giải phẫu đã được
mô tả Cuối cùng các bạn sẽ học về sự sắp
xếp, bố trí của nhóm răng phía trước trong
miệng và cách sắp xếp sao cho chúng đạt
được tính thẩm mỹ cao nhất Hình 1.2 - Cung răng hàm trên
và hàm dưới
II GỌI TÊN RĂNG:
Ngoài việc biết tên răng, bạn còn phải hiểu được hệ thống đọc tên răng theo số tựnhiên Hệ thống số tự nhiên là hình thức rút gọn định rõ một cái răng hoặc nhómrăng
Hệ thống đọc tên răng phổ biến:Đây là hệ thống
được sử dụng phổ biến nhất ở Hoa Kỳ Hãy nhớ
rằng nha sĩ ngồi ở bên phải của bệnh nhân, do
vậy bạn sẽ bắt đầu đếm răng từ nơi gần nhất với
nha sĩ, thế nên sẽ bắt đầu từ răng cối lớn thứ ba
bên phải hàm trên là số 1, từ đó đếm lần lượt
theo thứ tự đường vòng cung của hàm cho tới
răng cối lớn thứ ba bên trái hàm trên là răng số
16
Tiếp tục đếm thẳng xuống cùng phía ở hàm dưới
là răng cối lớn thứ ba bên trái hàm dưới là răng
số 17, cứ thế tiếp tục đếm ngược lại lần lượt
theo thứ tự của vòng cung hàm dưới cho tới số
Trang 732 là răng cối lớn thứ ba bên phải hàm dưới.
(Hình 1.3)
Hình 1.3
Hệ thống đọc tên phổ biến
1 Hệ thống đọc tên quốc tế:
Hầu hết ở các nơi trên thế giới sử dụng hệ thống
đọc số quốc tế Ở hệ thống này miệng được chia
ra làm bốn bán cung hàm và răng được bắt đầu
đánh số theo từng bán cung
Bắt đầu với bán cung gần nhất với nha sĩ, nha sĩ
ngồi bên phía phải của bệnh nhân Bán cung thứ
nhất là một nửa bên phải của hàm trên Bắt đầu
đếm từ đường giữa (midline), răng cửa giữa chính
là số 1, rồi tiếp tục đếm ngược vào trong cho tới
răng cối lớn thứ ba chính là răng số 8 (Hình 1.4)
Với hệ thống đọc số quốc tế, bạn đọc số qui định
cho cung răng trước rồi mới đến số răng
Hình 1.4 – Hệ thống đọc tên
quốc tế
Ví dụ: Răng 1-1 là răng cửa giữa bên phải hàm trên Răng 1-8 là răng cối lớn thứ babên phải hàm trên Răng 4-1 là răng cửa giữa bên phải hàm dưới Răng 4-5 là răng cốinhỏ thứ hai bên phải hàm dưới
Nha sĩ sử dụng hệ thống đọc số quốc tế để tạo khung bảng (hài hòa với miệng bệnhnhân), và khung bảng này tương tự với hình 1.4 Khung bảng này được vẽ theo hìnhảnh bạn ngồi trước bệnh nhân và bạn nhìn vào răng của bệnh nhân Hãy học thuộcbảng này và tự vẽ ra được
2 Hệ thống đọc số của Palmer:
Hệ thống đọc số răng thứ ba đó là Palmer, hoặc còn
gọi là “hệ thống quân đội” bởi đây là hệ thống được
bên quân đội chọn và sử dụng Hệ thống này ít được
sử dụng ở Hoa Kỳ, nhưng vẫn được sử dụng ở nhiều
nước trên thế giới
Theo hệ thống này miệng được chia thành các bán
cung và số răng được đọc theo từng cung một Bắt
đầu bằng đường giữa, các răng cửa giữa là số 1, từ
đó đọc ngược lại vào trong cho tới răng cối lớn thứ
ba là răng số 8
Số răng được đọc theo tên của bán cung tương ứng
Trang 8Ví dụ: Răng cửa giữa hàm trên bên trái là răng “răng
số 1 hàm trên bên trái”, trong khi răng cối lớn thứ
nhất hàm dưới bên phải lại được gọi là “răng số 6
hàm dưới bên phải”
Hình 1.5 – Hệ thống đọc tên
theo quân đội
Để viết số răng, người ta vẽ một góc phải thể hiện cho một bán cung và đánh số răngvào đó Góc được vẽ từ góc nhìn của người quan sát (bảng khung dưới đây là ví dụ).Một số nha sĩ vẫn thích sử dụng cách nói tắt tên của bán cung như “UR3” – răng số babên phải hàm trên hoặc “LL4” – răng số 4 bên trái hàm dưới
3 Hệ thống đọc tên răng sữa:
Ở phần này chúng tôi giới thiệu phần đọc tên đối với răng sữa để các bạn tham khảo,mặc dù thực tế công việc của kỹ thuật viên phục hình răng chủ yếu làm việc với cácrăng vĩnh viễn Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt các bạn sẽ làm việc chocác khách hàng nhí, và việc gọi tên theo một chuẩn nhất định cũng là điều bắt buộcvới mỗi kỹ thuật viên
Hàm răng sữa của trẻ có đặc trưng có số răng ít hơn răng vĩnh viễn, chỉ có 20 chiếc.Nhưng chúng không kém phần quan trọng trong việc giúp các bạn nhỏ có một hàmrăng lý tưởng sau này
Về cơ bản chúng ta cũng gọi tên theo các cách truyền thống (Lưu ý: Hàm răng sữa chỉ
có số từ 1 đến 20) Ở đây chúng tôi xin giới thiệu hai cách gọi tên phổ biến đối vớihàm răng sữa, các cách gọi khác tương tự
Răng cửa giữa sữa hàm trên.Răng cửa bên sữa hàm trên.Răng nanh sữa hàm trên
Răng cối sữa 1 hàm trên
Răng cối sữa 2 hàm trên
Răng cối sữa 2 hàm dưới
Răng cối sữa 1 hàm dưới
Răng nanh sữa hàm dưới
Răng cửa bên sữa hàm dưới.Răng cửa giữa sữa hàm dưới Hình 1.6 – Gọi tên hàm răng sữa
Sơ đồ răng theo cách gọi tên quốc tế
Trang 9Đối với hàm răng sữa cách gọi tương tự, số cung trước tiếp đến là số răng, nhưng sốcung hàm lại đánh từ 5 đến 8.
Vùng 5: Cho tất cả các răng hàm trên bên phải
Vùng 6: Cho tất cả các răng hàm trên bên trái
Vùng 7: Cho tất cả các răng hàm dưới bên trái
Vùng 8: Cho tất cả các răng hàm dưới bên phải
Ví dụ: Răng nanh hàm trên bên phải có tên quốc tế là răng 5.3
Trang 10
Bài 2 CẤU TRÚC CỦA RĂNG
Có một số đặc điểm đặc trưng về cấu trúc bên trong của răng mà bạn cần phải nắmvững; bởi tất cả các răng nhóm trước và nhóm sau đều có cùng cấu trúc cơ bản Ở đâychúng tôi lấy răng cửa giữa hàm trên và răng cối lớn thứ nhất hàm trên làm cơ bản để
so sánh và nghiên cứu
I CẤU TRÚC CỦA RĂNG
1 Các phần của răng
Mỗi răng có hai phần: Thân răng và chân răng Giữa thân răng và chân răng là đường
cổ răng (cổ răng giải phẫu), còn gọi là đường nối men xe-măng Thân răng được baobọc bởi men răng, chân răng được xê măng bao phủ
Men chằng chân răng
Dây chằng nha chu
Chóp chân răng
Hình 2.1 – Cơ quan răng
Hình 2.2 – Thân răng lâm sàng Hình 2.3 – Thân răng giải phẫuNướu răng viền xung quanh cổ răng tạo thành một bờ, gọi là cổ răng sinh lý Phầnrăng được nhìn thấy trong miệng gọi là thân răng lâm sàng Cổ răng sinh lý thay đổitùy theo nơi bám và bờ của viền nướu, khi tuổi càng cao thì nơi này càng có khuynhhướng di chuyển dần về phía chóp răng Nhiều trường hợp bệnh lý, nướu răng có thể
bị tụt, làm thân răng (lâm sàng) bị ngắn lại hoặc dài ra
Phần thân răng
Phần Chân Răng
Trang 112 Cấu tạo của răng:
Bao gồm men răng, ngà răng (mô cứng) và tủy răng (mô mềm)
a Men răng:
Là thành phần cứng nhất cơ thể, gồm 96% vô cơ,
chủ yếu là Hydroxy apatit, 3% nước, 1% hữu cơ
Men bao phủ thân răng Hình dáng và bề dày của
men được xác định từ trước khi răng mọc ra, trong
đời sống men răng không có sự bồi đắp thêm mà
chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật
lý hóa học trong môi trường miệng
Hình 2.4 – Men răng
b Ngà răng:
Ít cứng hơn men răng, gồm 70% vô cơ, 30% hữu
cơ và nước, ngà liên tục từ thân đến chân răng,
tận cùng ở chóp răng (Apex), trong lòng ngà răng
có chứa buồng tủy và ống tủy Ngà có cảm giác
vì chứa các ống thần kinh
Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt
động của nguyên bào ngà Ngà răng có xu hướng
ngày càng dày về phía hốc tủy, làm hẹp dần ống
tủy
Hình 2.5 - Ngà răng
c Tủy răng:
Là mô lỏng lẻo trong buồng và ống tủy, là đơn vị
sống chủ yếu của răng Trong tủy có mạch máu,
thần kinh, bạch mạch
Hình 2.6 - Tủy răng
II BỘ PHẬN NÂNG ĐỠ RĂNG (NHA CHU, QUANH RĂNG):
Bộ phận nâng đỡ răng bao gồm xương ổ răng, xê măng, dây chằng nha chu và nướu(lợi) răng
1 Xương ổ răng:
Trang 12Là một mô xốp, bên ngoài được bao bọc bằng màng xương, nơi nướu răng bám vào.Xương ổ răng tạo thành một huyệt, có hình dáng và kích thước phù hợp với chân răng.
Bề mặt xương ổ răng, nơi đối diện với chân răng, là mô xương đặc biệt và có nhiều lỗthủng để cho mạch máu và dây thần kinh từ xương xuyên qua nuôi dây chằng nha chu,đặc biệt phần này gọi là xương ổ chính danh
Xương ổ răng là một mô khoang chứa trong hàm
để chứa răng Nó gắn kết với chân răng bởi hệ
thống dây chằng nha chu
Nền xương ổ răng không phân biệt được với
xương hàm Chiều cao xương ổ răng thay đổi tùy
theo tuổi và tùy theo sự lành mạnh bệnh lý của
mô nha chu Khi răng không còn trên xương hàm
thì xương ổ răng và các thành phần của nha chu
cũng bị tiêu đi
Hình 2.7 - Xương ổ răng
2 Xê măng (men chân răng):
Là mô đặc biệt, hình thành cùng với sự hình
thành chân răng, phủ mặt ngoài ngà chân răng
Men chân răng (Cementum) là một lớp rất
mỏng bao gồm các mô được sản xuất bởi các tế
bào được gọi là cementoblasts
Xê măng được bồi đắp thêm ở phía chóp chủ
yếu để bù trừ sự mòn mặt nhai, được coi là hiện
tượng “mọc răng suốt đời” hay “trồi mặt nhai”
Và nó có thể bị tiêu biến trong một số trường
hợp bất thường hay bệnh lý
Hình 2.8 - Xê măng
3 Dây chằng nha chu:
Là những bó sợi liên kết, dày khoảng 0,25mm;
một đầu bám vào xê măng còn đầu kia bám vào
xương ổ chính danh
Dây chằng nha chu là cầu nối giữa xương ổ răng
với men chân răng
Dây chằng nha chu có nhiệm vụ giữ cho răng gắn
vào xương ổ răng và đồng thời có chức năng làm
vật đệm, làm cho mỗi răng có sự xê dịch nhẹ độc
lập với nha chu trong khi ăn nhai, giúp lưu thông
máu, truyền giảm áp lực và truyền lực để tránh tác
dụng có hại của lực nhai đối với răng và nha chu
Hình 2.9 – Dây chằng nha
chu
Trang 134 Nướu răng:
Nướu răng là các mô mềm màu hồng bao bọc răng
và xương hàm Nó gồm hai phần: Phần niêm mạc
miệng phủ lên xương hàm (nướu dính); phần niêm
mạc miệng phủ lên cổ răng (nướu rời) Nướu răng
bảo vệ răng tránh bị nhiễm vi khuẩn nhất là tại
đường giao nhau của nó với răng
Hình 2.10 – Nướu răng
Trang 14Bài 3 CÁC THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA
Ngược lại của phía gần hoặc là phía hướng về phía sau của răng sau
Phía trong (phía lưỡi):
Là phía hướng về khoang miệng chính thức, đối với răng hàm trên, còn gọi làphía khẩu cái
Trục răng là một đường thẳng tưởng tượng xuyên
qua đường giữa tại phần dài nhất của răng, trục
kéo dài từ rìa cắn tới nướu.
Trong công việc hàng ngày dù tái tạo thẩm mỹ đối
với phục hình tháo lắp, cố định hay chỉnh nha thì
hướng và trục của răng chính là yếu tố quyết định
sản phẩm của các bạn có đạt được thẩm mỹ, chức
năng và sinh lý tự nhiên hay không, vì vậy chúng
tôi cũng rất lưu ý các bạn cần nắm vững phần này Hình 3.1 - Trục răngNgoài ra, một số thuật ngữ định hướng khác cũng được dùng rất phổ biến: Phía nhai,phía nướu, phía chóp…
II CÁC THUẬT NGỮ GIẢI PHẪU:
1 Thân răng:
a Các mặt, cạnh, góc của thân răng
- Mặt ngoài (buccal): Mặt hướng về phía
ngoài tức là hướng về phía môi (mặt
môi) của răng trước hay hướng về phía
má (mặt má) của răng sau
Hình 3.3 Các mặt của răng cối
Trang 15- Mặt trong (lingual): Mặt hướng về phía
trong tức là hướng về phía lưỡi (mặt
lưỡi) Riêng đối với răng hàm trên, còn
gọi là mặt khẩu cái
- Mặt gần (mesial): Mặt hướng về phía
đường giữa của răng trước hay hướng
về phía trước của răng sau
- Mặt xa (distal): Mặt hướng về phía xa
đường giữa của răng trước hay hướng về
phía sau của răng sau
- Mặt bên: Là các mặt của một răng hướng
về các răng kế cận trên cùng một cung
răng Cả mặt gần và mặt xa được gọi
chung là mặt bên
- Mặt nhai - mặt chức năng (occlusal): Mặt
nhai là mặt mà chúng ta dùng để nhai
thức ăn Khi khép miệng thì mặt nhai của
răng hàm trên và răng hàm dưới chạm
vào nhau
- Cạnh: Là góc nhị diện tạo bởi sự gặp
nhau của hai mặt Ví dụ: Cạnh nhai
ngoài, cạnh nhai trong…
- Góc: Là một điểm trên một cạnh giữa hai
mặt, giữa một mặt và một cạnh, hay là
nơi gặp nhau của ba mặt
- Ví dụ: Góc gần nhai ngoài, góc gần nhai
trong…
Hình 3.4 – Các mặt của răng
b Các chi tiết lồi:
- Múi: Là phần nhô lên ở mặt nhai của nhóm
răng phía sau, làm cho mặt nhai bị chia thành
nhiều phần Các múi ngăn cách với nhau bởi
rãnh chính Múi được gọi tên theo vị trí của
nó
- Ví dụ: Múi gần ngoài, múi xa ngoài…
Hình 3.5 - Múi của răng
Trang 16- Củ: Là phần nhô lên ở nơi nào đó trên thân
răng, thường nhỏ hơn múi hình thành do
men răng phát triển quá mức Chúng có
nhiều biến thể lớn hoặc nhỏ…
- Cingulum (hay còn gọi là gót răng): Là
thùy phía lưỡi của răng trước, tạo nên phần
ba nướu ở mặt trong các răng này,
cingulum cong lồi theo chiều nhai nướu
lẫn chiều gần xa Hình 3.6 - Cingulum ở nhóm răng
cửa
- Gờ răng (ridge): Là phần kéo dài và nhô lên
trên mặt nhai Có ba loại gờ răng mà chúng
ta cần chú ý đến đó là:
o Gờ bên (marginal ridge): Là điểm nhô lên
của mặt nhai hoặc rìa cắn của răng; là
đường viền tiếp giáp với răng khác Mỗi
răng có hai gờ bên: một ở phía gần và một ở
phía xa
Hình 3.7 - Gờ răng
o Gờ chéo (oblique ridge): Được tìm thấy trên
một số răng cối nhỏ và trên tất cả các răng
cối lớn Chúng là các góc gần 45º với rãnh
chính (rãnh trung tâm để phân chia)
o Gờ ngang (transverse ridge): Chỉ được tìm
thấy trên các răng cối nhỏ Chúng nằm đối
diện trực tiếp với nhau và vuông góc với
rãnh chính
Hình 3.8 - Gờ ngang răng
cối nhỏ
- Thùy (nobel): Là đơn vị cấu tạo nguyên
thủy trong sự phát triển thân răng trong quá
trình khoáng hóa, được hình thành và phát
triển từ những trung tâm khoáng hóa khác
nhau (tương tự múi)
- Nụ (mamelon): Là những lồi hình tròn hay
nón nhỏ ở rìa cắn của một răng cửa mới
mọc, có bao nhiêu nụ thì có bấy nhiêu thùy
Hình 3.9 Thùy răng
Trang 17Ví dụ: Răng cửa giữa hàm trên mới mọc thường có ba nụ tương ứng với ba thùy:Thùy gần, thùy giữa và thùy xa được phân cách với nhau bởi rãnh gần và rãnh xa
c Các chi tiết lõm:
Hõm răng - trũng răng (fossae): Là nơi được tạo
thành bởi nội phần ba sườn nghiêng có liên hệ
với nhau của cùng một răng, là nơi lõm xuống
- Trũng tam giác: Là trũng ở sát gờ bên của các răng cối nhỏ và răng cối lớn (cótrũng tam giác gần và trũng tam giác xa)
- Hố: Là một trũng nhỏ và sâu, được tạo thành do sự gặp nhau của các rãnh chính (hốgiữa, hố gần, hố xa…)
- Khe: Là phần lõm trên mặt răng, được tạo bởi sườn nghiêng của hai phần lồi kềnhau của thân răng, có thể gặp khe giữa hai múi, khe giữa múi và gờ…ở đáy khe làmột rãnh
- Rãnh: Ở đáy của một khe Có hai dạng chính:
Rãnh chính: Tạo nên ranh giới giữa các múi và thùy
Rãnh phụ: Là những rãnh kém rõ hơn trên mặt răng, nó làm cho mặt răngphức tạp hơn nhưng không phân chia mặt răng thành các múi và các thùy
Trang 18Hình 3 11 - Giải phẫu các rãnh chính răng cối
Hình 3.12 - Giải phẫu các rãnh chính và phụ răng cối
2 Chân răng:
a Các phần ba:
Là sự phân chia tưởng tượng ở thân răng hoặc chân răng trên một mặt nào đó theochiều nhai nướu (phần ba gần, phần ba giữa, phần ba xa)
Trang 19Hình 3.13 Các phần của răng
b Điểm lồi tối đa:
Là điểm xa trục răng nhất của thân răng khi
quan sát từ một chuẩn nhất định, nghĩa là từ
phía cắn hay phía ngoài, phía bên… Đó là điểm
mà kích thước đo được của răng là lớn nhất
Ở mặt gần hay mặt xa, điểm lồi tối đa thiên về
phía gần hay phía cắn, điểm lồi tối đa xa thiên
về phía nướu hơn điểm lồi tối đa gần
Ở mặt ngoài điểm lồi tối đa thường phân bố ở
phần ba cổ răng Ở mặt trong, điểm lồi tối đa
trong có thể nằm trong khoảng phần tư cổ răng
hoặc ở khoảng phần ba giữa chiều cao thân
răng
Hình 3.14 Điểm lồi tối đa răng cối nhìn từ
phía mặt nhai
c Tiếp điểm và diện tiếp xúc – vùng tiếp xúc:
Vùng tiếp xúc là tên gọi chung của điểm tiếp xúc (tiếp điểm) và diện tiếp xúc Điểmtiếp xúc là nơi tiếp xúc của hai răng kế cận nhau khi răng mới mọc Trong quá trình sửdụng, do có sự dịch chuyển nhẹ và độc lập với nhau của các răng, mặt bên bị mòn,điểm tiếp xúc mặt bên trở thành diện tiếp xúc
Bài 4 GIẢI PHẪU NHÓM RĂNG TRƯỚC
Tất cả nhóm răng cửa đều có những đặc điểm chung và nhóm răng cối phía sau đều cócác đặc điểm cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ các đặc điểm này được sắp xếphoặc bố trí như thế nào Khi đã nắm rõ được giải phẫu và đặc điểm giống nhau củacác răng thì bạn không cần phải học đủ hình thể giải phẫu của 32 chiếc răng mà chỉ
Trang 20cần học 16 chiếc răng sau đó sẽ suy ra được phần giải phẫu của 16 răng đối diện cònlại.
Răng ở bên phía này của miệng chính là hình ảnh
phản chiếu qua gương của răng tương ứng ở bên
phía kia của miệng (hình 4.1)
Ví dụ: Răng cối lớn thứ nhất hàm dưới ở bên phải
của miệng chính là hình ảnh phản chiếu qua
gương của răng cối lớn thứ nhất hàm dưới bên trái
của miệng
Trong cuốn sách hướng dẫn này, chúng tôi sẽ
miêu tả các răng bên phải của miệng Các đặc
điểm của răng mà chúng tôi miêu tả cũng giống
hệt với các răng đối diện bên trái
Hình 4.1 - Hình ảnh cácrăng giống nhau
Giải phẫu nhóm răng phía trước:
Răng phía trước được chia ra làm hai
phần chính, đó là:
Nhóm răng cửa (có hai loại:
Răng cửa giữa và răng cửa
bên)
Nhóm răng cửa là các răng dùng để
cắn và cắt thức ăn Nhóm răng cửa có
bốn chiếc trên mỗi hàm trên và hàm
dưới
Nhóm răng cửa giữa gồm có hai chiếc
nằm ở trung tâm, sát đường giữa của
miệng
Nhóm răng nanh
Hình 4.2 - Nhóm răng cửa
I NHÓM RĂNG CỬA VĨNH VIỄN HÀM TRÊN:
Bốn răng cửa giữa hàm trên có vị trí đặc biệt, phô diễn bộ mặt nhiều nhất
Răng cửa giữa và răng cửa bên tương tự nhau và bổ sung hài hoà cho nhau về thẩm
mỹ và chức năng Chúng sử dụng để cắn và cắt thức ăn nên có rìa cắn thay vì núm nhưcác răng hàm
Trang 21Hình 4.3 - Nhóm răng cửa Hình 4.4 - Răng cửa giữa
Kích thước và tuổi mọc
1 Răng cửa giữa hàm trên:
Răng cửa giữa hàm trên như một lưỡi cắt cố định của bộ răng, nó có những đặc điểmsau:
Là răng lớn nhất trong nhóm
Mặt ngoài ít lồi hơn so với mặt ngoài của răng cửa bên Gần như phẳng ở phần giữathân răng và rìa cắn
Góc gần rìa cắn hơi nhọn, góc xa rìa cắn tròn Mặt men răng nhẵn
Tuổi thiếu niên có thể thấy rìa cắn có hai rãnh là vết liền của các múi phát triển Hairãnh này có thể hằn lên mặt ngoài
Mặt trong hay mặt lưỡi có hình xẻng
Có ba hình dạng cơ bản : Vuông hay chữ nhật, tam giác và tròn
Răng cửa giữa lớn hơn răng của bên Răng cửa bên, trừ kích thước nhỏ hơn trôngtương tự răng cửa giữa Có thể nói răng cửa bên là răng cửa giữa bị tiêu giảm về hìnhthể
Trang 22a Mặt ngoài:
- Thân răng hình thang, đáy lớn ở rìa cắn
- Điểm lồi tối đa gần ở 1/3 cắn điểm lồi tối đa xa ở
điểm nối 1/3 cắn và 1/3 giữa
- Chân răng hình chóp hơi nghiêng xa, đỉnh hơi tù
- Điểm tiếp giáp răng 1.1 với răng 2.1 thấp hơn tiếp
giáp răng 2.1 và răng 2.2
- Điểm tiếp giáp răng 2.2 và răng 2.3 càng nhích lên
cao hơn
Hình 4.5 - Mặt ngoài
Hình 4.6 Điểm tiếp giáp các răng cửa hàm trên
b Mặt trong:
- Thân răng hình xẻng, giữa trũng
- Các gờ bên giảm dần độ cao từ cổ răng đến rìa cắn
- Cingulum nhô cao ở 1/3 cổ răng
- Giữa cingulum và gờ bên có các rãnh cạn
- Đường cổ răng có bán kính nhỏ hơn
- Mặt ngoài, đỉnh đường cong hơi thiên về phía xa
- Chân răng hẹp hơn Trên thiết đồ ngang chân răng có
hình tam giác, đáy ở ngoài, đỉnh ở trong
Hình 4.6 - Mặt trong
Trang 23Hình 4.8 Mặt lưỡi và mặt cắn răng cửa giữa
hàm trên bên phải
CL.Đường viền cổ răng;
DMR Bờ viền bên xa
Mặt lưỡi có chỗ lồi là gót răng Rìa bên gần và xa vồng nối với gót răng
Giữa các rìa bên và dưới gót răng có chỗ lõm gọi là gót răng
Mặt lưỡi thân răng thon hơn so với mặt ngoài
c Mặt gần:
- Thân răng hình tam giác, đáy ở phía cổ răng
- Đường viền ngoài cong lồi đều dặn; Đường viền trong có
dạng chữ S Điểm lồi tối đa ngoài và trong ở 1/3 cổ răng
- Mặt gần lồi nhất ở 1/3 cắn và hơi lõm ở phía cổ răng
- Đường cổ răng là một cung nhọn lõm về phía chóp, có độ
cao lớn nhất so với các răng (3 - 4mm)
- Chân răng khá dày
Hình 4.7 - Mặt gầnrăng cửa giữa
d Mặt xa:
- Giống mặt gần lật ngược lại
- Đường cổ răng ít cong hơn
- Gờ bên xa dày hơn, che khuất phần mặt trong
và gờ bên gần
Hình 4.8 - Mặt bên răng cửa
giữa hàm trên
Trang 24e Rìa cắn:
- Đường viền có hình tam giác, đáy ở phía ngoài,
đỉnh ở phía trong hơi thiên về phía xa Mặt
ngoài lồi đều đặn từ gần đến xa, nhìn rõ 3 thùy
và hai rãnh cạn
- Mặt trong thấy rõ các gờ bên, Cinglum, các
giữa hàm trên
2 Răng cửa bên hàm trên:
Răng cửa bên hàm trên gần giống răng cửa giữa hàm trên vì nó bổ sung chức năng vàhình thái thẩm mỹ cho răng cửa giữa Kích thước chân răng nhỏ hơn Chiều dài chânrăng của hai răng này bằng nhau Các kích thước khác của răng cửa bên đều nhỏ hơnrăng cửa giữa
Răng cửa bên hàm trên rất hay dị dạng (tỷ lệ dị dạng và không có răng cửa bên chỉxếp sau răng khôn)
Răng cửa bên hàm trên hình chốt nhọn
Răng cửa bên hàm trên rộng bản, xoay ngang
Răg cửa bên hàm trên có rãnh kéo dài từ thân xuống chân răng
Răng cửa bên hàm trên vặn ngả trước
a Mặt ngoài:
- Mặt ngoài có hai rãnh dọc chia mặt này thành 3
thùy
- Chân răng cong về phía xa nhiều hơn
- Nhỏ hơn răng cửa giữa theo chiều gần xa và chiều
b Mặt trong:
Trang 25- Tương tự răng cửa giữa nhưng các gờ bên thường
kém rõ hơn, hõm lưỡi kém sâu hơn
Hình 4.11 - Mặt trongrăng cửa giữa hàm trên
c Mặt gần:
- Tương tự mặt gần răng cửa giữa nhưng nhỏ hơn
- Kích thước nhỏ hơn và hình dạng tròn hơn, thân
răng cửa bên có đường cổ răng kém cong so với
răng cửa giữa
- Khoảng rộng ngoài trong kém 1mm so với răng cửa
giữa
- Đường cong cổ răng lõm về phía rìa cắn nhưng ít
mở rộng hơn
- Nhìn từ mặt bên ta thấy rìa cắn răng này dày hơn
răng cửa giữa
- Chân răng có hình côn, đầu tù ở chóp
Trang 26- Trông tròn hơn răng cửa giữa.
- Mặt ngoài lồi hơn răng cửa giữa, đều đặn từ gần đến
xa, khá đối xứng Mặt trong giống răng cửa giữa
Hình 4.14 - Mặt nhai
Trang 27TÓM TẮTĐặc điểm chung của răng cửa hàm trên:
- To hơn các răng cửa dưới tương ứng.
- Răng cửa giữa lớn hơn răng cửa bên.
- Gờ bên và cingulum rõ hơn răng cửa dưới.
- Hõm lưỡi rõ hơn sâu hơn răng cửa dưới.
- Các chân răng tròn hơn hoặc tam giác hơn trên thiết đồ ngang với kích thước
bằng nhau theo chiều ngoài trong và gần xa
- Mặt ngoài tròn hơn khi quan sát từ phía cắn.
- Thân răng lớn theo chiều gần xa hơn ngoài trong.
Đặc điểm riêng các răng cửa hàm trên:
Đường viền gần khá thẳng
Đường viền xa
Điểm lồi tối đa gần ở phần ba cắn
Điểm lồi tối đa xa ở phần ba cắnnối phần ba giữa
Cingulum lồi nhiều
Đường viền hình tam giác
Mặt ngoài hơi lồi
Tròn hơn
Khá sâu
Ít cong hơn
Phần ba cắn nối phần ba giữa.Khá lồi
Trang 28Răng cửa hàm dưới khác nhiều về kích cỡ và độ nghiêng so với răng cửa hàm trên:
- Mặt cắn lại nghiêng phía môi trong khi mặt cắn răng cửa hàm trên lại nghiêng
phía lưỡi
- Răng cửa giữa hàm dưới khi cắn chỉ chạm 01 răng là răng cửa giữa hàm trên
- Răng cửa giữa nhỏ hơn răng cửa bên.
Kích thước và tuổi mọc
1 Răng cửa giữa hàm dưới:
Răng cửa giữa hàm dưới là lưỡi cắt di động của bộ răng, chúng thực hiện chức năngcắt khi răng cửa giữa hàm dưới ở tư thế đối đầu với răng cửa hàm trên
Răng cửa giữa hàm dưới bé, bề rộng (5,0mm) chỉ nhỉnh hơn một nửa răng cửa giữahàm trên (8,5mm)
Tuy vậy bề dày ngoài trong lại chỉ kém răng cửa giữa hàm trên khoảng 1mm vì khinhai lực tập trung nén xuống theo chiều môi - lưỡi nên răng cần khoẻ về bề dày
Chân răng dẹt bề gần – xa nhưng rộng bề ngoài – trong và dài không kém các răng cửatrên để đảm bảo chịu lực
a Mặt ngoài:
Mặt ngoài răng cửa giữa hàm dưới phẳng đều, rìa cắn thẳng đều và vuông góc với trụcrăng ở hai góc bên gần và xa, rìa cắn hơi sắc nhọn ở phía lưỡi, trục răng thẳng, chạythẳng xuống phía chóp chân răng
- Từ rìa cắn tới hai cạnh bên chạy xuống có hình thang
ngược tới 1/3 trên thân răng để tiếp xúc với răng lân
cận, ở nơi tiếp xúc răng lân cận, ở nơi tiếp xúc chân
răng có xu hướng tiếp xúc rộng theo chiều ngoài
trong tới cổ răng
- Chân răng tiếp xúc thẳng xuống tới 1/3 chóp rồi
cong lượn ít về phía xa
- Từ rìa cắn xuống 1/3 thân răng, mặt ngoài răng cửa
giữa phẳng Từ 1/3 giữa đến 1/3 cổ mặt ngoài hơi
Trang 29vồng sau đó thắt lại ở cổ răng - Hình 4.15 - Mặt
ngoài
- Ít thấy các rãnh hay khấc ở mặt ngoài, trừ răng của thanh thiếu niên.
- Thân răng rất hẹp theo chiều gần xa và đối xứng hai bên.
- Góc cắn gần và góc cắn xa bằng nhau và gần vuông.
- Điểm lồi tối đa gần và điểm lồi tối đa xa ở 1/3 cắn, sát rìa cắn.
- Đường cổ răng là một cung tròn cong lồi đều đặn về phía chóp và đối xứng.
- Chân răng hình chóp mảnh, đỉnh chóp nhọn và uốn nhẹ về phía xa.
b Mặt trong:
- Mặt trong không có hình xẻng Các gờ bên, Cingulum hõm lưỡi kém rõ hơn răng
cửa trên Cingulum đều đặn, không bị chia cắt bởi các rãnh, không có hố
- Đường cổ răng có độ cong như ở phía ngoài.
- Rìa cắn vồng cao khi chạy đến rìa cắn, chạy xuống cổ răng thì thắt lại.
Hình 4.16 - Mặt lưỡi và rìa cắn răng
cửa giữa hàm dưới
IR Rìa cắnDMR Bờ viền bên xa
LF Hố lưỡi
CL Đường viền cổ răng
C Gót răngMMR Bờ viền bên gần
- Chân răng rộng và phẳng, thon lại ở 1/3 chóp Chóp
răng tù Có một lõm cạn chạy dài trên phần giữa
chân răng Trên thiết đồ ngang Chân răng hình
trứng mà trục lớn theo hướng ngoài trong
Hình 4.17 - Mặt gần
Trang 30d Mặt xa:
- Giống mặt gần lật ngược lại.
- Đường cổ răng ít cong hơn Lõm dọc ở chân
răng thường rõ hơn
Hình 4.18 - Mặt xa
e Mặt nhai:
- Đường viền thân răng có hình quạt phía ngoài là
cung; phía gần và xa là các bán kính giới hạn hội
tụ về phía trong để tạo thành đỉnh quạt
- Kích thước ngoài trong lớn hơn gần xa.
- Nhìn từ phía nhai:
Mặt ngoài lồi nhiều ở 1/3 cổ răng, phẳng ở 2/3 cắn
Các thuỳ không nổi rõ
Mặt trong khá phẳng và lõm ở nửa phía cắn, lồi
ở phía cổ răng Cingulum không chia múi và
hẹp theo chiều gần xa
Hình 4.19 - Mặt nhai
2 Răng cửa bên hàm dưới:
Răng cửa bên hàm dưới rất giống răng cửa giữa hàm dưới về hình thái, chỉ khác là nó
to hơn Chúng có chức năng và thẩm mỹ như nhau
a Mặt ngoài:
- Giống mặt ngoài của răng cửa giữa.
- Răng cửa bên lớn hơn răng cửa giữa và không có
đối xứng hai bên
- Góc cắn gần khá vuông, góc cắn xa hơi tròn.
- Đường viền gần khá thẳng, đường viền xa hơi
tròn
Hình 4.20 - Mặt ngoài
Trang 31b Mặt trong:
- Gần giống mặt ngoài
Hình 4.21 - Mặt trong
c Mặt gần:
- Đường cổ răng kém cong hơn.
- Có thể nhìn thấy phần xa trong của mặt trong Do
thân răng có xu hướng uốn từ ngoài vào trong, từ gần
đến xa
Hình 4.22 - Mặt gần
d Mặt xa:
- Trông thấy rìa cắn nhiều hơn từ phía xa vì góc xa
thấp và tròn hơn
- Đường cổ răng kém cong hơn.
- Vùng tiếp giáp xa ở phần ba cắn nhưng thiên về phía
nướu hơn
- Rãnh dọc chân răng rõ hơn.
- Điểm tiếp xúc mặt xa so với răng nanh thấp hơn về
phía cổ răng so với điểm tiếp xúc mặt gần của răng
cửa giữa
Hình 4.23 - Mặt xa
e Rìa cắn:
- Rìa cắn răng cửa là đặc điển nhận dạng răng, phân
biệt với răng cửa giữa Rìa cắn không thẳng góc với
đường chia đôi thân răng theo chiều ngoài trong, mà
làm thành một góc nhọn
Trang 32- Rìa cắn không thẳng góc với đường chia đôi thân
răng theo chiều ngoài trong như răng cửa giữa dưới
- Rìa cắn nghiêng theo đường cong Spee cho nên nhìn
thân răng có vẻ bị vặn so với đáy chân răng
- Trục chân răng song song với trục chân răng cửa
giữa hàm dưới, còn rìa cắn lại không thẳng hàng với
nhau
Hình 4.24 - Rìa cắn
TÓM TẮTĐặc điểm chung răng cửa dưới:
- Thân răng hẹp nhất trong các răng cửa.
- Răng cửa bên lớn hơn răng cửa giữa.
- Gờ bên và cingulum không rõ.
- Hõm lưỡi mờ.
- Thân răng có kích thước ngoài trong lớn hơn kích thước gần xa.
- Mặt ngoài phẳng hơn so với mặt ngoài răng cửa trên.
- Chân răng có hình bầu dục trên thiết đồ ngang và chiều ngoài trong lớn hơn so
với chiều gần xa
Đặc điểm riêng các răng cửa hàm dưới:
III NHÓM RĂNG NANH:
- Răng nanh hàm trên và hàm dưới khá giống nhau về hình thể và có cùng chức
năng
- Bốn răng nanh bố trí ở các góc hàm Răng nanh là răng dài nhất trong bộ răng.
Thân răng dài bằng thân răng cửa giữa hàm trên (10,5mm) còn chân răng thìkhông chân răng nào dài bằng răng nanh
Trang 33- Răng nanh là răng kế tiếp răng cửa bên, ở mỗi phía răng nanh là răng thứ ba từ
đường giữa Răng nanh có một đỉnh nhọn đơn và tròn (hoặc gọi là múi) sử dụng
để xé thức ăn
- Răng nanh còn được gọi là răng một múi (Hình 5.17) Thuật ngữ “Răng một
múi” và “răng nanh” đều được sử dụng như nhau
- Thuỳ giữa môi phát triển mạnh, to khoẻ để biến thành múi, cả thân và chân để có
tính chất vồng
- Thân răng có một múi duy nhất nhọn, to, khoẻ, chân răng dài Ta có thể thấy rõ
nhất ở loài thú ăn thịt
- Răng nanh là răng chắc nhất trên hàm Thân răng trơn nhẵn rất dễ tự làm sạch, do
đó ít bị sâu và thường tồn tại suốt đời người Nếu nó mất thì cũng thường là mấtcuối cùng
- Do đó, trong răng giả ta cố gắng sử dụng chúng để ổn định các răng khác (phục
hồi khớp cắn hướng dẫn bởi răng nanh)
- Ổ răng của răng nanh cũng nổi gồ ở mặt ngoài xương hàm gọi là ụ nanh, ụ nanh
góp phần thẩm mỹ cho khuôn mặt
- Mất răng nanh rất khó phục hồi chúng cả về chức năng và thẩm mỹ.
Hình 4.25 – Răng nanh / Răng một múi
1 Răng nanh hàm trên:
- Răng nanh thường mọc khá muộn 10-11 tuổi Về kích thước, răng nanh trên lớn
hơn răng nanh dưới
Trang 34- Điểm tiếp giáp gần nằm ở điểm nối 1/3 cắn và 1/3
giữa, điểm tiếp giáp xa ở 1/3 giữa hơi thiên về phía
cắn
- Bờ cắn có một múi với đỉnh nhọn đặc trưng, đỉnh
múi thiên về phía gần Gờ múi gần ngắn, ít xuôi; gờ
múi xa dài hơn và xuôi hơn Góc cắn gần rõ; góc cắn
xa tròn hơn Hai lõm dọc hai bên gờ ngoài giới hạn 3
thuỳ, thuỳ gần nhỏ hơn thuỳ xa, thuỳ giữa lớn nhất
- Đường cổ răng cong lồi đều đặn về phía chóp răng
- Chân răng hình nón với đỉnh chóp khá nhọn, 1/3
chóp nghiêng xa
Hình 4.26 - Mặt ngoài
b Mặt trong:
- Thân răng và chân răng hẹp hơn phía ngoài.
- Nhìn thấy ở mặt trong Cingulum khá lớn gờ bên gần
Trang 35Mặt trong và rìa cắn răng nanh hàm trên
CL Đường viền cổ răngMLF Hố lưỡi phía gần
LR Rìa lưỡi
C Gót răngMCR Rìa múi gầnDLF Hố lưỡi xaMMR Rìa bên gầnDCR Rìa múi xaDMR Rìa bên xa
c Mặt gần:
- Thân răng hình chêm, đầu nhọn ở đỉnh múi khá
dày và tù Kích thước tối đa ở 1/3 cổ răng
- Đường cổ răng cong lồi về phía cắn với độ cao
khoảng 2,5mm Chân răng có chiều ngoài trong
lớn, đỉnh chóp khá tròn Có một lõm dài dọc
theo chân răng
Hình 4.28 - Mặt gần
d Mặt xa:
- Giống mặt gần lật ngược lại Gờ bên xa nổi rõ.
- Đường cổ răng ít cong hơn khi nhìn từ phía
gần (độ nhô cao khoảng 2mm)
- Lõm dọc, chân răng sâu hơn.
Hình 4.29 - Mặt xa
Mặt nhai :
Trang 36- Thân răng không đối xứng giữa phần gần và
phần xa Đỉnh múi thiên về phía gần và phía
ngoài Kích thước ngoài trong lớn hơn gần
xa
- Nhìn rõ 3 thuỳ giới hạn bởi 2 lõm dọc ở mặt
ngoài Mặt trong thấy rõ các gờ bên và gờ
trong giới hạn hai hõm lưỡi Hình 4.30 - Mặt nhai
TÓM TẮT
- Thân răng lớn hơn răng nanh dưới ở trên cùng bộ răng.
- Đường viền gần và đường viền xa nhìn từ phía ngoài hội tụ nhiều về phía cổ
răng
- Bờ cắn của thân răng chiếm ít nhất một phần ba chiều cao thân răng và có thể tới
một nửa
- Gờ bên gần và xa, gờ trong và cingulum rõ ràng hơn với răng nanh dưới làm cho
các hõm lưỡi sâu hơn
- Kích thước ngoài trong của thân răng lớn hơn răng nanh dưới.
- Nửa gần và nửa xa của thân răng không đối xứng khi nhìn từ phía cắn.
2 Răng nanh hàm dưới:
Răng nanh dưới là răng đầu tiên trong nhóm răng nanh xuất hiện trong khoangmiệng So với răng nanh trên, răng này hẹp hơn theo chiều gần xa và do đó dài hơntheo chiều bờ cắn – cổ răng Răng nanh dưới thường là răng tồn tại lâu dài nhấttrong môi trường miệng
Trang 37a Mặt ngoài:
- Gờ múi gần ít xuôi, tạo thành bờ vai cao gần ngang
với đỉnh múi; gờ múi xa tạo thành một bờ vai xuôi
hơn nên thân răng có hình "người lệch vai"
- Đường viền gần của thân răng thẳng với đường viền
gần của chân răng, đường viền xa lồi nhiều và nhô
hẳn ra ngoài đường viền xa chân răng
- Điểm lồi tối đa gần ở 1/3 cắn, điểm lồi tối đa xa ở
chỗ nối 1/3 cắn và 1/3 giữa Mặt ngoài có 3 thuỳ
cách nhau bởi 2 lõm dọc hay 2 rãnh cạn
- Đường cổ răng lồi về phía chóp răng
- Chân răng hình nón, chóp răng tù.
- Thân răng hơi nghiêng xa so với trục chân răng (đặc
điểm riêng)
Hình 4.31 - Mặt ngoài
b Mặt trong:
- Giống các chi tiết giải phẫu của răng nanh trên nhưng
hai gờ bên, gờ trong và Cingulum ít nhô hơn so với
răng nanh trên Hõm lưỡi gần và xa đều cạn
- Chân răng thanh hơn mặt ngoài Các lõm dọc theo
chiều dài chân răng thường lan đến các mặt gần và xa
của thân răng
Hình 4.32 – Mặt trong
c Mặt gần:
- 1/3 cổ răng hẹp hơn răng nanh trên.
- Điểm lồi tối đa ngoài ở ngay gần đường cổ răng.
- Cingulum ít nhô hơn răng nanh trên.
- Chân răng hẹp hơn răng nanh trên
Hình 4.33 – Mặt gần
Trang 38d Mặt xa:
- Thân răng và chân răng trông giống như khi
nhìn từ phía gần nhưng ngược lại
- Mặt xa thấp hơn mặt gần.
- Nếu vẽ một đường vuông góc với trục của
bờ cắn và đi ngang qua đỉnh múi thì nửa
gần và nửa xa của thân răng trong đối xứng
hơn răng nanh trên
- Đường viền mặt trong tròn hơn và đều đặn
e Mặt nhai:
- Nếu vẽ một đường vuông góc với trục của
bờ cắn và đi ngang qua đỉnh múi thì nửa
gần và nửa xa của thân răng trông đối xứng
hơn răng nanh trên
- Đường viền mặt trong tròn hơn và đều đặn
TÓM TẮT
- Thân răng nhỏ hơn răng nanh trên ở cùng bộ răng.
Trang 39- Đường viền gần hay đường viền xa nhìn từ phía ngoài có xu hướng song song
hay chỉ hơi hội tụ về phía cổ răng
- Bờ cắn chiếm khoảng 1/4 hay 1/5 chiều cao thân răng, khiến răng trông như dài
và hẹp hơn so với răng nanh trên
- Mặt trong phẳng hơn răng nanh trên do các gờ lưỡi, gờ bên, và cingulum ít nhô
hơn Thường không có củ lưỡi và các rãnh
- Kích thước ngoài trong cổ răng nhỏ hơn răng nanh trên.
- Nửa gần và nửa xa của thân răng khi nhìn từ phía cắn trông đối xứng hơn.
Trang 40
-Bài 5 GIẢI PHẪU NHÓM RĂNG PHÍA SAURăng cối nhỏ Gọi là răng cối nhỏ - premolars vì vị trí giải phẫu của chúng gần với
răng cối lớn - molars (Đôi khi gọi chúng là bicuspids vì hầu hết nhóm răng này có hainúm trên bề mặt nhai) Có 8 răng cối nhỏ, mỗi nửa cung có 2 răng với chức năng nhận
và nghiền nát thức ăn Ta chia nhóm răng cối nhỏ thành răng cối nhỏ thứ nhất và răngcối nhỏ thứ 2 (trên mỗi nửa cung hàm), răng cối nhỏ thứ nhất nằm ngay sau răng nanh.Răng cối nhỏ chiếm vị trí giữa răng nanh và răng cối lớn trên cung răng
Về mặt hình thái học chúng được xem là sự chuyển tiếp giữa răng nanh và răngcối lớn Chúng ta đã biết răng nanh có một múi hình chêm thích hợp với chức năngcắn xé Trong khi răng cối lớn có nhiều múi và mặt nhai rộng thích hợp với chức năngnghiền thức ăn Răng cối nhỏ có ít nhất một múi lớn và sắc, các múi trong thích hợpvới chức năng làm dập thức ăn
Nó có các đặc điểm:
- Có ít nhất hai múi.
- Có một múi ngoài và một hoặc hai múi trong.
Răng cối lớn Răng cối lớn là răng lớn nhất trong cung hàm, nằm ngay sau răng cối bé
với chức năng nghiền nát thức ăn trong quá trình nhai Dưới điều kiện thông thườngthì có 6 răng cối lớn trên mỗi cung hàm (3 răng trên mỗi nửa cung hàm) Chúng đượcchia theo răng cối lớn thứ nhất, cối lớn thứ hai và cối lớn thứ ba Răng cối lớn có vaitrò lớn trong việc nghiền nát thức ăn và chức năng giữ kích thước tầng dưới mặt
Tóm tắt các đặc điểm nhóm:
- Răng cối lớn có mặt nhai lớn nhất trên cung răng.
- Có từ ba đến năm múi lớn.
- Là nhóm răng duy nhất mỗi răng có ít nhất hai múi ngoài.
- Có hai hay ba chân lớn.
- Mặt nhai có nhiều múi, chân răng vững chắc.
I RĂNG CỐI NHỎ TRÊN:
- Các răng cối nhỏ 1 và 2 trên giống nhau nhiều hơn là răng cối nhỏ 1 và 2 dưới.
- Các răng cối nhỏ trên có hai múi lớn, nhô cao, kích thước tương đối bằng nhau.
- Khi nhìn từ phía nhai, các răng cối nhỏ trên có kích thước ngoài trong lớn hơn
gần xa rõ rệt
- Khi nhìn từ phía bên, các răng cối nhỏ trên có đường viền ngoài chỉ nghiêng nhẹ
về phía trong