Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non nhằm mục tiêu xây dựng phát triển hệ thống giáo dụcThủ đô hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế đồng th
Trang 1DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC MẦM NON 5
1.1 Giáo dục mầm non và vấn đề huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non 5
1.1.1 Giáo dục mầm non - cấu phần hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất 5
1.1.1.1 Khái niệm về giáo dục, giáo dục mầm non 5
1.1.1.2 Hệ thống tổ chức giáo dục quốc dân 8
1.1.1.3 Hệ thống tổ chức giáo dục mầm non 9
1.1.2 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội đất nước và sự lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế 11
1.1.2.1 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội 11
1.1.2.2 Vấn đề lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế 17
1.1.2.3 Về sự công bằng, bình đẳng trong giáo dục 19
1.1.3 Huy động và phân phối các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non 20
1.1.2.2 Phân cấp quản lý sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non 24
1.2 Nội dung cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế đó 25
1.2.1 Nội dung của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính 25
1.2.1.1 Khái niệm về cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính 25
1.2.1.2 Yếu tố của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục 30
Trang 2chính cho giáo dục mầm non 39
1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục đào tạo và cơ chế huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục của một số quốc gia 42
1.3.1.Kinh nghiệm về phát triển giáo dục, đào tạo của một số nước (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc) 42
1.3.1.1 Đa dạng hoá các hình thức và kênh giáo dục – đào tạo 43
1.3.1.2 Đa dạng hoá mức học phí và nguồn tài chính cho GD – ĐT 44
1.3.1 3 Đầu tư cho GD – ĐT đang được chuyển dần sang khu vực tư nhân 46
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam 50
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI 52
2.1 Khái quát những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Hà Nội có liên quan đến giáo dục mầm non 52
2.1.1 Đặc điểm chung về Thủ đô Hà Nội 52
2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội 59
2.2 Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội 71
2.2.1 Quản lý của Nhà nước về tài chính đối với giáo dục mầm non ở Hà Nội 71
2.2.2 Thành tựu và những mặt hạn chế của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội 75
2.2.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình hoàn thiện cơ chế tài chính của các trường mầm non ở Hà Nội 75
2.2.2.2 Những mặt hạn chế của cơ chế tài chính trong các trường mầm non ở Hà Nội 91
Trang 33.1 Quan điểm định hướng hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà nội 95
3.1.1 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho
giáo dục mầm non, dựa trên cơ sở đổi mới căn bản nhận thức vềgiáo dục, đào tạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 953.1.2 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo
dục mầm non nhằm mục tiêu xây dựng phát triển hệ thống giáo dụcThủ đô hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế đồng thời giữ vữngbản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc 973.1.3 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng của nguồn tài chính cho
giáo dục mầm non theo hướng xã hội hóa các nguồn lực tài chính.Đảm bảo huy động mọi nguồn lực tài chính và tiềm năng của xãhội đồng thời phân phối sử dụng nguồn lực tài chính đó một cách
có hiệu quả 1003.1.4 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho
giáo dục mầm non nhằm thực hiện công bằng trong quyền hưởngthụ thành quả của nền giáo dục nước nhà và các dịch vụ chấtlượng cao của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội 1013.1.5 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho
giáo dục mầm non theo hướng phát huy tới đa quyền tự chủ tựquyết, tự chịu trách nhiệm trong quản lý và thu chi tài chính chocác cơ sở giáo dục mầm non 104
3.2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non Thủ đô Hà nội 104
Trang 43.2.1 Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách 104
Trang 5nước nhằm tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả sử dụngcác nguồn lực tài chính cho GDMN ở Hà Nội 1133.2.4 Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện và tăng cường công tác thanh,
kiểm tra của Nhà nước, giám sát của cộng đồng 116
KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 6CNH,
HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống GD – ĐT của Việt Nam 9
Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa tăng trường và phát triển kinh tế với phát triển chất lượng nguồn nhân lực và đầu tư tài chính, ngân sách 11
Sơ đồ 2.1: Cơ chế phân cấp ngân sách GD MN Hà Nội 79
Sơ đồ 2.2: Cơ chế phân cấp ngân sách GDMN Hà Nội 80
Sơ đồ 3.1: Phân cấp ngân sách GDPT Hà Nội 107
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.2: Tổng sản phẩm nội địa (GDP) theo giá so sánh năm 1994 55
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu chủ yếu của cả nước và một số thành phố năm 2008 56
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động Hà Nội chia theo trình độ văn hóa 57
Bảng 2.5: Tỷ trọng lao động có trình độ của Hà Nội so với cả nước 58
Bảng 2.6 Tỷ trọng cơ sở giáo dục, đào tạo công lập và ngoài công lập 61
Bảng 2.7: Nuôi dạy trẻ 63
Bảng 2.8 Trường mẫu giáo phân theo quận, huyện, thị xã 68
Bảng 2.9 Số lớp, giáo viên và học sinh mẫu giáo của Hà Nội 70
Bảng 2.10 Ngân sách chi cho GD&ĐT Hà Nội 76
Bảng 2.11 Mức phân bổ chi ngân sách giáo dục 85
Bảng 3.1 Mục tiêu giáo dục mầm non đến năm 2020 98
Bảng 3.2 So sánh các chỉ số cơ bản trong quy hoạch phát triển giữa Hà Nội với cả nước 99
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Giỏo dục cú vai trũ đặc biệt quan trọng và trở thành trung tõm của chiến
lược phỏt triển đất nước "Giỏo dục là quốc sỏch hàng đầu”, chiến lược phỏt
triển giỏo dục và chiến lược con người luụn đi trước chiến lược kinh tế- xó hội
Hoạt động giỏo dục mầm non ở Hà Nội trong thời kỳ đổimới đó cú những bước phỏt triển cả về qui mụ, nội dung, hỡnhthức và gúp phần quan trọng vào quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế -
xó hội Thủ đụ trong thời gian qua
Tuy nhiờn, giỏo dục mầm non Hà Nội những năm qua cũng
cú những mảng tối mà nổi bật là nguy cơ ngày càng lan rộng của
xu hướng thương mại hoỏ cỏc hoạt động giỏo dục Trong khi
đú một số chủ trương, chớnh sỏch, biện phỏp đổi mới cơ chếquản lý tài chớnh giỏo dục mầm non của thành phố thực hiệnchưa có được cơ sở lý luận và những kinh nghiệm thực tế đó được đỏnhgiỏ, tổng kết nờn hiệu quả đem lại khụng cao
Nhằm đúng gúp thờm cơ sở khoa học và thực tiễn phục
vụ cuộc cải cỏch giỏo dục Thủ đụ núi chung và hoàn thiện cơchế quản lý tài chớnh giỏo dục mầm non núi riờng, đỏp ứngyờu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đụ, tỏc giả chọn đề tài:
“Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo d ục mầm non tại Hà Nội ” làm luận ỏn Thạc sĩ kinh tế.
Trang 9Mục đích của luận văn là nêu lên định hướng hoàn thiện và các giảipháp thiết thực để hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn lực chophát triển giáo dục mầm non trên địa bàn Hà nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế huy động và sử
dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non
Hai là, phân tích đánh giá đúng thực trạng cơ chế huy động và sử dung các
nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non ở Hà nội trong thời gian qua
Ba là, xác định rõ định hướng hoàn thiện và tìm các giải pháp nhằm
hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho phát triểngiáo dục mầm non ở Hà nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tàichính cho giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội từ thời kỳ đổi mới đến nay
* Phạm vi nghiên cứu: địa bàn 14 quận huyện nội ngoại thành Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích các tàiliệu khoa học đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu kết hợp với các
phương pháp điều tra, quan sát tổng kết kinh nghiệm thực nghiệm và phương
pháp thống kế toán học nhằm rút ra các kết luận và đề xuất cần thiết
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn.
Hệ thống hoá và luận giải sâu những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục
và giáo dục mầm non
Luận v¨n góp phần đánh giá những ưu điểm và bất cập vềcung cấp tài chính cho giáo dục mÇm non, cơ chế quản lý tàichính GD mÇm non của Việt Nam và Hà Nội
Đặc biệt, luận v¨n góp phần hệ thống hoá và làm rõnhững căn cứ khoa học và thực tiễn cùng các phương hướng,
Trang 10mục tiêu phát triển giáo dục Thủ đô đến năm 2020, các giảipháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính GDmÇm non ở Hà Nội, cả đối với GD mÇm non công lập và ngoàicông lập trong giai đoạn sắp tới
7 Kết cấu luận văn.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế huy động và sử dụng
các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non
Chương II: Thực trạng về cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài
chính cho phát triển giáo dục mầm non tại Hà nội
Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế huy động và
sử dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầmnon tại Hà nội
Trang 111.1.1 Giáo dục mầm non - cấu phần hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất.
1.1.1.1 Khái niệm về giáo dục, giáo dục mầm non.
Khái niệm về giáo dục.
Trên góc độ giáo dục và đào tạo, xét về phương diện khái niệm đang cónhiều ý kiến, nhận định khác nhau Thực tế và lý thuyết cho thấy việc hiểukhác nhau về phạm trù giáo dục tất yếu sẽ có những nhận thức khác nhau vềquản lý tài chính đối với sự nghiệp giáo dục
Theo một nghĩa rộng thì giáo dục là một phương thức để truyền đạtnhững kinh nghiệm trong cuộc sống con người
Bộ Luật Giáo dục đầu tiên của nước ta đã quy định: Mọi công dân đều
có quyền và nghĩa vụ giáo dục, học tập
1.1.1.2 Hệ thống tổ chức giáo dục quốc dân.
Chương I điều 6 Luật giáo dục nước ta (1998) quy định hệ thống giáodục quốc dân gồm:
Giáo dục mầm non gồm có nhà trẻ và mẫu giáo
1.1.1.3 Hệ thống tổ chức giáo dục mầm non.
Điều 25 Luật giáo dục quy định cơ sở giáo dục mầm non gồm:
- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba đến ba tuổi
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi
- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận
trẻ em từ ba tháng đến sáu tuổi.
Trang 121.1.2 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội đất nước và sự lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế
1.1.2.1 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Giáo dục vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ tác độngqua lại với tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Phát triển giáo dục làphát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng trưởng và phát triển KT – XH,đầu tư tài chính, ngân sách là các thành tố của sự phát triển
Thứ nhất, theo quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là mụctiêu và là động lực phát triển kinh tế xã hội
Thứ hai, quan điểm coi giáo dục là công cụ của phát triển kinh tế xã hội
1.1.2.2 Vấn đề lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế.
Việc xem xét mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với phát triển KT- XH
Thứ nhất, giáo dục chuẩn bị và trang bị cho con người những kiến thức,
kĩ năng, phẩm chất và nhân cách cần thiết, mà không có chúng thì không thể
có bất cứ một hoạt động KT – XH nào
Thứ hai, giáo dục không những có trước mà còn tiềm ẩn bên trong
những kết cấu hạ tầng có tính vật chất cụ thể của đời sống xã hội
Như vậy, giáo dục cần được ưu tiên đi trước một bước để làm tiền đềcho sự phát triển KT –XH, và bởi vậy giáo dục cần được ưu tiên đầu tư thoảđáng, đặc biệt trong thế kỉ XXI
1.1.2.3 Về sự công bằng, bình đẳng trong giáo dục.
Công bằng, bình đẳng trong giáo dục là một mục tiêu quan trọng trongchính sách phát triển GD – ĐT ở hầu hết các nước đang phát triển Vì vậy vấn
đề công bằng bình đẳng trong giáo dục được coi là một trong những mục tiêutrung tâm trong chính sách phát triển giáo dục của Nhà nước Việt Nam
1.1.3 Huy động và phân phối các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non
1.1.3.1.Các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non.
Trang 13- Nguồn tài chính từ Ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn ngoài ngân sách
- Nguồn thu từ học phí
- Nguồn đóng góp của người dân
- Nguồn viện trợ của các tổ chức xã hội
Các loại hình trường mầm non, khác nhau về sự hình thành nhưng đều
có chung tính chất, nội dung và mục đích hoạt động đều là những bộ phậnhợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, chúng đều là nhữngđơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính, đồng thời đều phải chấp hành các quyđịnh và chế độ tài chính của nhà nước trong việc huy động và sử dụng cácnguồn tài chính
1.2 Nội dung cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế đó.
1.2.1 Nội dung của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính
Thứ nhất, đa dạng hoá về phương thức quản lý:
Thứ hai, kết hợp hài hoà giữa cơ chế quản lý của Nhà nước với cơ chế
tự vận động của giáo dục trong lĩnh vực tài chính:
Thứ ba, xây dựng và ban hành hệ thống đồng bộ các quy định, chế độ
tài chính và thực hiện thanh, kiểm tra của Nhà nước và sự giám sát cộng đồngđối với các hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đào tạo
Trang 141.2.2 Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non
- Một là, do yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo một cách toàn diện,
sâu sắc để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước -
- Hai là, các cơ sở giáo dục mầm non hoạt động trong nền kinh tế thị
trường là các đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính cung cấp các dịch vụ đặcbiệt là “trồng người” mang lại lợi ích lâu dài cho cá nhân và cả xã hội
Ba là: Do nhu cầu chuẩn hóa của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục
mầm non là bậc tiền học đường ngày càng mở rộng về quy mô và tốc độ Cầnphải ưu tiên đầu tư thỏa đáng về mọi mặt, chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho cáccháu vào bậc phổ thông
Bốn là: Do bản thân sự vận động của cơ chế chính sách nói chung là
một quá trình từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục đào tạo và cơ chế huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục của một số quốc gia
1.3.1 Kinh nghiệm về phát triển giáo dục, đào tạo của một số nước (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc)
Thực tiễn phát triển KT - XH các nước trong khu vực và trên thế giớinhững thập kỷ gần đây là minh chứng khẳng định vai trò của GD-ĐT đối với
sự phát triển của đất nước
Vì vậy, hơn bao giờ hết các nước đều đánh giá cao vai trò của GD – ĐT
và đang gia tăng các nỗ lực đầu tư tài chính của cá nhân, cộng đồng cho pháttriển GD – ĐT theo hướng sau đây:
1.3.1.1 Đa dạng hoá các hình thức và kênh giáo dục – đào tạo
Các nước ASEAN trong những năm gần đây đặc biệt ưa chuộngphương thức đào tạo “một công đôi việc”: khuyến khích các dự án đầu tưnước ngoài có lợi cho đào tạo tay nghề và kỹ năng quản lý của người bản địa
1.3.1.2 Đa dạng hoá mức học phí và nguồn tài chính cho GD – ĐT
Trang 15Điểm chung ở các nước thành công trong phát triển kinh tế châu Á –Thái Bình Dương là có mức chi phí cho GD – ĐT khá cao Mức chi cho GD –
ĐT năm 1997 – 1998 ở một số nước là: Đài Loan: 21% chi ngân sách Nhànước (357 USD/đầu người học/ năm); Hồng Kông; 20,7% (510 USD);Malaysia: 19,3% (167,4USD), Inđônêsia (243 USD); Philippin: 11,4%(147USD), Trung Quốc: 4,2% (64,6USD…)
1.3.1.3 Đầu tư cho GD – ĐT đang được chuyển dần sang khu vực tư nhân
Đây là xu hướng nổi bật và bao trùm mang tầm vóc toàn cầu Nguồnđầu tư từ NSNN tuy vẫn giữ vị trí chủ đạo trong xây dựng nền tảng cho sựnghiệp giáo dục, song ngày càng mang ý nghĩa tạo điều kiện tiền đề cho việckhai thác các nguồn ngoài NSNN cho giáo dục
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về huy động
và sử dụng các nguồn tài chính cho GD - ĐT
- Đối với Việt Nam, bài học lớn nhất mà chúng ta lĩnh hội được từ kinhnghiệm các nước khu vực là coi trọng phát triển nguồn nhân lực như mục tiêuchiến lược và giải pháp hàng đầu cho quá trình CNH, HĐH đất nước
- Giáo dục- đào tạo là nhân tố quan trọng bậc nhất đến phát triển KT- XHcủa mỗi quốc gia, cũng như là nhân tố nòng cốt trong phát triển khoa học-côngnghệ
Vì vậy Nhà nước cần có chính sách đầu tư thoả đáng và đầu tư ở tầmquốc sách Phát triển giáo dục phải ưu tiên đi trước một bước, mở rộng pháttriển hình thức đầu tư khuyến khích các mô hình giáo dục mầm non ngoàicông lập, cung ứng dịch vụ chất lượng cao
- Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đảm bảo đáp ứng các nhu cầu mởrộng quy mô và chất lượng, hiệu quả gắn với những mục tiêu công bằng, bìnhđẳng trong giáo dục
- Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế diễn ra vớiqui mô rộng và cường độ ngày càng cao, đòi hỏi nước ta cần tạo ra sự gắn kếthài hoà của quá trình hội nhập trong kinh tế và trong GD – ĐT
Trang 17Chương 2
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI
2.1 Khái quát những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Hà Nội có liên quan đến giáo dục mầm non
2.1.1 Đặc điểm chung về Thủ đô Hà Nội
Thành phố Hà Nội mở rộng về địa giới hành chính dân số tăng gấp 2lần, cơ cấu dân số, trình độ văn hoá chuyên môn, cơ cấu lao động thay đổi và
áp lực càng gia tăng lên khu vực nội thành
Tóm lại, qua phân tích đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóacủa Hà Nội có liên quan đến hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục mầmnon nói riêng Nó được xem như là những nhân tố, những điều kiện cho pháttriển giáo dục mầm non ở Hà Nội Khả năng huy động các nguồn lực tài chínhcho hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non phụ thuộc vào mức tăngtrưởng kinh tế, chi của ngân sách cho giáo dục và thu nhập của dân cư
2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội.
Cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và chủtrương xã hội hóa giáo dục nhằm động viên toàn xã hội quan tâm đến sựnghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước, đã làm xuất hiện đa dạng các loại hìnhđào tạo và các loại trường Quy chung lại có hai loại trường là trường cônglập và trường dân lập
2.2 Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội.
2.2.1 Quản lý của Nhà nước về tài chính đối với giáo dục mầm non ở
Hà Nội
Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục nói chung và giáo dục mầmnon nói riêng nhằm huy động nguồn lực tài chính của các thành phần kinh tếcủa mọi tổ chức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước
Trang 18Căn cứ vào luật Giáo dục, chính quyền các cấp thực hiện chức năngquản lý Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo thông qua việc quy hoạchphát triển mạng lưới giáo dục, đề ra các chính sách, chế độ, quy định và cácvăn bản hướng dẫn việc thực hiện quy định đó.
Đối với giáo dục mầm non, Quyết định số 73/2000/QĐ-UB của UBNDthành phố Hà Nội về việc thu học phí và một số khoản thu khác ở các cơ sởgiáo dục đào tạo công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc thành phố
Hà Nội từ năm học 2000-2001 trở đi
Sau 3 năm triển khai thực hiện quyết định của thành phố 73/2000/QĐ-UB,bước đầu công tác quản lý tài chính đã đi vào nề nếp hơn nhưng càng về saucàng gặp phải vướng mắc và bộc lộ nhiều bất cập
Tại công văn 1828/CV-SGD và ĐT ngày 17/8/2005 về việc tăng cườngquản lý các khoản thu chi trong trường học Công văn hướng dẫn cụ thể đốivới các trường mầm non nông thôn ở các huyện ngoại thành và các quận mớithành lập Trên cơ sở Quyết định 73/2000 QĐ-UB, các trường đề xuất mứcthu cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phương Mức thu nàyphải được sự thỏa thuận của cha mẹ học sinh, xin ý kiến của UBND xã,phường và báo cáo với Phòng Giáo dục-Đào tạo Phòng GD-ĐT có tráchnhiệm trình UBND quận, huyện phê duyệt Sử dụng các nguồn thu, căn cứvào Nghị định số 43/2008/NĐ-CP ngày 25/4/2008 của Chính phủ quy định vềquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy biênchế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và thông tư hướng dẫn thựchiện Nghị định số 43/2008/NĐ-CP của Bộ Tài chính, các trường tiến hànhxây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế này được thảo luận công khai vàđược sự nhất trí của tập thể giáo viên và cán bộ công nhân viên nhà trường.Hàng năm đơn vị có thể sửa đổi quy chế cho phù hợp với đặc thù hoạt độngcủa đơn vụ, nhằm tăng cường công tác quản lý, sử dụng kinh phí tiết kiệm,hiệu quả từ đó nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 19Qua các văn bản được các cấp ban hành quy định về các khoản thu vàchi đối với các trường mầm non cả khối công lập và ngoài công lập, từngbước được cụ thể hóa và khắc phục những bất cập trong quản lý tài chính củacác đơn vụ cơ sở.
2.2.2 Thành tựu và những mặt hạn chế của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội
2.2.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình hoàn thiện cơ chế tài chính của các trường mầm non ở Hà Nội
Mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non được phân bố khá hợp lý theođịa bàn dân cư quận, huyện và phường, xã với nhiều loại hình trường, lớp về
cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của các tầng lớp dân cư
Cơ sở vật chất cua các trường học trong mạng lưới các trường của thànhphố đã và đang từng bước được củng cố và hiện đại hóa
Cơ cấu chi trên đầu trẻ mầm non khu vực giáo dục mầm non công lậptăng đáng kể
Từ khi Luật NSNN có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1997, cơ chế phâncấp quản lý ngân sách giáo dục thành phố Hà Nội đã khắc phục căn bảnnhững bất cập trên, như qui định về thẩm quyền quản lý NSNN về giáo dụccủa các cấp, các ngành; quy định phạm vi thẩm quyền của các cấp chínhquyền quận, huyện trong quản lý ngân sách giáo dục, qui định về quản lý cáckhoản huy động đóng góp của nhân dân
2.2.2.2 Những mặt hạn chế của cơ chế tài chính trong các trường mầm non ở Hà Nội
- Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của giáo dục mầm non trong hệthống giáo dục quốc dân thống nhất Song thực tế những năm vừa qua, giáodục mầm non chưa giành được sự quan tâm thỏa đáng
- Quản lý của Nhà nước đối với giáo dục mầm non nói chung và hoạtđộng tài chính của các cơ sở giáo dục mầm non nói riêng chậm đổi mới chưa
Trang 20theo kịp với khả năng và nhu cầu phát triển của giáo dục có tính đặc thù củabậc mầm non, phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Cơ chế và các chính sách về tài chính không còn phù hợp với tình hìnhhiện tại Nhiều văn bản, quy định đã ban hành cách đây cả chục năm, khôngđược sửa đổi, bổ sung đã bó buộc hoạt động năm động của các đơn vị trongnền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hơn nữa hệ thống văn bản hiệnhành quá phức tạp rắc rối, chồng chéo lên nhau, nhưng lại có nhiều kẽ hở dẫnđến thất thoát, lãng phí trong phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước cho đầu
tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị ở các trường
- Các trường mầm non, nhất là mầm non công lập về danh nghĩa làđược giao quyền tự chủ về tài chính, nhưng thực tế những cơ sở này chưa cóquyền tự chủ thực sự và quyền tự chủ chưa được tôn trọng
Trang 21Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN
CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH
CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI
3.1 Quan điểm định hướng hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà nội
3.1.1 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non, dựa trên cơ sở đổi mới căn bản nhận thức về giáo dục, đào tạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục, đào tạo không phải là lĩnh vựctiêu phí tài nguyên, bản thân nó là ngành dịch vụ hoặc là trực tiếp hoặc là giántiếp làm tăng GDP của đất nước, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trìnhCNH, HĐH nhằm mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại
3.1.2 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non nhằm mục tiêu xây dựng phát triển hệ thống giáo dục Thủ đô hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế đồng thời giữ vững bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Mục tiêu chiến lược của ngành giáo dục nói chung và của bậc mầm nonnói riêng, được xác định cho từng giai đoạn cụ thể dựa trên những dự báokhoa học về trình độ phát triển kinh tế, xu thế quá trình hội nhập, đặc biệt lànhu cầu về chất lượng giáo dục ngày càng tăng của xã hội
Mục tiêu phát triển giáo dục mầm non ở Hà Nội đến năm 2020
- Xây dựng đội ngũ đủ, đồng bộ, đạt chuẩn Một bộ phận trên chuẩn đạt
tỷ lệ trên 30%
- Hiện đại hoá hệ thống trường học
Trang 22- Xã hội hoá cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
- Cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với đặc trưng phát triểncủa GD&ĐT thủ đô, đặc biệt đối với phát triển GDMN
3.1.3 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng của nguồn tài chính cho giáo dục mầm non theo hướng xã hội hóa các nguồn lực tài chính Đảm bảo huy động mọi nguồn lực tài chính và tiềm năng của xã hội đồng thời phân phối sử dụng nguồn lực tài chính đó một cách có hiệu quả
Thực hiện xã hội hóa nhằm hai mục tiêu: Thứ nhất là phát huy tiềmnăng vật chất và trí tuệ của toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạonói chung Thứ hai là để tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là những đốitượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục
Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mangtính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích chấtlượng cao
3.1.4 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non nhằm thực hiện công bằng trong quyền hưởng thụ thành quả của nền giáo dục nước nhà và các dịch vụ chất lượng cao của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội
Luật giáo dục của Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2005)quy định: Mọi công dân có quyền được học hành, hưởng thụ thành quả giáo dục
Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế – xãhội và cá nhân hảo tâm, đầu tư xây dựng, giúp đỡ hỗ trợ, tài trợ xây dựng pháttriển các cơ sở giáo dục mầm non ở các vùng miền của đất nước
3.1.5 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non theo hướng phát huy tới đa quyền tự chủ tự quyết,
tự chịu trách nhiệm trong quản lý và thu chi tài chính cho các cơ sở giáo dục mầm non
Trang 23Thực hiện giảm tối đa các khâu trung gian trong quá trình huy động vàcấp phát tài chính, thực hiện nguyên tắc sử dụng, phân phối trực tiếp đến tayngười được thụ hưởng tức là đến mỗi trẻ em
3.2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách huy động
và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non Thủ đô Hà nội
3.2.1 Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách.
Đẩy mạnh phân cấp trong quản lý bổ ngân sách, giảm bớt các khâutrung gian
Tăng cường tính tự chủ cho các cơ sở giáo dục phải đi kèm với việcnâng cao vai trò giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp
3.2.2 Nhóm giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động và sử dụng các nguồn tài chính cho GDMN ở Hà Nội
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhậnthức về xã hội hóa
- Tuyên truyền sâu rộng, chủ trương, chính sách về xã hội hóa để cáccấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các đơn vị công lập, ngoài công lập nhậnthức đúng và thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa giáo dục
- Hoàn thiện các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các đơn
vị ngoài công lập theo hướng quy định rõ trách nhiệm, mục tiêu hoạt động,nội dung, chất lượng dịch vụ, sản phẩm, chế độ sở hữu và cơ chế hoạt động
3.2.3 Nhóm giải pháp về đổi mới cơ chế quản lý và chính sách của Nhà nước nhằm tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho GDMN ở Hà Nội
- Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở công lập và ngoài cônglập; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở đó cùng phát triển ổn định, lâu dài;bảo đảm lợi ích của từng cá nhân, tập thể và của toàn xã hội
Tách bạch quản lý nhà nước khỏi việc điều hành công việc thườngxuyên của cơ sở
Trang 24Hoàn thiện việc phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động và trách nhiệmcủa các địa phương Các địa phương căn cứ vào cơ chế, chính sách chung,quyết định cơ chế, chính sách cụ thể cho địa phương, xây dựng quy hoạchphát triển xã hội hóa đối với từng lĩnh vực
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra Quy định chế độ và trách nhiệmthanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của các cấp, đồng thời, phát huy dân chủ ở
cơ sở để giám sát công việc quản lý của các cấp
3.2.4 Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện và tăng cường công tác thanh, kiểm tra của Nhà nước, giám sát của cộng đồng
- Căn cứ vào Bộ Luật Giáo dục (năm 2005), và các quan điểm địnhhướng phát triển giáo dục, đào tạo nói chung, giáo dục mầm non nói riêng, chínhphủ ban hành chính sách, các văn bản quy định, phân công trách nhiệm và tổchức phối hợp các ngành các cấp chính quyền địa phương tổ chức thực hiện
+ Các Bộ, ngành
+ Các cấp chính quyền địa phương
Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng quyhoạch, kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện, phù hợp với chủ trương chínhsách của Nhà nước, với thẩm quyền và điều kiện của địa phương
+ Các cơ sở GDMN
Cơ sở GDMN không phân biệt trường công lập hay là trường ngoàicông lập là những đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính Các cơ sở GDMNcông lập, dần được trao quyền tự chủ đầy đủ, tự chủ về tổ chức quản lý, tựchủ về thu chi tài chính và tiến tới tự chủ hoàn toàn cân đối thu chi Công khaihóa các khoản thu chi của đơn vị và giám sát của cộng đồng: tập thể cán bộcông nhân viên, giáo viên nhà trường và đại diện của phụ huynh
Trang 25KẾT LUẬN
- Công cuộc đổi mới đất nước Đảng lãnh đạo, đang diễn ra trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Cùng với quá trình đổi mới kinh tế,chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập quốc
tế, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đang diễn ra cuộc cải cách sâu, rộng trong
cả hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của
sự nghiệp CNH, HĐH nước nhà
- Giáo dục mần non - bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân thốngnhất, là bậc giáo dục tiểu học đường chuẩn bị những điều kiện cần thiết vềsức khỏe thể chất, tâm lý tình cảm nhân cách bước vào các trường phổ thông
Vì vậy giáo dục mầm non cần có sự quan tâm, ưu tiên chăm sóc của toàn xãhội Trong những năm qua, GDMN nói chung và GDMN ở Hà Nội nói riêng
đã có nhiều chuyển biến tích cực đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.Song thực tế GDMN trên địa bàn thủ đô Hà Nội tồn tại nhiều bất cập, vướngmắc và hạn chế
- Để góp phần tháo gỡ vướng mắc, khó khăn khắc phục những mặt hạnchế trong công tác quản lý tài chính Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đềxuất đề án về đổi mới cơ chế tài chính trong ngành giáo dục và đào tạo trìnhQuốc hội Hiện nay đề án đang được triển khai từng phần, để rút kinh nghiệm
và từng bước hoàn thiện
- Với tư cách là người trực tiếp tham gia thực hiện chương trình đổi mớiGDMN ở Hà Nội, tác giả của luận văn đã giành nhiều thời gian nghiên cứu đềtài, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục chung của đấtnước Song do hạn chế về thời gian và năng lực, tuy nhiên, với thái độ nghiêmtúc và cầu thị, tác giả xin được tiếp thu ý kiến đóng góp của các nhà khoa học
Trang 26LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng và trở thành trung tâm của chiến
lược phát triển đất nước "Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chiến lược phát
triển giáo dục và chiến lược con người luôn đi trước chiến lược kinh tế- xã hội.Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốcdân Nó có vai trò rất quan trọng, bước đầu hình thành nhân cách và trí tuệcho trẻ, là khâu cung cấp “ nguồn nhân lực “ đầu vào cho bậc tiểu học
Hoạt động giáo dục mÇm non ở Hà Nội trong thời kỳ đổimới đã có những bước phát triển cả về qui mô, nội dung, hìnhthức và góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế -
xã hội Thủ đô trong thời gian qua
Tuy nhiên, giáo dục mÇm non Hà Nội những năm quacũng có những mảng tối mà nổi bật là nguy cơ ngày càng lan rộngcña xu hướng thương mại hoá các hoạt động giáo dục Sựcông bằng, bình đẳng trong hưởng thụ các thành quả giáodục bị xâm phạm Sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa thành thị
và nông thôn ngày một lớn, sự thu chi không đúng nguyên tắc xảy ra thườngxuyên, việc quản lý tài chính nơi thì quá cứng nhắc, chỗ thì buông lỏng hoàntoàn dẫn đến nhiều khoản thu không hợp lý, tạo gánh nặng cho cha mẹ họcsinh… Những thực trạng này làm hạn chế đáng kể hiệu quả và gia tăng
sự phát triển không đều của giáo dục Trong khi đó một sốchủ trương, chính sách, biện pháp đổi mới cơ chế quản lý tàichính giáo dục mÇm non của thành phố thực hiện chưa cãđược cơ sở lý luận và những kinh nghiệm thực tế đã được đánh giá, tổng kếtnên hiệu quả đem lại không cao
Trang 27Cả trờn phương diện lý thuyết và thực tiễn ở nước ta và
Hà Nội, cho đến nay chưa cú những cụng trỡnh nghiờn cứukhoa học (nhất là ứng dụng) đề cập một cỏch toàn diện và cụthể về cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chớnh cho giỏodục mầm non làm cơ sở cho việc hoạch định, đổi mới và nõngcao hiệu quả chớnh sỏch và cơ chế quản lý tài chớnh giỏo dụcmầm non trong những năm tới
Bởi vậy, việc nghiờn cứu sõu hiện trạng cơ chế huy động
và sử dụng cỏc nguồn vốn đầu tư cho giỏo dục mầm non , từ đú
đề ra giải phỏp tổng thể đổi mới cơ chế tài chớnh cho phỏttriển giỏo dục mầm non Thủ đụ đang là yờu cầu bức xỳc, cảtrong lớ luận lẫn thực tiễn hoạt động giỏo dục và trong đờisống xó hội Thủ đụ hiện tại và tương lai
Nhằm đúng gúp thờm cơ sở khoa học và thực tiễn phục
vụ cuộc cải cỏch giỏo dục Thủ đụ núi chung và hoàn thiện cơchế quản lý tài chớnh giỏo dục mầm non núi riờng, đỏp ứngyờu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đụ, tỏc giả chọn đề tài:
“ Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục
mầm non tại Hà Nội ” làm luận ỏn Thạc sĩ kinh tế.
Trang 28Hoàn thiện chính sách cho giáo dục đại học tại Việt nam - Luận án Tiến
3.2 Nhiệm vụ khoa học của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế huy động và sử dụng cácnguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non
- Phân tích đánh giá đúng thực trạng cơ chế huy động và sử dung các nguồntài chính cho phát triển giáo dục mầm non ở Hà nội trong thời gian qua
- Xác định rõ định hướng hoàn thiện và tìm các giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầmnon ở Hà nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tàichính cho giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội từ thời kỳ đổi mới đến nay.4.2 Phạm vi nghiên cứu: địa bàn 14 quận huyện nội ngoại thành Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích các tài liệu khoa học đã được công bố liên quan đến vấn đềnghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Trang 295.2.1 Phương pháp điều tra: bằng cách phỏng vấn và phát phiếu điều tra giáoviên, cán bộ quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương, các cấp ủy Đảng, cáchội, phụ huynh học sinh
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn.
- Luận văn gúp phần hệ thống hoá và luận giải sâu những vấn đề lýluận cơ bản về giáo dục và giáo dục mầm non trên nguyên tắc lý luận của chủnghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục (như: khái niệm,vai trò của giáo dục mÇm non đối với phát triển KT – XH, lựa chọn
ưu tiên đầu tư giáo dục mÇm non và kinh tế, về sự công bằng,bình đẳng trong giáo dục mÇm non …)
- Luận v¨n góp phần đánh giá những ưu điểm và bất cập
về cung cấp tài chính cho giáo dục mÇm non, cơ chế quản lý tàichính GD mÇm non của Việt Nam và Hà nội như: Các nguồn tàichính, ngân sách và phân cấp ngân sách giáo dục, mối quan
hệ giữa chi ngân sách nhà nước với các khoản đóng góp chogiáo dục mÇm non, nội dung cơ chế quản lý tài chính giáo dụcmÇm non (cả công lập và ngoài công lập)
- Đặc biệt, luận v¨n góp phần hệ thống hoá và làm rõnhững căn cứ khoa học và thực tiễn cùng các phương hướng,mục tiêu phát triển giáo dục Thủ đô đến năm 2020, các giảipháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính GDmÇm non ở Hà Nội, cả đối với GD mÇm non công lập và ngoàicông lập trong giai đoạn sắp tới Từ đó góp phần tăng cường,
Trang 30nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và tạo động lực pháttriển GD mÇm non Hà Nội theo những mục tiêu mà Đảng vàNhà nước đã đặt ra cho Thủ đô.
7 Kết cấu luận văn.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương
Chương I: Cở sở lý luận và thực tiễn về cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non
Chương II: Thực trạng về cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non tại Hà nội
Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục mầm non tại Hà nội
Trang 311.1.1 Giáo dục mầm non - cấu phần hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất.
1.1.1.1 Khái niệm về giáo dục, giáo dục mầm non.
Khái niệm về giáo dục.
Trên góc độ giáo dục và đào tạo, xét về phương diện khái niệm đang cónhiều ý kiến, nhận định khác nhau Thực tế và lý thuyết cho thấy việc hiểukhác nhau về phạm trù giáo dục tất yếu sẽ có những nhận thức khác nhau vềquản lý tài chính đối với sự nghiệp giáo dục Vì lẽ đó, trước hết cần thốngnhất khái niệm về giáo dục và giáo dục mầm non trước khi đề cập đến cơ chếquản lý tài chính đối với lĩnh vực này
Giáo dục theo nghĩa rộng có thể được hiểu là một phương thức đểtruyền đạt những kinh nghiệm trong cuộc sống của con người Ngay từ khi xãhội hình thành, dù dưới trạng thái thô sơ, giáo dục đã nảy sinh trong cộngđồng như một động lực thúc đẩy cuộc sống xã hội phát triển Từ thuở ấu thơ,trẻ em đã được giáo dục qua đồng giao; các trò chơi giúp các em phát triển trí,đức, thể, mĩ Mẫu hình sơ khai của trường học,với tư cách là nơi giáo dụcchính là gia đình, làng xóm cộng đồng; thầy dạy là ông bà, cha mẹ, anh chị
em, người trong thôn xóm… Lớn lên, con người lại được tiếp xúc với khotàng văn hoá dân gian, đó là những sách giáo khoa dạy cho họ những kiếnthức tự nhiên, sản xuất, những kinh nghiệm ứng xử, đạo đức, tình cảm, lối
Trang 32sống tron làng xóm, những kinh nghiệm ứng xử, đạo đức, tình cảm, lối sốngtrong làng xóm, quê hương.
Nội dung của giáo dục rất phong phú, phương pháp giáo dục cũng rất
đa dạng, đã góp phần vào việc hình thành nhân cách và truyền thống conngười
Ngày nay, trên quan điểm lợi ích toàn xã hội, giáo dục (bao hàm cả đàotạo) được coi là hoạt động mà xã hội thiết lập nên để tạo điều kiện cho cácthành viên trong cộng đồng nâng cao tri thức và nhân cách Thực chất đó làquá trình hình thành và nâng cao phẩm chất, đạo đức, kiến thức, kĩ năng, khảnăng hành động của con người thông qua tất cả các dạng học tập Có thể nói,giáo dục là một trong những quá trình chủ yếu hình thành và phát triển nhữngđặc tính nội tại của cá nhân trong mối liên hệ hài hoà với môi trường sống, từ
đó tạo nên sự phát triển chung của nền KT – XH Một mặt, xã hội càng pháttriển về kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ thì càng có điều kiện để tổchức nền giáo dục tiến bộ, toàn diện và những yêu cầu mới thúc đẩy sự pháttriển của bản thân giáo dục cũng như các thành viên sống trong xã hội Mặtkhác, giáo dục phát triển là một trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩytăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo “Giáo dục cũng có nghĩa là văn hoá;
nó là công cụ chủ yếu để truyền bá những thành tựu của nền văn minh nhân loại Những mục tiêu phong phú này làm cho giáo dục trở thành một lĩnh vực then chốt của chính sách công cộng ở tất cả mọi nước” [32, tr xi] Nhận thức đúng đắn mối quan hệ hai chiều này là cơ sở để xác định đúng đắn vai
trò và nội dung cần thiết của các chính sách giáo dục đối với sự phát triển KT– XH
Vì vậy, khái niệm cơ bản của Cardiner trong cuốn: “sự giáo dục cơ bản tương tự như nhân cách” cơ bản đã được Tổ chức giáo dục- khoa học – Văn hoá của Liên hiệp quốc ( UNESCO) chấp nhận: “là toàn bộ những hoạt động
Trang 33để tác thành cho một nhóm người thiếu tổ cho hợp lý về những yếu tố văn hoá cần thiết cho sự phát triển”
Theo giáo sư Hà thế ngữ:‘ Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ cho việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người”
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, từ các góc độ khác nhau nhưng
chung quy lại có thể định nghĩa rằng: giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã hội loài người.
Khái niệm này đều đã được các Quốc gia nâng lên thành quyền giáodục với sự ra đời của Luật giáo dục Coi giáo dục là một quyền và nghĩa vụcủa mọi công dân
Những công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam cho thấy,dân tộcviệt Nam có truyền thống hiếu học nhưng nhiều năm bị kìm hãm bởi ngoạibang đô hộ Tuy vậy, bản chất ham học, hiếu học đã ăn sâu vào máu rễ mỗicon người Việt Nam Truyền thống học tập được khuyến khích phát triển ởmọi tầng lớp xã hội, mọi khía cạnh đời sống Ngay sau khi dành được độc lậpvào năm 1945, chính phủ Cách mạng non trẻ đã đưa ra ba nhiệm vụ hàng đầu:diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm Bộ luật giáo dục đầu tiên của nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà được ra đời trong thời kỳ này, quy địngh mọicông dần đều có quyền và nghĩa vụ được giáo dục, học tập Luật giáo dụcđịnh nghĩa: giáo dục là…
Gíao dục mầm non.
Điều 21 Luật giáo dục định nghĩa: giáo dục mầm non thựkc hiện việcnuôI dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến 6 tuổi
Trang 341.1.1.2 Hệ thống tổ chức giáo dục quốc dân.
Chương I điều 6 Luật giáo dục nước ta (1998) quy định hệ thống giáodục quốc dân gồm:
Giáo dục mầm non gồm có nhà trẻ và mẫu giáo
Giáo dục phổ thông Việt Nam được chia làm 2 bậc: bậc tiểu học và bậctrung học Bậc tiểu học là bậc dành cho trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, thực hiệntrong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộcđối với trẻ em; nhà trường, gia đình và xã hội đều phải quan tâm, có nghĩa vụ,trách nhiệm để trẻ em ở độ tuổi này học hết tiểu học Bậc trung học được chialàm 2 cấp: trung học cơ sở và trung học phổ thông
Trung học cơ sở là cấp học dành cho trẻ em đã có bằng tốt nghiệp tiểuhọc, độ tuổi 11 tuổi, được thực hiện trong 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9
Trung học phổ thông dành cho người đã có bằng tốt nghiệp trung học
cơ sở, ở độ tuổi 15 tuổi, được thực hiện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12
Tương ứng với các bậc học, cấp học ở giáo dục phổ thông là các trườngtiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Hệ thống giáo dục quốc dân được thiết lập nhằm thực hiện các mục tiêugiáo dục, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người của đất nước, tập hợp các ngànhhọc, bậc học, cấp học, từ nhà trẻ đến sau đại học một cách liên tục thốngnhất Đối với Việt Nam, đó là một hệ thống 5-4-3-4, hay nói cách khác, mộthọc sinh trải qua toàn bộ hệ thống giáo dục từ lớp 1 lên đến đại học, không bỏhọc hoặc lưu ban lớp nào, sẽ phải trải qua 16 năm theo học Trong đó, giaiđoạn GDPT phải trải qua 12 năm, bắt đầu với 5 năm tiểu học, tiếp đến là 4năm THCS và 3 năm trung học phổ thông (Xem sơ đồ 1.1)
Luật Giáo dục năm 1998 qui định trẻ em bắt đầu đi học lớp một lúc 6tuổi Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân, mỗi công dân không phân
Trang 35biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hộihoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi
- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em
từ ba tháng đến sáu tuổi
Loại hình nhà trường Mầm non do những đặc điểm riêng nên khônghoàn toàn giống với loại hình nhà trường ở các bậc học khác, gồm có: trườngcông lập và trường ngoài công lập, dân lập, các nhóm trẻ
Trường mầm non, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻđược tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập, bán công, tư thục
Cơ sở giáo dục mầm non bán công, dân lập, tư thục được gọi chung là
cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập
Trang 36a/ Trường công lập: Trường thuộc sở hữu Nhà nước, do cơ quan Nhà
nước cấp Trung ương , tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương và cấp quậnhuyện quản lý Mọi chi phí hoạt động của Nhà trường do NSNN cấp và mộtphần chi phí do học sinh đóng góp
b/ Trường ngoài công lập: Là một loại hình Nhà trường nằm trong hệ
thống giáo dục quốc dân, tự trang trải chi phí hoạt động Có 3 loại hìnhtrường gồm: trường bán công, dân lập và tư thục
* Trường bán công: Trường thuộc sở hữu của Nhà nước, do cơ quanNhà nước có thẩm quyền ở Trung ương, Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trungương quản lý, mọi chi phí hoạt động được trang trải từ các khoản thu phí dohọc sinh đóng góp
* Trường dân lập: Do các tổ chức, tập thể không thuộc Nhà nước đứng
ra thành lập, sở hữu và quản lý, như công đoàn, hợp tác xã… Cũng giống nhưtrường bán công, các trường này tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động từ cáckhoản thu phí do học sinh đóng góp
* Trường tư thục: Đây là cơ sở tư theo đúng nghĩa thông thường của từnày, do các cá nhân, hộ gia đình đứng ra thành lập, sở hữu và quản lý Cáctrường tư thục chưa được phép thành lập đối với GDPT, mà chỉ được phépthành lập đối với các trường mầm non, dạy nghề và Đại học
Tất cả các loại hình Nhà trường này đều chịu sự quản lý Nhà nước củacác cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Nhà nước.Trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, Nhànước khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở trường dân lập, tư thục nhằm đápứng nhu cầu học tập của xã hội Nhà trường được thành lập khi đảm bảo cácđiều kiện về cán bộ quản lý, giáo viên, trường sở, thiết bị và tài chính theo quiđịnh của Chính phủ
Nhóm trẻ tại khu dân cư:
Trang 371.1.2 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế- văn
hoá-xã hội đất nước và sự lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế
1.1.2.1 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Giáo dục vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ tác độngqua lại với tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Phát triển giáo dục làphát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng trưởng và phát triển KT – XH,đầu tư tài chính, ngân sách là các thành tố của sự phát triển Ngày nay, bất cứmột tiến bộ KT - XH nào cũng đều có các yếu tố cấu thành từ giáo dục.Ngược lại, các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kinh tế cũng có tácđộng, ảnh hưởng to lớn đến giáo dục Giáo dục không thể phát triển nếu thiếunguồn đầu tư ngày càng tăng xuất phát từ sự tăng trưởng và phát triển KT –
XH Mối quan hệ biện chứng này có thể hình dung theo Sơ đồ 1.2 sau:
Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa tăng trường và phát triển kinh tế với phát triển
chất lượng nguồn nhân lực và đầu tư tài chính, ngân sách.
Sơ đồ trên phản ánh một cách chung nhất mối quan hệ giữa giáo dục và
KT – XH Hệ thống giáo dục giúp con người phát triển về nghề nghiệp vànhân cách, từ đó giúp họ có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động KT –
XH, đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội Kết quả của các hoạt động
KT – XH, đặc biệt là các hoạt động kinh tế, được thể hiện ở tổng số sản phẩm
Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đầu tư tài
chính, ngân
sách
Phát triển chấtlượng nguồnnhân lực
Phát triển GD
-ĐT
Trang 38quốc nội (GDP) sẽ làm tăng khả năng đầu từ các nguồn tài chính, ngân sáchcho giáo dục và từ đó tác động trở lại, tạo động lực cho phát triển giáo dục
Như vậy, có thể nói rằng, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển KT – XH, đồng thời sự tăng trưởng, phát triển KT – XH cũngchính là mục tiêu và động lực của giáo dục Điều này không có nghĩa là quátrình phát triển KT – XH và quá trình phát triển giáo dục biệt lập, riêng rẽ vớinhau Trái lại, các quá trình này nằm trong mối quan hệ biện chứng, ràngbuộc, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Vai trò và mối quan hệ biện chứng tác động qua lại giữa giáo dục vàquá trình phát triển KT – XH là mối quan hệ tất yếu, được mọi người thừanhận Song cách nhìn nhận mối quan hệ này đang có những quan điểm khácnhau:
Thứ nhất, quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là mục tiêu
và là động lực phát triển KT – XH
Tư tưởng về vị trí quốc sách hàng đầu và vai trò động lực đối với sựphát triển KT – XH của giáo dục là một tư tưởng phổ biến rộng rãi của thờiđại Theo quan điểm này, sức mạnh của mỗi quốc gia, trước hết là sức mạnh
KT – XH được thể hiện ở chỗ phải tạo ra nền tảng trí tuệ, nguồn chất xámcũng như nhân lực kĩ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suấtlao động, phát triển các hoạt động văn hoá, tinh thần Tốc độ phát triển củamỗi nước phụ thuộc rất nhiều vào qui mô, chất lượng và hiệu quả của giáodục
Tại hội nghị của 74 người được giải thưởng Nobell, tháng 1/1998 đãkhuyến cáo: Giáo dục cần được ưu tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách để cóthể góp phần nâng cao khả năng sáng tạo của con người… phải làm cho cácnước đang phát triển vươn tới khoa học và kĩ thuật để giúp họ làm chủ tươnglai của mình
Trang 39Vị trí quốc sách hàng đầu và vai trò động lực của giáo dục trong sựphát triển KT – XH ở thời đại hiện nay được giải thích một phần bởi thế giớingày càng có xu hướng chuyển nhanh sang “xã hội thông tin”, và “kinh tế trithức” với những đặc điểm nổi bật là: Lực lượng lao động trí tuệ đã dần thaythế lực lượng lao động chân tay; chuyển từ sản xuất vật chất cụ thể sang sảnxuất phi vật chất; chuyển từ nền kinh tế khép kín mang tính quốc gia sang nềnkinh tế mở, tính toàn cầu hoá ngày càng cao; tính thống nhất và đa dạng củanền kinh tế thế giới, sự phát triển công nghệ và đặc biệt là công nghệ thôngtin dẫn đến thay đổi cơ cấu sử dụng nguồn lực ở tất cả các quốc gia Điều đódẫn đến đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng cao toàn diện cả
về kiến thức, kĩ năng, lẫn nhân cách Trong quá trình này, giáo dục có ý nghĩahết sức quan trọng đối với thị trường lao động, là một phương thức góp phầngiảm nghèo và toạ điều kiện đạt tới sự bình đẳng và cao hơn cả là hướng tới
sự phát triển của chính bản thân con người
Xu thế toàn cầu hoá đã làm cho nhân loại đứng trước hàng loạt tháchthức lớn như việc giải quyết mâu thuẫn giữa xu thế toàn cầu và cục bộ, giữaphổ biến và cá biệt, giữa truyền thống và hiện đại, giữa tầm nhìn dài hạn vàngắn hạn, giữa cạnh ranh bình đẳng về cơ hội phát triển, sự phát triển vô hạncủa tri thức với khả năng tiếp thu và ứng dụng của từng cá nhân Vì vậy, theobáo cáo của Hội đồng Delors (Uỷ ban chuẩn bị cho giáo dục đi vào thế kỉXXI của UNESCO) trình UNESCO năm 1996 đã nhấn mạnh vai trò của giáodục đối với sự phát triển ngày nay cần được xem xét lại và phải xoay xungquanh 3 chủ đề chính là:
- Tương lai của giáo dục luôn luôn được xem xét và tạo lập trong mốiquan hệ giữa quốc gia, khu vực và quốc tế Dù còn có những khác biệt, giáodục đã mang tính toàn cầu hoá, sự hội nhập đang tạo ra những khả năng mới
Trang 40về hợp tác và đoàn kết giữa các quốc gia trước xu thế toàn cầu hoá Tính toàncầu của giáo dục nêu lên nhu cầu phải có một tầm nhìn về một xã hội học tập.
- Giáo dục phải được coi như công cụ để tạo cơ hội cho mỗi cá thểđược học tập và phát triển tài năng một cách đa dạng, nhằm duy trì sự gắn kết
xã hội; đồng thời phải khuyến khích tính sáng tạo cá nhân và phát huy tiềmnăng của từng người Điều này đòi hỏi sự đa dạng cả về phương pháp dạy vàhọc cũng như không gian và thời gian học tập
- Hình thành một xã hội học tập suốt đời Quá trình chuyển từ việcnghiên cứu vì sự tăng trưởng kinh tế, sang việc nghiên cứu vì sự phát triểnbền vững, đã dặt con người vào trung tâm của sự phát triển và vấn đề học tậpsuốt đời có thể tạo những triển vọng mới cho việc tạo công ăn việc làm chocon người Vì mục tiêu này, việc học tập suốt đời hướng tới một xã hội họctập đã trở thành một triết lý của thời đại
Báo cáo tổng kết này đã đưa ra 4 mục tiêu của nền giáo dục nhân loạitrong thời đại ngày nay, đó là:
1 Học để biết;
2 Học để làm;
3 Học để chung sống;
4 Học để tự khẳng định mình trong sự phát triển xã hội
Đối với nước ta, Hiến pháp năm 1992, điều 35 đã ghi rõ: “Giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu” Quan điểm đó đã được khẳng định lại một
cách đặc biệt trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trungương Đảng khoá VIII (1996) về định hướng chiến lược phát triển GD – ĐTtrong thời kì CNH, HĐH Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ươngĐảng tại Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam, một lần nữa xác định:
“Phát triển GD – ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự