1.1.2 Quan điểm khác nhau về lạm phát: 1.1.2.1 Lý thuyết của trường phái trọng tiền: Họ cho rằng tốc độ tăng của tiền tệ đã vượt quá tốc độ tăng trưởng của sảnxuất dẫn đến tiền thừa so v
Trang 11.1 Lý luận chung về lạm phát 5
1.1.1 Khái niệm và đo lường 51.1.2 Quan điểm khác nhau về lạm phát: 71.2 Lý luận chung về tăng trưởng: 12
1.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế: 121.2.2 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 131.3 Lạm phát và tăng trưởng 14
1.3.1 Lý thuyết về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng: 141.3.2 Các nghiên cứu kiểm nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăngtrưởng: 161.4 Kết luận 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VIỆT NAM 27
2.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ trước năm 1988 272.1.1 Lạm phát và tăng trưởng trong giai đoạn từ 1980 trở về trước 272.1.2 Lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1981 - 1985 29
Trang 22.3 Tăng trưởng trong giai đoạn thiểu phát 1999 - 200342
2.4 Lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 2004 đến nay: 46
4.3 Đối với chính sách tỷ giá 65
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 3FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thứcOECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếNHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SEV: Hội đồng tương trợ kinh tế
OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửaWTO: Tổ chức thương mại thế giới
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
NSNN: Ngân sách nhà nước
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Trang 4Hình 2.1 : Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1986 – 1988 Hình 2.2 : Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1992 – 1998Hình 2.3 : Tỷ lệ lạm phát các tháng trong năm 1996
Hình 2.4 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 1997
Hình 2.5 : Tỷ lệ lạm phát các tháng trong năm 1998
Hình 2.6 : Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh kế Việt Nam giai đoạn 1997 – 2003
Hình 2.7 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2004
Hình 2.8 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2008
Trang 5Bảng 2.1 : Chỉ số giá hàng hóa giai đoạn 1976 – 1980
Bảng 2.2 : Chỉ số giá hàng hóa giai đoạn 1981 – 1985
Bảng 2.3 : Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1986 – 1988 Bảng 2.4 : Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1989 – 1998 Bảng 2.5 : Chỉ số hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 1992 – 1996
Bảng 2.6 : Lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực tế giai đoạn 1992 – 1996 Bảng 2.7 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm giai đoạn 1999 –
2003
Bảng 2.8 : Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2004 – 2007 Bảng 3.1 : Kết quả hồi quy với mức π tối ưu
Bảng 3.2 : Kết quả kiểm định tự tương quan
Bảng 3.3 : Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
Bảng 3.4 : Kết quả kiểm định dạng hàm đúng
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng màmọi quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Lạmphát là một hiện tượng kinh tế phức tạp, xuất hiện khi nền kinh tế phát triểnmất cân đối và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, ngoài nhữnghậu quả gây ra thì lạm phát ở những mức nhất định lại cần thiết đối với cácnước Có nhiều tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế Muốn tăng trưởng cao hơn thì phải tăng đầu tư, tăng chi ngânsách, đẩy mạnh xuất khẩu… điều này dẫn đến lạm phát gia tăng Bên cạnh đónếu muốn kiềm chế lạm phát, thì phải thắt chặt tài khóa và tiền tệ và hệ quả làtăng trưởng kinh tế sẽ không cao
Ở Việt Nam sau một thời gian dài việc kiềm chế lạm phát được coi làmột trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách của chính phủ, chúng ta
đã thành công trong việc đề ra những chính sách để kiềm chế lạm phát, thúcđẩy tăng trưởng lên cao Tuy nhiên, trong giai đoạn tiếp theo 1999- 2003 nềnkinh tế nước ta nằm trong tình trạng lạm phát thấp nhưng tốc độ tăng trưởngcũng thấp Đặc biệt trong thời gian gần đây hiện tượng lạm phát tái phát, gâytác động mạnh đến tổng thể nền kinh tế Có nhiều quan điểm khác nhau đốivới Việt Nam mức lạm phát nào là tối ưu cho tăng trưởng kinh tế, chấp nhậnmức lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng hay phải hy sinh tốc độ tăng trưởng
để giữ lạm phát ở mức thấp? Đây đang là bài toán khó, gây nhiều tranh luận
Để đưa ra được quyết định tối ưu nhất, chúng ta cần hiểu rõ được mối quan
hệ, tác động qua lại giữa lạm phát và tăng trưởng
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa lạmphát và tăng trưởng: Theo Mundell và Tobin (1965) có mối tương quan tỉ lệthuận giữa lạm phát và tăng trưởng; hai trường phái Keynes và trường phái
Trang 7tiền tệ đều cho rằng trong ngắn hạn, chính sách nới lỏng tiền tệ kích thíchtăng trưởng, đồng thời làm gia tăng lạm phát Sau này, cùng với sự phát triểncủa kỹ thuật kinh tế lượng thì các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ nàyđược ước lượng ngày càng phản ánh đúng đắn hơn thực tiễn và các hệ số ướclượng có nhiều ý nghĩa kinh tế hơn Những nghiên cứu ban đầu vào thập niên
1960 đã không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê nào Cho tới thậpniên 1970, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của lạm phát đến tăngtrưởng mang tính tích cực: Thirwall and Barton (1971) Sự thay đổi quanđiểm đến sau khi nhiều quốc gia trải qua gia đoạn lạm phát cao liên tục trongthập niên 1970 và 1980, các nghiên cứu khẳng định rằng lạm phát có tác độngtiêu cực đến tăng trưởng: Kormendi and Meguire (1985); Tullock (1989);Fischer (1993); Bruno và Easterly (1995) Gần đây nhất, những nghiên cứucủa Sarel (1996), Ghosh and Phillips (1998), Khan and Senhadji (2000) đưa
ra mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng
Tại Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều bài nghiên cứu khác nhau vềlạm phát, tăng trưởng nói riêng Tuy nhiên mảng nghiên cứu thực nghiệm về
sự tác động qua lại của lạm phát và tăng trưởng còn rất ít, chưa đi sâu vàophân tích cụ thể Đặc biệt việc sử dụng phân tích định lượng, chưa cập nhậpnhững số liệu mới nhất, số quan sát chưa đủ lớn…Hơn nữa các phân tích gầnđây chưa chỉ ra được mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng,đồng thời chưa tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam
Với những lý do và thực tiễn như vậy, tôi đã chọn đề tài: “Tác động
của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”.
Phạm vi nghiên cứu:
Do mối quan hệ giữa lạm phát và tăng Strưởng là khá rộng, do đó luậnvăn chủ yếu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam
Trang 8Mục đích nghiên cứu:
Kết hợp phân tích định lượng và định tính, luận văn tập trung chủ yếugiải quyết những vấn đề sau:
- Đánh giá thực trạng quá trình lạm phát của Việt Nam qua các thời kỳ
- Tác động tích cực cũng như tiêu cực của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
- Đưa ra ngưỡng lạm phát cho Việt Nam
- Một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh
Bố cục luận văn;
Luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam Chương 3: Vận dụng mô hình kinh tế lượng xác định mức lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam
Chương 4: Những giải pháp kiềm chế lạm pháp ở mức độ hợp lý và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Lý luận chung về lạm phát
1.1.1 Khái niệm và đo lường
Khái niệm lạm phát
Đo lường lạm phát có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, thông thường người ta thường dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát DGDP.
1.1.2 Quan điểm khác nhau về lạm phát:
1.1.2.1 Lý thuyết của trường phái trọng tiền:
Họ cho rằng tốc độ tăng của tiền tệ đã vượt quá tốc độ tăng trưởng của sảnxuất dẫn đến tiền thừa so với hàng hóa sản xuất ra dẫn đến mức giá chungtăng, sức mua của đồng tiền bị giảm sút, người dân không còn muốn giữ tiền,
họ chuyển sang mua hàng hóa để tích trữ hay mua ngoại tệ Kết quả là hệthống ngân hàng đã thiếu tiền càng thiếu hơn nên phải phát hành thêm tiền để chitiêu hoặc đưa vàng cất giữ ra thị trường mong bảo tồn giá trị đồng tiền họ có
1.1.2.2 Lý thuyết cơ cấu về lạm phát
Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu giải thích nguyên nhân của lạmphát là do cơ cấu kinh tế hình thành chứa đựng nhiều mất cân đối, bất hợp lý,thoát ly cơ cấu tự nhiên của sự phát triển nhu cầu, mâu thuẫn về phân phốigây ra tăng giá Theo trường phái này, lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khimuốn tăng trưởng cao Lạm phát do mất cân đối kinh tế xuất hiện khi có sựphát triển lệch trong các cân đối lớn của nền kinh tế như công nghiệp – nôngnghiệp, sản xuất – dịch vụ, xuất khẩu – nhập khẩu, tích lũy – tiêu dùng, côngnghiệp nặng – công nghiệp nhẹ …
Trang 101.1.2.2 Lạm phát do cầu:
Sự gia tăng liên tục trong cầu kéo mức giá cả lên cao một cách liên tục,quá trình lạm phát này đôi khi được gọi là lạm phát do cầu kéo lên thể hiệnvai trò của tổng cầu đang tăng lên là yếu tố “ kéo” mức giá cả tăng lên
Lạm phát cầu do tốc độ phát triển kinh tế quá nóng, quy mô đầu tư lớnnhưng hiệu quả không cao, vượt quá khả năng đáp ứng của nền kinh tế Dophát triển quá nhanh dẫn đến nhu cầu quá lớn trong khi khả năng cung ứngcòn thấp Sự mất cân đối giữa cung và cầu như vậy làm giá cả gia tăng liêntục với tỷ lệ cao
1.2 Lý luận chung về tăng trưởng:
1.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế:
Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi củamức sản lượng quốc dân Tuy nhiên cách tính trên có hạn chế khi dân số tăngrất nhanh trong khi GDP thực tế tăng chậm vì vậy còn sử dụng cách tính theosản lượng bình quân đầu người
1.2.1 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng được quyết định bởi sự gia tăng các yếu tố đầu vào và côngnghệ Đối với các nước kém phát triển, hai nguồn lực chủ yếu và quan trọngnhất là lao động và vốn Trong mô hình tăng trưởng kinh tế, ba nhân tố chung
là lao động, đầu tư và kỹ thuật công nghệ
Trang 111.2 Lạm phát và tăng trưởng
1.3.1 Lý thuyết về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng:
Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu tin rằng giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế có mối quan hệ tỷ lệ thuận, có tăng trưởng tất yếu sẽ có lạmphát Một xã hội dành ưu tiên cho tăng trưởng thì cần chấp nhận lạm phát đikèm với nó
Một số nhà cơ cấu nhận thấy rằng chính phủ có thể chủ động sử dụng lạmphát như một biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi vì lạm phát có tácdụng phân phối lại thu nhập và của cải theo hướng làm tăng tổng tiết kiệm vàđầu tư trong nước
Tuy nhiên quan điểm có thể sử dụng lạm phát làm đòn bẩy cho tăngtrưởng kinh tế của các nhà kinh tế thuộc trường phái cơ cấu không tránh khỏinhững phản đối Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra những lập luận của mình chorằng lạm phát, đặc biệt với lạm phát cao có ảnh hưởng tiêu cực đến tăngtrưởng kinh tế Họ cho rằng lạm phát làm mức lãi suất thực tế giảm, tạo ramất cân bằng ở thị trường vốn Điều này dẫn đến nguồn cung về vốn bị giảmsút vì vậy đầu tư tư nhân sẽ giảm do hạn chế từ nguồn vay Việc giảm lãi suấtthực dương khiến đầu tư và tăng trưởng kinh tế giảm
1.3.2 Các nghiên cứu kiểm nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng:
Nhiều mô hình kinh tế đã được xây dựng để khảo sát phải chăng có tồntại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng dài hạn và mối quan hệ đó códạng tuyến tính hay phi tuyến
Trang 12Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VIỆT NAM 2.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ trước năm 1988
2.1.1 Lạm phát và tăng trưởng trong giai đoạn từ 1980 trở về trước
Trước năm 1975 nền kinh tế Việt Nam nằm trong tình trạng chiến tranh
và bị cách biệt với bên ngoài Do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam giai đoạnnày nên lạm phát một con số ở mức độ nhẹ, có xu hướng lớn dần lên do sựchiếm lĩnh thị trường của thương nghiệp quốc doanh và tập thể ngày càngmạnh và hoạt động theo giá Nhà nước chủ đạo, giá cả không phản ánh quan
hệ cung cầu, thoát ly ngày càng xa sức mua thực tế của đồng tiền
Sau ngày giải phóng miền Nam, tuy đất nước thống nhất nhưng mỗi miềnvẫn lưu hành một đồng tiền riêng Trước đổi mới năm 1979, nền kinh tế nước
ta thống nhất từ hai mô hình kinh tế vào một mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp với sự kiểm soát và can thiệp tập trung của Chính phủlên tất cả lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Do sự sát nhập của hai nền kinh
tế khác nhau dẫn đến tình hình, mặc dù là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trungnhưng vẫn tồn tại nền kinh tế phát triển ngầm
Tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế thấp cùng với cơ cấu kinh tếmất cân đối trong phát triển công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng là nguyênnhân lạm phát chủ yếu của thời kỳ này Đất nước rơi vào một cuộc khủnghoảng kinh tế xã hội trầm trọng
2.1.2 Lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1981 - 1985
Trong bối cảnh thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 – 1980) không thànhcông , nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, chiến tranh biên giới càng làmtrầm trọng thêm cuộc khủng hoảng Thêm vào đó những thay đổi trong quan
hệ kinh tế đối ngoại chủ yếu còn đóng khung trong quan hệ với các nước
Trang 13XHCN, hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) dẫn đến những khó khăn Tronghoàn cảnh như vậy đã làm bộc lộ rõ hơn những nhược điểm và khiếm khuyếtcủa nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bất chấp các quy luật khách quan cùngvới những hệ quả tiêu cực Đó là những lý do dẫn đến việc Nhà nước thựchiện một loạt những cải cách mới.
Những chính sách, giải pháp được đưa ra đã giúp phần nào cải thiệntình hình sản xuất và thay đổi cơ cấu kinh tế nhưng do quá trình bao cấp tồntại quá dài trong tất cả các lĩnh vực, lạm phát tăng nhanh dẫn đến hậu quả nhànước không làm chủ được nguồn hàng, không làm chủ được lưu thông tiền tệ,không quản lý được thị trường
Có thể nói lạm phát và tăng trưởng thời kỳ này không có mối quan hệgắn bó nào bởi: các quy luật cung – cầu; quy luật cạnh tranh vốn là động lựccủa nền kinh tế thị trường đã không được thừa nhận, bị bài xích, không cóchỗ đứng trong nền kinh tế; có chăng chỉ là phát huy tác dụng được rất ít vaitrò của mình ở thị trường tự do Đặc biệt trong thời gian này hệ thống thống kêcủa chúng ta còn thô sơ, vẫn sử dụng cách tính MPS của hệ thống XHCN cũ
2.1.3 Cuộc cải cách kinh tế và giai đoạn siêu lạm phát 1986 – 1988
Trong điều kiện tình hình thế giới, sự cải tổ của Liên Xô và các nướcXHCN ở Đông Âu sụp đổ, nguồn việc trợ của Trung Quốc, Liên Xô…vớiViệt Nam đã bị cắt giảm mạnh, do đó Việt Nam phải chủ động trong việcnhập các nguyên vật liệu cho đầu vào sản xuất như: sắt thép, dầu hỏa, máymóc thiết bị…với giá cao Điều này làm đẩy chi phí sản xuất lên cao, trongkhi đó dự trữ ngoại tệ quốc gia chỉ còn 20 triệu rúp- đô la; ngân khố quốc gianhiều khi không còn tiền chi tiêu Để có tiền cho các xí nghiệp quốc doanhmua nguyên vật liệu để sản xuất, Nhà nước phải in thêm tiền Sức cạnh tranhcủa khu vực tư nhân đang lớn mạnh và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng củathị trường nhập khẩu đã làm bộc lộ tình trạng kém hiệu quả của doanh nghiệp
Trang 14nhà nước và những khuyết tật của thị trường do nhà nước tổ chức một cáchbao cấp Cơ chế bao cấp cùng với tình trạng mất ổn định về ngân sách vàchính sách phát hành tiền tệ để bù đắp bội chi của Chính phủ đã làm cho lạmphát tăng vọt, đánh dấu một thời kỳ lạm phát mới- siêu lạm phát trong suốt 3năm tiếp theo, đến cuối năm 1988 đầu năm 1989, đã lâm vào lạm phát 3 con
số chưa từng có ở nước ta Chỉ trong vòng 3 năm siêu lạm phát đã phá hủyhoàn toàn những thành tựu trước đó gây dựng nên
Thực tế, ở thời kỳ này các quy luật kinh tế chưa thực sự phát huy tác dụngtrên thị trường Việt Nam Đồng thời việc sử dụng các phương pháp phân tíchcòn nhiều bất cập do đó những số liệu thống kê cũng chưa phần nào phản ánhhết được toàn bộ thực trạng của nền kinh tế nước ta thời kỳ đó, do vậy mốiquan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng chưa được phản ánh chính xác Tuynhiên, nếu đơn thuần về mặt số liệu đã chỉ ra cho ta thấy lạm phát cao ở mức
độ 3 con số ảnh hưởng trầm trọng đến sự tăng trưởng của một nền kinh tế,dẫn đến tình trạng khủng hoảng, trì trệ của cả một hệ thống và tình trạng tăngtrưởng âm là điều không thể tránh khỏi
2.2 Thời kỳ tăng trưởng đi đôi với kiểm soát lạm phát từ 1989 -1998
Năm 1989 không chỉ là năm bước ngoặt trong diễn biến lạm phát mà còn
là năm bước ngoặt của cơ chế kinh tế, của cải cách kinh tế ở nước ta Trongnăm này, nước ta đã đạt được sự tăng trưởng GDP mà nhiều năm trước chưatừng đạt được
Trong hai năm tiếp theo 1990 – 1991 lạm phát tăng đáng kể Nguyênnhân là sự thay đổi cơ bản trong thị trường xuất nhập khẩu, quan hệ kinh tế tàichính đối ngoại do biến động chính trị ở Liên Xô và hệ thống các nước xã hộichủ nghĩa là khu vực tập trung kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta và cũng
là khu vực cung ứng các nguồn tài chính chủ yếu của nước ta đã bị cắt bỏhoàn toàn Bên cạnh đó, chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu tăng đột ngột,
Trang 15khiến các loại nhiên liệu quan trọng tăng giá Các chỉ tiêu tăng trưởng GDPtrong hai năm 1990 – 1991 xấp xỉ so với năm 1989 song do chịu ảnh hưởngnặng nề từ những tác động bên ngoài trong quan hệ quốc tế liên quan đến cáncân thanh toán quốc tế làm cho các chỉ tiêu tài chính và tiền tệ xấu đi.
Trong giai đoạn tiếp theo 1992 – 1998 nước ta đã thoát ra khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng, đánh dấu một xu thế mới lạm phátđược kiềm chế đi đôi với tăng trưởng cao
Nhìn chung, tính đến hết năm 1998, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát của nước
ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Đưa nền kinh tế thoát khỏi cuộckhủng hoảng, tăng trưởng trì trệ, siêu lạm phát xảy ra… tuy nhiên những biệnpháp được dùng kiềm chế lạm phát vẫn mang tính tình thế , còn nhiều vấn đềbất cập trong chính sách vĩ mô
2.3 Tăng trưởng trong giai đoạn thiểu phát 1999 – 2003:
Bước sang những năm 1999 – 2003 chúng ta phải đối mặt với nhiềukhó khăn, thách thức rất gay gắt Đi kèm với lạm phát thấp là tăng trưởng thụtlùi, thể hiện ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế Từ năm 2001 – 2003 tìnhtrạng thiểu phát được cải thiện phần nào tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều tháng
có tỷ lệ lạm phát âm, tỷ lệ tăng trưởng của các năm này dần được nânglên.Nguyên nhân lạm phát của nước ta trong giai đoạn sau 1999 là do cơ cấu
và cơ chế kinh tế song biểu hiện ra bên ngoài vẫn là vấn đề điều hành chínhsách tài chính, tiền tệ và hàng hóa
Lạm phát và tăng trưởng giai đoạn này thể hiện rõ đây là mối quan hệthuận khi ở mức hợp lý Khi lạm phát quá thấp kéo theo nền kinh tế bị đìnhđốn, thị trường trở nên chật hẹp, hàng hóa dư thừa không tiêu thụ được ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vàcác cá nhân trong xã hội Mọi hoạt động mang tính cầm cự hoặc đi dần đếnphá sản, dẫn đến kết quả nền kinh tế không có tăng trưởng
Trang 162.4 Lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 2004 đến nay
Giai đoạn 2004 – 2008 kinh tế Việt Nam đã trải qua những biếnđộng lớn Lạm phát ở nước ta bao gồm cả lạm phát do chi phí đẩy (giá cácmặt hàng trên thế giới tăng kéo theo sự leo thang giá cả của các hàng hóatrong nước), lạm phát do cầu kéo ( sự khan hiếm tương đối hàng hóa trongnước, tổng cung thấp hơn tổng cầu; khi đại dịch xảy ra như việc tiêu diệt giacầm vì dịch cúm làm cung thực phẩm giả mạnh),lạm phát tiền tệ (xuất phát từchính sách kích cầu được sử dụng trong các giai đoạn trước đó, ngân hàngnhà nước đã bơm ra thị trường một lượng lớn tiền mặt khiến cung tiền khôngngừng gia tăng, giá cả tăng cao); lạm phát cơ cấu ( đầu tư dàn trải, kém hiệuquả, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ lên đến hàng vài chục tỷ đồng vàkhông có khả năng thanh toán) Lạm phát cao đã có ảnh hưởng không tốt đếntăng trưởng kinh tế.Tăng trưởng và lạm phát thời kỳ này luôn tồn tại một mốiquan hệ
Chương 3 VẬN DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG XÁC ĐỊNH MỨC LẠM PHÁT TỐI ƯU CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
3.1 Mô hình kiểm định sự tồn tại mức lạm phát tối ưu
Đề tài sử dụng mô hình nhằm kiểm định liệu có tồn tại hay không mộtngưỡng lạm phát tối ưu mà khi lạm phát vượt qua mức này sẽ có tác động âmtới tăng trưởng được Khan (2001) đưa ra:
a Mô hình tổng quát có dạng :
Trong đó: d log( y): tỷ lệ tăng trưởng GDP
π: chỉ số CPI
Trang 17π *: CPI tương ứng với ngưỡng lạm phátD: biến giả, nhận giá trị 1 nếu π > π*, và ngược lại nhận giá trị 0
μ, β: các tham số của phương trìnhX: vecto các biến độc lập, được sử dụng để giảm bớt sự tươngquan giữa lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng mà không trực tiếp do ảnh hưởng củalạm phát lên tăng trưởng tạo ra
Để kiểm định sự tồn tại mức lạm phát tối ưu, mô hình trên sẽ được ướclượng với một loạt các giá trị khác nhau của π Giá trị tối ưu π* ứng vớitrường hợp mô hình nào có R- squared lớn nhất ( vì R- squared là đại diện chotính phù hợp của mô hình)
b Ứng dụng mô hình của Khan với Việt Nam
gdp t = b 1 + b 2• inv t + b 3• cpi t + b 4• dum • [cpi t - log(1+opi)]
Kết quả của mô hình chỉ ra ở Việt Nam mức lạm phát hợp lý là khoảng8%/ năm Đây là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách dựa vào nó để có thểđưa ra những chính sách, biện pháp kinh tế phù hợp
Chương 4 NHỮNG GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở MỨC ĐỘ HỢP LÝ
VÀ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4.1 Chính sách tài khóa
4.1.1 Đối với chi tiêu:
Đổi mới việc chi tiêu ngân sách Nhà nước bằng cách Chính phủ cần cơ cấu lại chi tiêu theo hướng kiên quyết loại bỏ những khoản chi chưa thật cần thiết, bao biện và có biện pháp hạn chế thất thoát, lãng phí đồng thời nên xây dựng kế hoạch dài hạn để giảm chi tiêu thường xuyên, chuyển các khoản đầu
Trang 18tư công sang cho khu vực tư nhân, qua đó góp phần vào việc giảm thuế dài hạn cho khu vực doanh nghiệp và cá nhân mà vẫn đảm bảo được cân đối ngânsách
4.1.2 Vấn đề nguồn thu ngân sách:
Tăng tỷ lệ thu ngân sách Nhà nước bằng các biện pháp khai thác tối đacác nguồn thu Hiện nay, nguồn thu chính của ngân sách thông qua thuế; vìvậy cần hoàn thiện lại hệ thống thuế, tăng cường các biện pháp thu thuế,chống thất thu, nợ đọng thuế, chống gian lận thương mại, trốn thuế
Hình thành một cơ cấu thuế hợp lý nhằm tăng cường nguồn thu và vaitrò điều tiết vĩ mô của nhà nước, nên giữ tỷ suất thu thuế khoảng 20% GDP.Cải cách thuế cần tập trung vào việc thu hẹp những bóp méo của thuế, đi đôivới việc mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất
4.1.3 Đối với vấn đề thâm hụt ngân sách:
Thâm hụt ngân sách là hiện tưởng phổ biến đối với hầu hết các nềnkinh tế Hạn chế thâm hụt ngân sách là mục tiêu của các chính phủ Thôngthường để thúc đẩy tăng trưởng chính phủ dành một tỷ lệ ngân sách đáng kểcho đầu tư phát triển Nhưng nếu chi ngân sách quá mức dẫn đến thâm hụtnặng nề dẫn đến chính phủ bù đắp thâm hụt bằng phát hành thêm tiền dẫn đếntăng lạm phát Ngược lại, bù đắp ngân sách bằng đi vay khiến nợ nước ngoàităng lên Nếu gánh nợ quá cao tất yếu đưa đến khủng hoảng kinh tế và lạmphát cao
Thực tế, Việt Nam nên duy trì chính sách tài khóa thận trọng Tuynhiên, chính sách tài khoá không nên thắt chặt quá mức, bởi vì điều này sẽgây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế dài hạn Ngân sách có thể được phép thâmhụt ở mức cao song vẫn nằm trong phạm vi cho phép Việc tài trợ cho thâmhụt ngân sách gia tăng phải tránh không gây thêm tác động đến tỷ lệ lãi suất
Trang 19trong nước và giảm thiểu các chi phí đi vay Nâng cao tính hiệu quả của chitiêu công cộng phải đi cùng với bù đắp thâm hụt gia tăng.
4.2 Chính sách tiền tệ và tín dụng
Ngân hàng nhà nước cần sớm xây dựng và ứng dụng lạm phát mục tiêutrong cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, nghĩa là ngân hàng nhà nước cầncông bố và cam kết trước Quốc hội, Chính phủ và công chúng một tỉ lệ lạmphát trong dài hạn để đạt được mức tăng trưởng như mong muốn; muốn thựchiện cơ chế này, đòi hỏi ngân hàng nhà nước cần sớm xây dựng ngân hàngtrung ương theo hướng độc lập hơn, được giao trách nhiệm rõ ràng và thựcquyền hơn trong việc điều hành và sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
Đối với chính sách lãi suất
Cần thực hiện chính sách lãi suất thay đổi linh hoạt và kịp thời, theo sátcung cầu vốn Tính thanh khoản của thị trường cần được tăng lên Chủ động
sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường và áp dụngcác biện pháp thích hợp để định hướng và ổn định lãi suất, hướng tới thựchiện lãi suất thực dương Tuy nhiên, lãi suất không nên quá cao vì lãi suất cao
sẽ là gánh nặng đối với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, gây tổn hại chotăng trưởng kinh tế
4.3 Chính sách tỷ giá
Nhiều quan điểm cho rằng trong thời giai tới Việt Nam cần phải thả nổihoàn toàn tỷ giá hối đoái Nếu tỷ giá thả nổi hoàn toàn để thị trường chi phốitoàn bộ sẽ làm cho các công cụ khác của chính sách tiền tệ giảm hiệu quả, đặcbiệt có thể làm bộc phát lạm phát, nội tệ bị mất giá không kiềm chế dược khi
mà ta chưa có đủ ngoại tệ để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu cao Đặc biệt trong
cơ chế này, có những lúc tỷ giá biến động lớn thì nhà nước cần phải can thiệp
và do đó làm tăng hoặc giảm dự trữ ngoại hối quốc gia, mà trong điều kiệnhiện nay thì cán cân thanh toán quốc tế nước ta đang bị mất cân đối nghiêm
Trang 20trọng Tỷ giá thả nổi thường xuyên biến động đòi hỏi các nhà kinh doanh xuấtnhập khẩu phải biết phương thức quản trị ngoại tệ, như thế mới hạn chế đượcrủi ro Trong khi đó hầu hết các nhà xuất nhập khẩu nước ta chưa quen vớiphương thức quản trị các nguồn ngoại tệ theo cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó cần có một hệ thống ngân hàng đủ năng lực cạnh tranh,giúp cho việc xác lập tỷ giá phù hợp với cung cầu ngoại tệ Đặc biệt trong cơchế tỷ giá thả nổi cần thiết phải có một thị trường ngoại tê năng động, để chocác chủ thể tham gia thị trường này có thể tiếp cận với nhau một cách nhanhchóng, từ đó thiết lập và duy trì được quan hệ cung cầu ngoại tệ Với những lý
do như trên, ta thấy cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết vĩ mô là sự lựa chọnmang tính khách quan của Việt Nam trong thời kỳ hiện nay
Trang 21LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng màmọi quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Lạmphát là một hiện tượng kinh tế phức tạp, xuất hiện khi nền kinh tế phát triểnmất cân đối và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, ngoài nhữnghậu quả gây ra thì lạm phát ở những mức nhất định lại cần thiết đối với cácnước Có nhiều tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế Muốn tăng trưởng cao hơn thì phải tăng đầu tư, tăng chi ngânsách, đẩy mạnh xuất khẩu… điều này dẫn đến lạm phát gia tăng Bên cạnh đónếu muốn kiềm chế lạm phát, thì phải thắt chặt tài khóa và tiền tệ và hệ quả làtăng trưởng kinh tế sẽ không cao
Vào những năm đầu thập niên 1980, nền kinh tế nước ta bị khủnghoảng, rơi vào lạm phát 3 con số, chính phủ đã thành công trong việc đề ranhững chính sách để kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng lên cao Tuynhiên, trong giai đoạn tiếp theo 1999- 2003 nền kinh tế nước ta nằm trongtình trạng lạm phát thấp nhưng tốc độ tăng trưởng cũng thấp Đặc biệt trongthời gian gần đây hiện tượng lạm phát tái phát, gây tác động mạnh đến tổngthể nền kinh tế Có nhiều quan điểm khác nhau đối với Việt Nam mức lạmphát nào là tối ưu cho tăng trưởng kinh tế, chấp nhận mức lạm phát cao đểthúc đẩy tăng trưởng hay phải hy sinh tốc độ tăng trưởng để giữ lạm phát ởmức thấp? Đây đang là bài toán khó, gây nhiều tranh luận Để đưa ra đượcquyết định tối ưu nhất, chúng ta cần hiểu rõ được mối quan hệ, tác động qualại giữa lạm phát và tăng trưởng
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa lạmphát và tăng trưởng: Theo Mundell và Tobin (1965) có mối tương quan tỉ lệthuận giữa lạm phát và tăng trưởng; hai trường phái Keynes và trường phái
Trang 22tiền tệ đều cho rằng trong ngắn hạn, chính sách nới lỏng tiền tệ kích thíchtăng trưởng, đồng thời làm gia tăng lạm phát Sau này, cùng với sự phát triểncủa kỹ thuật kinh tế lượng thì các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ nàyđược ước lượng ngày càng phản ánh đúng đắn hơn thực tiễn và các hệ số ướclượng có nhiều ý nghĩa kinh tế hơn Những nghiên cứu ban đầu vào thập niên
1960 đã không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê nào Cho tới thậpniên 1970, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của lạm phát đến tăngtrưởng mang tính tích cực: Thirwall and Barton (1971) Sự thay đổi quanđiểm đến sau khi nhiều quốc gia trải qua gia đoạn lạm phát cao liên tục trongthập niên 1970 và 1980, các nghiên cứu khẳng định rằng lạm phát có tác độngtiêu cực đến tăng trưởng: Kormendi and Meguire (1985); Tullock (1989);Fischer (1993); Bruno và Easterly (1995) Gần đây nhất, những nghiên cứucủa Sarel (1996), Ghosh and Phillips (1998), Khan and Senhadji (2000) đưa
ra mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng
Tại Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều bài nghiên cứu khác nhau vềlạm phát, tăng trưởng nói riêng Tuy nhiên mảng nghiên cứu thực nghiệm về
sự tác động qua lại của lạm phát và tăng trưởng còn rất ít, chưa đi sâu vàophân tích cụ thể Đặc biệt việc sử dụng phân tích định lượng, chưa cập nhậpnhững số liệu mới nhất, số quan sát chưa đủ lớn…Hơn nữa các phân tích gầnđây chưa chỉ ra được mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng,đồng thời chưa tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam
Với những lý do và thực tiễn như vậy, tôi đã chọn đề tài: “Tác động
của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”.
Trang 23Phạm vi nghiên cứu:
Do mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là khá rộng, do đó luậnvăn chủ yếu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam
Mục đích nghiên cứu:
Kết hợp phân tích định lượng và định tính, luận văn tập trung chủ yếugiải quyết những vấn đề sau:
- Đánh giá thực trạng quá trình lạm phát của Việt Nam qua các thời kỳ
- Tác động tích cực cũng như tiêu cực của lạm phát đến tăng trưởng kinhtế
- Đưa ra ngưỡng lạm phát cho Việt Nam
- Một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh
Trang 24Bố cục luận văn;
Luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương 3: Vận dụng mô hình kinh tế lượng xác định mức lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam
Chương 4: Những giải pháp kiềm chế lạm pháp ở mức độ hợp lý và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 25Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.2 Lý luận chung về lạm phát
1.1.1 Khái niệm và đo lường
1.1.1.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là một vận động đi lên trong tổng mức giá cả
mà đại đa số sản phẩm đều dự phần Thường khi giá tăng từ vài tháng trở lên
có thể coi như có lạm phát xảy ra Trong thực tế, khi mức giá chung tăng lênkhông đồng nghĩa với việc tất cả mọi hàng hóa đều tăng giá, và nếu có tăngthì tỷ lệ tăng cũng không đều nhau Sự tăng giá của bất kỳ hàng hóa đơn lẻnào đó không gọi là lạm phát nếu giá của các hàng hóa khác giảm
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là quá trình đồng tiền liên tục giảmgiá Điều này có nghĩa là khi lạm phát xảy ra, với một đơn vị tiền tệ chỉ có thểmua được ngày càng ít hơn các hàng hóa và dịch vụ
Hiện nay có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lạm phát, nó đưa ranhiều tranh cãi bàn về nguyên nhân, tác động đến tăng trưởng và các chínhsách phù hợp
1.1.1.2 Thước đo lạm phát
Lạm phát có thể được tính theo công thức sau:
% 100
*
1 1
P
P P
(1.1)
Trong đó:
πt : Tỷ lệ lạm phát giai đoạn tt: giai đoạn tính lạm phát
Pt: mức giá giai đoạn t
Trang 26Pt-1: mức giá giai đoạn t-1Công thức trên có thể chuyển đổi thành:
πt = ln Pt – ln Pt-1 (1.2)
Có một số phương pháp để tính mức giá chung: chỉ số giá tiêu dùng(CPI); chỉ số điều chỉnh GDP; chỉ số giá hàng hóa bán lẻ (RPI); chỉ số giá sảnxuất (PPI); chỉ số giá hàng hóa bán buôn (WPI) Trong đó chỉ số giá tiêu dùng(CPI) là một chỉ số quan trọng mà các nước thường lấy để đo tỷ lệ lạm phát.Chỉ số giá tiêu dùng được tính theo công thức:
CPIt = * 100
1
0 0
1 0
i i
N i
i it Q P
Q P
(1.3)
Trong đó:
Pit : giá hàng hóa i trong thời kỳ t
P0t: giá hàng hóa i trong thời kỳ gốc
Qio: hàng hóa i trong thời kỳ gốc
Chỉ số điều chỉnh GDP được coi là chỉ số phản ánh mức giá của tất cảcác hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước Chỉ số này được tính theocông thức:
Dt GDP = * 100
1 0
it i
N i
it it Q P
Q P
Trang 27Những quan điểm khác nhau về lạm phát được đưa ra dựa trên sự nhìnnhận khác nhau về nguyên nhân và hậu quả gắn liền với những vấn đề chungcủa sự phát triển của các nền kinh tế trên thế giới.
1.1.2.1 Lý thuyết của trường phái trọng tiền:
Theo trường phái này “ lạm phát lúc nào và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ ” Họ cho rằng tốc độ tăng của tiền tệ đã vượt quá tốc độ tăng trưởng
của sản xuất dẫn đến tiền thừa so với hàng hóa sản xuất ra dẫn đến mức giáchung tăng, sức mua của đồng tiền bị giảm sút, người dân không còn muốngiữ tiền, họ chuyển sang mua hàng hóa để tích trữ hay mua ngoại tệ Kết quả
là hệ thống ngân hàng đã thiếu tiền càng thiếu hơn nên phải phát hành thêmtiền để chi tiêu hoặc đưa vàng cất giữ ra thị trường mong bảo tồn giá trị đồngtiền họ có Bên cạnh đó, để phục vụ cho mục tiêu duy trì hoạt động của nềnkinh tế, giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước….các khoản chi của chính phủtăng lên không ngừng vượt quá các khoản thu vì vậy một số quốc gia tiếp tụcbơm tiền vào thị trường ( Ngân hàng trung ương phải tái cấp vốn cho cácngân hàng thương mại, hoặc cho ngân sách vay) khiến cung tiền vượt quámức cầu và lạm phát càng tăng
Lạm phát tiền tệ có thể biểu diễn thông qua phương trình:
L= a1*m – a2*g + U
Trong đó: m: tốc độ gia tăng tiền tệ
g: tốc độ tăng trưởng kinh tếMột nhà kinh tế học tiêu biểu cho trường phái trọng tiền, M.Friedman chorằng giải pháp duy nhất cho vấn đề lạm phát tiền tệ đó là việc hạn chế tăngcung tiền Để đạt được mục tiêu này, ông đề xuất Ngân hàng trung ương chỉnên tăng cung tiền khoảng 3% đến 5% hàng năm bằng với mức tăng trưởngthông thường của nền kinh tế Mỹ
Trang 281.2.2.2 Lý thuyết cơ cấu về lạm phát
Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu giải thích nguyên nhân của lạmphát là do cơ cấu kinh tế hình thành chứa đựng nhiều mất cân đối, bất hợp lý,thoát ly cơ cấu tự nhiên của sự phát triển nhu cầu, mâu thuẫn về phân phốigây ra tăng giá Theo trường phái này, lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khimuốn tăng trưởng cao Lạm phát do mất cân đối kinh tế xuất hiện khi có sựphát triển lệch trong các cân đối lớn của nền kinh tế như công nghiệp – nôngnghiệp, sản xuất – dịch vụ, xuất khẩu – nhập khẩu, tích lũy – tiêu dùng, côngnghiệp nặng – công nghiệp nhẹ …
Thực tế đã chỉ ra những nền kinh tế tư bản phát triển đã trải qua cải tiến cơcấu cản bản như OECD, Đông Á đã trải qua lạm phát trong vòng 15 năm(1965-1980) cao hơn nhiều thời kỳ sau đó (1890-1990) Đặc biệt với cácnước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu trong những thập niên 1990 khi chuyểnqua phát triển theo định hướng thị trường đã tiến hành cuộc cải cách kinh tế,thay đổi cơ cấu, giá cả tăng không ngừng, lạm phát 2-3 con số liên tục xuấthiện
Về cơ bản tình trạng mất cân đối thường xuất hiện là:
(1)Sự hạn chế về cung ứng: xảy ra khi nền kinh tế thực hiện quá trình côngnghiệp hóa Chiến lược phát triển mất cân bằng, đô thị hóa nhanh, côngnghiệp được ưu tiên, nông nghiệp trì trệ; trong khi cung về lương thực tăngchậm do sự thiếu đầu tư thì cầu về lương thực lại tăng cao liên tục gây nêntrạng thái mất cân bằng Với sức ép nhu cầu lớn khiến giá cả tăng nhanh.(2)Thâm hụt ngân sách chính phủ: chính phủ có sự can thiệp mạnh đến nềnkinh tế bằng cách cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ với sự xuất hiệncủa nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả khiến chính phủphải bù lỗ lớn Với mức chi tiêu nhiều nhưng thực tế nguồn thu của chính phủlại thấp do nguồn thu chính từ thuế lại không cao Thu nhập bình quân đầu
Trang 29người thấp dẫn đến thuế suất thấp; đồng thời hệ thống thuế hoạt động khônghiệu quả, hiện tượng trốn thuế… diễn ra mạnh mẽ Vì vậy, để bù đắp thâm hụtngân sách nên nhiều nước đã phát hành tiền cho để đảm bảo chi và đây là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
(3)Mất cân đối cung và cầu ngoại tệ do hiện tượng nhập siêu: những quốcgia này thông thường xuất khẩu sản phẩm thô với giá thấp và nhập khẩu cácsản phẩm nhằm phục vụ quá trình sản xuất và tiêu dùng với giá thành cao dẫnđến cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt Do căng thẳng về hàng nhập khẩuđẩy giá của chúng tăng lên, qua đó làm tăng giá cả
Để kiểm soát được lạm phát cơ cấu chúng ta cần thực hiện những chínhsách loại bỏ những mất cân đối nêu trên
1.2.2.3 Lạm phát do cầu:
Sự gia tăng liên tục trong cầu kéo mức giá cả lên cao một cách liên tục,quá trình lạm phát này đôi khi được gọi là lạm phát do cầu kéo lên thể hiệnvai trò của tổng cầu đang tăng lên là yếu tố “ kéo” mức giá cả tăng lên
Lạm phát cầu do tốc độ phát triển kinh tế quá nóng, quy mô đầu tư lớnnhưng hiệu quả không cao, vượt quá khả năng đáp ứng của nền kinh tế Dophát triển quá nhanh dẫn đến nhu cầu quá lớn trong khi khả năng cung ứngcòn thấp Sự mất cân đối giữa cung và cầu như vậy làm giá cả gia tăng liêntục với tỷ lệ cao
Các nhà kinh tế cho rằng trong nền kinh tế hoạt động ở mức gần như vớitoàn bộ năng lực sản xuất, lạm phát thường xảy ra khi tổng cầu hàng hóa dịch
vụ tăng quá lượng cung hiện có Nếu tổng cầu tăng và không có sự cân bằngtổng cung và tổng cầu, giá sẽ tăng lên điểm cân bằng theo thị trường mới mà
ở đó cầu một lần nữa lại cân bằng với cung Cuối cùng giá được đẩy lên caohơn
Trang 30Các nhà kinh tế học theo trường phái giải thích lạm phát do cầu kéo liênquan đến học thuyết kinh tế xuất hiện từ những năm 1930, chủ trương kíchthích cầu bằng tăng đầu tư, hạ lãi suất, phát triển các sự nghiệp tăng chi từngân sách nhà nước tạo ra nhu cầu có khả năng thanh toán mới để thúc đẩytăng trưởng, toàn dụng lao động J M.Keynes đã đưa ra khái niệm “khoảngcách lạm phát” tức là mức lạm phát do bội chi ngân sách, ngay cả khi khoảnbội chi đó được tài trợ bằng phát hành tiền tệ cũng chỉ dẫn đến lạm phát khi
số lượng nhân lực hiện có đã được sử dụng hết Tài trợ từ ngân sách có thểthực hiện bằng cách vay ( huy động tiền nhàn rỗi, tiền để dành) hoặc thậm chíphát hành thêm tiền tệ Luận điểm của trường phái này cho rằng sự tạo lậptiền tệ càng kích thích hoạt động, hạ lãi suất và như vậy lại kích thích các nhàdoanh nghiệp đầu tư vì triển vọng lợi nhuận được cải thiện
Giải thích cho nguyên nhân của trường hợp lạm phát này bắt nguồn từ hiệuquả sản xuất giảm sút do tăng chi phí thông qua các kênh: tiền lương và thunhập tăng nhanh hơn năng suất lao động, giá thị trường thế giới tăng đột biếngây bất lợi cho cán cân thanh toán Như chúng ta đã biết, ở hầu hết các nướcđang phát triển thường phải nhập một lượng lớn nguyên vật liệu phục vụ chosản xuất trong nước, nếu giá của các loại nguyên vật liệu này trên thị trườngthế giới tăng lên làm cho chi phí các sản phẩm sẽ tăng lên và để bảo toàn sựtồn tại trên thị trường buộc nhà sản xuất phải tăng giá bán trên thị trườngtrong nước ( trường hợp này thường xảy ra ở các nước phát triển khi sản xuất
Trang 31đang ở dạng độc quyền , bán độc quyền, các quy luật thị trường chưa đượcphát huy hết) Đây là tình trạng chi phí sản xuất tăng lên quá mức trung bình
mà nền kinh tế có thể chịu được đã đẩy giá tăng lên Đặc điểm loại lạm phátnày thường diễn ra trong điều kiện nền sản xuất chưa đạt tới mức giá trị sánlượng tiềm năng so với năng lực hiện tại, ,nghĩa là hiệu quả sản xuất thấp Chiphí tăng cũng còn do tỷ giá hối đoái biến động, đồng nội tệ giảm giá mạnhtrên thị trường tài chính quốc tế đã có tác động làm tăng giá nhập khẩu đẩychi phí sản xuất trong nước lên
Ở các nước tư bản, bắt đầu từ thập niên 1950, yếu tố tiền lương được xem
là nguyên nhân chính tạo nên lạm phát về phía cung Dưới áp lực của cácnghiệp đoàn được khích lệ bởi yêu cầu cao về nhân công, tiền công đượcnâng lên sẽ vượt mức tăng trưởng của sản xuất Thế tất sẽ xảy ra sự nâng caocác chi phí đơn vị của các doanh nghiệp và việc đó sẽ dội vào giá cả Tuynhiên một số nhà kinh tế học cho rằng lạm phát do tiền lương đẩy không phổbiến ở các nước đang phát triển Đến thời kỳ 1973 – 1979 lại xuất hiện cáccuộc lạm phát do cung khá trầm trọng ở những nước nhập khẩu dầu mỏ củaOPEC xuất phát từ việc OPEC hạn chế lượng dầu cung ứng để đẩy giá dầuthô lên hơn 10 lần Ở những nền kinh tế có cán cân thanh toán và cán cânthương mại yếu thì lạm phát chi phí từ việc tăng giá các yếu tố sản xuất nhậpkhẩu và khi tỷ giá hối đoái không phản ánh thực tế sức mua đồng tiền, khiđồng tiền nội tệ bị phá giá đều dẫn đến gánh nặng lạm phát chi phí trongnước
Thông thường lạm phát chi phí không tồn tại độc lập mà có sự kết hợp vớilạm phát tiền tệ và lạm phát cầu kéo
1.3 Lý luận chung về tăng trưởng:
Trang 321.2.2 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong mộtkhoảng thời gian nhất định ( thường là một năm) Sự gia tăng này thể hiện ởquy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng thể hiện ở sự gia tăng nhiều hay ít, còntốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh
sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Hay nói cách khác, tăng trưởngkinh tế thực chất cũng là tăng sức sản xuất của toàn bộ nền kinh tế
Tăng trưởng luôn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của bất kỳmột quốc gia nào, đặc biệt là những nước chậm phát triển Tăng trưởng kinh
tế cao giúp người dân có thể cải thiện được cuộc sống Ngược lại, một xã hội
có mức tăng trưởng kinh tế thấp phải chịu một sự xung đột liên miên khi tiếnhành những lựa chọn khó khăn trong việc chọn lựa các mục tiêu
Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi củamức sản lượng quốc dân
gtpc=
Trang 33Trong đó:
gt
pc: tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người thời kỳ t
yt: GDP thực tế bình quân đầu người thời kỳ t
yt-1: GDP thực tế bình quân đầu người thời kỳ t-1
1.2.3 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng được quyết định bởi sự gia tăng các yếu tố đầu vào và côngnghệ Đối với các nước kém phát triển, hai nguồn lực chủ yếu và quan trọngnhất là lao động và vốn Trong mô hình tăng trưởng kinh tế, ba nhân tố chung
là lao động, đầu tư và kỹ thuật công nghệ, thể hiện thông qua phương trìnhsau:
∆Y/Y = (1-θ)* ∆L/L + θ*∆K/K + ∆A/A (1.7)
Trong đó: θ và (1-θ) : đóng góp của lao động và vốn cho tăng trưởng
∆L/L : sự thay đổi của lao động ∆K/K : sự thay đổi của vốn ∆A/A : sự thay đổi của công nghệ
Đa phần các quốc gia trong giai đoạn đầu phát triển đều thúc đẩy tăngtrưởng thông qua các yếu tố này nhưng việc áp dụng một cách máy móc đemlại các kết quả khác nhau Trước tiên muốn thành công các quốc gia phải xácđịnh được nhân tố chủ lực cho tăng trưởng, đối với giai đoạn công nghiệp hóahiện đại hóa cần có sự đầu tư đúng mức vào yếu tố con người và khoa học kỹthuật Trên thực tế đã có nhiều nước đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế caonhờ kết hợp hài hòa hai yếu tố này Bên cạnh đó tăng trưởng còn phụ thuộcvào các yếu tố khác như chính sách thương mại, cơ cấu kinh tế…
Trang 341.3 Lạm phát và tăng trưởng
1.3.1 Lý thuyết về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng:
Với những nguyên nhân gây ra lạm phát như trên, ta thấy hậu quả củachúng không giống nhau Tùy từng trường hợp mà lạm phát có làm thay đổitốc độ tăng trưởng hay không và thay đổi theo chiều hướng nào Nhưng tácđộng to lớn nhất mà mọi cuộc lạm phát nào cũng gây ra đó là tác động đếnphân phối lại thu nhập và của cải giữa các thành viên trong xã hội không theo
nỗ lực, cống hiến và nhu cầu của họ Nguyên tắc chung của phân phối lại thunhập do lạm phát là người nào nhận được nguồn thu nhập từ các yếu tố có giá
cả tăng chậm hơn mức giá chung sẽ bị thiệt Sự thiệt hại đó trở thành cái lợicủa những người nhận nguồn thu nhập từ các yếu tố có giá cả tăng nhanh hơnmức giá chung Còn những người có thu nhập tăng tương đương với tốc độlạm phát thì xem như họ không thu được lợi ích cũng như không bị mất gìtrong cuộc lạm phát này
Lạm phát thường xảy ra bất ngờ ngoài dự tính từ trước của các tác nhânkinh tế vì vậy có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng và đầu tư dài hạn: các nhàđầu tư không thể dự đoán được mức giá cả trong tương lai, kéo theo là khôngthể biết được lãi suất thực dương hay không vì vậy cho dù có đầy đủ các điềukiện hấp dẫn họ cũng không dám bỏ vốn ra đầu tư vào các dự án dài hạn.Lạm phát khiến các nhà đầu tư và người dân chỉ quan tâm đến lợi ích trongngắn hạn.Thay vì đầu tư dài hạn họ chuyển sang tích trữ vàng, ngoại tệ hayhàng hóa hy vọng giá cả lên cao nhằm kiếm lời Vô hình chung điều này làmcầu hàng hóa tăng lên một cách giả tạo càng đẩy lạm phát sâu hơn
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp Tuy nhiên, ngoài những hậuquả gây ra thì lạm phát ở mức nhất định nào đó lại là điều cần thiết đối với
Trang 35những nước đang phát triển Đã có nhiều quan điểm khác nhau xung quanhmối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát.
Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu tin rằng giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế có mối quan hệ tỷ lệ thuận, có tăng trưởng tất yếu sẽ có lạmphát Một xã hội dành ưu tiên cho tăng trưởng thì cần chấp nhận lạm phát đikèm với nó
Một số nhà cơ cấu nhận thấy rằng chính phủ có thể chủ động sử dụng lạmphát như một biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi vì lạm phát có tácdụng phân phối lại thu nhập và của cải theo hướng làm tăng tổng tiết kiệm vàđầu tư trong nước Ảnh hưởng phân phối lại bao gồm việc phân phối lại thunhập giữa công nhân và chủ doanh nghiệp cũng như giữa dân cư và chínhphủ Lạm phát sẽ có xu hướng tăng khoản tiết kiệm từ lợi nhuận cao hơn tăngkhoản tiết kiệm từ tiền lương, mức đầu tư và tiết kiệm tăng lên đẩy mạnh tăngtrưởng Thậm chí nếu được dự báo trước thì lạm phát giống như tăng thuế đốivới khu vực tư nhân để tăng thu nhập cho khu vực nhà nước và tăng nguồnđầu tư thực tế
Tuy nhiên quan điểm có thể sử dụng lạm phát làm đòn bẩy cho tăngtrưởng kinh tế của các nhà kinh tế thuộc trường phái cơ cấu không tránh khỏinhững phản đối Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra những lập luận của mình chorằng lạm phát, đặc biệt với lạm phát cao có ảnh hưởng tiêu cực đến tăngtrưởng kinh tế Họ cho rằng lạm phát làm mức lãi suất thực tế giảm, tạo ramất cân bằng ở thị trường vốn Điều này dẫn đến nguồn cung về vốn bị giảmsút vì vậy đầu tư tư nhân sẽ giảm do hạn chế từ nguồn vay Việc giảm lãi suấtthực dương khiến đầu tư và tăng trưởng kinh tế giảm
Trang 36Lạm phát cao và biến động mạnh làm cho đầu tư của khu vực ngoài quốcdoanh mặc dù dư thừa về vốn nhưng không đầu tư dài hạn do tính rủi ro cao
mà chuyển sang đầu tư ngắn hạn do vậy chất lượng đầu tư không cao
Nếu tỷ giá hối đoái được cố định hoặc chậm điều chỉnh, lạm phát cao hơn
ở trong nước sẽ làm giảm lợi nhuận tương đối cho các doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh các mặt hàng có thể thương mại được, làm tăng cầu về nhậpkhẩu và giảm cung về xuất khẩu và do đó cán cân thương mại bị xấu đi vàtình trạng khan hiếm ngoại tệ càng trở nên căng thẳng Điều này sẽ làm giảmhiệu quả của quá trình mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, ảnh hưởngxấu đến thành tựu kinh tế vĩ mô chung của đất nước
Qua phân tích ở trên chúng ta thấy có hai quan điểm trái ngược nhau vềảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phần lớn các nhàkinh tế đều cho rằng quan điểm của các nhà cơ cấu về mối tương quan dươnggiữa lạm phát và thất nhiệp về cơ bản thích hợp khi lạm phát ở mức thấp, cònquan điểm đối lập thích hợp khi lạm phát ở mức cao
1.3.2 Các nghiên cứu kiểm nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng:
Nhiều mô hình kinh tế đã được xây dựng để khảo sát phải chăng có tồntại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng dài hạn và mối quan hệ đó códạng tuyến tính hay phi tuyến
a Dạng tuyến tính:
Trong một số phân tích, biến số lạm phát được giới thiệu dưới dạngtuyến tính Trong loại cụ thể này, mối quan hệ mang tính chất kinh nghiệmphụ thuộc chủ yếu vào kết quả thống kê mối liên hệ các các biến số lạm phát.Kết quả là mối liên hệ này có thể là thuận chiều, ngược chiều hoặc ko đángkể
Trang 37Mundell (1965) đã thiết lập một mô hình tổng hợp về lạm phát để thểhiện mối quan hệ giữa lạm phát và phát triển:
Để nhận thấy mối quan hệ thuận đáng kể giữa lạm phát và tăng trưởng,
sử dụng cách tiếp cận có 2 biến số, Thirwall and Barton (1971) chọn các quốcgia với thu nhập trên đầu người vượt mức $800, hồi quy tăng trưởng (Y) theolạm phát (X) và đạt được kết quả như sau:
48 0
612 6 793 2
Và lưu ý rằng “ với lạm phát bình quân ở các quốc gia được nghiên cứu,
sự biến đổi của 1 điểm % của tỷ lệ lạm phát bình quân có xu hướng được gắnvới 0.6 điểm % tăng trưởng trên mức bình quân”
Kormendi and Meguire (1985) điều tra 47 quốc gia trong giai đoạn1950-1977 với phương trình hồi quy sau để thấy mối quan hệ nghịch chiềuđáng kể giữa lạm phát và tăng trưởng
j j j
j j
j
j j
j
MDINF MDEXX
MDGX MDM
SRM
SDY MDPOP
YPC MDY
6 5
4
3 2
1 0
(1.9)
Trang 38j MDEXX : trung vị tăng trưởng của xuất khẩu như là một phần của sảnlượng đầu ra
j MDINF : trung vị tăng trưởng tỷ lệ lạm phát
Kết quả hồi quy chỉ ra hệ số tác động của lạm phát đến tăng trưởng là –0,84
Grier and Tullock (1989) đã triển khai nghiên cứu của Kormendi andMeguire khi tiến hành điều tra ở 115 quốc gia bao gồm cả các nước OECDtrong giai đoạn 1950 -1981 với mức bình quân là 5 năm Grier and Tullockhồi quy tăng trưởng kinh tế thực theo 7 biến hồi quy bao gồm (1) GDP thựctrên đầu người ban đầu, (2) tỷ trọng chi tiêu của Chính phủ trong GDP, (3) độlệch chuẩn của tăng trưởng GDP, (4) tăng trưởng dân số, (5) lạm phát, (6)thay đổi trong lạm phát, (7) độ lệch chuẩn của lạm phát Kết quả đưa ra lạmphát có tác động ngược chiều đến tăng trưởng đối với những nước đang pháttriển, và không có tác động gì ở những nước OECD
Burdekin (1994) xử lý dữ liệu hàng năm của 23 quốc gia công nghiệp và
49 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1960-1990 sử dụng hàm hồi quy
Trang 39INF : lạm phát CPI
CHINF : sự khác biệt đầu tiên của chỉ số lạm phát CPI
TIME: xu hướng thời gian
OIL: giá dầu
: giới hạn sai số cho phép
Và kết luận rằng “lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều và quan trọng đếntăng trưởng ” Ông cũng lưu ý rằng việc đưa giá dầu vào phương trình hồi quy
là để kiểm soát các cú sốc giá bên ngoài
b Dạng phi tuyến
Trên thực tế lạm phát đã được nhìn nhận rộng rãi là một yếu tố ảnhhưởng tiêu cực lên tăng triển kinh tế Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực nàykhông được tìm thấy trong những dữ liệu của thập niên 1950 và 1960 Cho tớithập niên 1970, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ảnh hưởng này là không đáng
kể, thậm chí mang tính chất tích cực Sự thay đổi quan điểm chỉ đến sau khinhiều quốc gia trải qua giai đoạn khắc nghiệt của lạm phát cao và liên tụctrong thập niên 70 và 80 Do có nhiều dữ liệu về những giai đoạn này, cácnghiên cứu đã tái khẳng định rằng lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực một cáchđáng kể lên phát triển kinh tế Sự thay đổi bất ngờ trong quan điểm về ảnhhưởng của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế đưa ra câu hỏi : Do những ảnhhưởng ước lượng được của lạm phát lên tăng trưởng là khá nhỏ, liệu kết quảnhững nghiên cứu này có nên ảnh hưởng đến các ưu tiên về mặt chính sách vàthể chế, và nếu chúng ta chấp nhận một khoảng giá trị cụ thể của lạm phát,khoảng giá trị đó nên là bao nhiêu?
Để trả lời những câu hỏi này, các nghiên cứu tìm hiểu khả năng của ảnhhưởng phi tuyến tính của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế và tìm ra bằngchứng về sự tồn tại của sự thay đổi cấu trúc trong mối liên hệ giữa tỷ lệ tăngtrưởng và lạm phát Khi lạm phát thấp, nó không có ảnh hưởng tiêu cực đáng
Trang 40kể lên tăng trưởng kinh tế Nhưng khi lạm phát cao, nó có ảnh hưởng tiêu cựclên tăng trưởng Sự tồn tại của một sự thay đổi về cấu trúc có thể giải thích tạisao ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế đã không đượcphát hiện trong suốt một thời gian dài: trước thập niên 1970 không có nhiềuthời kỳ lạm phát cao
Năm 1971 Mundell đã bỏ qua giả định về tốc độ bất biến của tiền, đưa
ra một trường hợp mà tốc độ của tiền có liên quan thuận chiều với lạm phát:
v : tốc độ của tiền khi lạm phát bằng 0
: hệ số thể hiện ảnh hưởng của lạm phát lên tốc độ của tiền
Mundell đưa ra phương trình: