1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van quản lý hoạt động nhà văn hóa trên địa bàn huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa trong giai đoạn hiện nay

145 57 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại. Từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương đúng mục đích và hiệu quả. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài như TCVH, NVH, quản lý, quản lý hoạt động NVH để làm cơ sở lý thuyết cho những khảo sát, phân tích, đánh giá ở phần sau. Tìm hiểu về hệ thống NVH, thực trạng quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Công tác quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Không gian: Nhà văn hóa xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương. Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017, tính từ thời điểm huyện Quảng Xương triển khai xây dựng nông thôn mới. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhằm khái quát, hệ thống hóa, bổ sung về lý thuyết NVH nói chung và về quản lý hoạt động NVH nói riêng. Đây chính là những lý thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu. Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng nhằm tập trung vào các dữ liệu phát triển kinh tế xã hội, dân cư, mức sống, cơ sở hạ tầng,… Phương pháp điều tra, điền dã và phỏng vấn sâu: Tác giả trực tiếp xuống địa bàn các xã; phố, thôn điều tra, khảo sát bằng các hình thức: phỏng vấn sâu (với hệ thống câu hỏi phỏng vấn đã được tác giả chuẩn bị trước). Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, chủ nhiệm NVH phố, thôn, người dân địa phương. Ghi chép, ghi âm, chụp ảnh, trên cơ sở đó đánh giá được những mặt mạnh, những mặt còn hạn chế và đặc biệt chú ý đến nguyện vọng của nhân dân về xây dựng, phát triển NVH trong bối cảnh hiện nay. 6. Những đóng góp của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về thực trạng quản lý hoạt động thiết chế NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý hoạt động NVH định hướng xây dựng mô hình NVH xã; phố, thôn có tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm văn hoá, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở từng xã, phố, thôn. Đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, hưởng thụ, sáng tạo, gìn giữ các giá trị văn hoá ở cơ sở bền vững. Mặt khác, đem đến cho người dân khát vọng, chủ động tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất dàn trải, tập trung đầu tư chiều sâu và sử dụng chung cho các NVH xã; phố, thôn theo hướng xã hội hóa tích cực. Luận văn cũng là tài liệu cho nghiên cứu liên quan đến quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn địa phương.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

********

DƯƠNG THỊ TƯỜNG VÂN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH

THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 60310642

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thục

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thục Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được trích dẫn cụ thể, rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2018

Tác giả luận văn

Dương Thị Tường Vân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NHÀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG 13 1.1 Những vấn đề lý luận chung 13

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 13

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhà văn hóa đối với đời sống xã hội 18

1.2 Khái quát hệ thống Nhà văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương 23

1.2.1 Khái quát về huyện Quảng Xương 23

1.2.2 Hệ thống Nhà văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương 30

Tiểu kết 32

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG HIỆN NAY 33

2.1 Chủ thể quản lý 33

2.1.1 Phòng Văn hóa Thông tin 33

2.1.2 Trung tâm Văn hóa Thể thao 35

2.1.3 Ban văn hóa xã, phường, thị trấn 38

2.1.4 Ban chủ nhiệm nhà văn hóa thôn, phố 40

2.2 Cơ chế, phương thức quản lý 41

2.2.1 Cơ chế quản lý 41

2.2.2 Phương thức quản lý 42

2.3 Các nội dung quản lý 46

2.3.1 Quản lý nhân lực 46

2.3.2 Quản lý cơ sở vật chất 51

2.3.3 Quản lý các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ tại chỗ 54

2.3.4 Quản lý các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ lưu động 64

Trang 4

2.4 Đánh giá về công tác quản lý hoạt động Nhà văn hóa ở huyện

Quảng Xương 66

2.4.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và quản lý hoạt động của hệ thống Nhà văn hóa huyện Quảng Xương 66

2.4.2 Những thành tựu và hạn chế 68

2.4.3 Nguyên nhân của một số hạn chế 69

Tiểu kết 71

Chương 3: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG 72

3.1 Định hướng quản lý hoạt động Nhà văn hóa 72

3.1.1 Quản lý hoạt động Nhà văn hóa trong điều kiện hiện nay 72

3.1.2 Cơ chế quản lý hoạt động Nhà văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường 74

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nhà văn hóa 77 3.2.1 Tăng cường đổi mới về cơ chế quản lý phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng 77

3.2.2 Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế và chính sách 79

3.2.3 Đối với công tác quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cơ sở 81

3.3 Các biện pháp cụ thể 85

3.3.1.Đầu tư cơ sở vật chất và mở rộng các hình thức hoạt động của nhà văn hóa 85

3.3.2.Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy và chính quyền địa phương 92

3.3.3 Quan tâm, chú trọng đối với công tác cán bộ và đào tạo cán bộ 94

Tiểu kết 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 108

Trang 5

DANH MỤC CHƢ̃ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

5 Bảng 2.2 Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất tại Nhà văn hóa xã;

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và

có những chủ trương, chính sách để xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, trong

đó xây dựng, phát triển hệ thống Nhà văn hóa đa năng (cấp xã), Nhà văn Khu thể (cấp thôn, bản) là nhiệm vụ chính trị quan trọng

hóa-Nhà văn hóa đa năng; hóa-Nhà văn hoá - Khu thể thao (sau đây gọi là tắt

là Nhà văn hóa (NVH)) là một thiết chế thực hành giáo dục ngoài nhà trường, một thiết chế văn hóa (TCVH) đặc thù, tổng hợp, đa chức năng được xã hội thiết lập có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng, phát triển con người toàn diện Tính ưu việt của hoạt động NVH thể hiện ở chức năng tổ chức tập hợp quần chúng, tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện luật pháp, chính sách và các chủ trương của Đảng, Nhà nước, các hoạt động xã hội địa phương; tổ chức các hoạt động cộng đồng; hoạt động sáng tạo và phổ

biến các giá trị văn hóa; giao lưu, giao tiếp văn hoá Lênin đã nói: “Công tác

giáo dục ngoài nhà trường rất quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng toàn bộ cuộc sống” Đó cũng chính là mục đích và nhiệm vụ giáo dục mà xã

hội đã đặt ra cho mỗi NVH

Quảng Xương là một huyện lớn của tỉnh Thanh Hóa, nằm giáp với Thành phố Thanh Hóa Được xem là một huyện có tốc độ phát triển kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội nhanh chóng trong những năm gần đây Huyện Quảng Xương hiện có 30 xã và thị trấn được chia làm hai vùng rõ rệt: đồng bằng và ven biển Năm 2015, Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương khóa XXV nhiệm kỳ 2015-2020 tiếp tục đưa ra chủ trương phát triển toàn diện kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội là chủ trương lớn của toàn

Trang 8

huyện, trong đó xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin (VHTT), TDTT (TDTT) là chính sách được quan tâm hàng đầu

Cùng với phong trào xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn toàn huyện từ năm 2014 Hệ thống NVH từ thôn, khu phố, xã đến cấp huyện từng bước được đầu tư xây dựng khang trang, nhiều địa phương đã hoàn thiện việc xây dựng hệ thống NVH theo chuẩn và đưa vao sử dụng, với chức năng

lồng ghép nhiều hoạt động Văn hóa -Truyền thanh - Thể thao - Thư viện - Câu

lạc bộ - Dân số và gia đình dưới tên gọi NVH đa năng, đã góp phần đưa phong

trào văn hóa trên địa bàn toàn huyện có những chuyển biến tích cực

Bên cạnh những thành tựu, thì thực tiễn hiện nay trên địa bàn huyện đang xảy ra tình trạng không ít NVH chưa phát huy hết công năng hoặc sử dụng sai mục đích, số lượng cán bộ quản lý văn hóa thiếu, hạn chế về năng lực trong việc gây dựng các phong trào hoạt động; cơ sở vật chất, trang thiết

bị chuyên dụng chưa đồng bộ, ở một vài lĩnh vực chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân địa phương dẫn đến khó khăn trong công tác điều hành chung

Là một cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về các hoạt động NVH trên địa bàn huyện Quảng Xương, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn Tôi mong muốn được nghiên cứu sâu về lĩnh vực này, để từ đó nhận thấy được thực trạng hoạt động NVH đang diễn ra hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp phát huy hiệu quả tối đa công năng sử dụng NVH trên địa bàn huyện Quảng Xương, góp phần nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý hoạt động lĩnh vực văn hóa nói chung, NVH nói riêng trong thời kỳ hội nhập hiện nay

Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động Nhà

văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành Quản lý Văn hóa

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hoạt động cộng đồng của nhiều quốc gia trên thế giới phát triển rất mạnh

mẽ Tuy nhiên, thuật ngữ thiết chế văn hóa (TCVH) hay NVH không phải quốc gia nào cũng sử dụng Ở một số nước không có Bộ Văn hóa (Mỹ) hầu như thuật ngữ này ít xuất hiện, bởi họ quan tâm nhiều đến chất lượng các dịch vụ văn hóa,

và môi trường cho các hoạt động văn hóa tồn tại hơn việc xây dựng những địa điểm để duy trì các hoạt động cộng đồng, do nhà nước quản lý Một số nước phương Tây khác lại đề cao mối quan hệ, hoạt động, năng lực cá nhân trước cộng đồng hơn việc cộng đồng tổ chức hoạt động chung Con người chỉ kết hợp với nhau khi cùng mục đích hoặc cùng chia sẻ lợi ích nhất định

Một số quốc Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Lào văn hoá luôn gắn liền với nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và bình ổn đời sống xã hội Do vậy, văn hóa nhận được sự quan tâm đặc biệt, là một trong những yếu

tố cần thiết đảm bảo an ninh chính trị, công cụ của Đảng và Nhà nước trong việc phổ biến đường lối, chính sách, chủ trương và nâng cao nhu cầu tinh thần cho đại bộ phận quần chúng nhân dân Do vậy, NVH xuất hiện như một điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó

Với cách đặt vấn đề trên, các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về NVH, hoạt động văn hóa tại NVH ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Văn hóa cộng đồng là một lĩnh vực tự do, hoạt động trên tinh thần luật pháp chung, không mang mục đích chính trị, được ứng xử công bằng như tất cả các lĩnh vực khác trong xã hội

Những công trình nghiên cứu về văn hóa cộng đồng, ít nhiều đề cập đến thiết chế đặc thù - NVH được biểu hiện trong các chuyên khảo hoặc các công trình nghiên cứu về văn hóa học nói chung Dưới đây là một vài công

Trang 10

trình tiêu biểu như: Nguyễn Liên (dịch) (2011), Jonathan Auerbach “Tiếp cận văn hoá đương đại Mỹ”, Nxb VHTT; Đỗ Lộc Diệp (2003), Mỹ Âu Nhật văn hoá và phát triển, Nxb KHXH; Toffler Alvin (2002), Làn sóng thứ ba, người dịch Nguyễn Văn Trung, Nxb Thanh Niên

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu chuyên sâu về NVH còn khiêm tốn Dưới đây là một số công trình tiêu biểu tác giả được tiếp cận:

Năm 1996, tác giả Huỳnh Khái Vinh cho ra mắt tập sách “Văn hoá - Văn nghệ vì sự phát triển xã hội” Năm 2001, tác giả Hồ Sỹ Vịnh xuất bản tập sách

“Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại” Nxb VHTT ấn hành Đến năm

2008 ra mắt công trình “Giao lưu văn hoá thời hội nhập” Nxb Chính trị Quốc gia Tác giả Tô Duy Hợp - Lương Hồng Quang viết cuốn “Phát triển văn hoá cộng đồng - lý thuyết và vận dụng” vào năm 2011, do Nxb VHTT xuất bản Cùng năm 2011, hai tác giả Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Nguyễn Lâm Phương ra mắt cuốn “Một số yếu tố văn hoá và giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển làng xã” Nxb Thế giới ấn hành Đây là những công trình có đề cập đến NVH dưới khía cạnh chung nhất Bước đầu tác giả có thể nhìn thấy bức tranh mang tính tổng thể về NVH với những cơ sở lý thuyết căn bản

Năm 1996, Luận án tiến sĩ khoa học “Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên thông qua hệ thống thiết chế NVH” của tác giả Trần Quốc Bảng

đã đề cập đến mục đích của thiết chế NVH Trong phạm vi của đề tài, vấn đề quản lý thiết chế này không được đề cập sâu nhưng kết quả nghiên cứu của đề tài về những hoạt động diễn ra ở đây cũng là những gợi mở quan trọng về mục đích cũng như những hoạt động diễn ra tại NVH

Năm 1999, tác giả Bùi Tiến Quý hoàn thành và bảo vệ thành công Luận

án Tiến sĩ “Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý để nâng cao chất

Trang 11

lượng và hiệu quả hoạt động NVH” tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam Nội dung luận án đề cập đến những vấn đề chung trong hoạt động NVH

Sự ra đời câu lạc bộ - NVH ở Việt Nam Hoạt động và quản lý NVH trong giai đoạn phát triển mới Các phương pháp quản lý trong hoạt động NVH, chất lượng và hiệu quả hoạt động NVH Đây là một công trình nghiên cứu có tính

hệ thống về NVH nói chung ở Việt Nam trên phương diện kinh tế

Năm 2007, bài viết “Xây dựng NVH xóm, bản thành công và vướng mắc” của tác giả Lưu Huy Chiêm, đăng trên tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 9,

tr 49-50, đã đề cập đến những khó khăn trong việc quản lý, tổ chức hoạt động tại NVH tại cơ sở và bước đầu đưa ra được một số giải pháp để phát huy hiệu quả hoạt động NVH cơ cấp cơ sở

2.3 Công trình nghiên cứu về Nhà văn hóa ở Thanh Hóa

Các công trình nghiên cứu về NVH ở Thanh Hóa khá khiêm tốn NVH chủ yếu được đề cập trong các công trình địa chí tỉnh Thanh Hóa, địa chí các huyện, nhưng đề cập hết sức ngắn gọn dưới dạng tích kê số liệu

Công trình sớm nhất tác giả tiếp cận chính là tập sách “Văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh” của hai tác giả Lê Huy Trâm - Hoàng Anh Nhân xuất bản năm 2003 tại Nxb Thanh Hóa Tuy không phải là công trình trực tiếp nghiên cứu về NVH, nhưng nội dung trọng tâm của cuốn đề cập đến giá trị văn hóa làng và việc xây dựng làng văn hóa ở xứ Thanh, và trong đó, thiết chế NVH các tác giả cho rằng chính là nơi quan trọng để tổ chức các hoạt động cộng đồng trên Đồng thời là một thiết chế không thể thiếu trong diện mạo của một làng văn hóa

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thục đã nghiên cứu và bảo vệ đạt loại xuất sắc đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu TCVH cơ sở ở Thanh Hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về TCVH ở Thanh Hóa TCVH được đề cập chỉ tập

Trang 12

trung vào hệ thống NVH, nên thực tế, việc nghiên cứu TCVH trong công trình này chính là nghiên cứu NVH Nội dung công bố trong báo cáo tổng kết

đề tài gồm nhiều nội dung: Lý luận chung về TCVH; Bài học kinh nghiệm của những địa phương đã thành công trong tổ chức hoạt động TCVH Đặc biệt, công trình đã nêu bật, đánh giá được các hoạt động tại TCVHCS theo bốn khu vực: duyên hải, đồng bằng, đô thị, miền núi Đến năm 2016, bản báo cáo tổng kết đề tài được nhóm tác giả in sách và công bố rộng rãi

Do là công trình nghiên cứu về TCVH ở Thanh Hóa, nên việc đề cập cụ thể đến NVH trên địa bàn một huyện (Quảng Xương) là khá khiêm tốn, được tác giả lồng vào trong phần nội dung đánh giá TCVH khu vực duyên hải Thanh Hóa Đây là công trình có nhiều thông tin rất quan trọng giúp cho việc nghiên cứu của đề tài luận văn

Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu tổng thể các hoạt động tại NVH, một vài công trình quan tâm đề cập đến những NVH cụ thể ở một số địa phương Riêng các công trình nghiên cứu về NVH Thanh Hóa nói chung, Quảng Xương nói riêng khá

ít ỏi Tuy nhiên, với tác giả đây là những công trình với những tư liệu quý giá, đáng tin cậy để cho tác giả luận văn tham khảo, đối chứng trong suốt quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại Từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương đúng mục đích và hiệu quả

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài như TCVH, NVH, quản lý, quản lý hoạt động NVH để làm cơ sở lý thuyết cho những khảo sát, phân tích, đánh giá ở phần sau

- Tìm hiểu về hệ thống NVH, thực trạng quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Nhà văn hóa xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương

- Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017, tính từ thời điểm huyện Quảng Xương triển khai xây dựng nông thôn mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhằm khái quát, hệ thống hóa, bổ

sung về lý thuyết NVH nói chung và về quản lý hoạt động NVH nói riêng Đây chính là những lý thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng nhằm tập trung

vào các dữ liệu phát triển kinh tế xã hội, dân cư, mức sống, cơ sở hạ tầng,…

- Phương pháp điều tra, điền dã và phỏng vấn sâu: Tác giả trực tiếp

xuống địa bàn các xã; phố, thôn điều tra, khảo sát bằng các hình thức: phỏng vấn sâu (với hệ thống câu hỏi phỏng vấn đã được tác giả chuẩn bị trước) Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, chủ nhiệm NVH phố, thôn,

Trang 14

người dân địa phương Ghi chép, ghi âm, chụp ảnh, trên cơ sở đó đánh giá được những mặt mạnh, những mặt còn hạn chế và đặc biệt chú ý đến nguyện vọng của nhân dân về xây dựng, phát triển NVH trong bối cảnh hiện nay

6 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về thực trạng quản lý hoạt động thiết chế NVH xã; phố, thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý hoạt động NVH định hướng xây dựng mô hình NVH xã; phố, thôn có tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm văn hoá, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở từng xã, phố, thôn Đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, hưởng thụ, sáng tạo, gìn giữ các giá trị văn hoá ở cơ sở bền vững Mặt khác, đem đến cho người dân khát vọng, chủ động tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất dàn trải, tập trung đầu tư chiều sâu và sử dụng chung cho các NVH xã; phố, thôn theo hướng xã hội hóa tích cực

- Luận văn cũng là tài liệu cho nghiên cứu liên quan đến quản lý, tổ chức hoạt động NVH xã; phố, thôn trên địa bàn địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Lý thuyết về quản lý hoạt động Nhà văn hóa và khái quát hệ

thống Nhà văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động Nhà văn hóa trên địa

bàn huyện Quảng Xương hiện nay

Chương 3 Nâng cao chất lượng quản lý hoạt động Nhà văn hóa ở

huyện Quảng Xương

Trang 15

Chương 1

LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA

VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NHÀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG 1.1 Những vấn đề lý luận chung

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm nhà văn hóa

Nhà văn hóa là một thiết chế văn hóa nằm trong hệ thống của thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa của nhân dân Có nhiều cách gọi, cách hiểu khác nhau về nhà văn hóa: Nhà văn hóa, Cung văn hóa, nhà, Trung tâm văn hóa Ngoài ra cũng có thể kể đến một số loại hình thiết chế văn hóa khác có cùng hàm nghĩa như Trung tâm văn hóa thanh thiếu nhi, Cung thiếu nhi

Đã có nhiều công trình, nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm, quan niệm về thuật ngữ NVH Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu, nhận được sự đồng thuận cao

Nghĩa của thuật ngữ NVH được phân tích trong cuốn Đại từ điển Tiếng

Việt là “nơi tổ chức sinh hoạt văn hóa cho đông đảo quần chúng” [58, tr.1228]

Thuật ngữ NVH được khái niệm trên báo điện tử:

NVH là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường có sử dụng các biện pháp, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ để thu hút đông đảo quần chúng đến tham gia các hoạt động văn hóa xã hội trong thời gian rỗi để bồi dưỡng, hoàn thiện và phát triển nhân cách; để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của quần chúng [52, tr.2]

Do có nhiều cách hiểu, cách gọi, tên gọi khác nhau, nhưng nếu hiểu

đúng bản chất và ý nghĩa của nó theo tác giả luận văn thì: “Nhà văn hóa là

Trang 16

thiết chế văn hóa của lĩnh vực công tác văn hóa quần chúng ở từng cấp Là nơi diễn ra các hoạt động tổng hợp của nhiều loại hình hoạt động văn hóa quần chúng Tùy theo chu kỳ thời gian và nhu cầu sở thích văn hóa, văn nghệ, thể thao vui chơi giải trí của quần chúng nhân dân trên từng địa bàn”

Xét về nội hàm, NVH được biểu hiện dưới các góc độ:

- NVH là một tên gọi chung cơ bản, đại diện cho lĩnh vực hoạt động văn hóa mang tính quần chúng Là địa điểm tập trung sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi vui chơi, giải trí, là nơi để mọi người giao lưu, tiếp xúc với nhau vì một nhu cầu, sở thích nào đó

- NVH được hiểu là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường và có những điểm khác biệt, đặc thù so với cơ quan giáo dục trong nhà trường, sự khác biệt thể hiện ở đối tượng tham gia các hoạt động tại NVH rất đa dạng về lứa tuổi; trình độ học vấn; mục đích tham gia; không có tính bắt buộc hoặc tính bắt buộc không cao; hoạt động linh hoạt theo yêu cầu sở thích; đa dạng về hình thức và nội dung hoạt động Thông qua các hoạt động sẽ phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo các nhân tố có khả năng, năng khiếu trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, tiêu chí cuối cùng là hoàn thiện nhân cách con người cả về Đức, Trí, Thể, Mỹ và năng lực hành vi thực tiễn của con người trong cuộc sống để hướng tới giá trị Chân -Thiện - Mỹ

- Các hoạt động tại NVH thường vào thời gian rỗi - thời gian con người không lệ thuộc vào bất kỳ hoạt động sinh tồn nào, không lệ thuộc vào bất kỳ bổn phận nào Mác từng nói: “Thời gian rỗi không chỉ dành cho nghe nhạc, xem phim, các trò chơi giải trí mà con người dành cho sự phát triển trí tuệ, cho việc tăng cường sức khỏe, phát triển năng lực của bản thân Bản chất của hoạt động rỗi là sáng tạo, thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần, bổ sung nâng cao chất lượng hoạt động tất yếu”

Trang 17

- NVH có nhiệm vụ chuyển tải những giá trị tinh hoa nghệ thuật của dân tộc và nhân loại cho nhân dân hưởng thụ, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để quần chúng nhân dân tạo ra các giá trị văn hóa nghệ thuật (VNHT); nơi gìn giữ, bảo lưu, xây dựng các nền văn hóa dân chủ mới, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân

- NVH là tên gọi được quy định trong văn bản pháp quy của nhà nước nhằm mục đích thống nhất trong tổ chức, quản lý và thực thi các chính sách Nhưng thực tế, tên gọi này được sử dụng khá đa dạng, cách gọi phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm địa lý, văn hóa truyền thống của từng vùng, miền, nhưng không làm mất đi những giá trị cốt lõi, mục đích chung của nó Ví dụ, bà con nhân dân các dân tộc Tây Nguyên gọi NVH là nhà Rông, ở khu vực Tây Bắc gọi là nhà sàn cộng đồng, có nơi gọi là trung tâm văn hóa thôn, bản

1.1.1.2 Khái niệm Hoạt động nhà văn hóa

Trước hết cần tìm hiểu khái niệm hoạt động văn hóa

Hoạt động văn hóa là quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng,

ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người [19, tr.7] Hoạt động văn hoá, hiểu theo thuật ngữ kinh tế học, là hoạt động sản xuất bảo quản, phân phối trao đổi và tiêu dùng những giá trị văn hoá do loài người sáng tạo ra trong tiến trình lao động xã hội Nhà khoa học tìm tòi những quy luật vận động trong thiên nhiên, trong xã hội và trong tư duy của con người Nhà nghệ sĩ sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật, đó là hoạt động sản xuất văn hoá Viện bảo tàng, thư viện lưu trữ những sản phẩm văn hoá của nhân loại, đó là hoạt động bảo quản văn hoá Người thầy thuốc chữa

Trang 18

bệnh, nhà giáo truyền thụ kiến thức cho thế hệ tương lai, diễn giả thuyết trình trước cử tọa, nghệ sĩ biểu diễn trước công chúng…đó là sự phân phối văn hoá Những người tham gia trao đổi, thảo luận, tọa đàm tại câu lạc bộ, tham

dự các ngày lễ hội, các cuộc thi tài, cung cấp cho nhau những thông tin mới,

đó là hoạt động trao đổi văn hoá Công chúng tham dự các buổi chiếu phim, xem biểu diễn câu lạc bộ, đọc sách báo, xem triển lãm…đó là sự tiêu dùng các giá trị văn hoá

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau, và tác giả chưa thấy hoặc chưa có điều kiện tiếp cận với những công trình của những tác giả đi trước có trình bày khái niệm “hoạt động nhà

văn hóa” Nhưng để cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu các nội

dung cụ thể trong đề tài luận văn, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu những tư liệu đã công bố trước đó có những nội dung gần gũi với hướng nghiên cứu, tác

giả tạm đưa ra khái niệm “hoạt động nhà văn hóa” như sau:”Là những hoạt

động tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương; giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng; tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa; sáng tạo, phổ biến và lưu giữ các giá trị văn hóa…được tổ chức tại NVH với sự tham dự của cộng đồng nhân dân sinh sống trên địa bàn”

1.1.1.3 Khái niệm Quản lý hoạt động

Để có cơ sở trình bày khái niệm Quản lý hoạt động trước hết cần tìm hiểu thêm khái niệm Quản lý

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “quản lý” được hiểu là: “Tổ

chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan + Trông coi, giữ

gìn và theo dõi việc gì” [58, tr.1363]

Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, bởi nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội Quản lý cũng

Trang 19

là đối tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành Trong khoa học tự nhiên, quản lý được định nghĩa: “Là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình và căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt được mục đích đã định trước” [20, tr.52]

Dưới góc độ tiếp cận quản lý, thực hiện những mục tiêu đề ra, tác giả Harold Koontz đã đưa ra khái niệm:

Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những

nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của các nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong

đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chức về quản lý là một khoa học [16, tr.33]

Như vậy, có thể hiểu quản lý là đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện

có, thấy được cái đúng, cái cần và sử dụng các chiến thuật hợp lý, tìm ra mọi biện pháp khả thi, tối ưu nhất để thực hiện mục tiêu đề ra

Nói đến quản lý xã hội chính là nói đến việc quản lý con người (cả chủ

thể và khách thể quản lý) Vì vậy, có thể hiểu Quản lý hoạt động chính là:

“Việc triển khai thực hiện và quản lý các kế hoạch, chương trình hành động

do lãnh đạo, quản lý đề ra trên nguyên tắc hiệu quả, tôn trọng, định hướng, tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển”

1.1.1.4 Khái niệm Quản lý hoạt động nhà văn hóa

Cho đến nay, tác giả luận văn chưa được tiếp cận với khái niệm Quản

lý hoạt động NVH Trên cơ sở các khái niệm đã trình bày: Quản lý hoạt động; NVH; Hoạt động NVH, có thể hiểu khái niệm Quản lý hoạt động NVH như

sau: “Quản lý hoạt động NVH là tác động của chủ thể quản lý văn hóa lên đối

Trang 20

tượng quản lý văn hóa bao gồm các hoạt động văn hóa diễn ra tại NVH với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân sinh sống trên địa bàn; sử dụng trang thiết

bị chuyên dụng với hiệu quả mang lại là nâng cao đời sống tinh thần, làm nền tảng cho việc nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân các phố, thôn”

Như vậy, việc quản lý các hoạt động văn hóa không chỉ làm phong phú

về đời sống vật chất, tinh thần, duy trì, phát huy và tôn vinh cái đẹp, những giá trị nghệ thuật, đạo đức lối sống của con người Quản lý hoạt động nhà văn hóa tích cực còn ngăn chặn, hạn chế, bài trừ các tệ nạn xã hội, ngoài ra nó còn

là vũ khí sắc bén về tư tưởng văn hóa tuyên truyền các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước tới nhân dân

Đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa luôn thể hiện tập trung nhất là đấu tranh về chính trị, tư tưởng và kinh tế Chính vì vậy, quản lý trên lĩnh vực văn hóa nói chung và hoạt động NVH nói riêng là tất yếu, khách quan, bởi hoạt động nhà văn hóa không những là một hoạt động sáng tạo, mà còn là hoạt động mang tính xã hội, kinh tế có yếu tố đặc thù

Quản lý văn hóa hoạt động NVH cũng cần được thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp luật và các chính sách có liên quan đến phát triển hoạt động văn hóa Vấn đề này phụ thuộc vào thể chế chính trị, xã hội, điều kiện về kinh tế, trình độ dân trí mỗi quốc gia, địa phương mà lựa chọn phương thức, nội dung, biện pháp quản lý khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của quốc gia, địa phương

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhà văn hóa đối với đời sống

xã hội

1.1.2.1 Chức năng của nhà văn hóa

Có rất nhiều các tác giả đưa ra chức năng của NVH Dưới đây là những chức năng cơ bản, có giá trị xuyên suốt từ khi NVH xuất hiện trong đời sống

Trang 21

cộng đồng cho đến ngày nay và chắc chắn sẽ tiếp tục đi cùng cộng đồng trong tương lai, đó là:

- Chức năng giáo dục: NVH là một thiết chế giáo dục ngoài nhà trường, với tính chất tự do, tự giác và tự nguyện thông qua các hình thức tổ chức tham gia các hoạt động văn hóa Với đặc trưng ngôn ngữ của từng loại hình văn hóa, nghệ thuật, thể thao…đã tác động vào nhận thức của con người bằng cảm xúc thông qua sự cảm thụ chủ quan với những giá trị tự tại từ mục mà tự nó điều chỉnh, thể hiện mình đạt tới mức chung của xã hội

- Chức năng giao tiếp: Giao tiếp là sự giao lưu tiếp xúc nhằm đón nhận thông tin trao đổi và xử lý thông tin với mục đích tự hoàn thiện mình của mỗi người trong cộng đồng Ngôn ngữ là công cụ quan trọng trong hoạt động giao tiếp Giao tiếp được chia thành ba loại: giao tiếp truyền thống, giao tiếp chức năng và giao tiếp tự do (giao tiếp tự do là giao tiếp của văn hóa) Giao tiếp được xem là chức năng đặc thù của hoạt động NVH, nó biểu hiện thông qua hoạt động của các hiệp hội câu lạc bộ

- Chức năng sáng tạo không chuyên: Sáng tạo là thuộc tính quan trọng của văn hóa, là bản chất và quyền năng của con người Đây là sự sáng tạo mang tính ngẫu hứng của quần chúng nhân dân thông qua sinh hoạt và hưởng thụ VHNT để đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu của chính người dân, đồng thời tạo ra các giá trị góp phần xây dựng các nền văn hóa mới

Hoạt động sáng tạo không chuyên không chỉ nhằm vào hoạt động văn nghệ, mà còn thể hiện trong nghiên cứu khoa học, khoa học ứng dụng và trong lĩnh vực hoạt động xã hội Hoạt động văn nghệ không chuyên vẫn được xem là vai trò chủ chốt trong hoạt động sáng tạo của NVH

- Chức năng nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí: Một trong những đặc điểm của thời đại công nghiệp là lao động được chuyên môn hóa, tức là mỗi người làm việc khẩn trương trong một hệ thống thao tác nhất định Do lao động với tiết

Trang 22

tấu dồn dập dẫn đến sự mệt mỏi, căng thẳng về tinh thần Tổ chức nghỉ ngơi giải trí là nhằm đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng, lập lại thế cân bằng cho mỗi người và cho toàn xã hội Toàn bộ khung cảnh, nhịp điệu hoạt động bề nổi của NVH phải tạo ra được không khí vui tươi thoải mái, góp phần tạo ra tâm lý lạc quan, yêu đời, đó là NVH đã thực hiện được chức năng tổ chức nghỉ ngơi giải trí cho quần chúng

- Chức năng hoạt động kinh doanh dịch vụ VHNT: NVH là đơn vị sự nghiệp có thu, thực hiện cơ chế “lấy thu bù chi” Phát huy ưu thế chuyên môn, khai thác triệt để nguồn nhân lực và cơ cở vật chất hiện có Tổ chức các hoạt động dịch vụ VHNT, TDTT theo đúng đường lối, chính sách và pháp luật, quy định của Đảng, Nhà nước đã ban hành

1.1.2.2 Nhiệm vụ của nhà văn hóa

Thông tư số 06/2011/TT-BVHTT&DL ngày 8/03/2011 quy định mẫu

về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của nhà văn hóa - khu thể thao thôn quy định nhiệm vụ của NVH gồm:

- Xây dựng kế hoạch, chương trình hành động ngắn hạn, dài hạn trình Chủ tịch UBND xã và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị, sản xuất và đời sống của nhân dân ở thôn

- Tổ chức các hoạt động văn nghệ; thể dục, thể thao quần chúng; các cuộc giao lưu, liên hoan, hội diễn văn nghệ; giao hữu, thi đấu các môn thể thao; duy trì hoạt động các loại hình câu lạc bộ, nhóm sở thích; phát hiện bồi dưỡng năng khiếu văn hóa văn nghệ, thể dục, thể thao và các hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ em

- Tổ chức các chương trình, lớp học nâng cao dân trí, tiếp nhận thông tin và hoạt động dịch vụ phục vụ nhân dân trên địa bàn thôn

Trang 23

- Tham gia các hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả công trình

- Tổ chức các cuộc hội họp của thôn

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do lãnh đạo địa phương giao

1.1.2.3 Vai trò của nhà văn hóa đối với đời sống xã hội

- NVH đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập TDTT của các tầng lớp nhân dân Cơ sở vật chất của NVH tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thường xuyên đến sinh hoạt, trao đổi thông tin, rèn luyện thân thể để có sức khỏe làm việc, lao động, xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc, học hỏi lẫn nhau và thắt chặt thêm tình đoàn kết Những điều này

sẽ không có được nếu NVH yếu kém, thiếu thốn, lạc hậu, tạm bợ Thực tế đã cho thấy, nhiều giá trị văn hóa quý báu của dân tộc, như hát xoan, hát bội, đờn

ca tài tử, quan họ đã được giữ gìn, nuôi dưỡng, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác từ những NVH, trung tâm văn hóa giản dị của xã, thôn mà không nhất thiết phải là ở các nhà hát, sân khấu lớn với trang thiết bị hiện đại

- NVH giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội ở địa phương; là cơ sở vật chất, công cụ trực tiếp và đắc lực của Cấp ủy, Chính quyền trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị Các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng

và Nhà nước có đến được với đại đa số quần chúng nhân dân hay không một phần quan trọng là nhờ ở NVH

- NVH là nơi để nâng cao đời sống tinh thần và hiểu biết về pháp luật của nhân dân, từ đó giảm thiểu các tệ nạn xã hội, như ma túy, mại dâm, trộm cắp, vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm cảnh quan đô thị Các buổi

Trang 24

sinh hoạt văn hóa ở cơ sở cũng chính là môi trường thuận lợi để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý kiến với các Cấp ủy đảng, Chính quyền, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh

- NVH góp phần phát triển xã hội một cách bền vững Cơ sở vật chất của hệ thống NVH là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của từng vùng, miền, dân tộc…Một xã hội muốn phát triển bền vững đòi hỏi không chỉ có kinh tế vững mạnh mà còn phải đặc biệt quan tâm đến văn hóa Con người không chỉ có nhu cầu ăn, mặc, đi lại, mà đang ngày càng hướng tới lối sống lành mạnh, chất lượng cuộc sống tốt hơn

- NVH có ý nghĩa thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay Trong

19 tiêu chí để được công nhận là nông thôn mới có tiêu chí: NVH- khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH,TT&DL; tỷ lệ thôn có NVH - khu thể thao thôn đạt chuẩn của Bộ VH,TT&DL là 100% Tiêu chí này, một mặt, góp phần xây dựng nông thôn mới; mặt khác, tạo điều kiện để người dân nông thôn nâng cao mức thụ hưởng văn hóa, khắc phục tình trạng chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân giữa thành thị và nông thôn Trong một chừng mực nào đó, nhân dân địa phương cũng chính là chủ thể và đồng thời là khách thể của công cuộc xây dựng các NVH

- Bản sắc văn hóa chỉ có thể hiện hữu, phát triển mạnh mẽ, trường tồn trong điều kiện thiết chế NVH đầy đủ, vững mạnh, hoạt động hiệu quả Do

đó, xây dựng hệ thống NVH các cấp trở thành một nhu cầu bức thiết, một đòi hỏi chính đáng của nhân dân vì mỗi người dân, mỗi thôn, xóm là một minh chứng sống động, trực quan của bản sắc văn hóa dân tộc

- Lực lượng cán bộ, cơ quan quản lý thiết chế nhà văn hóa giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có đạo đức sẽ giúp định hướng và tổ chức

Trang 25

các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả; đồng thời, đề xuất các cơ quan cấp trên giúp đỡ, tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của các công trình thiết chế nhà văn hóa

1.2 Khái quát hệ thống Nhà văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương

1.2.1 Khái quát về huyện Quảng Xương

1.2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý: huyện Quảng Xương thuộc vùng đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 19.877,5 ha, với chiều dài bờ biển 18 km, có quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ số 4 đi qua Phía Đông giáp Thành phố Sầm Sơn

và vịnh Bắc Bộ; phía Nam giáp huyện Tĩnh Gia; phía Tây giáp huyện Nông Cống và huyện Đông Sơn; phía Bắc giáp thành phố Thanh Hóa Nếu xét về địa lý tự nhiên, Quảng Xương nằm ở vị trí tương đối thuận lợi so với nhiều huyện trong tỉnh Thanh Hóa

Đặc điểm tự nhiên: Địa hình được chia làm hai vùng rõ rệt: đồng bằng

và ven biển Vùng ven biển nằm ở phía Đông với các xã: Quảng Lợi, Quảng Nham, Quảng Thái, Quảng Lưu, Quảng Hải là khu vực trọng tâm trong tam giác đô thị thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn - Nghi Sơn, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp biển Vùng đồng bằng là các xã, thị trấn còn lại trong huyện, là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, và các ngành nghề thủ công

1.2.1.2 Lịch sử hình thành

Tên huyện Quảng Xương bắt đầu được gọi từ đời Quang Thuận (1460-1469) Đến đời Hậu Lê - Tây Sơn - Nguyễn địa thế tương đương huyện Quảng Xương ngày nay, trừ phần đất phía Tây huyện, trong khoảng sông Lý, sông Lăng, sông Vạy, sông Yên thuộc huyện

Trang 26

Ngọc Sơn Từ sau đời Đồng Khánh mới cắt khỏi Tĩnh Gia nhập vào

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Các đơn vị hành chính cấp Phủ và cấp Tổng bị xóa

bỏ Sau cuộc bầu cư Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp vào nửa đầu năm 1946, huyện Quảng Xương thành lập 39 xã Đến tháng 4/1948, từ 39 xã sát nhập thành 47 xã lớn lấy từ Quảng làm tên đầu cho tất cả các xã Trong những năm 1953-1954 xã lớn đều giải thể để thành lập 47 xã mới

Ngày 19/4/1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 50/CP thành lập thị trấn Sầm Sơn trực thuộc huyện Quảng Xương bao gồm khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn

Ngày 18/12/1981, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 157/HĐBT thành lập thị xã Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa bao gồm thị trấn Sầm Sơn, xã Quảng Tường, Quảng Cư, Quảng Tiến và xóm Vinh Sơn (xa Quảng Vinh)

Ngày 22/8/1971, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 226/TTg sát nhập

xã Quảng Thắng và Thị xã Thanh Hóa

Ngày 13/4/1991, Chủ phủ ra Quyết định số 1851 thành lập thị trấn Quảng Xương

Ngày 06/12/1995, Chính phủ ra Nghị định số 85/CP sát nhập xã Quảng Hưng, Quảng Thành vào thành phố Thanh Hóa

người của huyện Quảng Xương được chuyển về thành phố Thanh Hóa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 27

Ngày 15/5/2015, 06 xã thuộc huyện Quảng Xương được sát nhập về thị

xã Sầm Sơn (nay là Thành phố Sầm Sơn)

Sau khi chia tách địa giới, kể từ ngày 01/01/2016, toàn huyện có 29 xã

1.2.1.3 Thành phần dân cư và đời sống kinh tế

Dân số huyện Quảng Xương tính đến năm 2016 là 227.971 người, chủ

[46, tr.1]

Về đời sống kinh tế: Xuất phát điểm là huyện thuần nông, sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, đồng ruộng manh mún, hệ thống cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được yêu cầu, đến nay huyện Quảng Xương đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế Kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá Cơ cấu thành phần kinh tế ngày càng đa dạng Tính đến giữa năm 2017, cơ cấu kinh tế Nông - lâm - thuỷ sản: 40%; Công nghiệp- xây dựng 27,2%; Dịch vụ - thương mại 32,8% Tốc độ tăng trưởng năm 2017 đạt 15% [46, tr.5] Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Sự đổi thay kỳ diệu đó có được là do huyện Quảng Xương đã đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm Nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng như chuyển dịch đất cấy lúa bị thoái hóa sang trồng cói, trồng dâu nuôi tằm phục vụ nhu cầu phát triển thủ công nghiệp Đối với các xã đất màu mỡ, chính quyền địa phương đã chỉ đạo người dân tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, coi trọng cả

ba vụ trong năm, tăng nhanh diện tích cây vụ đông trên đất 2 lúa, đồng thời đưa vào triển khai canh tác những giống lúa cho năng suất cao Đến nay, dù nhiều xã đã chuyển sang trồng cây công nghiệp, nuôi thủy sản, nhưng sản lượng lúa của huyện Quảng Xương vẫn khá cao, được coi là huyện trọng điểm lúa của tỉnh Thanh Hóa

Trang 28

Hệ thống giao thông cơ bản được hoàn thiện Hiện nay 100% số xã

có đường ôtô đến xã Toàn huyện có 60km đường rải nhựa Hệ thống cầu cống trên các trục đường giao thông đảm bảo thông tuyến, không chỉ tạo thuận lợi cho việc đi lại mà còn là một trong những tiền đề cơ bản để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Đối với hệ thống thủy lợi, hiện có 65% diện tích sản xuất được tưới bằng nguồn nước tự chảy (8.000 ha), 35% diện tích còn lại được tưới bằng nguồn nước tạo nguồn với hình thức chủ yếu là bơm điện và bơm dầu (4.000 ha), kênh mương tưới phần lớn đã được xây dựng và kiên cố, tạo thuận lợi lớn cho nông nghiệp phát triển Mạng lưới điện, nước không ngừng được củng cố, đến nay, hiện có 100% số dân được dùng nước hợp vệ sinh, 100% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia [46, tr.6]

Mạng lưới thông tin liên lạc được phát triển nhanh, từng bước được hiện đại hóa, đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc phục vụ cho việc trao đổi thông tin trong sản xuất cũng như nhu cầu tình cảm Hiện nay, toàn huyện có 30 điểm bưu điện văn hóa xã

Giáo dục và y tế là hai vấn đề luôn được quan tâm ở Quảng Xương, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ngày càng được xây dựng

và hoàn thiện Hầu hết các xã đều có cơ sở khám chữa bệnh, đáp ứng được sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của người dân Văn hóa xã hội phát triển, an ninh chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư

1.2.1.4 Đời sống văn hóa

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng về

“xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Trên cơ

sở những chỉ đạo thể hiện trong Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa ở các nhiệm kỳ gần đây Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Quảng Xương đã chủ

Trang 29

động xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể cho toàn huyện, dựa trên cơ sở truyền thống lịch sử, văn hóa vốn có của địa phương Phòng VHTT là cơ quan thường trực, phối kết hợp với các ngành, các cấp, lập kế hoạch cụ thể dựa trên nền tảng, điều kiện thực tiễn Phòng VHTT đã kịp thời, nhanh chóng triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng thôn, khu phố văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, gần đây nhất là phong trào “Xây dựng nông thôn mới” Vì vậy, công tác văn hóa, thông tin, TDTT quần chúng, y tế giáo dục đã có những chuyển biến rõ nét

Lĩnh vực văn hóa, các mảng được ưu tiên và đạt được nhiều thành tựu:

- Hệ thống TCVH trong toàn huyện được quy hoạch, đầu tư bằng nhiều hình thức để xây dựng theo những tiêu chuẩn đã được đề ra trong tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân

- Công tác xây dựng gia đình văn hóa được coi trọng Giữ gìn, phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam; nêu cao vai trò gương mẫu của ông bà, cha mẹ, anh chị; xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và tạo mối quan hệ nhân ái, nghĩa tình trong bà con xóm giềng Tính đến năm

2017 có 48.910/65.652 hộ đạt chuẩn gia đình văn hoá, đạt 80,5%

- Xây dựng thôn, khu phố, cơ quan, trường học, xã, thị trấn có đời sống văn hóa lành mạnh Tính đến năm 2017, có 220/281 thôn, phố đạt chuẩn văn hoá, đạt 78,3% và có 51 đơn vị đạt chuẩn cơ quan, đơn vị văn hoá, toàn huyện

có 24 mô hình phòng chống bạo lực gia đình với 69 câu lạc bộ “gia đình phát triển bền vững”; hầu hết các thôn, phố đều đã xây dựng được quy ước, hương ước, góp phần tích cực trong việc xây dựng nếp sống văn minh và đời sống văn hóa lành mạnh” [29, tr.3]

Trang 30

- Thực hiện tốt việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang,

lễ hội theo tinh thần Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ Chính trị Nhiều đơn vị trên địa bàn đã quan tâm đúng mức đến việc cưới, việc tang và lễ hội, xây dựng quy chế hoạt động, phân công thành viên chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể cho nhân dân thực hiện đúng quy định, phù hợp với nhu cầu phát triển đời sống của người dân, từng bước hình thành được nếp sống văn hoá, văn minh trong nhân dân

Lĩnh vực Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong những năm qua luôn được quan tâm đúng mức Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong khu vực kinh tế biển địa phương nói riêng và người dân Quảng Xương nói chung

có nhiều chuyển biến tích cực Các dịch vụ khám, chữa bệnh được quan tâm đầu tư, người bệnh yên tâm hơn trong việc khám, điều trị

Lĩnh vực giáo dục đào tạo được quan tâm và có bước phát triển tốt Việc bồi dưỡng cán bộ, giáo viên được chú trọng, đến nay 100% giáo viên các cấp trình độ đạt chuẩn; huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, tỷ lệ trường đạt chuẩn trên địa bàn đến nay đạt 80,2% Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học tiếp tục được đẩy mạnh Công tác khuyến học, khuyến tài không ngừng được quan tâm, chỉ đạo, thực hiện chế độ khen thưởng đối với học sinh đạt giải cao [48, tr.6]

Hoạt động TDTT: Cuộc sống lao động trên vùng đất ven biển, nhiều sông nước đã khiến cho người dân Quảng Xương rất giỏi dùng thuyền và thạo sông biển, đó là cơ sở hình thành nên một số môn thể thao mang dấu ấn văn hóa biển Phong trào VHVN, TDTT trên địa bàn ngày một phát triển, từng bước nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, số người tập luyện TDTT ngày càng tăng lên đạt 38%,

số gia đình thể thao đạt 25,5%, phong trào TDTT đã góp phần tạo không khí

Trang 31

vui tươi trong lao động, học tập, sản xuất, nâng cao đời sống tinh thần và sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân trong huyện

Khi nói đến vùng đất Quảng Xương là nói đến một huyện giàu truyền thống văn hóa Có nhiều di tích, lễ hội hình thành cùng các giai đoạn lịch sử Theo thống kê, toàn huyện Quảng Xương có 42 di tích, trong đó, loại hình đền, miếu, nghè, phủ có 29 di tích; chùa 04; Từ đường, lăng tẩm, thành quách

09 Trên 20 lễ hội lớn nhỏ Một số di tích, lễ hội tiêu biểu:

- Di tích: Chùa Hưng Phúc bên dòng sông Cổ Khê; Đền thờ An Dương Vương ở làng Bình Hòa xã Quảng Châu với có pho tượng đá cụt đầu, tương truyền rằng đó là Mỵ Châu “mỗi khi đền rung trống tế An Dương Vương thì tượng toát mồ hôi”; Chùa Mậu Xương nằm trên địa bàn xã Quảng Lưu Là một ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thế kỷ XVII Nơi đây là gốc Nội đạo tràng (Đạo Đông) đứng đầu là An Đông phật tổ Trần Ngọc Lành; Đền thờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật ở chân núi Văn Trinh, xã Quảng Hợp; Làng Đồn Điền xã Quảng Thái, dấu tích quân lính triều thời Lê Thánh Tông khai khẩn đồn điền theo chính sách “ngụ binh ư nông” để phát triển nông nghiệp dưới sự chỉ huy của Dinh điền phó sứ Tô Chính Đạo cùng các vị Uông Ngọc Châu, Trịnh Hồng Vân Làng Đồn Điền là nơi đóng lỵ sở chính để chỉ huy các địa điểm khai khẩn của quân lính rải rác khắp huyện Quảng Xương

và lên tận Nông Cống; Cung Bịch ở xã Quảng Ninh, là cung trạm cũ, dưới thời phong kiến nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam…tất cả giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống di tích làm cho mầu sắc trong đời sống văn hóa địa phương có thêm nhiều giá trị

Lễ hội: Lễ hội đền Riềng xuất hiện từ thời kỳ Hùng Vương đời thứ 18;

Lễ hội Cầu phúc tháng 3 tổ chức ở bái đất trung tâm Kẻ Nguyễn, bái đất này năm 1281, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật sau chiến thắng đạo Đà Giang

về thăm nhà, chúng dân Kẻ Nguyễn ra đón mừng; Lễ hội đền Văn Trinh; các

Trang 32

lễ cổ truyền: Nghề dệt chiếu cói (làng Cung Bịch); nghề đan thúng (làng Ước Nội và Ước Ngoại); nghề làm quạt giấy (làng Lưu Vệ); nghề làm đồ tre (làng Đà); nghề tiện gỗ (làng Nghệ); nghề làm muối (làng Ngọc); nghề chế biến hải sản, đánh cá khơi (làng Mom)

1.2.2 Hệ thống Nhà văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương

Xây dựng hệ thống NVH là điều kiện đầu tiên để nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao cơ sở Là nhiệm vụ được xác định trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng như: là 1 trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới; một nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm

2020 của Bộ VH,TT&DL đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp

Vì vậy cấp ủy, chính quyền các cấp xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trên cơ sở xây dựng các đề án, dự án, kế hoạch, phương án được thực hiện: Đề án xây dựng NVH thôn, phố; Kế hoạch xây dựng và phát triển

sự nghiệp TDTT; Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, di tích cách mạng và danh lam thắng cảnh; Dự án xây dựng khu trung tâm VHTT huyện; Phương án xây dựng làng văn hóa tiêu biểu; Đề án xây dựng và phát triển du lịch Bằng nhiều biện pháp trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, tính đến thời điểm hiện nay, hệ thống NVH - khu thể thao cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân

Quảng Xương hiện có 30 đơn vị hành chính, bao gồm 01 thị trấn và 29

xã Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, toàn huyện đã huy động nguồn lực xã hội tham gia xây dựng NVH với tổng số tiền 35 tỷ đồng Năm

2013 toàn huyện đã đạt 100% làng văn hóa Tính đến năm 2017 có 29 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, 01 thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị Năm 2018 huyện Quảng Xương đạt chuẩn nông thôn mới

Trang 33

Trên địa bàn toàn huyện có 287/292 thôn có NVH (có một số NVH xây dựng, vận hành theo hình thức liên phố), 32 sân bóng đá, 224 sân bóng chuyền, 110 sân cầu lông, 21 xã có hội trường văn hóa đa năng tại khu Trung tâm văn hóa thể thao xã Khu Trung tâm văn hóa, thể thao huyện được quy hoạch hơn 14ha, hiện tại các hạng mục đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng như: Trung tâm hội nghị, sân vận động, sân tenis, nhà truyền thống, nhà thi đấu đa năng, khuôn viên cây xanh khu trung tâm

Trên cơ sở các TCVH từ huyện đến cơ sở từng bước được đầu tư xây dựng thì phong trào TDTT cũng đang có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, tinh thần và thái độ tham gia hoạt động, rèn luyện sức khỏe của các tầng lớp nhân dân tự giác và tích cực Thông qua hoạt động thể thao đã góp phần nâng cao sức khỏe cho mọi người, mọi nhà, nâng cao hiệu quả trong học tập, công tác, đảm bảo hạnh phúc gia đình, tăng cường

sự đoàn kết nội bộ, tạo không khí vui tươi lành mạnh trong cơ quan, đơn vị, xây dựng phát huy tình làng nghĩa xóm trong các cộng đồng dân cư, mở rộng mối quan hệ giao lưu bàn bè, tạo sự đồng cảm hiểu biết lẫn nhau và quan trọng hơn nữa đó là tạo sự đồng thuận trong xã hội Đây chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động TDTT quần chúng và hoạt động TDTT thành tích cao phát triển mạnh về cả số lượng và đảm bảo chất lượng trên địa bàn huyện nhà

Tiếp tục tăng cường công tác lãnh chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà văn hóa đa năng cấp xã; NVH - khu thể thao thôn, phố, chủ động xây dựng kế hoạch, tuyên truyền vận động nhân dân, thực hiện tốt công tác xã hội hóa, huy động các nguồn lực xây dựng các TCVH, thực hiện mục tiêu kế hoạch đã đề

ra, gắn với việc xây dựng nông thôn mới tại địa phương đến năm 2018, 100% các xã Nhà văn hóa đa năng; 100% các thôn, phố có NVH - khu thể thao

Trang 34

Tiểu kết

NVH là một trong những TCVH, là một cơ quan giáo dục XHCN ngoài nhà trường Không chỉ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước mà còn là nơi cung cấp kiến thức, giáo dục; rèn luyện; cũng như thưởng thức văn hóa, văn nghệ của mỗi các nhân trong cộng đồng Chính vì vậy phải thực hiện đầy đủ và đi đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đặt ra cho công tác quản lý hoạt động NVH; phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của NVH trong thời đại mới

Trong chương 1, luận văn đã đề cập và làm rõ những khái niệm liên quan đến đề tài như NVH, hoạt động NVH, quản lý cũng như quản lý hoạt động NVH; Chức năng, nhiệm vụ, vai trò của NVH trong đời sống cộng đồng Những vấn đề lý thuyết không chỉ là cơ sở quan trọng cho việc tác giả luận văn áp dụng vào nghiên cứu thực tiễn hoạt động NVH thôn, phố trên địa bàn huyện Quảng Xương, mà còn cho thấy tầm quan trọng của hệ thống NVH thôn, phố trong việc góp phần nâng cao đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa ngày càng cao của nhân dân

Giới thiệu khái quát về huyện Quảng Xương trên các bình diện: Vị trí địa

lý, điều kiện tự nhiên; Lịch sử hình thành; Dân cư và đời sống kinh tế; Đời sống văn hóa Với những nội dung nghiên cứu, cơ bản đã lột tả được một bức tranh tổng thể về huyện Quảng Xương tính đến thời điểm hiện nay Diễn trình ấy cho thấy cả sự đổi thay về diện mạo, đời sống kinh tế, văn hóa của huyện

Đồng thời đưa ra một bức tranh khái quát về hệ thống NVH xã; phố, thôn trên địa bàn toàn huyện, đặc biệt NVH xã; phố, thôn từ khi huyện triển khai xây dựng nông thôn mới đến nay

Những nội dung nghiên cứu ở chương 1 chính là tiền đề để có thể xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động các NVH trên địa bàn huyện Quảng Xương ở chương 2 và giải pháp ở chương

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG HIỆN NAY

2.1 Chủ thể quản lý

2.1.1 Phòng Văn hóa Thông tin

2.1.1.1 Phân cấp quản lý và chất lượng đội ngũ

Phòng VHTT là bộ phận chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện Quảng Xương Ở cấp huyện, ngoài phòng VHTT còn có Trung tâm VHTT là đơn vị sự nghiệp, chịu trách nhiệm tổ chức, triển khai thực hiện các nghiệp vụ văn hóa

Phòng VHTT hiện có 06 cán bộ, trong đó: 01 trưởng phòng, 02 phó trưởng phòng và 03 chuyên viên Trình độ chuyên môn: 01 thạc sĩ (chiếm

15%); 05 đại học (chiếm 86%) [xem sơ đồ]

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của phòng Văn hóa Thông tin

[Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Quảng Xương, 2017]

01 phó phụ trách thông tin truyền thông

01 phó phụ trách đời sống văn hóa cơ sở

01 chuyên viên phụ

trách thể thao

01 chuyên viên phụ trách công nghệ thông tin

01 chuyên viên phụ trách tuyên truyền và quản lý di tích

01 Trưởng phòng

Trang 36

Nhìn chung, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, chuyên viên phòng VHTT đảm bảo theo yêu cầu, đáp ứng được nhiệm vụ chỉ đạo, tham mưu và thực hiện các công tác quản lý nhà nước về văn hóa Điểm hạn chế của đội ngũ nhân lực chính là số cán bộ, chuyên viên tốt nghiệp đúng chuyên ngành quản lý văn hóa chỉ chiêm 40%, 60% còn lại tốt nghiệp các chuyên ngành gần, khác với ngành văn hóa nên cũng có những khó khăn nhất định trong việc thực hiện các nghiệp vụ, kỹ năng chuyên ngành văn hóa, ví dụ như việc hướng dẫn, chỉ đạo, tập huấn về công tác NVH còn lúng túng, bị động, khó khăn trong công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên các hoạt động văn hóa

Để nâng cao chất lượng đội ngũ, hàng năm UBND huyện thường xuyên quan tâm đến việc cử các cán bộ của phòng tham gia học tập nâng cao trình

độ chuyên môn ở bậc sau đại học, hoặc tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng quản lý lĩnh vực văn hóa, để mỗi cán bộ tiếp thu được chủ trương, tinh thần, nghiệp vụ mới, bổ sung, thực hiện trong hoạt động quản

lý thực tiễn

2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

Thông tư liên tịch số: 07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV của Bộ VH,TT&DL - Bộ Nội vụ đã chỉ rõ và hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở VH,TT&DL thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW; phòng VHTT thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác định chức năng: là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình, TDTT, du lịch và quảng cáo; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật

Ngoài ra phòng VHTT còn đảm nhận một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

Trang 37

- Thực hiện các công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa cơ

sở Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương;

- Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào VHVN; phong trào luyện tập TDTT; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng gia đình văn hoá, thôn văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn hoá; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn

- Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các thư viện, trung tâm văn hóa, trung tâm TDTT hoặc trung tâm VHTT, các TCVH cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hoá, TDTT, du lịch và quảng cáo điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn

- Tổ chức các hoạt động văn hóa, bồi dưỡng năng khiếu nhằm nâng cao đời sống văn hóa, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa và giải trí nhân dân

2.1.2 Trung tâm Văn hóa Thể thao

2.1.2.1 Phân cấp quản lý và chất lượng đội ngũ

Trung tâm VHTT huyện Quảng Xương là đơn vị sự nghiệp VHTT trực thuộc UBND cấp huyện, có tư cách pháp nhân và có con dấu và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật

Cơ cấu đội ngũ cán bộ: Trung tâm VHTT có 09 người, trong đó: 01 giám đốc, 01 phó Giám đốc và 07 chuyên môn 100% cán bộ có trình độ đại học [xem sơ đồ]

Trang 38

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Văn hóa Thể thao

[Nguồn: Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Quảng Xương, 2017]

Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ trung tâm cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ, công việc trong tình hình thực tiễn hiện nay Và điểm hạn chế cũng nằm ở chỗ số cán bộ được đào tạo đúng ngành chiếm tỷ lệ thấp (60%), 40%

là cán bộ đào tạo trái ngành, nhiều cán bộ trẻ chưa có kinh nghiệm thực tiễn,

kỹ năng mềm trong tổ chức, quản lý các hoạt động văn hóa

2.1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ

- Tổ chức các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa của nhân dân địa phương;

- Tuyên truyền - cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa -

xã hội theo đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước;

- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác văn hóa, thông tin ở cơ sở; Tổ chức các dịch vụ công về văn hóa, thông tin nhằm phục vụ nhân dân trên địa bàn toàn huyện

01 Giám đốc

Phụ trách chung

01 phó Giám đốc

-Giúp việc cho Giám đốc

- Trực tiếp phụ trách hoạt động thể thao và hoạt động nghệ thuật

07 chuyên viên, phụ trách các mảng công việc:

+ 01 chuyên viên kế toán + 01 chuyên viên VHVN + 01 chuyên viên thư viện + 01 chuyên viên TCVH + 02 chuyên viên thể thao + 01 chuyên viên TTCĐ + 01 chuyên viên văn phòng

Trang 39

Một số nhiệm vụ hoạt động được tổ chức triển khai tại Trung tâm:

- Căn cứ chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương

và kế hoạch công tác của phòng VHTT, xây dựng kế hoạch hoạt động ngắn hạn, dài hạn và tổ chức thực hiện sau khi được UBND cấp huyện phê duyệt;

- Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị, kinh tế,

xã hội của địa phương

- Tổ chức các hoạt động VHVN, chiếu phim, thông tin lưu động, vui chơi giải trí, câu lạc bộ, nhóm sở thích, lớp năng khiếu về nghệ thuật, kỹ năng ngành nghề và các loại hình hoạt động khác phù hợp với nhiệm vụ được giao;

- Tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, lễ hội truyền thống Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ phương pháp công tác cho những người làm công tác văn hóa, thông tin ở xã, phường, thị trấn theo kế hoạch;

- Biên soạn, xuất bản và phát hành theo quy định của pháp luật các tài liệu chuyên môn phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ;

- Tổ chức các dịch vụ văn hóa, thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ theo quy định của pháp luật;

- Hợp tác, giao lưu, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ và các hoạt động VHTT cơ sở với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh;

- Thực hiện báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất về hoạt động của Trung tâm với UBND cấp huyện, với phòng VHTT và những cơ quan quản lý văn hóa theo quy định;

- Quản lý tổ chức, cán bộ, viên chức, tài chính và tài sản của Trung tâm theo quy định của cấp có thẩm quyền; được ký kết hợp đồng lao động và quản

lý lao động theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND và phòng VHTT giao

Trang 40

2.1.3 Ban văn hóa xã, phường, thị trấn

2.1.3.1 Về cơ cấu tổ chức

Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh,

số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Nghị định quy định rõ, UBND cấp tỉnh ra quyết định giao số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định; hướng dẫn kiêm nhiệm một số chức danh để đảm bảo các lĩnh vực công tác ở địa phương đều có cán bộ, công chức đảm nhiệm

Để tuyển dụng, bổ nhiệm đúng, trúng, UBND tỉnh còn vận dụng Thông

tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn để triển khai trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, kết quả tuyển dụng, huyện Quảng Xương đã bố trí, sắp xếp và tuyển dụng cán bộ cho Ban Văn hóa xã, thị trấn theo đúng quy định Về cơ cấu tổ chức cán bộ của Ban Văn hóa xã, thị trấn được định danh 02 cán bộ (01 cán bộ công chức văn hóa; 01 cán bộ công chức chính sách xã hội) Với số lượng 30 xã, thị trấn, huyện Quảng Xương cơ bản đã tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh công chức văn hóa - xã hội đủ 100% theo quy định

Ngày đăng: 11/08/2020, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w