1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van quản lý hoạt động nhà văn hóa phố, thôn trên trên địa bàn thành phố thanh hóa trong giai đoạn hiện nay

191 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 21,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng trong quản lý, tổ chức hoạt động của hệ thống NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn hiệu quả. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Công tác quản lý hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hoa, tỉnh Thanh Hóa. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Không gian: Nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng phương pháp tiếp cận và kiến thức, kết quả của nhiều ngành khác nhau có liên quan đến công tác quản lý, tổ chức và hoạt động NVH phố, thôn. Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế: Là nghiên cứu điền dã, thực địa, cùng với hoạt động thực tế, phương pháp này giúp cho luận văn có nguồn tài liệu phong phú, có sự đối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết mà các nguồn cung cấp tư liệu không có hoặc có nhưng không chính xác. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích: Để đưa ra những đánh giá khách quan, chân thực về thực trạng và đề xuất những giải pháp phù hợp. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết. Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia để xem xét, nhận định bản chất của đối tượng, tìm ra một giải pháp tối ưu. 6. Dự kiến kết quả đạt được Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về QLVH và TCVH, chỉ ra được những thực trạng đang tồn tại của công tác quản lý, tổ chức hoạt động trong hệ thống TCVH phố, thôn, đưa ra các giải pháp hữu hiệu có tính thực tiễn, giúp cho ngành văn hóa thành phố Thanh Hóa quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các địa phương lân cận sử dụng trong công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn; trong nghiên cứu, hướng đẫn nghiệp vụ, giảng dạy và học tập cho chuyên ngành QLVH ở các tổ chức đào tạo về lĩnh vực ngành văn hóa.

Trang 1

********

LÊ QUANG VƯỢNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ,

THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 60310642

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Thức

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Thức Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được trích dẫn cụ thể, rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Quang Vƣợng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ, THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA 11

1.1 Cơ sở lý luận về thiết chế văn hóa 11

1.1.1 Các khái niệm 11

1.1.2 Nhiệm vụ, chức năng, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của nhà văn hóa 14

1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và thành phố Thanh Hóa về xây dựng và phát triển nhà văn hóa phố, thôn 22

1.2 Khái quát về hệ thống nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 28

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 28

1.2.2 Khái quát chung về hệ thống nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa 31

Tiểu kết 35

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ, THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA 36

2.1 Chủ thể quản lý 36

2.1.1 Phòng Văn hóa và Thông tin 36

2.1.2 Trung tâm Thể dục thể thao thành phố Thanh Hóa 37

2.1.3 Trung tâm Văn hóa Thông tin thành phố Thanh Hóa 38

2.1.4 Ban Văn hóa phường, xã 39

2.1.5 Ban chủ nhiệm nhà văn hóa phố, thôn 40

2.2 Cơ chế, phương thức quản lý 40

2.2.1 Cơ chế quản lý 40

2.2.2 Phương thức quản lý 41

Trang 4

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn

thành phố Thanh Hóa 44

2.3.1 Công tác chỉ đạo của thành phố Thanh Hóa 44

2.3.2 Công tác thực hiện của các phòng, ban thành phố Thanh Hóa 45

2.3.3 Công tác xây dựng nguồn lực 47

2.3.4 Quản lý các chương trình hoạt động 51

2.4 Đánh giá công tác quản lý hoạt động nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 55

2.4.1 Ưu điểm 55

2.4.2 Hạn chế tồn tại 58

2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 60

Tiểu kết 64

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ, THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA 66

3.1 Định hướng của Trung ương, địa phương đối với việc phát triển hoạt động nhà văn hóa phố, thôn 66

3.1.1 Định hướng của Trung ương 66

3.1.2 Định hướng của thành phố Thanh Hóa 72

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 72

3.2.1 Giải pháp chung 72

3.2.2 Giải pháp cụ thể 82

Tiểu kết 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 111

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 6

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Thanh Hóa có một vị trí đặc biệt quan trọng - là điểm trung chuyển giữa vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, thuận lợi trong việc giao thương với các vùng miền trong và ngoài tỉnh, giữ vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng

Là đô thị loại I của tỉnh Thanh Hóa, có quy mô dân số, diện tích và có số đơn vị hành chính lớn nhất trong các đô thị trực thuộc tỉnh ở Việt Nam, thành phố Thanh Hóa không những là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh mà còn là một trong những trung tâm kinh tế, dịch vụ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao của vùng Bắc Trung Bộ

Thành lập từ năm 1994, hơn 20 năm qua thành phố Thanh Hóa đã có những bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực theo hướng hiện đại,

cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư đồng bộ, cảnh quan thay đổi hơn hẳn nhiều năm trước đây Bên cạnh đó, Thành phố còn có những bước tiến mang tính đột phá trong tiến trình xây dựng và phát triển trong thời kỳ đổi mới

Trên lĩnh vực văn hóa, cùng với cả nước và các địa phương trong tỉnh, thành phố Thanh Hóa đã triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII ngày 16/7/1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; Quyết định số 235/1999/QĐ-TTg ngày 23/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 01/QĐ-BCĐ ngày 12/4/2000 của Ban chỉ đạo Trung ương về thành lập Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Để hoạt động văn hóa được thực hiện thường xuyên, đi vào chiều sâu, Đảng, Nhà nước, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) đã khẳng định thiết chế văn hóa (TCVH), đặc biệt TCVH cơ sở (thiết chế văn hóa ở cấp xã, thị trấn, phố, thôn, bản, cơ quan xí nghiệp) đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định đến chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân cơ sở Trên cơ sở các văn bản chỉ

Trang 8

đạo của Thành phố, tổ giải quyết xây dựng NVH phố, thôn đã triển khai đến các phường, xã thực hiện Đến nay, thành phố Thanh Hóa đã xây dựng được 419 NVH/419 phố-thôn, thuộc 37 đơn vị phường-xã, đạt tỷ lệ 100%

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác triển khai xây dựng NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, thực tế cho thấy, việc tổ chức hoạt động NVH chưa thường xuyên, nội dung còn nhiều hạn chế, công tác tổ chức, quản lý, điều hành còn lúng túng, dẫn đến một số NVH phố, thôn hiện đang sử dụng sai mục đích, các phong trào chưa đáp ứng nhu cầu cẩn thiết trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân, gây ra sự lãng phí về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực không nhỏ Ngày 30/9/2014 Chủ tịch UBND Thành phố ban hành Quyết định số 8758/QĐ-UBND về việc thành lập đoàn kiểm tra quản lý, sử dụng và tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa và định hướng cho việc quản lý và tổ chức các hoạt động đảm bảo quy định Nhà nước Nhưng đến nay công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa vẫn chưa đạt hiệu quả cao, sai phạm vẫn diễn ra

Từ thực trạng quản lý hoạt động của NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa như trên, là một học viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa, đồng thời là cán bộ thuộc Trung tâm Văn hóa Thông tin (VHTT) Thành phố Thanh Hóa, tôi nhận thấy cần có sự nghiên cứu nghiêm túc về hệ thống thiết chế NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, trên cơ sở thực trạng và những yêu cầu bức thiết đặt ra, đề xuất các giải pháp có tính thực tiễn, nhằm giúp cho hệ thống NVH phố, thôn trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa hoạt động

thực sự hiệu quả Với các lý do trên tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động nhà

văn hóa phố, thôn trên trên địa bàn thành phố Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” làm Luận văn tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những tác động của giao lưu, biến đổi văn hoá, ít nhiều tác động đến hoạt động các TCVH cơ sở, bằng chứng là việc bùng nổ của nhiều loại hình văn hoá,

Trang 9

công nghệ hiện đại, dần dần sinh hoạt văn hoá ở các TCVH cơ sở cộng đồng bị lãng quên Điều này cũng đặt ra cho nhà quản lý văn hoá (QLVH), làm thế nào

để duy trì hoạt động văn hoá ở các TCVH cơ sở hiệu quả trong xã hội phát triển

và hội nhập hiện nay để mỗi cá nhân trong mỗi tổ chức, cộng đồng nhận thức được đầy đủ cần có những sinh hoạt văn hoá cộng đồng lành mạnh, được tổ chức

ở các TCVH cơ sở

Các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về lĩnh vực văn hóa nói chung ít nhiều đề cập đến QLVH, TCVH được biểu hiện trong các công trình nghiên cứu Có thể điểm qua một vài công trình tiêu biểu như:

* Về lý luận văn hóa

Cuốn “Văn hóa vì sự phát triển xã hội” của tác giả Lê Như Hoa (2002) do Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản, đã nêu lên quá trình phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giáo dục văn hóa và sự nghiệp phát triển xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xã hội hóa hoạt động văn hóa

Trong cuốn “Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện

nay” Hoàng Vinh, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện văn hóa, Hà Nội, năm 2006

tác giả đã bàn về những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay như: Di sản văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng, hoạt động vui chơi giải trí và vai trò của nó trong đời sống xã hội, cội nguồn của văn hóa

và đạo đức

* Quản lý văn hóa

Cuốn “Quản lý hoạt động văn hóa” của nhóm tác giả Phan Văn Tú,

Nguyễn Văn Hy, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 1998 đã nêu những vấn đề chủ yếu về quản lý như: Chính sách quản lý, hoạt động văn hóa, nội dung quản lý hoạt động văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay

Trang 10

Cuốn “Quản lý văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập

quốc tế” của nhóm tác giả Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, năm 2014

* Về thiết chế văn hóa

Đề tài Luận án tiến sĩ khoa học ngành triết học về “Giáo dục lý tưởng

thẩm mỹ cho thanh niên thông qua hệ thống thiết chế nhà văn hóa” của tác giả

Trần Quốc Bảng, bảo vệ thành công tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, năm

1996 đã đề cập đến mục đích những hoạt động diễn ra ở thiết chế Nhà văn hóa

Đề tài Luận án tiến sĩ khoa học ngành kinh tế về đề tài “Vận dụng tổng

hợp các phương pháp quản lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động nhà văn hoá”, của tác giả Bùi Tiến Quý thực hiện được bảo vệ tại Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 1999 đã đề cập đến những vấn đề chung về hoạt động nhà văn hóa, sự ra đời Câu lạc bộ - nhà văn hoá ở Việt Nam, hoạt động và quản lý nhà văn hoá trong giai đoạn phát triển mới, các phương pháp quản lý trong hoạt động nhà văn hoá, chất lượng và hiệu quả hoạt động nhà văn hoá

Đê tài Luận văn Thạc sĩ ngành Quản lý văn hóa về đề tài “Quản lý hoạt

động Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” của

tác giả Nguyễn Quách Hải, đã bảo vệ thành công tại Trường Đại học Văn hóa, Hà

Nội, năm 2011 Luận văn đã trình bày những lý luận chung, chỉ ra thực trạng và đưa ra đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt

động của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

* Các công trình nghiên cứu của các tác giả tỉnh Thanh Hóa

Hoàng Thanh Nhung (2002), Đề cương công tác xây dựng làng văn hóa

Thanh Hóa Tài liệu dùng cho cán bộ văn hóa thông tin cơ sở, tháng 3 năm 2002

Nguyễn Thị Thục (chủ biên) (2016), Thiết chế văn hóa ở Thanh Hóa

trong thời kỳ mới, Nxb Thanh Hóa

Nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình, luận văn, luận án nào thực hiện nghiên cứu về quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

Trang 11

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên còn khiêm tốn, nhưng cũng khá

cơ bản, đã tạo hành lang, cơ sở quan trọng cho hoạt động văn hoá và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống TCVH các cấp Những tài liệu trên là cơ sở đáng tin cậy cho tác giả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng trong quản lý, tổ chức hoạt động của hệ thống NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn hiệu quả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hoa, tỉnh Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

- Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

* Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng phương pháp tiếp cận và kiến thức, kết quả của nhiều ngành khác nhau có liên quan đến công tác quản lý,

tổ chức và hoạt động NVH phố, thôn

* Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế: Là nghiên cứu điền dã, thực địa, cùng với hoạt động thực tế, phương pháp này giúp cho luận văn có nguồn tài liệu phong phú, có sự đối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết mà các nguồn cung cấp tư liệu không có hoặc có nhưng không chính xác

Trang 12

* Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích: Để đưa ra những đánh giá khách quan, chân thực về thực trạng và đề xuất những giải pháp phù hợp

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác

tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết

* Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ

chuyên gia để xem xét, nhận định bản chất của đối tượng, tìm ra một giải

pháp tối ưu

6 Dự kiến kết quả đạt được

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về QLVH

và TCVH, chỉ ra được những thực trạng đang tồn tại của công tác quản lý, tổ chức hoạt động trong hệ thống TCVH phố, thôn, đưa ra các giải pháp hữu hiệu

có tính thực tiễn, giúp cho ngành văn hóa thành phố Thanh Hóa quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới

Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các địa phương lân cận sử dụng trong công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn; trong nghiên cứu, hướng đẫn nghiệp vụ, giảng dạy và học tập cho chuyên ngành QLVH ở các tổ chức đào tạo về lĩnh vực ngành văn hóa

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nhà văn hóa và khái quát

hệ thống nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nhà văn hóa phố, thôn trên địa

bàn thành phố Thanh Hóa

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động

nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA

VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ, THÔN

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về thiết chế văn hóa

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Quản lý nhà nước về văn hóa

Theo tác giả Hoàng Sơn Cường thì: “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng

có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [24, tr.28]

* Theo nghĩa trên, có thể hiểu thêm nội hàm quản lý Nhà nước (QLNN)

về văn hóa, được cấu thành bởi các yếu tố sau

(1) Chủ thể QLNN về văn hóa là Nhà nước, được thống nhất từ Trung ương đến địa phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp Trung ương; Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Thành phố, Quận, Huyện, Thị xã thuộc Tỉnh; phường, xã thuộc cấp Thành phố, Huyện, Thị; đối với cấp phố, thôn… thuộc phường, xã

(2) Khách thể QLNN về văn hóa là các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa

(3) Mục đích QLNN về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

(4) Cơ sở pháp lý của QLNN về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác QLNN về văn hóa có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý

(5) Cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý

Trang 14

Quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm những nội dung sau:

* Hoạt động QLNN về văn hóa bao gồm những nội dung sau:

(1) Hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hóa;

(2) Hoạt động tổ chức thực hiện của bộ máy các cơ quan QLNN về văn hóa; (3) Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa

* Hoạt động QLNN về văn hóa bao gồm các mảng cơ bản sau:

(1) Quản lý nhà nước đối với văn hóa nghệ thuật;

(2) Quản lý nhà nước đối với văn hóa - xã hội;

(3) Quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa

1.1.1.2 Nhà văn hóa

Sau ngày giải phóng miền Nam 1975, công tác văn hóa được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm, các thiết chế NVH phát triển khá sôi nổi, tại các tỉnh thành trong toàn Quốc đều xây dựng NVH ở Quận, Huyện, Lỵ hoặc ở phường, xã, phố, thôn, làng, bản với các tên gọi như: NVH, Nhà thiếu nhi, Trung tâm VHTT, Trung tâm văn hóa thể thao, Trung tâm VHTT và triển lãm, NVH trung tâm, Trung tâm hướng dẫn, phương pháp câu lạc bộ, Trung tâm thanh thiếu niên vv…

Nhưng dù đã được đặt tên và có nhiều danh xưng, quan niệm hay quy mô, cấp độ khác nhau như vậy nhưng gọi thế nào thì chúng đều có vai trò giống nhau, được tác giả Hoàng Vinh, Giải thích thuật ngữ “Nhà văn hóa” đã nêu một định nghĩa như sau:

“Nhà văn hóa là cơ quan giáo dục xã hội chủ nghĩa ngoài nhà trường bằng biện pháp thu hút quần chúng tham gia các hoạt động văn hóa xã hội, diễn ra chủ yếu trong thời gian rỗi, nhằm bồi dưỡng, nâng cao, hoàn thiện nhân cách và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của họ”

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, nhà văn hóa là “nơi tổ chức sinh hoạt văn

hóa cho đông đảo quần chúng” [70, tr.1228]

Trang 15

Trong tập bài giảng Quản lý thiết chế văn hóa, tác giả Nguyễn Hữu Thức:

Nhà văn hóa - Thông tin là một thiết chế văn hóa tổng hợp, đa chức năng được chính quyền các cấp thành lập để đảm bảo những hoạt động chuyên môn do ngành dọc hướng dẫn, nhằm tuyên truyền giáo dục và cổ vũ động viên nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương; đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân tham gia hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa [51, tr.23]

1.1.1.3 Khái niệm Quản lý hoạt động nhà văn hóa

Cho đến nay, tác giả luận văn chưa được tiếp cận với khái niệm Quản lý hoạt

động NVH Trên cơ sở các khái niệm đã trình bày: Quản lý hoạt động; NVH; Hoạt động NVH, có thể hiểu khái niệm Quản lý hoạt động NVH như sau: “Quản lý hoạt

động NVH là tác động của chủ thể quản lý văn hóa lên đối tượng quản lý văn hóa bao gồm các hoạt động văn hóa diễn ra tại NVH với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân sinh sống trên địa bàn; sử dụng trang thiết bị chuyên dụng với hiệu quả mang lại là nâng cao đời sống tinh thần, làm nền tảng cho việc nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân các phố, thôn”

Như vậy, việc quản lý các hoạt động văn hóa không chỉ làm phong phú về đời sống vật chất, tinh thần, duy trì, phát huy và tôn vinh cái đẹp, những giá trị nghệ thuật, đạo đức lối sống của con người Quản lý hoạt động nhà văn hóa tích cực còn ngăn chặn, hạn chế, bài trừ các tệ nạn xã hội, ngoài ra nó còn là vũ khí sắc bén về tư tưởng văn hóa tuyên truyền các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước tới nhân dân

Đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa luôn thể hiện tập trung nhất là đấu tranh về chính trị, tư tưởng và kinh tế Chính vì vậy, quản lý trên lĩnh vực văn hóa nói chung

và hoạt động NVH nói riêng là tất yếu, khách quan, bởi hoạt động nhà văn hóa không những là một hoạt động sáng tạo, mà còn là hoạt động mang tính xã hội, kinh

tế có yếu tố đặc thù

Quản lý văn hóa hoạt động NVH cũng cần được thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp luật và các chính sách có liên quan đến phát triển hoạt động văn hóa Vấn đề

Trang 16

này phụ thuộc vào thể chế chính trị, xã hội, điều kiện về kinh tế, trình độ dân trí mỗi quốc gia, địa phương mà lựa chọn phương thức, nội dung, biện pháp quản lý khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của quốc gia, địa phương

1.1.2 Nhiệm vụ, chức năng, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của nhà văn hóa

1.1.2.1 Nhiệm vụ của nhà văn hóa

Thuật ngữ NVH có nhiều cách kiểu khác nhau, nhưng xét về nhiệm vụ cơ bản là giống nhau Dưới đây là một số nhiệm vụ cơ bản:

* Là nơi tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương; phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; kiến thức khoa học, kỹ thuật; giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn

* Là nơi tổ chức các Hội thi, Hội diễn, Liên hoan, Giao lưu văn hóa văn nghệ, thông tin tuyên truyền, TDTT…V.V tại chỗ, và tham gia, phối hợp hoạt động

do các cơ quan, ban, ngành cấp trên tổ chức tổ chức

* Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, tuyên truyền cổ động, trưng bầy triển lãm, đọc sách báo, chiếu phim, sân khấu - điện ảnh, trò chơi - trò diễn dân gian

và hiện đại, các hoạt động giải trí lành mạnh, TDTT; tổ chức các dịch vụ văn hóa nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân

* Tổ chức, duy trì các loại hình Hội, Đoàn thể, Câu lạc bộ, nhóm sở thích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa trong thời gian rỗi cho quần chúng nhân dân

* Tổ chức các hoạt động nêu gương, học tập tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong lao động sáng tạo, xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, phong trào xây dựng nông thôn mới

* Là một TCVH - giáo dục ngoài nhà trường có nhiệm vụ tổ chức các động, lớp học hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ văn hóa, phát hiện bồi dưỡng năng khiếu văn hóa văn nghệ, TDTT, học tập cộng đồng, nâng cao dân trí phù

Trang 17

hợp với điều kiện cơ sở vật chất của tổ chức sự nghiệp phục vụ nhân dân trên địa bàn

* Là nơi tổ chức các Hội họp, Hội nghị, sự kiệm chính trị, văn hóa, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thực hiện các nhiệm vụ đột xuất do lãnh đạo cấp trên giao và các sinh hoạt khác ở địa bàn

* Là một trung tâm văn hóa xã hội của quần chúng trong quá trình sưu tầm, bảo tồn, gìn giữ giao lưu và quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, từ đó sáng tạo, kế thừa và phát triển, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên

tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần “Xây dựng và phát triển văn hóa, con

người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”

1.1.2.2 Chức năng của nhà văn hóa

Xét về phương diện vị trí và vai trò của NVH trong hệ thống các TCVH nói chung, NVH có những chức năng xã hội cơ bản sau:

* Chức năng giáo dục

Xét về phương diện quy mô, bản chất thì NVH là đơn vị có chức năng hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ, vừa có chức năng hướng dẫn tổ chức hoạt động tại chỗ phục vụ dân cư sinh sống trên địa bàn mà cơ quan ấy đóng trụ sở Là một TCVH - giáo dục ngoài nhà trường

Như vậy, với ý nghĩa ấy, nội dung giáo dục của NVH bao gồm: Giáo dục trí dục, giáo dục đức dục, giáo dục mỹ dục và giáo dục thể chất… Quá trình giáo dục ở NVH thường tiến hành các dạng hoạt động trực tiếp giữa các bộ phận của NVH với công chúng, công chúng với công chúng thông qua việc sử dụng những hình thức

và phương pháp và khai thác các phương tiện, các loại hình nghệ thuật, xây dựng các nội dung chương trình, để thực hành từng biện pháp nhằm tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước; nêu gương người tốt, việc tốt, phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ… hướng dẫn quần chúng vận dụng vào thực tiễn; xây dựng những chuẩn mực, hành vi, nếp sống văn hóa, thái độ đối với lao động,

Trang 18

tinh thần yêu nước; xây dựng thị hiếu, năng lực, tình cảm thẩm mỹ trong sáng tạo cũng như thưởng thức, giáo dục thể chất… theo phương thức hoạt động của NVH

”Chơi mà học, học mà chơi”

Có thể nói “Giáo dục là chức năng bao trùm, là thuộc tính bản chất của mọi hoạt động diễn ra tại nhà văn hóa”

* Chức năng giao tiếp

NVH là trung tâm hoạt động văn hóa xã hội của quần chúng, cho nên trong quá trình tổ chức các biện pháp hoạt động thường kết hợp sử dụng cả hai kênh giao tiếp, nếu kênh giao tiếp gián tiếp đặt con người thụ động trước nhu cầu và lợi ích của mình về thông tin, thì kênh giao tiếp trực tiếp đặt công chúng tích cực chủ động tham gia vào quá trình vừa tiếp nhận, vừa xử lý thông tin vừa truyền tin qua các biện pháp công tác chuyên môn của NVH, thu hút công chúng, gây hào hứng tham gia hội thảo, tọa đàm, gặp mặt, sinh hoạt hỏi đáp, liên hoan chuyên đề… Các vấn đề thời sự, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn học - nghệ thuật, đạo đức, nếp sống, thể thao, trò chơi, thi đấu, Lễ hội vv… Các sinh hoạt định kỳ và thường xuyên của các Hiệp hội, Câu lạc bộ, tổ, đội, nhóm là những hình thức giao tiếp độc đáo phát huy mọi khả năng, sáng kiến của cá nhân trong hoạt động và là một trong những biện pháp hết sức phong phú của NVH

* Chức năng tuyên truyền

Hoạt động tuyên truyền là giới thiệu, phổ biến truyền bá về lĩnh vực có tính khoa học, tính giáo dục về đường lối chính sách pháp luật, về hệ ý thức hệ

tư tưởng trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội phổ biến đến quần chúng nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về thời gian, quan niệm về nhân sinh quan hướng họ, động viên họ hành động theo những định hướng, những chỉ đạo

đã được định trước của Đảng và Nhà nước góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để hoạt động tuyên truyền đạt hiệu quả cao thì NVH là nơi lý tưởng, nó

có nhiệm vụ, chức năng và sử dụng những phương pháp, hình thức như: Tuyên truyền cổ động trực quan, tuyên truyền miệng, văn nghệ cổ động, trưng bầy triển

Trang 19

lãm, các lớp tập huấn nghiệp vụ… với những nội dung chủ đề trên các lĩnh vực

như: Phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, quan điểm, đường lối, chủ trương của

Đảng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của Nhà nước, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, về đường lối phát triển kinh

tế, các điển hình tiên tiến, thúc đẩy phong trào thi đua, bảo vệ môi trường, nêu gương cán bộ đảng viên, nhân dân gương mẫu về đạo đức, người tốt, việc tốt, phê phán các hiện tượng tiêu cực, cái xấu, chống các quan điểm sai trái phản động chống phá Đảng và Nhà nước

Như vậy, hoạt động tuyên truyền ở NVH là một nội dung hoạt động mang tính chất bề nổi, chủ lực và có ý nghĩa quan trọng trong công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước

* Chức năng phát triển khả năng sáng tạo

Hoạt động sáng tạo của nhân dân trong hoạt động NVH được thể hiện

trên nhiều lĩnh vực, trong đó có ba dạng hoạt động chủ yếu là: Trình diễn văn

nghệ quần chúng; sáng tạo văn học, nghệ thuật; nghiên cứu, sưu tầm và kế thừa,

phát huy những di sản văn nghệ dân gian Thông qua những hoạt động sáng tạo

không chuyên như thế, con người đặc biệt là thanh thiếu niên sẽ bộc lộ được mình, tự khẳng định nhân cách xã hội của mình, nhờ đó mà đạt tới sự trưởng thành về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, cả về tri thức nghề nghiệp Trong hoạt động sáng tạo đó có thể xem NVH như một vườm ươm tài năng, nhiều nghệ sỹ

ca hát, sân khấu, điện ảnh đều trưởng thành từ NVH và trở thành các nghệ sỹ nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật chuyên nghiệp

Với chức năng này, văn hoá sẽ trở thành một động lực và một nguồn năng lượng vô tận giúp cho con người sống có ích và không ngừng phát triển, hoàn thiện

* Chức năng đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí

Sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội là một quá trình hoạt động liên tục của con người, trong đó dù là hoạt động cơ bắp hay hoạt động tinh thần

Trang 20

thì sức chịu đựng của con người là có giới hạn Khi đã tới “cái giới hạn” nào đó thì con người có nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí để phục hồi sức lao động của mình Cái “khoảng thư giãn” giữa nhịp sống hối hả ấy không chỉ thuần tuý là thả lỏng cơ bắp, mà ở những mức độ khác nhau, nó là sự “thay đổi hình thái hoạt động”, đó chính là hoạt động văn hoá

Trong hoạt động vui chơi giải trí ở NVH có nhiều hình thức phong phú đa dạng như: Câu lạc bộ, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, các trò chơi, trò diễn, nhảy múa, ca hát, các buổi sinh hoạt văn hóa hấp dẫn…Hoạt động giải trí này luôn mang ý nghĩa thư giãn về tinh thần, do đó ngay trong chức năng giải trí

nó đã bao hàm cả chức năng giáo dục, chức năng chuyển giao văn hoá, chức năng liên kết có tác dụng giáo dục và giải trí rất lớn Đây là một đặc điểm độc

đáo của NVH

* Chức năng dự báo

Hoạt động văn hoá là hoạt động tinh thần, văn-thể-mỹ, trí tuệ, sáng tạo…

Vì vậy trong quá trình hoạt động tại NVH, con người dần dần phát hiện ra những quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội, quy luật của con người Những khám phá đó mở rộng tầm hiểu biết, khả năng phán đoán, suy luận và trí tưởng tượng của con người

Hoạt động văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của văn hóa trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong các sáng tác nghệ thuật như: Văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc… Nhờ các khả năng sáng tạo văn hóa trên, con người có thể dự báo về thiên nhiên, xã hội, về con người một cách khoa học, vừa mang tính nhân văn cao; giúp cho con người ngày càng cộng sinh tốt hơn với môi trường tự nhiên, xã hội và xây dựng được các phương án thích ứng cho

sự tồn tại của chính mình

Dự báo của văn hoá vừa mang tính khoa học và nó luôn có mối quan hệ

biện chứng với nhau Văn hoá vì con người và hoàn thiện của con người

Trang 21

1.1.2.3 Đặc điểm hoạt động của nhà văn hóa

Nhờ tính ưu việt vốn có của mình là tính chất đa năng và tổng hợp, nhờ sự khéo léo của phương pháp kết hợp giáo dục và tự giáo dục của nhân dân, các thiết chế NVH đã giữ được vai chò gần như song đôi trong đời sống văn hóa xã hội, vừa

là một cơ quan đáp ứng tốt nhu cầu hoạt động tích cực của nhân dân trong thời gian nhàn rỗi vừa là nhân tố chủ chốt trong môi trường văn hóa giáo dục thường trực ở mọi cộng đồng Tính ưu việt đó thể hiện rõ trong các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, tính tổng hợp: Qua tham dự sinh hoạt trong NVH, con người

được nâng cao về mọi mặt: Trí, đức, thể, mỹ, nhân cách được hoàn thiện và các quan hệ về xã hội được mở rộng Tính tổng hợp trong hoạt động NVH còn thể hiện trong việc thu hút quần chúng tham gia sinh hoạt Hệ thống phương pháp công tác NVH cũng mang tính tổng hợp Các hoạt động văn hóa diễn ra trong một quá trình biến động và phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức Trong quá trình đó NVH phải luôn thấy được mức độ cần và

đủ trong việc sử dụng các phương pháp, khéo léo phối hợp nhiều phương pháp

khác nhau trong mỗi biện pháp tổ chức hoạt động

Thứ hai, hoạt động trong thời gian rỗi: Nhiệm vụ của NVH là tiến hành

nhiều biện pháp, bằng nhiều phương tiện và hình thức, tạo điều kiện thuận lợi để tác động giáo dục và đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa trong mọi khoảng độ thời gian rỗi Trong hoạt động rỗi tích cực có thể chia ra thành mấy mức độ nhu cầu cao thấp khác nhau: Hoạt động rỗi nghỉ ngơi; hoạt động rỗi giải trí; hoạt động rỗi học rập; hoạt động rỗi rỗi sáng tạo NVH có nhiệm vụ nghiên cứu các mức độ nhu cầu hoạt động rỗi ấy của từng loại đối tượng công chúng, ở từng nơi, trong từng thời gian, để có biện pháp xây dựng các chương trình họat động

văn hóa cho thích hợp

Thứ ba, hoạt động mang tính tự nguyện: Sự đóng góp và tài trợ tự nguyện

chỉ có thể thực hiện được khi quần chúng nhận ra lợi ích tinh thần của họ trong nội dung các sinh hoạt văn hóa Do tính chất hoạt động tự nguyện đó mà NVH mang tính chất như một hệ thống mở, trong đó sự tham dự của các thành viên,

Trang 22

quy mô và hệ thống các biện pháp cũng thường xuyên thay đổi Do đặc tính này

mà công tác tổ chức các hoạt động tại NVH cần phải năng động và mềm dẻo

1.1.2.4 Nguyên tắc hoạt động của Nhà văn hóa

Trong điều kiện môi trường giáo dục XHCN, hoạt động mạng lưới của NVH phải dược xây dựng trên những nguyên tắc nhất định, những nguyên tắc ấy quy định nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức công tác NVH, phù hợp với mục tiêu và phương hướng giáo dục XHCN theo đường lối của Đảng Những nguyên tắc cơ bản đó là:

Một là: Nguyên tắc tính tư tưởng của hoạt động NVH;

Hai là: Nguyên tắc về sự phát huy tính dân chủ họat động sáng tạo của

công chúng;

Ba là: Nguyên tắc sử lý có phân biệt với từng loại đối tượng công chúng

của NVH;

Bốn là: Nguyên tắc về tính thẩm mỹ trong hoạt động của NVH Ở đây,

nguyên tắc tính thẩm mỹ được xem xét trên các phương diện có liên quan chặt chẽ với nhau: Toàn bộ các thể loại, hình thức, chương trình hoạt động và cảnh quan, môi trường, kiến trúc, trưng bầy, trang trí… của NVH đều phải thể hiện tính thẩm mỹ và bộc lộ tính thẩm mỹ

Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho nhân dân NVH tổ

chức các hoạt động văn hóa nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia sinh hoạt, vui chơi, giải trí, làm phong phú về mặt tâm hồn, phẩm chất đạo đức công dân, làm cho cuộc sống và tâm hồn con người thêm phong phú hơn, giải tỏa căng thẳng sau những giờ làm việc mệt mỏi, góp phần giảm thiểu các tệ nạn xã hội, rèn luyện thân thể để có sức khỏe làm việc, lao động, xây dựng quê hương, bảo

vệ Tổ quốc

Thứ hai, giúp bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp

của dân tộc Thực tế đã cho thấy, nhiều giá trị văn hóa quý báu của dân tộc,

Trang 23

như các bộ môn nghệ truyền thống: Tuồng, chèo, cải lương; nghệ thuật ca trù, các làn điệu dân ca, đờn ca tài tử; các trò chơi, trò diễn dân gian qua các hình thức sinh hoạt CLB, nhóm sở thích, các chương trình biểu diễn VHVN đã góp phần giữ gìn, nuôi dưỡng, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác từ sinh hoạt tại các TCVH cơ sở dản dị như NVH phố, thôn, làng, bản mà không nhất thiết phải là ở các nhà hát, sân khấu lớn với trang thiết bị hiện đại

Thứ ba, NVH thực sự là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, sự giáo dục

tự nguyện Những lớp học bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật, Thể dục thể thao, các chương trình tập huấn nghiệp vụ, các lớp học nâng cao dân trí, phổ biết kiến thức về pháp luật đều nhằm giáo dục mang tính cộng đồng, trách nhiệm đối với

xã hội, giáo dục về nhân cách thẩm mỹ… cho mọi người

Thứ tư, NVH là nơi để nhân dân đến để thể hiện tài năng, năng khiếu bản

thân, thông qua các nội dung hoạt động như Hội thi, Hội diễn, Liên hoan văn hóa văn nghệ, thể thao, phụ nữ tài năng duyên dáng, học sinh thanh lịch… và những hoạt động sáng tạo không chuyên, vui chơi giải trí, thưởng thức văn nghệ… nhờ

đó mà biết được những yếu kém qua kết quả đánh giá, từ đó bản thân tự rút ra được những kinh nghiệm và học hỏi để hoàn thiện mình hơn, góp phần phát triển hoàn thiện nhân cách con người thời đại mới

Thứ năm, NVH giữ vai trò là công cụ trực tiếp và đắc lực của Đảng và

Nhà nước trong công tác tuyên truyền phổ biến các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Từ đây nhân dân tăng thêm sức đề kháng đối với những luận điệu sai trái, chống phá cách mạng, chống phá Đảng và Nhà nước trong tình hình nước ta vẫn phải cảnh giác, đấu tranh với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

Thứ sáu, NVH chính là nơi để nhân dân nâng cao hiểu biết về pháp luật,

từ đó giảm các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, các quy tắc xã hội Các buổi sinh hoạt sinh hoạt ở thiết chế NVH cộng đồng cũng chính là nơi để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng đất nước

Trang 24

ngày càng giàu mạnh Mỗi công dân tốt, mỗi gia đình văn hóa ngay tại địa phương chính là một viên gạch để xây dựng ngôi nhà Tổ quốc Điều này đã, đang và sẽ được chứng minh từ hệ thống thiết chế NVH cơ sở, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa khi bà con nhân dân chủ yếu chỉ gần gũi với cán bộ xã, Trưởng thôn, Già làng, Trưởng bản

Trong quá trình đổi mới hiện nay, NVH ngày càng góp phần vào quá trình xây dựng nông thôn mới và phát triển xã hội một cách bền vững

1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và thành phố Thanh Hóa về xây dựng và phát triển nhà văn hóa phố, thôn

1.1.3.1 Quan điểm của Đảng

Quan điểm của Đảng qua các thời kỳ Đại hội điều quan tâm tới sự phát triển của văn hóa Đặc biệt tại Nghị quyết 33, Hội nghị lần thứ chín của Ban chất hành Trung ương Đảng khóa XI về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, đã tổng kết sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, cho thấy đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng Đặc biệt đối với sự phát triển của hệ thống thể chế, thiết chế văn hóa đã từng bước được tăng cường Tuy nhiên về cơ sở vật chất, kỹ thuật hệ thống thiết chế văn hóa phục

vụ cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp

Từ thực trạng nêu trên, Nghị quyết 33 đã đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho phát triển hệ thống thiết chế văn hóa như sau:

* Về mục tiêu: Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo

đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng

xã hội

* Nhiệm vụ: Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ

thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa Tạo thuận

Trang 25

lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực

xã hội để phát triển

* Giải pháp: Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo,

quản lý văn hóa, cán bộ ở cơ sở; xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư có thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể

1.1.3.2 Các văn bản của Trung ương

* Thông tư số 06/2011/TT-BVHTT&DL, ngày 08/3/2011 của Bộ VHTT&DL ban hành Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Nhà

văn hóa-Khu thể (NVH-KTT) thao thôn,

* Thông tư số: 05/2014/TT-BVHTTDL của Bộ VHTT&DL ngày 30/ 5/2014, về việc sửa đổi bổ sung điều 6 của Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 quy định mẫu về tổ chức hoạt động và tiêu chí của Trung tâm VH-TT xã và Thông tư số: 06/2011/TT-BVHTTDL của Bộ VHTT&DL ngày 08/3/2011 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của NVH-KTT thôn

Điều 2 Sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL

ngày 08/3/2011 của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của NVH-KTT thôn, như sau: 1 Sửa đổi, bổ sung tiêu chí số 1, Điều 6:

* Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 2016-2020

1.1.3.3 Các văn bản của Thành phố Thanh Hóa

* Công văn số: 2619/UBND-VHTT, ngày 19/9/2014 của UBND thành phố, về việc tổ chức hoạt động NVH phố, thôn thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa; kèm theo mẫu quy chế về tổ chức và hoạt động NVH phố, thôn, Hướng dẫn trang trí khánh tiết - nội dung tổ chức chương trình Lễ khai trương đơn vị văn hóa, Lễ đón nhận danh hiệu đơn vị văn hóa và Lễ khánh thành NVH phố, thôn Nội dung cụ thể như sau:

Trang 26

- Vị trí: NVH phố, thôn thành phố Thanh Hóa, thuộc hệ thống TCVH cơ

sở của cả nước, do Chủ tịch UBND phường, xã quyết định thành lập, lãnh đạo toàn diện, giao cho Ban cán sự phố,(thôn) trực tiếp quản lý, chịu sự hướng dẫn

về chuyên môn, nghiệp vụ của nghành VHTT, thể thao cấp trên Có vị trí, chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Chức năng

Là nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng và các sinh hoạt khác tại địa bàn

Góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Kiến thức khoa học kỹ thuật; Giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh cho nhân dân

Nơi sinh hoạt văn hóa văn nghệ, TDTT, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc

Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT quần chúng, các cuộc giao lưu, liên hoan, hội diễn văn nghệ, giao lưu, thi đấu các môn thể thao, duy trì hoạt động các loại hình CLB, nhóm sở thích, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu văn hóa, văn nghệ, TDTT và các hoạt động vui chơi, giải trí cho quần chúng nhân dân

Tổ chức chương trình, lớp học nâng cao dân trí, tiếp nhận thông tin phục

vụ nhân dân trên địa bàn

Tham gia các hoạt động, khơi dậy và phát huy tinh thần đoàn kết ở cộng đồng dân cư, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; Xây dựng nếp sống

Trang 27

văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật; Xây dựng môi trường văn hóa sạch-đẹp-an toàn; Xây dựng người tốt, việc tốt; Xây dựng gia đình văn hóa, phố, thôn văn hóa; Xây dựng “Đô thị văn minh, công dân thân thiện” vv…

Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, mua sắm, lắp đặt hệ thống tăng

âm loa máy, bàn ghế, tủ sách; Quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả công trình

Tổ chức các cuộc hội họp của phố, thôn

Thực hiện các nhiệm vụ khác do lãnh đạo địa phương giao

- Cơ cấu tổ chức

Ban chủ nhiệm: Do nhân dân bầu theo hình thức giơ tay biểu quyết, hoặc

bỏ phiếu kín theo nhiệm kỳ của Trưởng phố (thôn)

Chủ nhiệm: Là Trưởng phố, thôn hoặc Bí thư chi bộ kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật và UBND phường (xã) về toàn bộ hoạt động của NVH

Phó chủ nhiệm: Là người giúp việc và chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm

về nhiệm vụ được phân công

Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm do Chủ tich UBND phường, xã quyết định công nhận

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Chủ nhiệm

Nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch chương trình hoạt động ngắn hạn, trình Chủ tịch UBND phường, xã phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện sau khi được phê đuyệt; chịu trách nhiệm quản lý tài chính, hồ sơ tài liệu, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị được giao theo chế độ hiện hành; xây dựng nội quy, quy chế hoạt động trình Chủ tịch UBND phường, xã phê duyệt và thực hiện sau khi được phê duyệt; thực hiện các quy định về công khai tài chính, thi đua khen thưởng theo quy định của nhà nước, các nhiệm vụ khác của cộng đồng dân cư trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Quyền hạn: Đề nghị Chủ tịch UBND phường, xã bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với các thành viên tham gia tổ chức hoạt động và sinh hoạt tại Nhà văn hóa

Trang 28

- Nguyên tắc hoạt động

Ban chủ nhiệm hoạt động theo nguyên tắc kiêm nhiệm, tự quản, tự trang trải kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương hỗ trợ và XHH theo quy định của Nhà nước, chịu sự giám sát, theo dõi và kiểm tra của chính quyền địa phương, NVH hoạt động bao gồm đội ngũ cộng tác viên, những người hoạt động nghiệp vụ không chuyên trách và các tổ chức, cá nhân trên địa bàn, với tinh thần tự nguyện, nhiệt tình tham gia hoạt động trong thời gian rỗi

NVH hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy sức mạnh của tập thể, đồng thời đề cao vai trò trách nhiệm cá nhân Trong quá trình tổ chức hoạt động, đảm bảo dân chủ, minh bạch, hoạt động đúng vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định

NVH không được cho thuê, mượn, sử dụng sai mục đích dưới bất kỳ hình thức nào, khi bị phát hiện thì tùy theo mức độ sai phạm Ban chủ nhiệm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và quy định của địa phương

- Nội dung và phương thức hoạt động

+ Hoạt động tuyên truyền cổ động: Hình thức tuyên truyền miệng, trực

quan, truyền thanh, văn nghệ cổ động phục vụ các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, các sự kiện trọng đại của đất nước và các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của địa phương

+ Hoạt động văn nghệ quần chúng: Xây dựng và phát triển phong trào văn

nghệ quần chúng; các tổ, đội, CLB văn nghệ; bồi dưỡng các hạt nhân làm nòng cốt cho phong trào; tổ chức và tham gia biểu diễn văn nghệ, các cuộc liên hoan, giao lưu, hội diễn văn nghệ quần chúng hàng năm; bảo tồn các làn điệu dân ca, dân vũ, các diễn xướng dân gian… truyền thống ở địa phương

+ Hoạt động TDTT: Xây dựng và phát triển phong trào “Toàn dân rèn

luỵên thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc, các chò chơi giân gian ở địa phương

Trang 29

+ Hoạt động CLB: Xây dựng và phát triển các loại hình CLB, tạo điều

kiện thuận lợi để thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, TDTT thường xuyên

+ Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa: Tổ chức các hoạt động tuyên

truyền vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, Lễ hội, ngày giỗ, ngày tết và các hình thức sinh hoạt văn hóa-

xã hội ở địa phương; xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng, giao tiếp, ứng

xử văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng; bảo vệ cảnh quan, thiên nhiên, môi trường

và giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống các tệ nạn xã hội

Duy trì, thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”; tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Phố, thôn văn hóa”

- Về kinh phí hoạt động thường xuyên

Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần còn lại do nhân dân đóng góp và

xã hội hóa Tỷ lệ cụ thể do địa phương quy định

- Tài liệu văn bản hoạt động

Ban chủ nhiệm NVH và đội ngũ cộng tác viên được tiếp cận đầy đủ các văn

bản về hoạt động nghiệp vụ của các loại hình mình phụ trách và quản lý

- Khen thưởng, kỷ luật

+ Khen thưởng: Những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, có nhiều

đóng góp trong hoạt động văn hóa sẽ được biểu dương trước Hội nghị dân phố,

thôn hoặc được đề nghị cấp trên khen thưởng theo Luật thi đua Khen thưởng

+ Kỷ luật: Tùy theo mức độ vi phạm sẽ xử lý theo hình thức như sau:

Nhắc nhở, phê bình trên hệ thống loa truyền thanh của phố, thôn, phường,

xã, Hội nghị dân phố, thôn

Đề nghị các cấp có thẩm quyền xử lý theo pháp luật

Làm mất, hư hỏng, gây thiệt hại đến tài sản NVH phải bồi thường theo quy định và giá cả hiện hành

Trang 30

1.2 Khái quát về hệ thống nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội

Thành phố Thanh Hóa nằm trong tọa độ địa lý: 19o14’-19o46’ độ vĩ Bắc và

105o45’-105o49’ độ kinh Đông Nằm trên trục giao thông Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, cách Thủ đô Hà Nội 155km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.600km về phía Nam, cách biên giới Việt Lào 135km về phía Tây, cách biển Sầm Sơn 16km về phía Đông Thành phố Thanh Hoá là điểm giao thoa có ảnh hưởng và đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội tới vùng Bắc Trung

bộ, Nam Bắc bộ và tới nước bạn Lào Có các trục giao thông chính khác là: Đại lộ Hùng Vương (đường tránh quốc lộ 1A qua địa phận Thành phố); đường Quốc lộ

47 nối Thành phố với Sầm Sơn Cảng Lễ Môn nằm cách trung tâm Thành phố

4 km về phía Đông Đây là cảng loại 2 phục vụ cho khu công nghiệp Lễ Môn được thiết kế với công suất 300.000 tấn/năm Các tuyến phố chính của Thành phố là: Đại lộ Lê Lợi, Đại lộ Hùng Vương, Đại lộ Nguyễn Hoàng, Đại lộ Nam sông

Mã, Đại lộ Voi - Sầm Sơn

Thành phố Thanh Hóa nằm ở trung tâm đồng bằng tỉnh Thanh Hóa, được bao bọc bởi những con sông và các ngọn núi Các đường vào nội thành đều phải qua sông, qua cầu Hệ thống núi gồm có núi Hàm Rồng nằm ở cửa ngõ phía Bắc, núi Nhồi nằm phía Tây Thành phố và núi Mật Sơn nằm ở phí Nam; có sông Mã

Trang 31

uốn lượn quanh núi Hàm Rồng trước khi đổ ra biển và các con sông đào phục vụ thủy lợi (sông Thọ Hạc, sông Cốc, sông Lai Thành, sông Nhà Lê, sông Kênh Bắc) Trong Thành phố có một số hồ như Hồ thành, hồ Núi Long, hồ Máy Đèn,

hồ Tân Sơn

Thanh Hóa là đô thị có quy mô tương đối lớn, đất rộng, người đông, dân

số chiếm 12% dân số toàn tỉnh Thanh Hóa Tổng số dân 20 phường và 17 xã là 435.298 người Dân số chưa bao gồm học sinh, sinh viên, công nhân, khách du lịch vãng lai trên địa bàn

Năm 2016, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Thanh Hóa đang từng ngày phát triển không ngừng: Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 13,5% GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.400 USD, đạt 100% so với kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ Tổng giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt gần 26.000 tỷ đồng, đạt 103,6% so kế hoạch, tăng 14,1% so với cùng kỳ Tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt gần 22 nghìn tỷ đồng Thu ngân sách đạt trên 1.600 tỷ đồng Hiện nay có 4 khu công nghiệp chính là Khu công nghiệp Lễ Môn; khu công nghiệp Tây Bắc Ga; khu công nghiệp Hoàng Long

và khu công nghiệp FLC Hoàng Long; các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ, dịch vụ thương mại và du lịch đang trên đà phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay ước đạt 13,5% GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.400 USD, đạt 100% so với kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ Tổng giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt gần 26.000 tỷ đồng, đạt 103,6% so kế hoạch, tăng 14,1% so với cùng kỳ Tổng vốn đầu

tư phát triển ước đạt gần 22 nghìn tỷ đồng Thu ngân sách đạt trên 1.600 tỷ đồng Hiện tại thành phố Thanh Hóa là đô thị có các chỉ số kinh tế tốt nhất trong 6 đô thị tỉnh lỵ vùng Bắc Trung Bộ

Dấu ấn văn hóa còn lưu tại làng cổ Đông Sơn - nơi cư trú của người Việt

cổ, với di chỉ trống đồng Đông Sơn phát hiện vào năm 1924 Làng Đại Khối xã Đông Cương còn lưu giữ được nhiều công cụ chế tác, dấu ấn chuyển tiếp từ thời

đồ đá cũ Núi Đọ sang thời đồng thau Đông Sơn Chính vì điều đó mà được đặt với cái tên cho một nền văn hóa: Văn hóa Đông Sơn

Trang 32

Trải bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất và con người thành phố Thanh Hóa mang đậm nét bản sắc văn hoá xứ Thanh., các thế hệ người dân nơi đây có tinh thần đoàn kết, cùng nhau lao động và sáng tạo trong sản xuất, luôn vượt mọi khó khăn, hòa đồng với thiên nhiên để thêu dệt lên bức tranh văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với nhân dân các dân tộc anh em, con người thành phố Thanh Hóa vô cùng tự hào góp công vào về bề dày truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, cũng như sáng tạo ra những giá trị văn hoá dân tộc

Về giáo dục, cũng như các khu vực khác trong tỉnh Ngay từ thời xa xưa các làng, xã của vùng đất Thành phố xưa đã có các lớp học chữ Hán được mở ở tại nhà thầy đồ dạy chữ cho các con em gia đình khá giả Khi đã học hết sách của thầy đồ, những người muốn học cao hơn lại đi tìm thầy học nơi xa Chính vì với tinh thần hiếu học ấy mà dưới triều Lê, vùng đất Thành phố đã có 4 vị đỗ đại khoa

Phong trào tân học (học chữ Quốc ngữ) xen kẽ với phong trào học chữ Nho Trường Nho học cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh lỵ trở thành Trường Tiểu học Pháp - Việt Các trường làng, trường huyện chỉ học đến lớp sơ đẳng, từ lớp nhì

đệ nhất phải lên trường tỉnh Về sau trường huyện mới có đến lớp nhất Đến năm học 1931-1932, Thanh Hóa mới có Trường Trung học (Collège)

Tín ngưỡng bản địa có hội lễ thờ Mẫu tại nghè Đình Hương gắn với lễ rước thần kết chạ mồng 3 tháng 3 hàng năm Việc thờ cúng tổ tiên ở mọi gia đình vào ngày giỗ, ngày tết là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng ghi nhớ công ơn sinh thành, dạy dỗ của ông, bà, cha, mẹ đối với con cháu

Đạo Phật, đạo Thiên Chúa cũng phát triển Trên địa bàn Thành phố có nhiều ngôi chùa như: Chùa Mật Đa, chùa Hương Quang (chùa Tranh) phường Nam Ngạn; chùa Thanh Hà ở Đức Thọ Vạn, chùa Đại Bi ở Mật Sơn, chùa Quảng Thọ, chùa Quảng Hóa, chùa Hội Đồng, chùa Phật học Từ một nhà thờ xứ nhỏ hẹp đã xây dựng nên nhà thờ địa phận Thanh Hóa, với các khu nhà Chung, nhà Xứ, nhà Tu kín, nhà Dòng Nốt-đam-đề- mít- si.ông, nhà Dòng Mến Thánh giá, nhà Dòng…đến nhà giảng đạo Tin lành…

Trang 33

Vùng đất Thành phố Thanh Hóa từ buổi ban đầu do cư dân bản địa khai phá, giữ gìn, bảo vệ phát triển cho đến khi được chọn để xây dựng nên Trấn Thành (1804), cư dân bốn phương về hội nhập mà phần lớn là những người có học, có nghề, cởi mở, giàu lòng nhân ái, yêu nước, hy sinh vì nghĩa lớn, là chỗ dựa và là cái nôi sinh thành nuôi dưỡng lớp người cách mạng Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc, thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân nơi đây để thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đi tới thắng lợi huy hoàng giành độc lập dân tộc, xây dựng Nhà nước XHCN

1.2.2 Khái quát chung về hệ thống nhà văn hóa phố, thôn trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa

Thành phố Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 146,77 km2 ; dân số có 435.298 người; có 37 đơn vị hành chính, gồm 20 phường và 17 xã, với tổng số

419 phố, thôn

Theo số liệu của Phòng VHTT thành phố Thanh Hóa: Năm 2000 có 4 NVH, năm 2004 có 51 NVH, năm 2011 toàn Thành phố có 112 NVH/244 phố, thôn có NVH, đạt tỷ lệ 45,09% Trong đó: 17 NVH tận dụng, 04 NVH liên phố, còn lại 132 phố, thôn chưa có NVH, chiếm tỷ lệ 54,01% Đến ngày 01/07/2012, thực hiện Nghị quyết số 05 của Chính phủ sáp nhập thêm 19 xã về Thành phố đưa tổng số phố, thôn của Thành phố lên 419 phố, thôn Số phố, thôn chưa có NVH tăng lên con số 178 Như vậy, tính tại thời điểm này Thành phố có 241 NVH/419 phố-thôn, thuộc 37 đơn vị phường-xã, đạt tỷ lệ 36,51%

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIX và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp (nhiệm

kỳ 2011- 2015) của UBND thành phố Thanh Hóa Xuất phát từ thực tế bức xúc của nhân dân không có NVH để tổ chức hội họp và sinh hoạt văn hóa cộng đồng Ngày 20/10/2011 HĐND thành phố Thanh Hóa tại kỳ họp thứ 02 (khóa XX) đã ban hành Nghị quyết số 21/2011/NQ - HĐND về việc hỗ trợ kinh phí xây dựng

Trang 34

NVH phố, thôn Trước tình hình khó khăn trong việc bố trí quỹ đất cũng như nguồn kinh phí để xây dựng NVH, song với sự quan tâm của Thành uỷ, HĐND thành phố Thanh Hóa, ngay sau khi có Nghị quyết của HĐND Thành phố, UBND thành phố Thanh Hóa đã xây dựng cơ chế hỗ trợ và đề ra mục tiêu phấn đấu cụ thể với các bước triển khai thực hiện xây dựng, quản lý và hướng dẫn tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn Thành phố như sau:

Ngày 22/12/2011 UBND Thành phố ban hành Quyết định số 6336/QĐ- UBND, về việc thành lập Tổ giải quyết xây dựng NVH phố, thôn; ngày 03/01/2012 UBND Thành phố ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND, về việc giao chỉ tiêu xây dựng NVH phố, thôn trên địa bàn Thành phố cho các phường,

xã; ngày 05/01/2012 UBND thành phố Thanh Hóa ban hành Hướng dẫn số 26 về

trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, hỗ trợ kinh phí xây dựng NVH phố, thôn Xác định đây là nhiệm vụ hàng đầu và cũng là nhiệm vụ chính trị của Thành phố, các phường, xã Kết quả thực hiện cụ thể sau:

Năm 2012, thành phố Thanh Hóa đã giải quyết cho 80 phố, thôn có đất NVH, trong đó: Bố trí đất tại chỗ cho 46 phố, thôn; Hỗ trợ đổi đất cho 34 phố, thôn, với số lượng đất thành phố cấp = 47 lô tương đương 24,188 tỷ đồng [61 Tr.3]

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 21/2011/NQ-HĐND Ngày 14/01/2013, tại kỳ họp thứ 06, khóa XX của HĐND thành phố Thanh Hóa, đã xét tờ trình số: 08/TTr – UBND ngày 03/01/2013, về việc tiếp tục thực hiện hỗ trợ đổi đất và kinh phí xây dựng NVH phố, thôn và ý kiến thảo luận của Đại biểu; HĐND thành phố Thanh Hóa ban hành Nghị quyết số: 18/2013/NQ-HĐND, về việc hỗ trợ đổi đất và kinh phí xây dựng NVH phố, thôn năm 2013 Kết quả thực hiện cụ thể sau:

Năm 2013, thành phố Thanh Hóa đã giải quyết cho 92 phố, thôn có đất NVH, trong đó bố trí đất tại chỗ cho 55 phố, thôn; hỗ trợ đổi đất cho`37 phố thôn, với số lượng đất thành phố cấp = 51 lô, tương đương 20,132 tỷ đồng [61 Tr.2]

Để chuẩn bị cho lễ khánh thành NVH mới xây dựng và cả hệ thống NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa đi vào hoạt động đạt hiệu quả Ngày

Trang 35

19/9/2014, UBND Thành phố ban hành Công văn số: 2619/UBND-VHTT, về việc tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa; kèm theo mẫu quy chế về tổ chức và hoạt động NVH phố, thôn, hướng dẫn trang trí khánh tiết và Lễ khánh thành NVH phố, thôn

Ngày 06/02/2015, UBND thành phố Thanh Hóa báo cáo số 100, kết quả

04 năm thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-HĐND của HĐND Thành phố về việc

hỗ trợ đổi đất và kinh phí xây dựng NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa (năm 2011-2014) Kết quả đạt được:

Sau 04 năm triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND, công tác xây dựng NVH phố, thôn đã đạt được kết quả tốt, đưa thành phố Thanh Hóa trở thành điểm sáng trên cả nước về tỷ lệ phố, thôn có NVH Giải quyết cho 177 phố, thôn có đất NVH, nâng tổng số phố thôn có đất NVH = 418/419 phố, thôn, đạt tỷ lệ 99,76%, trong đó có 409/419 phố, thôn đã xây dựng được NVH = 97,61% Về hỗ trợ kinh phí

xây dựng NVH: năm 2014 hỗ trợ cho 37 phố thôn = 3,2 tỷ đồng Cả 03 năm hỗ

trợ xây dựng = 8,005 tỷ đồng Ngoài kinh phí hỗ trợ của Nhà nước, kinh phí

nhân dân đóng góp xây dựng khoảng 20,58 tỷ đồng [61, tr.4]

Ngay sau khi xây dựng xong, NVH bắt đầu đi vào sử dụng tổ chức hoạt động, thì thực trạng hoạt động tại các NVH phố, thôn lại hoạt động hiệu quả không cao Năng lực quản lý, tổ chức các hoạt động tại NVH của đội ngũ cán bộ phường, xã, phố, thôn còn nhiều hạn chế Đặc biệt đối với người được giao phụ trách NVH lúng túng trong công tác quản lý, tổ chức hoạt động, để lãng phí công trình, thiếu trách nhiện trong duy tu bảo dưỡng cơ sở vật chất Cá biệt có phường, xã buông lỏng trong công tác quản lý, để cho các NVH tự ý ký hợp đồng thuê mượn kinh doanh, xây dựng và đầu tư vào NVH sai quy định

Từ thực trạng hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa Ngày 26/5/2015, Chủ tịch UBND Thành phố ban hành Kế hoạch số: 355/KH-UBND, về việc kiểm tra quản lý, sử dụng và tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn Thành phố, đồng thời thành lập đoàn kiểm tra; đến 13/10/2015, Chủ tịch

Trang 36

UBND Thành phố Thông báo số 602/TB-UBND, về lịch kiểm tra quản lý, sử dụng

và tổ chức hoạt động NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

Sau một tháng công tác của đoàn kiểm tra quản lý, sử dụng và tổ chức hoạt động VNH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, đã có kết quả báo cáo Thành phố [44] Đến ngày 18/12/2015, Chủ tịch UBND Thành phố ra Thông báo số 737/TB-UBND, về kết luận của UBND thành phố Thanh Hóa, về kết quả kiểm tra quản lý, sử dụng và tổ chức hoạt động NVH phố, thôn; đồng thời kiểm điểm, yêu cầu các phường, xã có NVH phố, thôn vi phạm nguyên tắc, quy định hoạt động, phải tập trung sử lý dứt điểm Đồng thời quan tâm, chú trọng đến công tác quản lý hoạt động tại các NVH, không được để xảy ra sai phạm; chỉ đạo các phố, thôn tiếp tục vận động nhân dân ủng hộ, đóng góp kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, quy hoạch khuôn viên NVH phố, thôn; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuyên môn ngành văn hóa hướng dẫn nghiệp vụ cho các phường, xã, phố, thôn phương pháp tổ chức theo lĩnh vực chuyên môn phụ trách [63, Tr.2]

Từ năm 2015 đến nay, Sau khi đã được chấn chỉnh, sử lý các sai phạm, và hướng dẫn nghiệp vụ công tác NVH phố, thôn cho các NVH Đến nay các NVH

tổ chức hoạt động đã được cải thiện Nội dung hoạt động chủ yếu họp cấp Ủy, Chi bộ, Ban cán sự và các đoàn thể phố, thôn; các loại hình CLB, văn hóa văn nghệ, TDTT Đặc biệt có một số NVH được các doanh nghiệp đăng ký địa điểm

tổ chức các hội thảo giới thiệu các sản phẩm tiêu dùng đến với người dân Nhưng bên cạnh ưu điểm đó vẫn còn những nhược điểm tồn tại trong quá trình quản lý hoạt động NVH như: Nhiều NVH tổ chức hoạt động không hết công năng để lãng phí cơ sở vật chất; có những NVH lại quá thiếu thốn về cơ sở vật chất; nội dung chương trình hoạt động đơn điệu chưa phong phú; chuyên môn quản lý, tổ chức hoạt động, công tác vận động nhân dân tham gia xây dựng và đến sinh hoạt tại NVH còn rất yếu Đặc biệt vẫn còn sai phạm sảy ra

Nhìn chung có thể khẳng định, Thành Ủy, HĐND, UBND, Cấp uỷ, Chính quyền thành phố Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết bám sát

Trang 37

tình hình thực tế địa phương cùng với các phường, xã, phố, thôn và nhân dân trên địa bàn Thành phố, thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh đẩy mạnh phong trào xây dựng NVH phố, thôn Đến nay trên toàn Thành phố đã xây dựng được

419 NVH/419 phố-thôn thuộc 37 đơn vị phường-xã, đạt tỷ lệ 100%, giải quyết dứt điểm bức xúc của nhân dân trong việc xây dựng NVH, để có nơi tổ chức họp triển khai văn bản của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, TDTT, vui chơi, giải trí, nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trong quá trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội Đây là điểm sáng của cả nước trong phong trào xây dựng NVH phố, thôn, của thành phố Thanh Hóa đã được nhiều tỉnh bạn đến học tập

Tiểu kết

Chương 1 thông qua việc nghiên cứu hệ thống lý luận trên chính là những kiến thức cơ bản, quan trọng làm căn cứ giúp cho công tác quản lý, tổ chức hoạt động NVH phố, thôn tổ chức hoạt động theo đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về văn hóa; giúp cho công tác tổ chức và hoạt động NVH phố, thôn đạt hiệu quả theo tiêu chí, quy định của Bộ VHTT&DL

và phát huy được vai trò vốn có của NVH cộng đồng với chức năng, nhiệm vụ là trung tâm giáo dục, sinh hoạt văn hóa tổng hợp của cộng đồng nhằm bồi dưỡng, nâng cao, hoàn thiện văn-thể-mỹ, nhân cách con người; tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, đáp ứng nhu cầu về hưởng thụ văn hóa, sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc; tuyên truyền, phổ biến các các chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước

Kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận ở chương 1 của luận văn, chính là tiền đề, có ý nghĩa quan trọng việc khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của cả hệ thống thiết chế NVH phố, thôn trên địa bàn thành phố Thanh Hóa hiện nay ở chương tiếp theo của Luận văn

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA PHỐ, THÔN

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA

2.1 Chủ thể quản lý

2.1.1 Phòng Văn hóa và Thông tin

Nghị định số 14/2008/ND-CP ngày 04/02/2008 của Chính Phủ quy định

về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định:

- Vị trí và chức năng: Phòng VHTT thành phố Thanh Hóa là cơ quan

chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp UBND Thành phố quản lý Nhà nước (QLNN) về lĩnh vực VHTT&DL trên địa bàn đảm bảo sự thống nhất QLNN từ Trung ương đến cơ sở; chịu sự quản lý của UBNN Thành phố, đồng thời chịu sự

hướng dẫn nghiệp vụ của Sở VHTT&DL; Sở TT&TT

- Nhiệm vụ và quyền hạn

Tham mưu và giúp việc cho Chủ tịch UBND Thành phố Thanh Hóa về QLNN về lĩnh vực VHTT&DL thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND Thành phố; tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề

án, chương trình đã được phê duyệt;

Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn Thành phố thực hiện công tác tổ chức tuyên tuyền, quảng cáo, các hoạt động dịch vụ VHTT&DL, CNTT internet, chủ trương XHH văn hóa…; xây dựng nếp sống văn minh, thường trực Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; gia đình, làng, khu phố, đơn vị văn hóa; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; các hoạt động nghiệp vụ văn hóa trên địa bàn Thành phố và cơ sở phường, xã

Giúp UBND Thành phố trong công tác bảo vệ an toàn, an ninh VHTT&DL, CNTT; theo dõi thẩm định khối lượng, thiết kế kỹ thuật các chương trình, dự án về ứng dụng CNTT, các ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; giải

Trang 39

quyết khiếu kiện về lĩnh vực VHTT&DL, TT&TT trên địa bàn theo quy định của pháp luật và sự phân công của UBND Thành phố

Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thống kê, báo cáo định kỳ, đột xuất và

đề nghị thi đua khen thưởng, kỷ luật về lĩnh vực thuộc chức năng nhiệm vụ của mình với Chủ tịch UBND Thành phố và Giám đốc Sở VHTT&DL, Sở TT&TT

2.1.2 Trung tâm Thể dục thể thao thành phố Thanh Hóa

Thông tư số: 01/2010/TT-BVHTTDL ban hành ngày 26/2/210, về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực VHTT&DL quận, huyện, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương quy định:

- Vị trí và chức năng: Trung tâm TDTT thành phố Thanh Hóa là đơn vị sự

nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc, ngân hàng Nhà nước; chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của UBND Thành phố, đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở VHTT&DL Có chức năng tham mưu cho UBND Thành phố phát triển sự nghiệp TDTT, tổ chức các hoạt động TDTT theo chuyên ngành TDTT đúng quy

định Nhà nước nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng

- Nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ chức hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân tham

gia hoạt động như: Rèn luyện thân thể, hội thao, thi đấu… các môn TDTT; tổ chức bồi dưỡng năng khiếu, tập huấn chuyên môn TDTT cho hướng dẫn viên, vận động viên nghiệp dư, trọng tài, cán bộ trên địa bàn Thành phố và cơ sở Được liên doanh liên kết, tổ chức dịch vụ và XHH-TDTT theo quy định của Nhà nước Thực

hiện các nhiệm vụ khác do Thành phố giao

Được ban hành các văn bản, tổ chức các cuộc họp các cơ quan, đơn vị có liên quan để triển khai, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; được đề xuất với UBND Thành phố, Sở VHTT&DL Thanh Hóa khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân, đơn vị có thành tích xây dựng và phát triển sự nghiệp TDTT

Trang 40

2.1.3 Trung tâm Văn hóa Thông tin thành phố Thanh Hóa

Theo Thông tư số: 01/2010/TT-BVHTTDL ban hành ngày 26/2/210, về việc ban hành Quy chế về tổ chức và họat động trong lĩnh vực VHTT&DL quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương quy định:

- Vị trí và chức năng: Trung tâm VHTT thành phố Thanh Hóa là đơn vị sự

nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc, ngân hàng Nhà nước; chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của UBND Thành phố, đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở VHTT&DL và Trung tâm văn hóa tỉnh Thanh Hóa Có chức năng tham mưu cho UBND Thành phố phát triển sự nghiệp VHTT, tổ chức các hoạt động VHTT theo quy định Nhà nước nhằm phục vụ các nhiệm vụ chính trị và đáp ứng nhu

cầu văn hóa cho nhân dân

- Nhiệm vụ và quyền hạn: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền cổ động

phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Thành phố; Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, triển lãm, thư viện, bảo tàng, giải trí, chiếu phim, CLB, sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và tổ chức hoạt động các loại hình nghệ thuật dân gian, trò chơi, trò diễn, truyền thống; tham gia liên hoan, hội thi, hội diễn do

cơ quan ngành văn hóa cấp trên tổ chức; tổ chức các lớp bồi dưỡng năng khiếu, tập huấn nghiệp vụ VHTT cho xã, phường; tổ chức dịch vụ VHTT đảm bảo đúng chức năng nhiệm vụ và quy định của Nhà nước, phù hợp với điều kiện cơ

sở vật chất của đơn vị nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa cho

nhân dân Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBDN Thành phố giao

Quản lý viên chức, người lao động, tài chính, tài sản theo Quy chế của đơn vị và quy định của pháp của Pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất về hoạt động của Trung tâm với UBND thành phố Thanh Hóa và những

cơ quan quản lý theo quy định

Ngày đăng: 11/08/2020, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w