1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van quản lý dịch vụ văn hóa quận ba đình, thành phố hà nội

178 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ văn hóa, thực trạng công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, Luận văn đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của quản lý dịch vụ văn hóa đối với đời sống tinh thần của người dân quận Ba Đình nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung; Nghiên cứu những ảnh hưởng của cơ chế thị trường và các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình; Đánh giá thực trạng, những vấn đề bất cập trong quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình; Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu về công tác quản lý liên quan đến lĩnh vực dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Dịch vụ văn hóa phục vụ những nhu cầu cuộc sống con người. Bao gồm rất nhiều hoạt động: truyền hình, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao, thẩm mỹ, Internet, băng đĩa, sách báo, tạp chí, phục vụ tâm linh...vv…vv. Học viên nghiên cứu về hai loại hình hoạt động dịch vụ văn hóa : Hoạt động dịch vụ văn hóa công (của nhà nước); Hoạt động dịch vụ văn hóa tư (của tư nhân); Đề tài tiến hành nghiên cứu việc quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa này trên địa bàn quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội, từ năm 2010 đến nay. 5. Những cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh. Dựa trên đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Dựa trên những chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về quản lý văn hóa; trong đó tập trung cụ thể vào các văn bản quy phạm pháp luật của Chính Phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND thành phố Hà Nội; Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội; UBND quận Ba Đình liên quan đến quản lý dịch vụ văn hóa. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tài liệu, các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy về quản lý dịch vụ văn hóa; Khảo sát, điền dã thực tế, phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý về quản lý dịch vụ văn hóa; Tổng hợp, phân tích và xử lý những tư liệu đã nghiên cứu.

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Hồng Lý

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Lý Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được

ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những phần sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng năm 2018

Học viên

Phạm Đức Ân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA 13 1.1 Các khái niệm 13

1.1.1 Khái niệm văn hóa 13

1.1.2 Khái niệm dịch vụ văn hóa 15

1.1.3 Khái niệm quản lý các dịch vụ văn hóa 18

1.2 Chính sách pháp luật về quản lý dịch vụ văn hóa 25

1.2.1 Các văn bản của trung ương 25

1.2.2 Các văn bản của thành phố Hà Nội 30

1.2.3 Các văn bản của quận Ba Đình 34

1.3 Các nội dung quản lý dịch vụ văn hóa 36

1.3.1 Công tác xây dựng và ban hành các văn bản quản lý 36

1.3.2 Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện 37

1.3.3 Công tác tuyên truyền, vận động 39

1.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá 39

Tiểu kết 41

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở QUẬN BA ĐÌNH 42 2.1 Vài nét về quận Ba Đình và các loại hình dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 42

2.1.1 Vài nét về quận Ba Đình 42

2.1.2 Các loại hình dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 46

2.2 Thực trạng quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 53

2.2.1 Công tác xây dựng và ban hành các văn bản quản lý 57

2.2.2 Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện 61

2.2.3 Công tác tuyên truyền, vận động 64

2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá 66

Trang 4

2.3 Đánh giá về hoạt động quản lý dịch vụ văn hóa ở quận Ba Đình

thời gian qua 73

2.3.1 Những thành tựu đạt được 73

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 73

Tiểu kết 77

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở QUẬN BA ĐÌNH 79

3.1 Định hướng phát triển các hoạt động dịch vụ văn hóa quận Ba Đình 79 3.1.1 Định hướng của Trung ương 79

3.1.2 Định hướng của thành phố Hà Nội 83

3.1.3 Định hướng của quận Ba Đình 85

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa quận Ba Đình 90 3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, nâng cao năng lực cán bộ quản lý văn hóa 90

3.2.2 Tăng cường sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước, hoàn thiện các quy hoạch trên các lĩnh vực hoạt động dịch vụ văn hóa 92

3.2.3 Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức về quản lý dịch vụ văn hóa 93

3.2.4 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật 95

3.2.5 Tăng cường công tác phối hợp trong kiểm tra, giám sát và quản lý các dịch vụ văn hóa 96

3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các dịch vụ văn hóa 98

3.2.7 Tăng cường xã hội hóa trong quản lý các dịch vụ văn hóa 99

Tiểu kết 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 111

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BVHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao à Du lịch CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị – văn hóa - kinh tế - giáo dục và khoa học kỹ thuật của cả nước, đồng thời là cái nôi của những tinh hoa văn

hóa các dân tộc Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, vùng đất “địa

linh - nhân kiệt” này đã hội tụ và sản sinh ra rất nhiều những nhà nghiên cứu,

nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà phê bình, học giả rất nổi tiếng về tài năng và đức độ Từ đó, góp phần định hướng giáo dục, đào tạo và huấn luyện biết bao nhiêu con người thuộc rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề, cùng đóng góp tri thức, trí thức, xây dựng cho đất nước ta ngày càng giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc

dân đi” Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy văn hóa là nền

tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao, bề rộng và chiều sâu về trình độ

phát triển và trường tồn của một dân tộc Với tầm quan trọng đó, “Đề cương

văn hóa” của Đảng ra đời năm 1943 góp phần vào sự thắng lợi của cách

mạng nước nhà Đảng và Nhà nước định hướng và xác định vai trò quan trọng của văn hóa là trọng tâm của phát triển đất nước nói chung và của thành phố

Hà Nội nói riêng: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”

Tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2/9/2945 đã vang lên lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Vùng đất Hoàng Thành Thăng Long thiêng liêng, in đậm dấu ấn lịch sử, hội tụ rất nhiều những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống, làm việc và an nghỉ thiên thu Vùng đất Ba Đình từ thời phong kiến – thực dân cho đến nay, luôn giữ vị trí cực kỳ

Trang 8

quan trọng đối với vận mệnh quốc gia Quận Ba Đình, quận trung tâm thành phố Hà Nội, là trung tâm chính trị quốc gia, trung tâm hành chính, trung tâm ngoại giao, đối ngoại, tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Là nơi có trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước Nơi thường xuyên diễn ra các hội nghị quan trọng của nhà nước, của khu vực và quốc tế

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới là sự bùng nổ rất nhiều những dịch vụ phục vụ nhu cầu hưởng thụ đời sống tinh thần, vật chất của con người Dịch vụ là ngành sản xuất lớn nhất trên thế giới, đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của các nước, nhất là các quốc gia phát triển

Trong kỷ nguyên “kinh tế tri thức” lĩnh vực văn hóa ngày càng được

khẳng định vị thế trong đời sống xã hội, sự hội nhập văn hóa toàn cầu đã tạo

ra rất nhiều những dịch vụ văn hóa Chính những dịch vụ văn hóa đã giúp cho nền văn hóa Việt Nam được hội nhập cùng văn minh thế giới

Đất nước hội nhập, kéo theo các nền văn hóa của thế giới ồ ạt đổ vào Việt Nam, biết bao nhiêu những dịch vụ văn hóa giải trí ra đời, nhằm phục vụ những nhu cầu của người dân bản địa cũng như khách du lịch quốc tế

Theo cách hiểu chung nhất, dịch vụ văn hóa là một loại hình dịch vụ mang lại lợi ích về mặt tinh thần cho người sử dụng nó Có rất nhiều loại hình dịch vụ văn hóa, trong đó có dịch vụ văn hóa theo sự quản lý trực tiếp của các

cơ quan đoàn thể thuộc nhà nước, dịch vụ văn hóa theo sự quản lý trực tiếp của tư nhân

Dịch vụ văn hóa là một phần rất quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội Có vai trò đắc lực trong việc thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần của con người Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu càng nhiều và các dịch

Trang 9

vụ giải trí phải phát triển nhanh chóng để kịp thời đáp ứng những nhu cầu đó Tại nhiều nước trên thế giới, dịch vụ văn hóa giải trí đã phát triển ở mức độ cao, trở thành một trong những ngành trọng điểm của nền kinh tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia

Trên địa bàn Quận Ba Đình hiện nay đã xuất hiện rất nhiều loại hình dịch vụ văn hóa, đặt ra yêu cầu về quản lý để phát triển bền vững Với mong muốn quản lý tốt các loại hình dịch vụ văn hóa nhưng vẫn bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Thăng Long - Hà Nội là một yêu cầu hết cấp bách

Từ những vấn đề về quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn của quận Ba Đình, đã gợi mở cho học viên ý tưởng làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành

Quản lý Văn hóa với đề tài: “Quản lý dịch vụ văn hóa quận Ba Đình, thành phố Hà Nội”

2 Lịch sử nghiên cứu

Cùng với sự dẫn dắt và định hướng đúng đắn của chủ tịch Hồ chí Minh Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận về tầm quan trọng của văn hóa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ra đời, trang bị cho xã hội những nhận thức mới về văn hóa, đem lại sinh khí cho đời sống văn hóa của đất nước Từ đó, góp phần phát triển tư duy, văn hóa, bản sắc con người Việt Nam xứng tầm về trí tuệ, văn minh cùng thế giới

Từ khi đón làn gió mới hội nhập, lĩnh vực dịch vụ ở nước ta có nhiều cơ hội phát triển một cách nhanh chóng Đã có rất nhiều hình thức của dịch vụ giải trí gắn theo ngành văn hóa, giúp người dân tiếp cận nhanh hơn đến những nền văn hóa ở các nước, tiếp cận gần hơn với sự phát triển của văn hóa thế giới Với chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nhà

Trang 10

nước trong giai đoạn đổi mới, tỉ trọng dịch vụ trong GDP ngày càng tăng Bởi vậy, vai trò của phát triển dịch vụ ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước

Sự phát triển của dịch vụ giải trí theo xu hướng phát triển của thế giới là một điều tất yếu tại thành phố Hà Nội nói chung và quận Ba Đình nói riêng Các ngành dịch vụ như: biểu diễn nghệ thuật, khu vui chơi giải trí, dịch vụ internet, dịch vụ truyền hình, truyền thông, dịch vụ về ấn phẩm sách báo và rất nhiều những loại hình dịch vụ khác ra đời Với tốc độ phát triển ngày càng nhanh chóng, khiến vấn đề quản lý dịch vụ ngày càng trở nên nan giải, phức tạp Nổi bật gần đây là những vấn đề về quản lý dịch vụ văn hóa giải trí được đề cập trên báo chí, trên mạng internet và một số cuộc tranh luận trên truyền hình

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, học viên đã tiếp cận một số công trình,

tài liệu có liên quan:

- Quy hoạch phát triển văn hóa Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030: Dựa trên Pháp lệnh Thủ đô (Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

ngày 28/12/2000) và những nghị quyết, nghị định, thông tư của Chính phủ,

Bộ chính trị, Bộ văn hóa, tài liệu đã đề cập đến tầm quan trọng của phát triển văn hóa, mục tiêu xây dựng rất cần thiết phải quy hoạch Từ đó, đề ra những mục tiêu, định hướng, qui hoạch, xây dựng và phát triển văn hóa của Hà Nội trong thời điểm hội nhập toàn cầu hóa

- Xây dựng văn hóa Hà Nội xứng tầm với vị thế Thủ đô: Bài viết của tác

giả Mai Anh, đăng trên cổng thông tin điện tử Chính phủ Thông qua Đại hội

đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI, tác giả đề cập đến giai đoạn phát triển sự nghiệp văn hóa 2010 – 2015, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, từng bước nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, chú trọng thể chế hóa, tạo hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động văn hóa Bảo tồn và phát

Trang 11

huy các di sản văn hóa Hà Nội (trong đó có hát ca trù và hội Gióng) Tiếp tục xây dựng Người Hà Nội phát triển toàn diện cùng với việc xây dựng môi

trường văn hóa lành mạnh Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa” gắn với phong trào thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;

- Xã hội hóa các dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Hà nội, thực trạng và giải pháp: Công trình báo cáo tổng quan 2002, của tác giả Nguyễn

Viết Chức (mã số 01X-12/02-2001-2) Với một người làm công việc quản lý lâu năm và rất nhiều kinh nghiệm trong ngành văn hóa Tác giả đề cập lĩnh vực quản lý nhà nước đối với loại hình biểu diễn chuyên nghiệp và một số những loại hình khác

Nghiên cứu vấn đề quản lý các dịch vụ văn hóa tại thành phố Hà Nội đã

qua có một số công trình tập trung vào các lĩnh vực cụ thể như: “Quản lý

băng đĩa nhạc tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Lan

năm 2004; “Quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa nghiên cứu lý luận

và thực tiễn” năm 2005 của Đinh Thị Vân Chi; “Công tác thanh tra kiểm tra dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2000 đến nay” của

Trần Thị Hương năm 2005; “Internet với đời sống văn hóa của nhân dân thủ

đô Hà Nội” của Tạ Thị Hạnh; “Thực trạng quản lý băng đĩa trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Nguyễn Văn Dũng…

Những vấn đề này, đã gợi mở cho học viên nhiều ý tưởng khi thực hiện

đề tài luận văn của mình về quản lý hoạt động dịch vụ văn hóa trên địa bàn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ văn hóa, thực trạng công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, Luận văn đề xuất

Trang 12

những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của quản lý dịch vụ văn hóa đối với đời sống tinh thần của người dân quận Ba Đình nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung;

Nghiên cứu những ảnh hưởng của cơ chế thị trường và các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình;

Đánh giá thực trạng, những vấn đề bất cập trong quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình;

Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác quản lý liên quan đến lĩnh vực dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Dịch vụ văn hóa phục vụ những nhu cầu cuộc sống con người Bao gồm rất nhiều hoạt động: truyền hình, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao, thẩm mỹ, Internet, băng đĩa, sách báo, tạp chí, phục vụ tâm linh vv…vv

Học viên nghiên cứu về hai loại hình hoạt động dịch vụ văn hóa :

- Hoạt động dịch vụ văn hóa công (của nhà nước);

- Hoạt động dịch vụ văn hóa tư (của tư nhân);

Đề tài tiến hành nghiên cứu việc quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa này trên địa bàn quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội, từ năm 2010 đến nay

Trang 13

5 Những cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh Dựa trên đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và Nhà nước trong thời

kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế

Dựa trên những chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về quản lý văn hóa; trong đó tập trung cụ thể vào các văn bản quy phạm pháp luật của Chính Phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND thành phố

Hà Nội; Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội; UBND quận Ba Đình liên quan đến quản lý dịch vụ văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tài liệu, các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy về quản lý dịch vụ văn hóa;

Khảo sát, điền dã thực tế, phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý về quản lý dịch vụ văn hóa;

Tổng hợp, phân tích và xử lý những tư liệu đã nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần đánh giá thực trạng công tác quản lý dịch vụ văn hóa ở quận Ba Đình, thời kỳ hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở quận Ba Đình;

Đề tài cung cấp thêm cơ sở thực tiễn về quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn một quận của thủ đô Hà Nội; những định hướng và giải pháp được

đề xuất có thể được dùng làm tài liệu tham khảo để triển khai áp dụng vào thực tiễn

Trang 14

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý dịch vụ văn hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý dịch vụ văn hóa ở quận Ba Đình Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dịch

vụ văn hóa ở quận Ba Đình

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ

VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Theo quan niệm phổ biến, văn hóa là hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, phức tạp, đa cấp độ, văn hóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau Ở trình độ lý luận và yêu cầu của xã hội hiện nay, văn hóa được xem như là tất cả những gì liên quan đến con người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của con người Từ đó, có thể hiểu văn hóa là những phương thức và kết quả hoạt động của con người đạt được trong lịch sử, bao gồm giá trị vật chất, giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra Với nghĩa hẹp, văn hóa phản ánh hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận Theo nghĩa này, văn hóa hàm chứa những quan điểm về mục đích, giá trị và lý tưởng của xã hội Văn hóa hướng con người tới chân, thiện, mỹ Nói đến văn hóa là nói đến con người và văn hóa là thuộc tính biểu hiện bản chất

xã hội của con người

Trong thực tế, rất khó để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, có tính bao quát về văn hóa Nghiên cứu về văn hóa chúng tôi hiểu rằng, văn hóa chính là tổng thể những giá trị do con người sáng tạo ra (văn hóa tức là nhân

hóa), đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và bản thân sự phát triển

của con người Các giá trị này, thực chất chính là kết quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Các giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa sự phát triển của năng lực bản chất của con người

Trang 16

Theo các nhà nghiên cứu, khái niệm văn hoá có nội hàm phong phú và ngoại diên rất rộng Chính vì vậy mà có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo cả 3 nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp Tháng 8/1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa của mình về văn hoá Và định nghĩa của Người có rất nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại về văn hoá Người viết:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [45, tr.431]

Về bản chất, dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người Vì vậy, theo quan điểm của C.Mác, văn hóa là sự thể hiện các năng lực bản chất của con người, bao gồm khả năng, sức mạnh, phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người [17, tr.136]

Để có cách hiểu chính thức về văn hóa, chúng tôi lựa chọn định nghĩa

về văn hóa của UNESCO (đây cũng là một định nghĩa văn hóa được nhiều người chấp nhận) để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình:

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ

Trang 17

nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ

và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng

của mình [4, tr.6]

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ đề cập đến việc quản lý các dịch vụ văn hóa gắn liền với sự quản lý của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, được cụ thể hóa trên địa bàn quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội

1.1.2 Khái niệm dịch vụ văn hóa

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các hàng hóa vật thể hữu hình còn có những loại dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường Đó là hàng hóa phi vật thể, hay còn gọi là hàng hóa - dịch vụ

Dịch vụ văn hóa là những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa có tổ chức

và được trả công, nhằm phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của công chúng Dịch vụ văn hóa tồn tại ở nhiều dạng: văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, văn hóa du lịch, văn hóa giải trí, văn hóa sinh hoạt xã hội… Những nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ văn hóa bao gồm: nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống, nhân tố lịch sử

Dịch vụ văn hóa hiện nay ở Việt Nam có cả dịch vụ văn hóa công như: các dịch vụ văn hóa về tâm linh, lễ hội, trình diễn thời trang, biểu diễn nghệ thuật, du lịch và một số dịch vụ văn hóa về sinh hoạt xã hội và dịch vụ văn hóa tư nhân như: hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo, băng đĩa hình, dịch vụ karaoke, vũ trường Trong thực tế hiện nay các dịch vụ văn hóa công được tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch một cách khá tốt, không có nhiều những biến tướng, phức tạp Ngược lại, các dịch vụ văn hóa tư nhân hiện nay lại đang có những bất cập đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc nên đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn

Trang 18

* Đặc điểm và vai trò của dịch vụ văn hóa

Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó, hoạt động dịch vụ trở thành một ngành kinh tế độc lập Dịch vụ văn hoá là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại Thực

tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì hoạt động dịch vụ văn hoá không thể thiếu Cũng giống như một số loại hình dịch vụ khác, dịch vụ văn hóa cũng có những đặc như sau:

- Giá trị sử dụng của sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật thể (hữu hình) mà tồn tại dưới hình thái phi vật thể

- Quá trình sản xuất ra hàng hóa dịch vụ hướng vào phục vụ trực tiếp người tiêu dùng với tư cách là những khách hàng (chữa bệnh, dạy học, cắt tóc, may đo…); quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời

- Do không mang hình thái vật thể và do quá trình sản xuất đồng thời cũng là quá trình tiêu dùng, nên hàng hóa dịch vụ không thể tồn tại độc lập, không thể tích lũy hay dự trữ [34; tr.26]

Hiện nay, trong xã hội nước ta xuất hiện rất nhiều các loại hoạt động dịch vụ Chính quá trình này đã phát sinh nhiều biểu hiện cần được quan tâm:

+ Các dịch vụ khoan cắt bê tông, chữa bệnh bằng thuốc gia truyền, dịch vụ làm đẹp xuất hiện ngày càng nhiều với các hình thức quản cáo, giới thiệu hết sức đa dạng Nhiều hộ gia đình, sáng thức đậy đã nhận được giấy mẫu quảng cáo của các tổ chức kinh tế được nhét qua khe cửa hoặc quăng vào

Trang 19

sân nhà mình… Thậm chí, có những ngôi nhà mới xây xong, quét vôi, sơn trắng toát, đẹp một cách mỹ miều, thế nhưng sáng mở mắt ra đã thấy trên

tường nhà mình xuất hiện những dòng chữ đỏ lạnh lùng: “Khoan cắt bê tông” hoặc “Cho vay không cần thế chấp”…

+ Nhiều dịch vụ mới phát sinh theo nhu cầu của đời sống hiện đại ngày càng trở nên phổ biến Ban đầu còn thấy xa lạ với một số người nhưng dần dần theo thời gian có nhiều người sử dụng dịch vụ thì càng trở nên quen thuộc, đến mức không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt của một số gia đình, đặc biệt là những gia đình sing sống ở thành thị, tiêu biểu là các dịch vụ: gia

sư dạy kèm, dịch vụ tặng quà Noel, dịch vụ đưa đón con cái đến trường, dịch

vụ chăm sóc sắc đẹp…

+ Những phong tục truyền thống và sinh hoạt hàng ngày ở một bộ phận dân cư ít nhiều đã có những thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường và sự da dạng của các loại hình dịch vụ Xã hội ngày nay, khi mà nhân tố con người được coi trọng và phát huy thì đó cũng chính là nhân tố kích thích con người lao vào công việc với sự nhiệt tình hơn, trách nhiệm hơn Chính vì thế, nếp sống văn hóa trong gia đình cũng có nhiều thay đổi Ngày nay, rất ít gia đình có những bữa cơm hội tụ đầy đủ các thành viên của gia đình mình, từ ông bà, cha mẹ, đến con cái Hầu như ai cũng chịu sự tác động của cơ chế thị trường và bị cơ chế này cuốn hút Cho nên tâm lý của một

số bậc cha mẹ, mỗi sáng cứ phát tiền cho con cái ăn ngày ba bữa để khỏi phải bận rộn chuyện bếp núc

Tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hóa thế giới, đã xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ văn hóa ở nước ta: karaoke, vũ trường, quảng cáo, băng đĩa nhạc, cà phê video, internet…Các loại hình này ngày càng phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần của con người Có thể nói rằng các loại dịch vụ trong xã hội ngày càng phát triển đa

Trang 20

dạng, vừa tạo cơ hội cho người kinh doanh, lại vừa đáp ứng nhu cầu tinh thần của chính bản thân con người

1.1.3 Khái niệm quản lý các dịch vụ văn hóa

Theo tác giả Phạm Ngọc Thanh:

Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường [42, tr.13]

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp những quan điểm hợp lý của nhiều quan niệm khác nhau về quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá, có thể rút ra: Quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là phương thức mà thông qua

hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội về lĩnh vực văn hoá đi theo đúng hướng, đúng mục đích theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Như vậy, nói đến quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là nói tế khách quan; mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch thích hợp để quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá Quan niệm này bao hàm những nội dung cơ bản như: các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý Nhà nước về dịch vụ văn hoá từ Trung ương đến địa phương là chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh vực dịch vụ văn hoá là đối tượng quản lý và hệ thống pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch là công cụ để Nhà nước thực hiện

sự quản lý

Trang 21

Với tư cách là đối tượng quản lý, hoạt động dịch vụ văn hoá phải được

tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Với tư cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý, pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa vào dó vận động, phát triển và chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý

Quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ văn hoá phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ văn hoá nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Điều khiển những hoạt động của văn hoá, đời sống văn hoá đi theo đúng chuẩn mực xã hội chủ nghĩa Mục đích cuối cũng là tạo được tính nhân văn, nhân bản trong mỗi con người để phát triển hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân trong cộng đồng từ

đó giữ gìn được bản sắc dân tộc kết hợp với sự tiến bộ của nhân loại

Do yêu cầu phải giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa phải hội tụ cả hai yếu tố: yêu nước và tiến bộ Yêu nước là truyền thống của dân tộc, yêu nước ngày nay cũng chính là yêu chủ nghĩa xã hội; yếu tố tiến bộ ở đây, ngoài việc phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, còn phải kế thừa và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam

Đậm đà bản sắc dân tộc chính là những giá trị của dân tộc đã được hun đúc trong suốt nghìn năm dựng nước và giữ nước Đó chính là truyền thống đoàn kết, lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha, đức tính nhân

Trang 22

nghĩa, cần cù trong lao động, sự ham học hỏi và cầu tiến, tinh thần bất khuất, kiên cường…

Vấn đề quan trọng là định hướng hoạt động dịch vụ văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nếu không có định hướng tốt, nếu buông lỏng sự hướng dẫn của cơ quan chức năng và vai trò quản lý của nhà nước, thì sẽ dẫn đến hoạt động dịch vụ văn hóa tràn lan, vi phạm pháp luật, tác động tiêu cực trong xã hội và ảnh hưởng đến thuần phong

mỹ tục của dân tộc

Một vấn đề đặt ra, nếu trong lĩnh vực kinh tế thì xóa bao cấp, còn trong lĩnh vực văn hóa thì phải như thế nào? Phát triển văn hóa để xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội, vậy thì phát triển văn hóa để xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội cần được tiến hành ra sao? Từ trong thực tế cuộc sống cho thấy, với quy luật sinh tồn, văn hóa là giao lưu, tiếp diễn, kế thừa và sáng tạo, không thể có một chế độ nào, một bộ máy công quyền nào có thể bao cấp toàn

bộ về nền tảng tinh thần nói chung, về văn hóa chính trị nói riêng Bởi lẽ nền tảng tinh thần của bất kỳ cộng đồng dân tộc nào cũng được sản sinh và xây dựng trong chính cuộc sống thường ngày của mỗi người dân, chứ không thể chỉ bằng món ăn ngoại nhập, văn hóa từ nước ngoài vào hay từ trên xuống Nền tảng tinh thần ấy chính là bản sắc dân tộc, là diện mạo đích thực của mỗi dân tộc, trên những chặng đường thăng trầm của lịch sử

Ngày nay, văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống con người và sự phát triển của xã hội Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng

(khóa VIII) đã ban hành nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã khẳng định:

“Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” Quan điểm của Đảng ta là xây dựng một

nền văn hóa Việt Nam hội đủ các yếu tố yêu nước, tiến bộ, giữ gìn và phát

Trang 23

huy những giá trị văn hóa của dân tộc trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước [2, tr.4]

Trong tình hình hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập nền kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa Quá trình này, thay đổi một cách toàn diện từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; một bộ máy hành chính quan liêu, nhiều tầng nấc, chuyển thành bộ máy của nhà nước pháp quyền Và từ đó, những khái niệm

“hàng hóa”, “sản xuất hàng hóa”, “cơ chế thị trường”, “các loại thị trường”… đã được phổ biến trong xã hội

Văn hóa là một hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội Nhưng giá trị không tồn tại siêu hình, mà giá trị chính là nội dung, là bản chất của văn hóa, bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượng hóa dưới dạng những hình thức, những hiện tượng, những quan hệ và quá trình xã hội

Quản lý văn hóa không đơn giản là công tác tuyên truyền, huấn thị, mà chính là quản lý những quá trình xã hội này Khoa học quản lý đòi hỏi phải nhìn nhận những đối tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắm bắt được những quy luật của đối tượng

Mặt khác, không một giai cấp thống trị nào, một bộ máy nhà nước nào lại buông lỏng quản lý văn hóa, xa rời văn hóa Tình trạng buông lỏng, thậm chí bất lực trong quản lý văn hóa bao giờ cũng là dấu hiệu sự suy yếu của hệ thống chính trị hoặc của bộ máy quyền lực quốc gia đó

Đối với nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, còn rất nhiều vấn đề chúng ta cần quan tâm Xây dựng và bảo vệ ở đây không chỉ đơn thuần là bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc, mà

Trang 24

còn là quá trình bảo vệ Đảng, chính quyền nhân dân; bảo vệ công cuộc đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm của Đảng ta là xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hội đủ các yếu tố yêu nước, tiến bộ, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước

Do tính chất xã hội hóa hoạt động văn hóa Nếu trên lĩnh vực kinh tế - nền tảng vật chất - vai trò quản lý của Nhà nước vận hành điều tiết theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì trên lĩnh vực văn hóa - nền tảng tinh thần - có sự khác biệt Ở đây không có sự phân chia quyền lợi văn hóa giữa Nhà nước và công dân cũng không có sự đa dạng hóa về hình thức

sở hữu các giá trị văn hóa Nhưng việc sản xuất, bảo quản, lưu thông và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa lại không nhất thiết và không thể bao cấp nhà nước hoàn toàn tuyệt đối Do vậy, Đảng ta chủ trương phát triển các hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ của nhà nước, tập thể và cá nhân Điều này cũng chính là phải thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hóa, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân Đó chính là phải thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để cùng tham gia vào quá trình sáng tạo văn hóa và tổ chức hoạt động văn hóa

Đảng lãnh đạo thông qua chủ trương, đường lối, nghị quyết Vai trò của nhà nước là quản lý và điều hành xã hội theo Hiến pháp, pháp luật Hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa phải đi đôi với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước Quá trình này, phải tạo điều kiện và phát huy cho được các lực lượng xã hội, các thành phần kinh tế tham gia hoạt động văn hóa, tạo điều kiện tốt nhất cho các chủ thể văn hóa sáng tạo, đồng thời vấn đề quan trọng là phải tổ chức và quản lý các loại hình hoạt động dịch vụ văn hóa

Một trong những tư tưởng chủ đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi

nhiệm vụ cao cả đó là: “Văn hóa văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội”

Trang 25

Phát triển các hoạt động văn hóa văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân

theo đường lối của Đảng và sự quản lý của Nhà nước [3]

Do dịch vụ văn hóa cũng mang tính kinh doanh, vì lợi nhuận nên dễ cạnh tranh không lành mạnh Nhìn nhận hoạt động văn hóa như một hệ thống

tổ chức sản xuất tinh thần, đòi hỏi và cho phép vận dụng một cách khoa học các biện pháp quản lý vào trong lĩnh vực này, nhằm tăng cường vai trò quản

lý của Nhà nước không chỉ trong việc khắc phục tình trạng hành chính hóa các tổ chức văn hóa, mà còn khắc phục hữu hiệu tình trạng thương mại hóa các hoạt động văn hóa

Hoạt động nghệ thuật chẳng hạn, khi mà một số người có tiền đứng ra

làm “đầu nậu”, sẽ đưa các sản phẩm sân khấu, điện ảnh, ca nhạc chạy theo

thị hiếu tầm thường, hạ thấp giá trị nghệ thuật; những cá nhân kinh doanh dịch vụ văn hóa karaoke, internet, khiêu vũ, băng đĩa hình…nếu chạy theo đồng tiền sẽ tác động làm ảnh hưởng đến nhân cách, lối sống của một bộ phận người dân trong xã hội; hoặc một số trường hợp kinh doanh dịch vụ, lợi dụng các di tích lịch sử, di tích văn hóa, thắng cảnh thành nơi buôn bán trục lợi cá nhân, bất chấp lợi ích của cộng đồng, sẽ dẫn đến hạ thấp tầm giá trị của di tích đó

Không thể biến toàn bộ hoạt động văn hóa thành chuyện kinh doanh chạy theo lợi nhuận, lời lỗ Điều này, không đồng nghĩa với việc triệt tiêu hoàn toàn tính chất thương mại trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, nơi tồn tại

đa thành phần (nhà nước, tập thể, cá nhân), nơi tồn tại quy luật cung cầu, sự thống nhất định hướng giá trị văn hóa không phải là sự đồng nhất để mọi người cùng ở chung một phòng, ngồi chung một bàn với những sản phẩm vật chất, tinh thần như nhau Đã nói đến cung cầu là nói đến cạnh tranh thị trường và tác động của quy luật giá trị, nói đến sản xuất là nói đến hoạch định kinh tế Đây là những vấn đề kinh tế học trong văn hóa, không chỉ có ý nghĩa

Trang 26

to lớn trong nghiên cứu lý luận, mà còn có giá trị thiết thực cấp bách trong tổ chức hoạt động thực tiễn

Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về văn hóa bằng các biện pháp chuyên môn và kinh tế là điều kiện cần thiết để phát triển văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu phát triển về nhân cách, trí tuệ tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi thành viên trong xã hội, mỗi gia đình

và cộng đồng

Nhà nước cần mở rộng các nguồn thu để tăng ngân sách, tăng chi cho các hoạt động văn hóa, vừa phát huy quyền lợi, vừa tăng cường nhận thức về nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụ văn hóa Thực hiện điều này cũng chính là thể hiện chủ trương của Đảng ta trong việc khắc phục xu

hướng “thương mại hóa”, không vì chạy theo lợi nhuận mà bất chấp những

quy định của pháp luật, làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động dịch vụ văn hóa

Văn hóa là một hệ thống những giá trị và chuẩn mực xã hội Nhưng giá trị không tồn tại siêu hình, mà chính là nội dung, là bản chất của văn hóa, bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượng hóa dưới dạng những hình thức, những hiện tượng, những quan hệ và quá trình xã hội Quản lý văn hóa không đơn giản là công tác tuyên truyền, huấn thị, mà chính là quản lý những quá trình xã hội này Khoa học quản lý đòi hỏi phải nhìn nhận những đối tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắm bắt được những quy luật của đối tượng

Nắm vững và vận dụng sáng tạo khoa học quản lý là điều kiện thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất kỹ thuật cao cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin đại chúng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, từng bước phát triển, sánh bước cùng với trình độ của khu vực và thế giới

Trang 27

1.2 Chính sách pháp luật về quản lý dịch vụ văn hóa

1.2.1 Các văn bản của trung ương

Quy định về quản lý dịch vụ văn hóa ở trung ương trước tiên có thể kể đến một số Nghị định, Quyết định quan trọng như: Nghị định 97/1993/NĐ-CP ngày 06/11/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật xuất bản; Nghị định 87/1995/NĐ-CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng; Nghị quyết số 87/1995/NQ-CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ ban hành Quy chế lưu hành kinh doanh băng đĩa hình, đĩa ca nhạc, bán và cho thuê xuất bản phẩm quảng cáo, viết đặt biển hiệu; Nghị định 88/1995/NĐ-CP ngày 14/12/1995 về xử phạt hành chính trong các hoạt động văn hóa… trong đó, Nghị định 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng điều chỉnh tương đối đầy đủ các loại hình hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa

Nội dung “Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa

công cộng” (ban hành kèm theo Nghị định 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ)

quy định các hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng bao gồm: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hoá, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác Nơi tổ chức hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng bao gồm nhà hát, nhà văn hoá, nhà triển lãm, trung tâm văn hoá, câu lạc bộ, cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, giải khát, cửa hàng, cửa hiệu, sân vận động, nhà thi đấu thể thao, quảng trường, phương tiện vận tải hành khách công cộng và các phương tiện, địa điểm khác có tổ chức các hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá

Trang 28

Ngày 04/01/2012, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định

01/2012/NĐ-CP về việc Sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các Quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành “Quy chế hoạt

động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng” Cụ thể:

a) Điều 5 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung tại khoản 4 như sau:

Thủ tục cấp nhãn kiểm soát băng, đĩa ca nhạc, sân khấu:

Tổ chức, cá nhân thuộc trung ương đề nghị cấp nhãn kiểm soát gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đến Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; tổ chức, cá nhân thuộc địa phương gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Điều 7 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 như sau:

Trang 29

Thủ tục cấp giấy phép công diễn:

Tổ chức, cá nhân muốn tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang phải gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép công diễn tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này

c) Điều 8 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung tại khoản 2 như sau:

Chủ cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng ăn uống, giải khát tổ chức cho đoàn nghệ thuật, nghệ sĩ nước ngoài biểu diễn tại cơ sở của mình không bán vé thu tiền xem biểu diễn phải thông báo bằng văn bản với Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch sở tại trước 03 ngày theo lịch đã ghi trong thông báo

d) Điều 14 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung như sau:

Trang 30

Điều 14 Các loại triển lãm phải thông báo

Triển lãm văn hóa, nghệ thuật khác của tổ chức, cá nhân Việt Nam không thuộc trường hợp quy định phải xin phép tại Điều 13 Quy chế này phải thông báo với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nơi tổ chức triển lãm trước 03 ngày làm việc theo thông báo thời điểm tổ chức triển lãm

đ) Điều 18 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung tại khoản 2 như sau:

Thủ tục cấp giấy phép tổ chức lễ hội: Cơ quan, tổ chức muốn tổ chức lễ hội quy định tại khoản 1 Điều này phải gửi đơn đề nghị cấp giấy phép tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nơi tổ chức lễ hội trước ngày dự định khai mạc

lễ hội ít nhất là 30 ngày làm việc

a) Nội dung đơn đề nghị cấp giấy phép tổ chức lễ hội (ghi rõ nội dung

lễ hội hoặc nội dung thay đổi so với truyền thống, thời gian, địa điểm tổ chức,

dự định thành lập Ban Tổ chức lễ hội, cam kết đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm và các điều kiện cần thiết khác để đảm bảo an ninh, trật tự trong lễ hội)

b) Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có trách nhiệm cấp giấy phép tổ chức lễ hội; trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm cấp giấy phép trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do

Trang 31

e) Bỏ khoản 2 Điều 24 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch

vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP

g) Điều 25 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung tại khoản 2 như sau:

Hồ sơ và thủ tục cấp giấy phép kinh doanh vũ trường:

a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh vũ trường;

- Bản sao công chứng hoặc chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

b) Số bộ hồ sơ cần nộp là 01 bộ

c) Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xem xét, kiểm tra điều kiện kinh doanh thực tế và cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do

h) Bỏ khoản 5 Điều 30 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch

vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP

i) Điều 31 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP được sửa đổi,

bổ sung tại khoản 2 như sau:

Hồ sơ và thủ tục cấp giấy phép kinh doanh karaoke:

a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh karaoke trong đó ghi rõ địa điểm kinh doanh số phòng, diện tích từng phòng;

- Bản sao công chứng hoặc chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh b) Số bộ hồ sơ cần nộp là 01 bộ

Trang 32

c) Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân cấp có trách nhiệm cấp giấy phép kinh doanh; trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do [26]

Trên cơ sở các quy định của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục ra các Thông tư hướng dẫn quy định hoạt động sản xuất và kinh doanh dịch vụ văn hóa và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan trực thuộc thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình, trong đó có nhiều Thông tư quan trọng như: Thông tư 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch quy định chi tiết về thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ… Các văn bản của trung ương, cụ thể là các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các

bộ ngành có liên quan đã có những quy định cụ thể về quản lý các dịch vụ văn hóa Đây là những căn cứ quan trọng để mỗi địa phương là căn cứ tổ chức hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn quản lý

1.2.2 Các văn bản của thành phố Hà Nội

Thực hiện công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa, nhiều năm qua Thành phố Hà Nội đã tổ chức thực hiện các quy định của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch qua việc triển khai các Nghị định, Thông tư về các lĩnh vực khác nhau của hoạt động dịch vụ văn hóa

Bên cạnh đó, ngày 08/7/2009, UBND thành phố Hà Nội ban hành Chỉ thị số 22/CT-UBND về việc tăng cường quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tình hình mới Trong đó có đánh giá trong những năm qua, các Sở, Ban, ngành, UBND các cấp trên địa bàn Thành phố đã có nhiều cố gắng trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ, đặc biệt công tác quản lý các cơ sở kinh doanh

Trang 33

dịch vụ có điều kiện, nhạy cảm, đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân, các tổ chức cá nhân chấp hành đúng các quy định trong kinh doanh dịch vụ; đồng thời, cố gắng làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm, góp phần tích cực đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thủ đô [64]

Chỉ thị của UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã tập trung thực hiện 07 vấn đề:

1 Tổ chức tốt công tác điều tra cơ bản, lập danh sách, phân loại chính xác tất cả các cơ sở kinh doanh dịch vụ, xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh, nhất là những trường hợp kinh doanh không phép, sai phép, trái phép, trá hình, quá giờ quy định, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, … trên cơ sở đó phân công, phân cấp cụ thể, rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân theo đúng quy định

2 Thường xuyên nắm chắc thực trạng, tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên từng địa bàn, lĩnh vực quản lý, nhất là những cơ sở kinh doanh phức tạp, thường hay vi phạm thuộc các loại hình kinh doanh dịch

vụ có điều kiện, nhạy cảm, như: vũ trường, quán bar có sử dụng nhạc mạnh, karaoke, nhà nghỉ, khách sạn, cắt tóc gội đầu thư giãn, hiệu cầm đồ, trò chơi điện tử có thưởng, massage, tẩm quất, bấm huyệt, quán internet, … để xác định

áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp và có các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các cơ sở có biểu hiện hoạt động vi phạm pháp luật

3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện những tồn tại, thiếu sót, tiêu cực, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý các loại hình kinh doanh, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, nhạy cảm, các cơ sở hoạt động sai phép, trái phép, trá hình, quá giờ quy định có biểu hiện phức tạp,

vi phạm; các cán bộ cơ quan Nhà nước có dấu hiệu tiêu cực trong việc cấp phép, kiểm tra, xử lý vi phạm hoặc có hành vi bảo kê, đối phó, vô hiệu hóa

Trang 34

công tác kiểm tra, quản lý của các cơ quan chức năng, đề xuất, kiến nghị với UBND các cấp, các cơ quan chức năng phân công rõ trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước đối với các loại hình kinh doanh dịch vụ

4 Các Sở, Ban, ngành, UBND các cấp tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia phong trào phát hiện tố giác tội phạm, tệ nạn xã hội và đấu tranh đối với các hoạt động vi phạm pháp luật Thường xuyên và chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức kiểm tra, phát hiện các vi phạm để xử lý theo đúng quy định của pháp luật Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND Thành phố nếu để các cơ sở kinh doanh dịch vụ hoạt động trên địa bàn quản lý vi phạm

mà không được phát hiện xử lý kịp thời, như: kinh doanh không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh chuyên ngành, giấy chứng nhận đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, kinh doanh sai phép, trái phép, trá hình, quá giờ quy định…

5 Công an Thành phố chủ trì, phối hợp với Sở Công thương và các Sở:

Tư pháp, Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Lao động – Thương binh – Xã hội, Giao thông vận tải dự thảo Quyết định của UBND Thành phố về việc cấm bán hàng ăn uống và kinh doanh một số dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội từ sau

24 giờ đến 5 giờ sáng (trừ các khách sạn, nhà khách, cảng hàng không, nhà ga tàu hỏa, bến tàu, bến xe khách, phố ẩm thực), trình UBND Thành phố

6 Công an Thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn chỉnh quy định phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện, nhạy cảm về an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hà Nội, trình UBND Thành phố trước ngày 20 tháng 7 năm 2009; đồng thời, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, định kỳ tổng hợp tình hình, kết quả báo cáo UBND thành phố theo quy định

Trang 35

7 Trong khi chờ UBND Thành phố ban hành quy định về xử lý vi phạm trong việc kinh doanh, dịch vụ từ sau 24 giờ đến 5 giờ sáng, Công an Thành phố, Sở Công Thương và các ngành chức năng cần tập trung kiểm tra, phát hiện và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm các Nghị định của Chính phủ: số 150/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2005 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội; số 11/2006/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2006 về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; số 56/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa – thông tin; số 39/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 quy định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng

ký kinh doanh và các quy định hiện hành của UBND Thành phố Hà Nội [65]

Đến ngày 27/3/2014, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành văn bản

số 2172/UBND-VX gửi các đơn vi liên quan về việc chỉ đạo tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, karaoke, vũ trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Theo đó, để thực hiện có hiệu quả “Năm trật tự và văn minh đô thị

2014”, công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa

công cộng đặc biệt là kinh doanh ngành nghề karaoke, vũ trường trên địa bàn thành phố, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, UBND thành phố yêu cầu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND các quận, huyện, thị xã tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng trên địa bàn thành phố, đặc biệt là hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, karaoke, vũ trường đảm bảo lành mạnh, đúng pháp luật theo quy hoạch Chủ trì, phối hợp với Công an thành phố, sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và các đơn vị có liên quan củng cố tổ chức, hoạt động đội kiểm tra liên ngành thanh,

Trang 36

kiểm tra hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; xử lý nghiêm theo thẩm quyền các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật

Sở TT&TT phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường công tác quản

lý, thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ Internet, hoạt động in, phát hành phát hành xuất bản phẩm… Sở LĐTB&XH đẩy mạnh tuyên truyền, tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội nhất là đối với các cơ sở kinh doanh ăn uống, karaoke, nhà nghỉ, khách sạn… [68]

Bên cạnh đó, UBND thành phố cũng đề nghị Ủy ban MTTQ Thành phố

Hà Nội và các đoàn thể tăng cường tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng đến các tầng lớp nhân dân bằng các hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp UBND Thành phố yêu cầu các quận, huyện, thị xã kiện toàn đội kiểm tra liên ngành quận, huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất, giải quyết, xử lý triệt để các cơ sở sản xuất kinh doanh karaoke không phép; kiên quyết xử lý các cơ sở kinh doanh không đúng quy định gây ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư

1.2.3 Các văn bản của quận Ba Đình

Cơ quan tham mưu hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình là Phong Văn hóa và Thông tin quận Trong những năm qua, Phòng Văn hóa và Thông tin quận Ba Đình đã tham mưu UBND quận ban hành các Quyết định điều chỉnh, bổ sung quy hoạch karaoke trên địa bàn quận; Thực hiện cấp phép kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh theo quy định Tham mưu UBND quận ban hành Quyết định kiện toàn Đội kiểm tra liên ngành văn hóa- xã hội Đội Kiểm tra liên ngành tiếp tục duy trì kiểm tra hoạt động của các cơ sở dịch vụ văn hóa karaoke, vũ trường, in- xuất bản

Trang 37

phẩm tham mưu UBND quận ban hành quyết định xử phạt hành chính theo quy định

Bên cạnh đó, Phòng Văn hóa và Thông tin cũng tham mưu UBND quận ban hành một số văn bản cụ thể như: Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 11/02/2015 về tăng cường công tác quản lý nhà nước trong hoạt động quảng cáo, quảng cáo rao vặt, viết đặt biển hiệu và các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình năm 2015; Phối hợp với 14 phường thống kê,

rà soát các loại hình dịch vụ văn hóa, biển hiệu, quảng cáo, xuất bản phẩm, photocopy Ban hành 08 văn bản về Tăng cường quản lý nhà nước hoạt động quảng cáo và dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận; Tham mưu đề xuất vị trí quy hoạch quảng cáo trên địa bàn quận Theo đó, tiếp tục phối hợp với các phường kiểm tra, xử lý biển quảng cáo, quảng cáo rao vặt, biển hiệu tại 17 tuyến phố điểm; Tổng hợp đề xuất Sở Thông tin và Truyền thông ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông đối với 97 số điện thoại vi phạm Tham mưu UBND quận các văn bản, kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 02/2/2016 về tăng cường công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa và quản lý hoạt động quảng cáo; Kế hoạch số 64/KH-UBND ngày 08/3/2016 về tổ chức, triển khai xây dựng tuyến phố điểm về quảng cáo Rà soát, lập danh sách, chụp ảnh quay băng đĩa 94 biển hiệu sai quy định tại các tuyến phố điểm Văn Cao - Liễu Giai - Nguyễn Chí Thanh; tiến hành rà soát tổ chức hội nghị ký cam kết, hướng dẫn theo quy định Phối hợp với UBND phường Ngọc Hà, Liễu Giai, Cống Vị, Ngọc Khánh, Quán Thánh, Kim Mã hướng dẫn các cơ sở ký cam kết thực hiện biển hiệu theo quy định của Nhà nước

Tham mưu UBND quận triển khai kế hoạch số 148/KH-UBND ngày 03/8/2016 về xử lý biển quảng cáo sai quy định trên địa bàn quận; Kế hoạch số 154/KH-UBND ngày 12/8/2016 của UBND quận Ba Đình về tổ chức thực hiện Chỉ thị 16/CT-UBND Tổ chức họp thông báo nội dung Chỉ thị 16/CT-UBND,

Trang 38

Kế hoạch 154/KH-UBND quận tới các Công ty có biển quảng cáo đứng độc lập, biển hộp đèn tại dải phân cách không phép; tuyên truyền, vận động các công ty

tự giác tháo dỡ biển sai quy định trước ngày 22/8/2016 Tham mưu UBND quận hành các văn bản về quản lý, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa; Kiện toàn Đội kiểm tra liên ngành dịch vụ văn hóa Phối hợp phòng Quản lý văn hóa của Sở kiểm tra hoạt động trò chơi điện tử tại các phường trên địa bàn…

1.3 Các nội dung quản lý dịch vụ văn hóa

1.3.1 Công tác xây dựng và ban hành các văn bản quản lý

Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hoá không nằm ngoài mục đích hỗ trợ và tạo điều kiện cho dịch vụ văn hóa phát triển nhanh và bền vững Theo đó, Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể để can thiệp vào hoạt động dịch vụ văn hoá nhằm tạo ra môi trường dịch vụ văn hoá lành mạnh, phân bổ nguồn lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hoà, phù hợp với giá trị truyền thống và văn hoá của một quốc gia, một vùng, một địa phương Mặt khác, với tính chất

là một ngành kinh tế - xã hội mang lại những hiệu quả tổng hợp cũng như các ngành kinh tế khác, dịch vụ văn hoá muốn phát triển bền vững không đặt ngoài sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

Vì vậy, vai trò của các chủ thể quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ văn hoá là rất lớn Mà hiện nay, các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi một đơn vị, ngành trong bộ máy hành chính nhà nước đều được quy định rất rõ ràng Tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển dịch vụ văn hoá phù hợp với điều kiện ở địa phương Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh dịch vụ văn hoá Tuy

Trang 39

nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải đảm bảo theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh Thực hiện chuẩn hoá các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt

để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện

1.3.2 Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện

Tổ chức thực hiện tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động dịch vụ văn hoá và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển hoạt động dịch vụ văn hoá mang tính đặc thù của địa phương thuộc thẩm quyền

Hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đã khó, nhưng cái khó hơn

là làm thế nào để đưa nó đi vào đời sống thực tế Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực dịch vụ văn hoá nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt buộc các chủ thể khác (trong đó có chính bản thân Nhà nước) phải thực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan nhà nước nói chung, chính quyền các cấp nói riêng phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh, tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dịch vụ văn hoá cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo

sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về dịch vụ văn hoá một cách nghiêm túc Mặt khác, các cơ quan chuyên môn phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tuỳ

Trang 40

tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xoá bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động dịch vụ văn hoá

Việc tổ chức các dịch vụ văn hóa không có nghĩa là khoán trắng cho toàn xã hội Nhà nước vẫn phải giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho các hoạt động văn hóa phát triển Các hoạt động này càng mạnh, thì càng phải tăng

cường vai trò quản lý của Nhà nước Ở một số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan),

người ta đặt các dịch vụ văn hóa theo khuôn khổ pháp lý, quy định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu các tài sản văn hóa trong việc giữ gìn bảo quản và phổ biến trong toàn xã hội cũng như việc phối hợp với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ để làm công tác này

Với việc mở rộng các thành phần trong xã hội trực tiếp tham gia sáng tạo, cung cấp, phổ biến văn hóa, thì nhân dân là lực lượng đông đảo nhất, ngoài ra các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cá nhân có nhiệt tình đầu tư đóng góp công sức vào xây dựng các tổ chức và dịch vụ văn hóa Chính sự đa dạng này đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng tham gia, vì vậy cũng tạo nên sự đa dạng của các loại hình dịch vụ văn hóa, các thiết chế, các phương tiện và nội dung hoạt động

Với yêu cầu đó, cần có sự góp sức chung của cả hệ thống chính trị để tham gia tổ chức và quản lý hoạt động dịch vu văn hóa: cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp, các cơ quan chủ quản ngành văn hóa các cấp, các chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ quan đơn vị sản xuất, lực lượng vũ trang cùng toàn thể nhân dân Trong đó, nội dung rất quan trọng là phải tổ chức cơ cấu bộ máy hợp lý của ngành văn hóa

để đáp ứng yêu cầu và tính đặc thù của lĩnh vực này, kể cả phải tính đến yêu cầu của công tác cán bộ, nhân viên chuyên trách văn hóa ở cơ sở xã phường, thị trấn, tổ chức lực lượng cộng tác viên, tự quản, tự nguyện tham gia quản lý

Ngày đăng: 11/08/2020, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w