3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa; tìm hiểu hiện trạng và đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý đối với hệ thống di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống từ năm 2010 đến nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá của huyện Nông Cống trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau: Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa; Tìm hiểu khái quát về huyện Nông Cống và hệ thống di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện; Phân loại, đánh giá giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Nông Cống từ năm 2010 đến nay. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống trong thời gian tới. Bước đầu có ý kiến đề xuất với cơ quan chức năng về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện giai đoạn 20172025. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống di tích lịch sử văn hóa và các mặt hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Cống. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống từ năm 2010 tới nay. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa MácLê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa và di tích lịch sử văn hóa để làm cơ sở đánh giá các vấn đề trong quá trình nghiên cứu.
Trang 1********
LÊ THANH BÌNH
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH
THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức Những nội dung trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công
bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường
về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thanh Bình
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 5
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA 13
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa 13
1.1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 13
1.1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý về di tích lịch sử văn hoá 19
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 22
1.2.1 Khái quát về huyện Nông Cống 22
1.2.2 Khái quát về hệ thống di tích ở huyện Nông Cống 26
1.2.3 Hiện trạng, trình trạng, kỹ thuật của các di tích 31
1.2.4 Tình trạng sở hữu di tích 33
1.2.5 Giá trị của hệ thống di tích 34
1.2.6 Vai trò của hệ thống di tích trong phát triển kinh tế và đời sống văn hóa xã hội 38
Tiểu kết 40
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA 41
2.1 Các chủ thể quản lý 41
2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa 41
2.1.2 Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa 43
2.1.3 Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nông Công 44
2.1.4 Ban quản lý di tích cơ sở 47
2.2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống 53
2.2.1 Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích lịch sử văn hóa 53
2.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử văn hóa 55
Trang 42.2.3 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị
di tích .59
2.2.4 Huy động các nguồn lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử văn hóa 68
2.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý di tích lịch sử văn hóa 71
2.2.6 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật xử lý vi phạm di tích lịch sử văn hóa 72
2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống 74
2.3.1 Ưu điểm 74
2.3.2 Hạn chế 76
2.3.3 Nguyên nhân 78
Tiểu kết 80
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA 81
3.1 Phương hướng và nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa 81
3.1.1 Phương hướng 81
3.1.2 Nhiệm vụ giai đoạn 2017 – 2025 83
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống 86
3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 86
3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 93
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường sự quản lý của nhà nước 95
3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường thực hiện công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích 103
3.3 Ý kiến đề xuất 110
3.3.1 Đề xuất với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 110
3.3.2 Đề xuất với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 110
Tiểu kết 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 119
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
DSVH Di sản văn hóa
DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
HĐND-UBND Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân KTNT Kiến trúc nghệ thuật
UBND Ủy ban nhân dân
VH&TT Văn hoá và Thông tin
VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1 Danh mục phân bổ di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (Tính đến tháng 10/2017) 27 Bảng 1.2 Danh mục loại hình các di tích đã xếp hạng và chưa được xếp hạng trên địa bàn huyện Nông Cống 28 Bảng 2.1 Danh sách Cán bộ Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa phụ trách địa bàn huyện Nông Cống 44 Bảng 2.2 Danh sách lãnh đạo, chuyên viên phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nông Cống phụ trách công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa 47 Biểu đồ 1.1 Biểu đồ % các loại hình di tích đã được xếp hạng và chưa được xếp hạng trên địa bàn huyện Nông Cống 29 Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý di tích lịch sử văn hóa 41 trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 41
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong
đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đã nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức được coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (Bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc là nhiệm vụ then chốt được thể hiện trong Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009
Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận quan trọng của kho tàng di sản văn hoá Việt Nam Việc giữ gìn di tích được Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, coi đó là nhiệm vụ cần thiết và hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay Nhiều di tích do sự hủy hoại của thiên nhiên, chiến tranh và con người đang trong tình trạng xuống cấp trầm trọng đã và đang được trùng tu, tôn tạo, hiện tượng lấn chiếm, xâm hại, vi phạm đến di tích cũng được các cấp có thẩm quyền kịp thời giải quyết, công tác khoanh vùng, cắm mốc, bảo vệ và xếp hạng di tích được thực hiện nghiêm túc, chính xác và khoa học hơn, công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên, liên tục và kịp thời, đặc biệt là ý thức của quần chúng nhân dân trong việc tham gia các hoạt động tín ngưỡng, các hoạt động văn hóa cũng như công tác bảo tồn di tích được nâng cao rõ rệt Có được điều ấy chính là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành sự vào cuộc của các đoàn thể
Trang 8chính quyền từ trung ương tới địa phương và những đóng góp trực tiếp của các cán bộ làm công tác quản lý trong ngành, chính vì điều đó công tác quản lý di tích được nâng lên một bước đáng kể về chất lượng và ngày một quy củ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, các luồng văn hóa ngoại lai xâm nhập nhiều, sự diễn biến của hòa bình trên nhiều phương diện, công nghệ thông tin ồ ạt tràn vào đã dẫn tới hệ quả, cũng như nhiều lĩnh vực khác, vì vậy công tác quản lý di tích không bắt kịp được với sự phát triển nhanh chóng đó nên đã bộc lộ khá nhiều những bất cập, hạn chế cần khắc phục
1.2 Nông Cống là huyện đồng bằng, bán sơn địa, có diện tích tự nhiên 280.6 km2, 28.710 ha, dân số 191.542 người Toàn huyện có 31 xã, 01 thị trấn,
307 làng (thôn), tiểu khu, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 30 km về phía tây nam Trên địa bàn huyện có đường quốc lộ 45 xuyên suốt từ đông sang tây, đường sắt bắc nam và các tuyến đường tỉnh lộ 505, 506, 525, 512 chạy qua, cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã tạo thành mạng lưới giao thông đồng bộ thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội Là một miền quê có bề dày lịch sử, có truyền thống yêu nước và hiếu học; nhân dân Nông Cống anh dũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng; cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, học tập; thuỷ chung; nghĩa tình trong cuộc sống Với lịch sử đầy biến động
đó, kết hợp với sự phong phú đa dạng về đời sống tinh thần của nhân dân Nông Cống, đã tạo nên nơi đây những công trình kiến trúc như đình, đền, chùa, nhà thờ họ đã được trải qua nhiều triều đại phong kiến và nhân dân lập nên để thờ phụng, tưởng nhớ tới các vị anh hùng dân tộc, những khai quốc công thần, những người có công với quê hương, đất nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tâm linh của nhân dân trong huyện cũng như du khách thập phương
Tính đến tháng 8 năm 2017, trên địa bàn huyện Nông Cống hiện có 24 di tích lịch sử - văn hoá đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng, trong đó: 02 di tích
đã được xếp hạng cấp quốc gia, 22 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng cấp tỉnh, theo thống kê các di tích chưa được xếp hạng thì trên địa bàn huyện Nông Cống hiện tại có 54 di tích (Chỉ còn dạng phế tích) đã được đưa vào danh
Trang 9mục khoanh vùng bảo vệ nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt và xếp hạng; trong số 24 di tích đã được xếp hạng trong đó có nhiều di tích có giá trị tiêu biểu như: Đền thờ Bà Triệu; Đền Mưng; Đền Tam Giang; Đền thờ và khu lăng mộ Danh tướng Vũ Uy; Đền thờ Lê Hiểm - Lê Hiêu; Đền thờ Đỗ Bí; Đền thờ họ Đinh và đình làng Đông Cao; Nhà thờ 3 đời tiến sỹ họ Lê; Đình làng Xa
Lý (đình Con voi) và chùa Vĩnh Thái
1.3 Một thực tế cũng cần khẳng định là, công tác quản lý di tích ở đây chưa thật sự sâu sát, bởi số cán bộ chuyên trách về di tích là quá ít; công tác tuyên truyền, bảo vệ khoanh vùng; đầu tư tôn tạo cho di tích còn nhiều hạn chế, công tác quản lý còn nhiều buông lỏng, chưa có tính khoa học vì thế, với tư cách là một cán bộ công tác trong ngành văn hóa, với mong muốn tìm hiểu rõ thêm về thực trạng quản lý, những kết quả và hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá trên địa bàn huyện, để đề xuất những giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện và đặc điểm vùng miền “đất và người” của quê hương Nông Cống, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá trên địa bàn huyện hiện nay và trong thời gian tới Cho đến nay chưa
có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu đầy đủ hệ thống về quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Cống Vì vậy tác giả luận văn đã lựa chọn
đề tài "Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống" làm
đề tài luận văn cao học chuyên ngành QLVH Hy vọng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho việc quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn có chất lượng và hiệu quả hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với đề tài quản lý di tích lịch sử - văn hóa cũng như việc khai thác các tiềm năng, giá trị của di tích lịch sử - văn hóa là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu khoa học và các tổ chức, đơn vị trong và ngoài huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua Sau đây là tập hợp và phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận văn
Trang 10"Đại Việt thông sử" [23] của Lê Quý Đôn, NXB Khoa học xã hội Hà Nội,
1978, tập 3 viết về tiểu sử của danh tướng Vũ Uy và quá trình Vũ Uy đến tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi Danh tướng đã được người đời sau tôn vinh công trạng và lập đền thờ thờ tại làng Ngọc Uyên, xã Tân Phúc, huyện
Nông Cống."Khởi nghĩa Lam Sơn" [30] của Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn,
NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1977 cũng đã đề cập đôi nét về hai nhân vật Lê Hiểm và Lê Hiêu quá trình sát cánh bên Lê Lợi đánh giặc Minh xâm lược và lập nên những chiến công lừng lẫy Đền thờ ông được nhân dân lập nên để thờ tại làng Thừa Bình, xã Tân Phúc, huyện Nông Cống Hai nhân vật lịch sử đó là Vũ
Uy, Lê Hiểm- Lê Hiêu Nhân dân tôn vinh và lập đền thờ nơi đây là cơ sở tín ngưỡng được đánh giá là di sản văn hóa vật thể cấp quốc gia
“Thanh Hóa di tích và thắng cảnh” [16], Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 2001 Sách giới thiệu về danh thắng
và di tích của Thanh Hóa (trong đó có danh thắng và di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống) Trong cuốn sách đã giới thiệu đến một số di tích tiêu biểu trên địa bàn huyện Nông Cống như: Di tích lễ hội đình làng Đông Cao; di tích lễ hội Chùa Vĩnh Thái “Dư địa chí Nông Cống” [37], tác giả Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm Nxb Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1998 đã đề cập đến lịch sử vùng đất Nông Cống anh hùng, trong đó các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Trong đó đề cập đến một số di tích trên địa bàn huyện Nông Cống như: Đền Bà Triệu; Đền Mưng; Đền Tam Giang; Chùa Vĩnh Thái; Đền thờ
Vũ Uy; Đền Thờ Lê Hiểm- Lê Hiêu; Đình làng Xa Lý; Đình Làng Đông Cao
“Lễ tục, lệ hội truyền thống xứ Thanh” xuất bản năm 2001 [38] được hai tác giả Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm đề cập chủ yếu ở khía cạnh Lễ tục, lệ hội truyền thống xứ Thanh, còn các di tích lịch sử văn hóa chỉ mang tính chất giới thiệu một cách sơ lược như Di tích và lễ hội Đền Mưng; di tích lễ hội Đền tam Giang và lễ hội đền Bà triệu Hồ sơ khoa học các di tích: “Nhà thờ ba đời tiến sĩ” [41], “Chùa Vĩnh Thái [44], “Đền thờ Vũ Uy [42]; “Đền thờ Lê Hiểm, Lê Hiêu” [43] Lý lịch các di tích Hồ sơ khoa học di tích được làm theo mẫu quy định của
Trang 11Bộ VHTTDL cụ thể là cục di sản văn hóa Ở mỗi hồ sơ di tích đều có những thông tin rất cơ bản về di tích như: Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại, đặc điểm kiến trúc, điêu khắc, nhân vật thờ tự, danh mục các di vật, cổ vật thuộc công trình kiến trúc, lễ hội ở các di tích Các bản vẽ kỷ thuật và phối cảnh, bản đồ quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích, ảnh chụp di tích
Theo khảo sát cho đến nay trên địa bàn huyện Nông Cống có 24/78 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh và cấp quốc gia, tiêu biểu như: Đền thờ Vũ Uy; Đền thờ Lê Hiểm – Lê Hiêu; di tích lịch Sử cách mạng chùa Vĩnh Thái; Đền thờ
Bà Triệu; Đền Mưng; Đền thờ ba đời tiến sỹ họ Lê cho thấy hồ sơ của các di tích có đầy đủ về mặt khoa học
Bên cạnh những tác phẩm và hồ sơ khoa học trên, những di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống còn được đề cập trong một số công trình nghiên cứu khác và trong các bài tạp chí của báo văn hóa đời sống Thanh Hóa, bài viết tay của tác giả Nguyễn Hữu Toản, Vũ Thị Hường, Nguyễn Thị Khuyến cán bộ Trung tâm bảo tồn di sản Thanh Hóa và những người làm công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống
Tóm lại về phương diện di tích lịch sử cũng đã có những công trình đi trước đề cập tới, đặc biệt là các di tích có giá trị đã được xếp hạng cấp quốc gia
và cấp tỉnh Tuy nhiên cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp, hệ thống đánh giá về giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống cũng như hiệu quả quản lý các di tích lịch sử - văn hóa đó Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu kể trên cũng vẫn là nguồn tài liệu quý giá giúp cho tác giả luận văn kế thừa để triển khai nghiên cứu đề tài theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa; tìm hiểu hiện trạng và đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý đối với hệ thống di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống từ năm
Trang 122010 đến nay Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá của huyện Nông Cống trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa; Tìm hiểu khái quát về huyện Nông Cống và
hệ thống di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện; Phân loại, đánh giá giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch
sử văn hoá ở huyện Nông Cống từ năm 2010 đến nay
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống trong thời gian tới
- Bước đầu có ý kiến đề xuất với cơ quan chức năng về công tác quản lý
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2025
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống di tích lịch sử văn hóa và các mặt hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Cống
Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê Nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di
Trang 13sản văn hóa và di tích lịch sử văn hóa để làm cơ sở đánh giá các vấn đề trong quá trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1.Phương pháp nghiên cứu thư tịch, tài liệu
Việc nghiên cứu thư tịch gồm các loại sách, báo cáo, tổng kết của các cấp, các ngành, tài liệu thống kê vv về quản lý văn hóa, quản lý di tích lịch sử, nhằm thu thập tư liệu của các học giả đi trước, kế thừa các ý tưởng khoa học đã có, góp phần giải quyết các nhiệm vụ của đề tài Để có nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu, học viên đã tiến hành sưu tầm, tham khảo và tích lũy tài liệu ở thư viện tỉnh Thanh Hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa Thu thập tài liệu tại các
di tích, tìm kiếm tư liệu lưu trữ tại phòng Văn hóa và Thông tin huyện và Ban quản lý di tích cơ sở để đưa vào đề tài nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp tiếp cận liên ngành
Ngành sử học, khảo cổ học, văn hóa học, xã hội học, quản lý văn hoá
5.2.3.Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp khảo sát điền dã: Phân tích tài liệu thứ cấp đã được qua khảo sát điền dã tại các di tích và cơ quan quản lý di tích Tiếp cận địa bàn, quan sát, tìm hiểu công tác quản lý di tích, chụp ảnh thực trạng tại các di tích lịch sử văn hóa Từ đó giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quan, nắm bắt được những giá trị cũng như tiềm năng có thể phát huy, đồng thời trên cơ sở đó đề ra
những giải pháp mang tính khả thi
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập các dữ liệu về hiện trạng di tích lịch sử, công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Đối tượng phỏng vấn, câu hỏi đặt
ra cho người được phỏng vấn là những người làm việc trong cơ quan quản lý di tích, các nhà quản lý thuộc lĩnh vực và phỏng vấn cộng đồng
Trang 145.2.5 Phương pháp, tổng hợp và so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh nhằm xử lý các loại tư liệu thu thập được, phục vụ nghiên cứu đề tài Công việc này cần thiết cho việc nghiên cứu, qua đó sẽ giúp cho người nghiên cứu có được nhiều nguồn thông tin
về mặt tự nhiên, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn sẽ có những đánh giá đầy đủ về giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa và thực trạng công tác quản lý di tích trên địa bàn huyện Nông Cống từ năm 2010 đến nay
- Đưa ra các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Nông Cống trong thời gian tới
- Đóng góp thêm tài liệu cho việc nghiên cứu tiếp theo về các vấn đề có liên quan đến công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo
nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa,
tổng quan về hệ thống di tích trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa
bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích
lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là thiết lập cơ sở pháp lý và khoa học, nó chính là công cụ quản lý để tác động đến đối tượng bị quản lý cụ thể là di sản văn hóa (DSVH) nói chung và di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) trên địa bàn huyện Nông Cống nói riêng Để làm tốt công tác quản lý DTLSVH, yêu cầu nhà quản lý cần phải hiểu rõ những vấn đề lý luận chung, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp với đặc thù của đối tượng quản lý để mang lại hiệu quả cao nhất đồng thời phát huy tốt các giá trị văn hóa trong đời sống xã hội
1.1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm
* Di sản văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [35, tr.8]
UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích
Trang 16danh thắng DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình văn học- nghệ thuật (âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại), các sinh hoạt và kinh nghiệm dân gian (lễ hội, nghi lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ)
Như vậy, di sản văn hóa chính là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; là minh chứng sống động cho sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong những môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian
* Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH Khái niệm DTLSVH được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau Ở văn bản quốc tế
khái niệm về Di tích lịch sử văn hóa đã được nêu ra trong Điều 1 Hiến chương
Venice-Italia năm 1964 khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [19, tr.145]
DTLSVH là một khái niệm với hàm nghĩa rất rộng, vì vậy, ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về DTLSVH như trong Từ điển
Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối
tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học Di tích là di sản văn hoá – lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tuỳ tiện dịch chuyển, thay đổi, phá huỷ”
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DTLSVH và
danh lam thắng cảnh quy định “DTLSVH là những công trình xây dựng, địa
Trang 17điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội” [39, tr.3]
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa được xem là đầy đủ nhất và cụ thể nhất
phải kể đến Luật Di sản văn hoá do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Trong văn bản
của Luật này, DTLSVH được quy định ở Điều 4, khoản 3: “DTLSVH là những
công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” [35, tr.13]
* Quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động C.Mác đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hoà giữa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì
cần phải có nhạc trưởng [18, tr.48O]
Quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra, hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ
đơn giản đến phức tạp Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn,
năng suất cao hơn trong công việc Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì “quản
lý” có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng
của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Do đó, quản lý là một quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoá hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản lý bao
Trang 18giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố cơ bản sau 1/chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những công cụ như những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định 2/ Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau 3/ Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội 4/ mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp thích hợp Quản lý ra đời chính
là chính là nhằm nâng cao hiệu quả năng xuất công việc
* Quản lý DTLSVH: Quản lý DTSLVH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển
hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định
về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong lĩnh vực quản lý DTLSVH, cơ quan quản
lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu
bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ
sở pháp lý nhằm bảo vệ di tích v.v chúng ta có thể thấy rằng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa là hai thành tố, hai nhiệm vụ trung tâm của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý DTLSVH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 191.1.1.2 Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận quan trọng của di sản văn hoá dân tộc Định nghĩa về di tích lịch sử văn hoá đã được ghi tại Điều 4 Chương I của Luật Di sản văn hoá số 08/2001/QH năm 2001: Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Điều 28 của Luật Di sản văn hóa cũng qui định DTLSVH phải có một trong các tiêu chí cụ thể như sau:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát
triển kiến trúc, nghệ thuật [35, tr.22]
Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân ra thành 04 loại hình, bao gồm: Loại hình Di tích khảo cổ; Di tích lịch sử (di tích lưu niệm
sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); loại hình Di tích kiến trúc nghệ thuật và loại hình di tích Danh lam thắng cảnh
Mỗi di tích chứa đựng một nội dung lịch sử, một giá trị văn hoá, một lượng thông tin riêng biệt khác nhau Bởi vậy, di tích cần phải được phân loại để xác định tên gọi đúng với nội dung, đặc điểm thì mới có thể tiến hành hoạt động bảo vệ, sử dụng, phát huy giá trị của di tích một cách hiệu quả Cơ sở để phân loại di tích là nội dung mà nó chứa đựng trong mỗi di tích Từ nội dung lịch sử
đó mà di tích được phân chia ra từng thời kỳ và xếp theo từng loại hình như: di
Trang 20tích khảo cổ học, di tích lịch sử cách mạng, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích danh lam thắng cảnh
1.1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hoá
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy định đó
Luật DSVH năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và
cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009, cụ thể như sau:
Điều 54 quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH như sau:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH;
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH;
4.Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH
Trang 21Điều 55 quy định về cơ quan quản lý nhà nước về DSVH, bao gồm:
* Nguyên tắc và phương pháp quản lý di tích lịch sử văn hóa: Trong quản
lý xã hội, dưới bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật để điều tiết đối tượng
đó và trở thành nguyên tắc bắt buộc; trong trường hợp quản lý di tích cũng không ngoại lệ, Luật DSVH ra đời các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH
đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng
và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Những nội dung quản lý trên được cụ thể hóa trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý về DTLSVH Trong đó nội dung về quản lý đối với DTLSVH rất rộng, nên trong quá trình quản
lý cần phải vận dụng và có phương pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về DTLSVH nói riêng và DSVH nói chung
1.1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý về di tích lịch sử văn hoá
1.1.2.1 Các văn bản của nhà nước
Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, trong quá trình dựng nước và giữ nước, các thế hệ trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá Việc bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa phải được coi là nội dung cần thiết mọi giai đoạn Nhìn lại hệ thống pháp luật về lĩnh vực văn hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng, chúng ta thấy nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành từ rất sớm và ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể:
Trang 22Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, dù còn nhiều công việc phải làm nhưng nhà nước Việt Nam đã quan tâm ngay đến việc gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
và nâng cao dân trí Điều đó được thể hiện bằng việc Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 65-SL ngày 23/11/1945 Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam về quản lý di sản văn hóa được ra đời chưa đầy 3 tháng sau khi đất nước giành được độc lập
Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/TTg quy định
về thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là văn bản pháp lý quan trọng của Chính phủ có giá trị thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa trong suốt hai thập kỷ chống
Mỹ cứu nước của nhân dân ta Nghị định là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý di sản văn hóa trong gần 30 năm (1957-1984)
Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, gồm 7 Chương, 74 Điều có nội dung bám sát
thực tế; trong đó, tại chương I, Điều 4, Mục 3 nêu: “Di tích lịch sử văn hóa là
các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật DSVH và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
Ngày 18/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 70/2012/NĐ-CP quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Nghị định đã nêu ra được các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động lập, phê duyệt dự án bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa Ngày 28/12/2012, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Thông tư số 18/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể
và hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Trang 23Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2010 của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khao học để xếp hạng
di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia
Ngày 30/12/2013, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Thông
tư số 17/2013/TT-BVHTTDL về việc hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch,
dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Hệ thống các văn bản pháp lý về lĩnh vực quản lý DSVH nói chung và DTLSVH nói riêng được nhà nước Việt Nam ban hành trong thời gian qua là cơ
sở pháp lý để các cấp ủy, chính quyền nhân dân các cấp; trong đó có huyện Nông Cống thực hiện công tác quản lý DTLSVH góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
1.1.2.2 Các văn bản của địa phương
* Văn bản của tỉnh Thanh Hóa
Quyết định số 2060/2013/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2013 về ban hành quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Công văn số 222/SVHTTDL-DSVH ngày 12/02/2009 của Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa về việc điều chỉnh, bổ sung hướng dẫn phân cấp công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi, tôn tạo và tu sửa cấp thiết di tích- danh thắng
Kết luận số 82-KL/TU ngày 30/5/2017 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Thanh Hóa về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Thanh hóa giai đoạn 2017-2025; Công văn số 2214/SVHTTDL-DSVH ngày 18/8/2017 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
về xây dựng kế hoạch đề xuất cơ chế, chính sách và dự toán kinh phí triển khai thực hiện kết luận số 82-KL/TU ngày 30/5/2017 của Ban Thường vụ tỉnh ủy
Thanh Hóa (Toàn văn bản xem phụ lục của luận văn)
Trang 24* Văn bản của huyện Nông Cống
Kế hoạch số 148/KH-UBND ngày 13/9/2017 của UBND huyện Nông Cống về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn huyện Nông
Cống giai đoạn 2017 - 2025 (Toàn văn bản xem phụ lục của luận văn)
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
1.2.1 Khái quát về huyện Nông Cống
1.2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa lý tự nhiên
Huyện Nông Cống có chiều dài Bắc Nam là 28,5km; có chiều rộng Đông Tây nơi hẹp nhất là 7,2km, nơi rộng nhất là 17,1km Địa giới hiện nay của huyện Nông Cống là: Phía Bắc giáp huyện Đông Sơn, huyện Triệu Sơn có chiều dài đường biên giới là 14,5km Phía Tây giáp huyện Như Thanh có chiều dài đường biên
là 31,2km Phía Nam giáp huyện Như Thanh và huyện Tỉnh Gia có chiều dài đường biên là 7,1km Phía Đông giáp huyện Tỉnh Gia và huyện Quảng Xương có chiều dài đường biên là 54,2km
* Diện tích và địa hình
Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 28.710ha, trong đó đất nông nghiệp
là 14.340ha, đất lâm nghiệp là 777ha, đất chuyên dùng 3.657ha, đất ở 1.004ha, đất chưa sử dụng 8.932ha Là một huyện đồng bằng - bán sơn địa nằm ở rìa của đồng bằng châu thổ Thanh Hóa về phía Tây Nam
* Đặc điểm tự nhiên
Nông Cống thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm ở khu vực
"Nam Thanh - Bắc Nghệ" nên thời tiết thay đổi thất thường Tuy vậy vẫn thể hiện rõ hai mùa trong năm đó là mùa khô từ tháng mười năm trước đến tháng hai năm sau (dương lịch), khí hậu khô hanh, giá rét, nhiệt độ giảm xuống 50
Trang 25Sông Hoàng nằm ở phía Bắc huyện, dài 81km, có lưu vực 336km2 bắt nguồn từ huyện Thọ Xuân, gồm hai nhánh Một nhánh chảy qua huyện Thiệu Hóa, nhánh thứ hai chảy qua huyện Triệu Sơn rồi chảy vào địa phận huyện Nông Cống; làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Nông Cống với huyện Đông Sơn, chảy qua các xã Hoàng Giang, Tế Tân, gặp sông Nhơm để cùng đổ vào sông Yên cách cửa biển 29,9km Sông Nhơm nằm giữa vùng Bắc huyện, khởi nguồn từ huyện Như Xuân chảy ven chân núi Nưa (thuộc huyện Triệu Sơn) chảy vào các xã của huyện Nông Cống Sông Chuối bắt nguồn từ huyện Như Xuân, chảy qua Như Thanh đổ vào Nông Cống qua xã Vạn Thắng, Vạn Hòa, Thị Trấn, Vạn Thiện, Minh Thọ, Minh Nghĩa, Trường minh, Trường Trung thì gặp sông Yên Nhìn chung nằm trong hệ thống sông Yên, bốn con sông trên đã góp phần tạo nên vùng đồng bằng châu thổ giàu tiềm năng để sản xuất nông nghiệp và cũng dễ gây ra úng lụt vào mùa mưa bão
Với cấu tạo tự nhiên như vậy, vùng châu thổ Nông Cống giàu tiềm năng nông nghiệp, khoáng sản và danh lam thắng cảnh Mỏ Crômit sa khoáng ở Cổ Định đây được xem là mỏ quảng Crômmit lớn nhất Đông Nam A (nay thuộc hai huyện Nông Cống và Triệu Sơn) là mỏ sa khoáng lớn được phát hiện vào năm
1923, bắt đầu khai thác vào năm 1932
1.2.1.2 Đặc điểm dân cư
* Nguồn gốc hình thành của cộng đồng dân cư Nông Cống
Thanh Hóa là một địa danh quan trọng trong việc hình thành và tụ cư của người Việt Cổ Từ đặc điểm chung như vậy nên khi căn cứ vào tài liệu khoa học của các ngành thì những năm gần đây đã phát hiện và tìm thấy trên mảnh đất Nông Cống nhiều di chỉ và hiện vật của người xưa như một số công cụ đồ đá Đối với hiện vật bằng đồng đã phát hiện 5 trống đồng có niên đại sớm và có hoa văn đặc sắc Bên cạnh đó ở cạnh chân núi Sỏi và di chỉ Thái Hòa tìm thấy hai kiếm ngắn có chuôi là tượng người phụ nữ mà các nhà khoa học cho rằng đó là thủ lĩnh được tôn vinh đứng đầu bộ lạc
Trang 26Đáng chú ý nhất trong phát hiện khảo cổ ở Nông Cống là di chỉ núi Sỏi (làng Kim Định, xã Tân Phúc) Đây là quả đồi đất đỏ rộng hàng nghìn mét vuông Tuy chưa tiến hành khai quật một cách quy mô song các nhà nghiên cứu
đã xếp di chỉ núi Sỏi vào danh sách các di tích văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa
Từ những căn cứ tài liệu của các ngành học trong việc phát hiện và tìm thấy các hiện vật và di chỉ của người xưa cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng từ xa xưa đất Nông Cống là địa bàn sinh sống của người Việt cổ
Cộng đồng dân cư dân Nông Cống buổi đầu tới dãy núi ngàn Nưa đã bám vào các sườn núi đất Nông Cống ngày nay để sản xuất nông nghiệp, khai thác hái lượm vùng rừng Nưa giàu có để sinh sống Đến thế kỷ IX - X, vùng đất Nông Cống đã yên ổn hơn các vùng đất từ Đông Sơn ra phía Bắc Đến thời Lý, Trần về sau cư dân các nơi trong tỉnh về Nông Cống lập cư ngày càng đông Do đó nhiều làng có nguồn gốc từ thời Lý, Trần còn khảo sát được trong việc thời thành hoàng làng, trong các câu đối, nhất là việc thờ cúng những người có công lập làng, mở đất Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) triều đình đã có chế độ ban lộc cho các công thần Nhiều công thần đã tìm về Nông Cống tìm đất và đem con cháu, họ hàng về Nông Cống lập làng như họ Đinh ở Đông Cao Đầu thế kỉ XX thực dân Pháp cho xây dựng các đồn điền, cho mở đường xe lửa qua Nông Cống, con đường 10 (nay là quốc lộ 45) công nhân lao động đổ về đây làm đồn điền, đào sông, làm đồng, chăn nuôi ngày một nhiều, vì thế dân cư Nông Cống đông lên một cách tự nhiên Trong hai cuộc kháng chiến chông Pháp và chống Mỹ Nông Cống trở thành địa bàn quan trọng của hậu phương Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển cư dân Nông Cống đã diễn ra một cách liên tục và mạnh mẽ
từ xa xưa cho đến những năm gần đây với chính sách định cư khai hoang của nhà nước thì dòng người đổ về Nông Cống hòa vào cuộc sống bản địa, lúc thì tự phát theo biến cố lịch sử, lúc thì tập trung tổ chức, song thời nào cũng có
Là một miền quê có bề dày lịch sử, có truyền thống yêu nước và hiếu học; nhân dân Nông Cống anh dũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng; cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, học tập; thuỷ chung; nghĩa tình trong cuộc
Trang 27sống Với lịch sử đầy biến động đó, kết hợp với sự phong phú đa dạng về đời sống tinh thần của nhân dân Nông Cống, đã tạo nên nơi đây những công trình kiến trúc như đình, đền, chùa, nhà thờ họ Để tưởng nhớ tới các vị anh hùng dân tộc, những khai quốc công thần, những người có công với quê hương, đất nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tâm linh của nhân dân trong huyện cũng như du khách thập phương
* Giao thông
Người Nông Cống ngày xưa đi lại chủ yếu bằng đường thủy trên sông Thị Long, sông Hoàng, sông Nhơm và sông Yên Đường thủy ở Nông Cống nối liền giữa miền ngược và miền xuôi trong tỉnh và ngoài tỉnh Hiện nay hệ thống giao thông bộ gồm có quốc lộ 45 và các tỉnh lộ 505, 506, 525, 512 Cùng với hệ thống đường liên huyện Nông Cống Hiện nay đường liên xã, liên thôn đang được mở rộng Đường sắt xuyên Việt qua Nông Cống Chính những yếu tố trên tạo cho Nông Cống có hệ thống giao thông đa dạng tạo mọi điều kiện cho sự giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá giữa các vùng miền
* Danh lam thắng cảnh
Nói đến Na Sơn du khách gần xa đều nghĩ đến huyện Nông Cống Thiên nhiên chứa sẵn nét hữu tình, con người chiêm ngưỡng khai thác và tô điểm khiến cho thiên nhiên trở thành danh lam thắng cảnh Những đặc điểm riêng ấy,
có lẽ là ở Nông Cống danh sơn bao giờ cũng gắn liền với thắng cảnh mang đậm nét quê hương Cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của con người chứ không phải là cảnh đẹp thiên nhiên thuần túy Từ những yếu tố đất đai, sông ngòi, đồi núi, thời tiết, khí hậu, danh lam thắng cảnh kết hợp với nhau đã tạo điều kiện cho Nông Cống trở thành một vùng quê giàu tiềm năng kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ Cư dân Nông Cống trong lịch sử đã liên tục và không ngừng cải tạo tự nhiên, khai thác tiềm năng thiên nhiên từng bước làm biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội Tuy nhiên điều kiện tự nhiên cũng gây tác động không nhỏ đến đời sống của nhân
Trang 28dân như lũ lụt, hạn hán, sự phức tạp về mặt địa hình Song thuận lợi và khó khăn, thì với việc phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn cộng với tinh thần cần cù lao động và sáng tạo của người dân nơi đây sẽ góp phần đưa quê hương Nông Cống ngày một đi lên trở thành một vùng châu thổ giàu mạnh, năng động phát triển trên nhiều mặt của đời sống phát triển kinh tế, giữ vững chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng và an sinh xã hội cho quê hương Nông Cống, tỉnh Thanh
1.2.2 Khái quát về hệ thống di tích ở huyện Nông Cống
1.2.2.1 Số lượng di tích
Theo số liệu thống kê của Phòng VH&TT huyện Nông Cống, tính đến tháng 8 năm 2017, toàn huyện có 78 di tích bao gồm 24 di tích đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng và 54 di tích đã được đưa vào danh mục kiểm kê nhưng chưa xếp hạng, với các loại hình đa dạng gồm: Loại hình di tích khảo cổ; loại hình di tích lịch sử; loại hình di tích kiến trức nghệ thuật và danh lam thắng cảnh Trên địa bàn huyện, tập trung chủ yếu có ba loại hình di tích Nếu xem xét đến các di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh và các di tích chưa được xếp hạng thì ở huyện Nông Cống có ba loại hình di tích: Loại hình di tích khảo
cổ chiếm 3% trên tổng số di tích; loại hình di tích lịch sủ chiếm 5% trên tổng số
di tích; loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 92% trên tổng số di tích của
huyện (Xem biểu đồ 1.1 trang 26):
Loại hình di tích lịch sử chủ yếu là các di tích lịch sử gắn với sự kiện lịch
sử, các di tích lưu niệm danh nhân Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm như: Đình, chùa, đền, nhà thờ họ, lăng mộ, nhà cổ vv… Trong số 24 di tích
đã được xếp hạng trong đó: (02 di tích xếp hạng cấp quốc gia đó là: Đền thờ Vũ
Uy làng Ngọc Uyên, xã Tân Phúc; Đền thờ Lê Hiểm - Lê Hiệu, xã Tân Phúc, huyện Nông Cống)
Hệ thống DTLSVH ở huyện Nông Cống phân bố tương đối đồng đều khắp trên 31 xã và 01 thị trấn bao quanh hai nhóm di tích đã được xếp hạng và chưa được xếp hạng
Trang 29Bảng 1.1 Danh mục phân bổ di tích lịch sử văn hóa đã đƣợc xếp hạng tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
(Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin, tháng 11 năm 2017)
Như vậy, theo số liệu thống kê cho đến nay, xã Trung Thành và Trung Chính là hai xã có số lượng di tích đã được xếp hạng nhiều nhất là: 03 di tích di tích Số di tích được xếp hạng DTLSVH quốc gia nhiều nhất là xã Tân Phúc với
02 di tích Có 16/32 xã, thị trấn trên địa bàn huyện có di tích đã được xếp hạng chiếm 50% số xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nông Cống
Trang 301.2.2.2 Loại hình di tích
Mỗi di tích chứa đựng một nội dung lịch sử, một giá trị văn hoá, một lượng thông tin riêng biệt khác nhau Bởi vậy, di tích cần phải được phân loại để xác định tên gọi đúng với nội dung, đặc điểm thì mới có thể tiến hành hoạt động bảo vệ, sử dụng, phát huy giá trị của di tích một cách hiệu quả Căn cứ Điều 28
Luật DSVH và Điều 13, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, các di tích được phân loại như sau:
1 Di tích khảo cổ
2 Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân)
3 Di tích kiến trúc nghệ thuật
4 Di tích Danh lam thắng cảnh
Trên cơ sở tiêu chí quy định trong Luật Di sản văn hóa và kết quả thống
kê di tích trên địa bàn huyện Nông Cống của Phòng VH&TT huyện tính đến thời điểm tháng 8 năm 2017 các di tích ở huyện Nông Cống được phân chia 03 loại hình cho tổng số 24 di tích đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng và 54 di tích đã đưa vào danh mục kiểm kê nhưng chưa được cấp có thẩm quyền xếp hạng Tuy nhiên trong danh mục 54 di tích chưa được xếp hạng, các cơ quan quản lý có trách nhiệm thực hiện chế độ kiểm kê, tiến tới lựa chọn lập hồ sơ khoa học xếp hạng cho các di tích có đủ điều kiện/tiêu chí để xếp hạng ở các cấp tương đương
để tiến tới bảo vệ tích cực
Số lƣợng loại hình di tích chƣa đƣợc xếp hạng
Tổng số
di tích từng loại hình
Tỷ
lệ (%)
Trang 31Biểu đồ 1.1 Biểu đồ % các loại hình di tích đã đƣợc xếp hạng và chƣa đƣợc
xếp hạng trên địa bàn huyện Nông Cống
* Loại hình di tích khảo cổ
Cho đến nay huyện Nông Cống chưa có di tích khảo cổ được xếp hạng, trên thực tế xét về loại hình và giá trị cơ quan quản lý di tích cần quan tâm đến loại hình di tích đặc thù này Theo nghiên cứu các tư liệu khảo cổ cũng như các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy huyện Nông Cống là địa bàn cư trú của người Việt cổ từ khá sớm, điều đó được minh chứng qua các di chỉ khảo cổ đã phát hiện trên mảnh đất Nông Cống Tính đến nay, trên địa bàn huyện các nhà khảo
cổ học xác định được 02 di chỉ khảo cổ học: Di chỉ núi Sỏi, xã Tân Phúc (khai quật năm 2005) được đoán định cách đây khoảng 3.100 năm, người Việt cổ đã
cư ngụ liên tục trên mảnh đất này Qua quá trình khai quật đã tìm thấy nhiều di vật, cổ vật như bát, đĩa, rìu đá; địa điểm phát hiện trống đồng và các mũi tên, giáo mác bằng đồng tại chân núi Nưa thuộc làng Đông Yên, xã Trung Thành, huyện Nông Cống Hiện nay trống đồng đang được đặt tại phòng tuyền thống của UBND huyện Nông Cống Trong tương lai có thể xếp hạng di tích khảo cổ khi có đầy đủ hồ sơ khoa học vì đây là một trong những loại hình cần được quan
tâm bảo tồn
Ngoài ra, về phương diện khảo cổ chúng ta cũng cần chú ý đến các di tích hiện diện trên núi Sỏi di chỉ khảo cổ Đây là những di tích được xác định có niên đại sớm, nhưng do những yếu tố tác động của tự nhiên và xã hội các di tích đã bị chôn vùi sâu dưới nhiều địa tầng đất, cát Do tính chất khai quật hướng tới bảo
Trang 32tồn tại chỗ nên khai quật chỉ lấy lên những hiện vật, các dấu tích nền móng được giữ lại hố khai quật Hiện nay, các di tích gắn với di chỉ khảo cổ học chiếm số lượng rất ít và ít được quan tâm hoặc do thiếu nguồn kinh phí nên việc bảo tồn
và phát huy giá trị di tích khảo cổ học trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều khó khăn, các di tích khảo cổ học vẫn đối mặt với nguy cơ bị “xóa sổ”
* Loại hình di tích lịch sử
Với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa Đồng thời, nơi đây còn ghi giấu lại nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương Đó là những địa chỉ gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng như:
- Chùa Vĩnh Thái Trong thời kỳ vận động cách mạng (1930 - 1945) là nơi đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), đồng Chí Tố Hữu và các đồng chí lão thành cách mạng có thời gian đã hoạt động tại nơi này Ngày 14/11/1997 đồng
chí Nguyễn Văn Linh đã có thư gửi cho đồng chí Hoàng Lê như sau: Năm 1939,
tôi được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ phân công về miền Trung xây dựng lại xứ ủy Trung kỳ Trong thời gian nầy từ năm 1939 đến 1941 tôi hoạt động ở hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, gặp gỡ và làm việc với các đồng chí ở Thanh Hóa Chùa Vĩnh Thái đúng là nơi liên lạc của các đồng chí cách mạng ở đại phương lúc bấy giờ Đến năm 1941 thì tôi bị bắt và đày ra Côn Đảo lần thứ hai (Tư liệu Nguyễn Văn Linh - Cố Vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam)
- Di tích lịch sử cách mạng nơi thành lập Đảng bộ đầu tiên huyện Nông Cống Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thanh Hóa Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở huyện Nông Cống được thành xã Trung Chính, huyện Nông Cống để lãnh đạo phong trào cách mạng trên địa bàn huyện ngày 18/2/1946 Chi bộ Đảng đầu tiên – Đảng bộ huyện Nông Cống được thành lập để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trên địa bàn huyện Nông Cống Di tích lịch sử cách mạng đã được xếp hạng cấp tỉnh
- Di tích lịch sử cách mạng Lều vịt tại làng Thổ Vị, xã Tế Thắng Sự kiện, nhân vật, đặc điểm lịch sử của di tích Lều vịt Để che mắt bọn mật thám và thực dân, phong kiến các đồng chí cách mạng lão thành của huyện Nông Cống đã chọn Lều Vịt ở cánh đồng làng Thổ Vị, xã Tế Thắng làm địa điểm liên lạc và nhóm họp
Trang 33để lãnh đạo phong trào cách mạng trên địa bàn huyện giai đoạn (1940-1945) Hiện nay UBND huyện Nông Cống đã có văn bản số 638/UBND-VHTT ngày 17 tháng 5 năm 2017 của Chủ tịch UBND huyện Nông Cống về việc đăng ký, đề nghị xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh
- Di tích thanh niên xung phong ngã ba Chuồng, xã Công Chính, huyện
Nông Cống: Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đây là nơi tập kết lương thực, đạn dược, vũ khí để vận chuyển theo đường Nam tiến (tỉnh lộ 505) và đường sông để vận chuyển vào miền nam phục vụ cho chiến trường
* Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
Loại hình này bao gồm các công trình tín ngưỡng tôn giáo, kiến trúc đình, đền, chùa mang nhiều giá trị và những nét đặc sắc của một vùng quê Trong những năm gần đây, du khách trong và ngoài nước biết đến truyền thống văn hoá huyện Nông Cống thông qua việc quảng bá tuyên truyền Tiêu biểu như đền thờ
Vũ Uy, đền thờ Bà Triệu, đền thờ Lê Hiểm - Lê Hiêu, đình làng Xa lý, Đình làng
Vũ Yên Nghệ thuật chạm nổi, chạm kênh bong kết hợp đường nét chạm điêu luyện, tinh tế, sắc sảo có giá trị nghệ thuật cao
1.2.3 Hiện trạng, trình trạng, kỹ thuật của các di tích
Trải qua thời gian tồn tại hàng nghìn năm các di tích lịch sử văn hoá do mưa nắng, bão lụt, là những di tích lộ thiên nên khó tránh khỏi sự xuống cấp Thêm vào đó nhân dân ta phải đối mặt với hai cuộc kháng chiến ác liệt chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ nên không có thời gian chăm lo bảo vệ, chiến tranh tàn phá cũng làm cho các di tích hư hỏng nhiều, ngày nay cùng với
sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xuất hiện những nhu cầu hiện đại hoá, các giá trị văn hoá truyền thống đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, với tốc độ
đô thị hoá, kinh tế, giao thông đã ảnh hưởng tới các di tích Là một di tích lịch sử văn hoá quốc gia, đền Vũ Uy là ngôi đền thờ vị anh hùng dân tộc có công với nước, nhưng hiện nay qua thực tế đền đã cho thấy quy mô công trình còn lại rất nhỏ bé, do thời tiết nên một số hạng mục công trình làm bằng chất liệu gỗ đã bị mục mại, xuống cấp
Trang 34Cũng như đền Vũ Uy, đền Lê Hiểm - Lê Hiêu cũng là một di tích lịch sử văn hoá quốc gia đã được trùng tu tôn tạo, với sự đóng góp của dòng tộc Nhưng sự đầu
tư tôn tạo chưa nhiều trong khi đó những tác động của thời gian nơi đây vẫn đang hiện hữu như: ngói trên nóc bị vỡ, các vì kèo bị mọt, tường rào xung quanh chưa xây dựng lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại của di tích
Khu di tích chùa Vĩnh Thái, cũng nằm trong những nguyên nhân chung đó
là do thời gian chiến tranh lâu dài, đặc biệt năm 1946 do chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Đảng và Nhà nước thì ngôi chùa đã bị phá, sau đó đã được khôi phục lại Năm 2011 Chùa Vĩnh Thái đã được nhân dân địa phương, các nhà hảo tâm và nhà nước hỗ trợ Chùa đã xây thêm cung Tam Bảo để bài trí các tượng Phật trong chùa, cổng tam quan, tường rào, nhà sắm lễ Hiện nay chùa Vĩnh Thái
đã trở thành điểm du lịch và thu hút khách thập phương cũng như nhân dân của huyện Nông Cống
Đối với đình làng Xa Lý đây là một ngôi đình cổ nhất có niên đại từ thế
kỷ thứ XVIII ở huyện Nông Cống, tuy nhìn tổng thể đình làng Xa Lý vẫn còn nguyên vẹn, nhưng hai tàu mái cong đã có hiện tượng sụp, nhiều viên ngói đã bị
hư chưa thay, một số nét điêu khắc trong đình làm bằng gỗ đã bị hỏng Chính điều đó nó đã trở thành mối quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân và các ngành, các cấp trong việc trùng tu, tôn tạo để giữ gìn nét văn hoá - lịch sử cổ xưa này Qua kết quả khảo sát hiện trạng hệ thống DTLSVH có thể phân loại tình trạng di tích ở huyện Nông Cống theo 03 mức độ khác nhau:
Nhóm 1: Loại di tích là phế tích: Chủ yếu là các di tích chỉ còn lại nền
móng công trình hay các công trình đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn khai quật được một số hiện vật Phần phế tích này là nền móng và các hiện vật được khai quật xung quanh nền móng cũ của di tích Như vậy trên thực tế, cần phải tìm các giải pháp cho việc áp dụng công tác bảo tồn, phát huy phù hợp với chất đặc thù khác của loại hình di tích này, cụ thể một số di tích như: Đình làng Ngọc Chẫm,
xã Thăng Long; Chùa phật học làng Nhân Thọ, xã Trung Ý; Chùa Tuy Yên, xã Công Liêm; Nghè Đức ông, xã Công Bình vv
Trang 35Nhóm 2: Loại di tích xuống cấp: Với số lượng di tích ở Nông Cống đa
dạng, phong phú về niên đại và chất liệu xây dựng như gạch, gỗ, đá… Những tác động của yếu tố của tự nhiên có những ảnh hưởng không nhỏ đến cấu kiện kiến trúc và các vật liệu kiến trúc, nhất là các chất liệu gỗ Các cấu kiện kiến trúc tuy vẫn đảm bảo được công năng chịu tải của công trình nên cần có phương án trùng
tu, tu bổ chống xuống cấp kịp thời Loại di tích này chiếm số lượng lớn khoảng 65% tổng di tích đã được xếp hạng đó là: Đền Bà Triệu, xã Trung Thành; Đền thờ Lê Đình, xã Trung Ý; Đền thờ Lê Công, xã Trung Ý; Đền thờ Đỗ Bí, xã Minh Nghĩa; Đền Mưng, xã Trung Thành vv
Nhóm 3: Loại di tích hiện đang trong tình trạng tốt: Hầu hết các di tích
còn tốt là di tích mới được tu bổ là có niên đại mới, tôn tạo Các loại di tích trong
nhóm này (chiếm khoảng 35% tổng số di tích) chủ yếu có niên đại vào khoảng
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và những di tích đã được tu bổ gần đây Vì vậy những di tích này về cơ bản còn giữ nguyên được yếu tố gốc từ khi xây dựng Một số di tích có dấu hiệu bị nấm mốc xâm hại, nhân dân địa phương cũng đã có những phương án bảo quản hợp lý để tránh xuống cấp, bảo vệ tuổi thọ cho công trình như là: Đình làng Đông Cao, xã Trung Chính; Đình làng Vũ Yên làng Vũ Yên, thị trấn Nông Cống; Đình làng và Bia ký làng Bi Kiều, xã Trung Chính; Đền
Bà Triệu làng Đông Yên, xã Trung Thành
1.2.4 Tình trạng sở hữu di tích
Qua quá trình khảo sát thực tế cho thấy huyện Nông Cống có hai hình thức sở hữu di tích
Di tích thuộc quyền sở hữu tập thể cộng đồng: Đây là những di tích chiếm số
lượng lớn Đó là những công trình của làng, xã do tập thể đóng góp xây dựng như đình, đền, chùa hoặc có thể là một cá nhân đứng ra hưng công xây dựng nhưng vẫn
có sự đóng góp của làng ở góc độ này hay góc độ khác Trong phạm vi góc độ làng cũng chia ra thành sở hữu của các nhóm nhỏ như cộng đồng dòng họ với nhà thờ họ như là: Đền thờ Vũ Uy, xã Tân Phúc; Đền thờ Lê Hiểm - Lê Hiêu, xã Tân Phúc;
Trang 36Đền Tam Giang, xã Tế Tân; Đình Phú Đa Hậu, xã Tượng Văn; Đền thờ Nguyễn Bá Thiệu, xã Trường Sơn, huyện Nông Cống
Di tích thuộc quyền sở hữu tư nhân: Hình thức này chiếm số lượng không
nhiều chủ yếu là kiến trúc nhà ở đang được sử dụng nhiều di tích nhà thờ họ gắn với công trình dân dụng về danh nghĩa thuộc về những dòng họ, nhà thờ họ nhưng thực chất quyền sở hữu đang đứng tên cá nhân các trưởng dòng họ Các công trình kiến trúc dân gian (nhà cổ), nhà thờ họ đang được cơ quan quản lý di tích lập phiếu kiểm kê, để có kế hoạch nên phương án bảo vệ như là: Nhà thờ dòng họ Lê Viết, xã Thăng Long; Từ đường và lăng mộ họ Bùi Hữu, xã Thăng Thọ; Đền thờ Ngô Xuân Quỳnh, xã Trường Giang; Nhà cổ, xã Công Chính; Nhà thờ họ Nguyễn Đình, xã Tân Thọ; Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Phương, xã Trường Sơn, huyện Nông Cống
1.2.5 Giá trị của hệ thống di tích
1.2.5.1 Giá trị lịch sử
Những di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá được xây dựng và tồn tại lâu dài trải qua biết bao biến động thăng trầm của lịch sử, tồn tại cho đến ngày hôm nay là các di chỉ khảo cổ, các nhân vật lịch sử có công với triều đại, những sự kiện lịch sử cách mạng, gắn liền với một thời gian nhất định Điều này nó cũng thể hiện mối quan hệ giữa tôn giáo ngoại nhập với tín ngưỡng bản địa của dân tộc như tín ngưỡng tổ tiên, thờ anh hùng dân tộc, thờ Thành hoàng làng Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của huyện Nông Cống đã được xếp hạng quốc gia như đền thờ Vũ Uy, đền thờ Lê Hiểm, Lê Hiêu là minh chứng cho điều đó Từ những đóng góp quan trọng của các khai quốc công thần như: Vũ Uy, Đỗ Bí, Đinh Liệt, Đinh Lễ trong lịch sử chống giặc ngoại xâm mà nhân dân địa phương đã tưởng nhớ, lập đền thờ để hương khói, thờ phụng Khắc ghi công lao to lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo góp phần vào việc đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc Cũng từ những công lao to lơn Lê Hiểm - Lê Hiêu đã đóng góp cho triều Lê Trung Hưng thế kỷ XVI, sau khi mất được nhân dân địa phương lập đền thờ để thờ phụng
Trang 37Từ truyền thống hiếu học của quê hương một dòng họ mà ba cha con ông cháu đề thi đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Trung Hưng đó là: Lê Nghĩa Trạch, Lê Sỹ Triệt và Lê Sỹ Cẩn Khi mất đã được con cháu trong dòng họ lập đền thờ (Đền thờ ba đời tiến sĩ) để thờ cúng Họ sẽ sống mãi trong lịch sử dân tộc và được ghi danh mãi mãi với câu thơ:
"Tiến sĩ ba đời lừng đất Việt Công hầu một họ ánh trời Nam"
Sự tồn tại của ngôi chùa Vĩnh Thái cho chúng ta hiểu một phần nào đó về tình hình Phật giáo ở nước ta lúc bấy giờ, tuy không còn là vị trí chính thống nhưng vẫn là chỗ dựa tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đáp ứng đời sống tâm linh của con người Chính ngôi chùa sau này còn là cơ sở hoạt động của các chiến sĩ cách mạng như đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tố Hữu Vì thế nên gọi là di tích lịch sử cách mạng chùa Vĩnh Thái
Việc tôn thờ các danh tướng Tây Sơn làm thành hoàng, nhân dân làng nơi đây luôn mong muốn cuốc sống của họ được yên bình, an lành Họ đã gửi gắm niềm tin vào các nhân vật mà họ coi là phúc thần Đây là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa làng, xã nông thôn Việt Nam
Có thể nói rằng Nông Cống là mảnh đất đã sản sinh ra những công thần có vai trò quan trọng sự nghiệp xây dựng các triều đại phong kiến Việt Nam Từ đó với những công trình kiến trúc như đền, đình, chùa ta cũng phần nào thấy được sự phong phú và đa dạng về đời sống tinh thần của cư dân Nông Cống, tuy đời sống kinh tế đang còn gặp nhiều khó khăn, nhưng con người Nông Cống vẫn giữ được nét văn hóa và bản sắc dân tộc Đồng thời mọi thời đại con người Nông Cống vẫn không quên những anh hùng trong lịch sử đã chiến đấu và hy sinh cho mảnh đất này được yên bình Các thế hệ hôm qua, ngày nay và mãi mãi về sau luôn thành kính tôn thờ những anh hùng, thành hoàng làng có công với nước với dân với dòng tộc
quê hương
1.2.5.2 Giá trị văn hoá
Đi cùng với quá trình hình thành và phát triển của đất nước, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, những người có công, những
Trang 38vị thần Thành hoàng làng đã ăn sâu trong tâm thức của người dân Việt Nam Nhân dân ta có truyền thống tôn vinh và tưởng nhớ những người có công trong lịch sử dân tộc Thể hiện điều đó thì họ đã lập các đền, đình, nhà thờ họ, sự ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng đã xây dựng cơ sở tôn giáo tín ngưỡng chùa để làm nơi thờ các vị thần, Phật
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu đền thờ Vũ Uy, đền thờ Lê Hiểm, Lê Hiêu, Đền thờ ba đời Tiến sĩ, chùa Vĩnh Thái, đình làng Xa Lý, đền Mưng, đền Tam Giang, đền Bà Triệu có những giá trị văn hóa, đây là những di sản văn hóa vật thể đã được xếp hạng cấp tỉnh và cấp quốc gia Nó là niềm tự hào và trân trọng của nhân dân Nông Cống với những công lao to lớn của các bậc tiền nhân, các anh hùng dân tộc, các khai Quốc Công thần, của các thành hoàng có công với làng, xã
Vào những dịp lễ hội ở đình, đền, chùa, nhân dân các làng (hội đình Xa Lý), nhân dân cả huyện và du khách thập phương (lễ hội chùa Vĩnh Thái) lại tụ họp lại vừa mang ý nghĩa là tưởng niệm công lao của các vị thần, các công thần, những trò chơi dân gian đền này vẫn được tổ chức vào các dịp lễ hội Đây là một nét đẹp văn hóa có tính bản sắc cảu cộng đồng của nhân dân địa phương, là những di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn để truyền lại cho thế hệ sau khi
mà trong nền kinh tế đất nước phát triển theo hướng hiện đại thì những nét đẹp văn hoá truyền thống này cần được bảo tồn và phát huy
* Giá trị về văn hóa vật thể
Các công trình kiến trúc Đình, Chùa, Đền có giá trị văn hóa vật thể là những di tích còn lại trên địa bàn huyện Nông Cống đến nay bao gồm nhiều loại hình, di tích khảo cổ học Núi Sỏi thời kỳ Đông Sơn đến di tích lịch sử cách mạng nơi thành lập Đảng bộ huyện Nông Cống (18/2/1946) đó là những công trình xây dựng, công trình kiến trúc, những di vật, cổ vật là những sản phẩm vật chất có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử, khoa học Thông qua các công trình, hiện vật lịch sử để lại đã phản ánh quá trình phát triển của một giai đoạn lịch sử, hoặc
Trang 39những chiến tích ghi lại truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, nhân dân ta Tiêu biểu như thông qua Trống đồng, Rừu đồng, mũi tên, giáo mác tại di tích Núi Sỏi (xã Tân Phúc), di tích khảo cổ học chân núi Nưa, có giá trị về văn hóa, lịch sử và khoa học Thông qua các hiện vật để khẳng định công nghệ đúc đồng của cư dân nơi đây rất phát triển, đồng thời khẳng định núi Nưa là nơi nghĩa quân Bà Triệu dựng cờ khởi nghĩa thế kỷ thứ III sau công nguyên (năm 248) Điều đó còn được thông qua các sắc phong, bia ký, gia phả, đồ thờ tại các
di tích xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh
* Giá trị về văn hóa phi vật thể
Các di tích trên địa bàn huyện Nông Cống không chỉ có những giá trị về văn hóa vật thể, mà còn có giá trị rất lớn về mặt phi vật thể đó là những hoạt động lễ hội, những làn điệu chèo, những diễn xướng dân gian trong hoạt động lễ hội, có giá trí về mặt văn hóa, lịch sử và khoa học và đặc biệt với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nông Cống và du khách thập phương quan tâm đến nét văn hóa quê hương Nói đến giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Nông Cống đầu tiên phải nói đến giá trị của Lễ hội Đền Mưng thông qua lễ hội chèo thờ (Lễ hội đua thuyền) từ mùng 2 đến mùng 4 tháng giêng trên sông Lãng giang phản ánh sinh hoạt sông nước của cư dân nông nghiệp xa xưa và giao thông đường thủy và các trận đánh của cha ông Đó còn là lễ hội hát chèo, diễn xướng trên sân đền trong lễ hội, và chèo nước theo lễ nghi truyền thống từ đền Mưng xuống đền Tam Giang (ngã ba Sông) từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhằm ghi nhớ công ơn của Đức Thánh Lưỡng, người đã có công lãnh đạo nhân dân trong vùng chống lại ách đô hộ của nhà Đường đầu thế kỷ thứ VII (616-618) Giá trị về văn hóa phi vật thể còn được thể hiện trong nội dung các bài tế tại các lễ hội truyền thống tại các di tích Loại hình văn hóa phi vật thể
có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc và giáo dục truyền thống quê hương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
Trang 401.2.6 Vai trò của hệ thống di tích trong phát triển kinh tế và đời sống văn hóa xã hội
1.2.6.1 Di tích LSVH trong sự phát triển kinh tế
Nông Cống ở vào vị trí thuận lợi, nơi có quốc lộ 45 đi qua, có con sông Yên
là một trong 4 hệ thống sông chính của tỉnh chảy qua, có đường sắt Bắc - Nam chạy qua Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế du lịch của huyện nhà hiện tại
và trong tương lai Là vùng bán sơn địa, Nông Cống hội tụ đầy đủ các yếu tố như núi, sông, ao hồ, ruộng đồng Xen những cánh đồng là những tụ điểm dân cư làng xóm, nơi đây ngoài những ngôi nhà thì vẫn thấp thoáng đâu đó trong mỗi làng những ngôi đình, đền, chùa tất cả đã tạo nên không gian văn hóa đa dạng Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay thì việc tìm về cội nguồn, tìm về những nét đẹp văn hóa truyền thống, nhu cầu tâm linh lại được khôi phục trở lại, nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người ngày một nâng cao Vì đây các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Cống đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút du khách tham quan, phát triển tiềm năng kinh tế và du lịch của huyện Để có đời sống phát triển như ngày hôm nay, ông cha ta đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu, công sức cho mảnh đất này Để tưởng nhớ công lao của các vị anh hùng, thành hoàng làng thì hàng năm đến dịp lễ tết nhân dân địa phương đều đến những di tích văn hoá - lịch
sử để thắp nén hương tưởng nhớ công ơn đánh giặc giúp nước của các vị anh hùng trong lịch sử dân tộc
Hoạt động kinh tế du lịch của các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Nông Cống đang còn mức độ tiềm năng, chưa khai thác đúng khả năng của nó Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, cộng với những chính sách của các cấp chính quyền thì trong tương lai không xa, tiềm năng du lịch của các
di tích lịch sử - văn hóa huyện Nông Cống sẽ được phát huy, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của huyện
1.2.6.2 Di tích LSVH trong sự phát triển văn hóa, xã hội
Đi cùng với quá trình hình thành và phát triển của đất nước, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, những người có công, những
vị thần Thành hoàng làng đã ăn sâu trong tâm thức của người dân Việt Nam Đôi