4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tình hình quản lý di tích từ năm 2010 đến nay. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tình hình quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa MácLê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý DSVH và di tích LSVH để làm cơ sở đánh giá các vấn đề trong quá trình nghiên cứu. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành sử học, khảo cổ học, văn hóa học, xã hội học, quản lý văn hoá. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, so sánh được áp dụng trong quá trình triển khai đề tài. Phương pháp khảo sát điền dã: Tiếp cận địa bàn, quan sát, tìm hiểu công tác quản lý di tích tại địa bàn, chụp ảnh thực trạng tại các di tích ở huyện Thường Tín. Phương pháp phỏng vấn sâu: Áp dụng với các nhà quản lý thuộc lĩnh vực văn hóa và quản lý DSVH; phỏng vấn cộng đồng. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6.1. Về mặt khoa học Luận văn cung cấp một cái nhìn bao quát về thực trạng công tác quản lý di tích LSVH ở huyện Thường Tín; đồng thời cùng những tư liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú nguồn tài liệu tham khảo và nội dung nghiên cứu chuyên ngành quản lý văn hoá. 6.2. Về mặt thực tiễn Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và quản lý, luận văn góp phần hoàn thiện bằng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích ở huyện Thường Tín, làm cơ sở phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch huyện trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
********
NGUYỄN THỊ THU HIÊN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức Những nội dung luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN 17
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 17
1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm 17
1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 21
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa 22
1.2.1 Các văn bản của Trung ương 22
1.2.2 Các văn bản của thành phố Hà Nội 25
1.3 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hoá ở Thường Tín 28
1.3.1 Khái quát về huyện Thường Tín 28
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín 32
Tiểu kết 46
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN 47
2.1 Cơ cấu, chức năng của hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Thường Tín 47
2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội 47
2.1.2 Phòng văn hóa thông tin huyện Thường Tín 49
2.1.3 Ban quản lý di tích cơ sở 51
2.1.4 Cơ chế quản lý di tích lịch sử văn hóa 53
2.2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín 56
2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 56
2.2.2 Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa 59
2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 62
Trang 42.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý di tích lịch sử
văn hóa 73
2.2.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 74
2.2.6 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo việc chấp hành pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 78
2.3 Đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín 80
2.3.1 Ưu điểm 80
2.3.2 Hạn chế 82
2.3.3 Nguyên nhân 84
Tiểu kết 85
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN 87
3.1 Phương hướng và nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín 87
3.1.1 Phương hướng 87
3.1.2 Nhiệm vụ 89
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín 92
3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 92
3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức và hoàn thiện bộ máy quản lý 97
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước 98
3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường thực hiện công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa 106
3.3 Khuyến nghị với các cơ quan chức năng cấp trên 114
3.3.1 Khuyến nghị đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội 114
3.3.2 Khuyến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 115
Tiểu kết 115
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 126
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Danh mục phân bố di tích tại các xã/thị trấn ở
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý di tích lịch sử văn
hóa ở huyện Thường Tín
47
Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng di tích kiểm kê tại các xã/ thị
trấn ở huyện Thường Tín
63
Bảng 2.2: Biểu thống kê những di tích được đầu tư tu bổ, tôn
tạo từ 2010-2017 ở huyện Thường Tín
68
Trang 71.2 Thường Tín là một huyện thuộc thành phố Hà Nội không những là một vùng đất cổ mà còn là vùng quê giàu truyền thống cách mạng Nền văn hóa ấy đã “gạn đục, khơi trong” tạo dựng nên những giá trị văn hóa truyền thống Di tích ở huyện Thường Tín có số lượng lớn và phong phú, đa dạng
về loại hình, các di tích đều chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; được phân bố ở 28 xã, 01 thị trấn Qua thực tế nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số đặc trưng tiêu biểu trong hệ thống di tích ở Thường Tín như: Về số lượng, theo số liệu kiểm kê năm 2015, toàn huyện có 440 di tích
là sự đa dạng về loại hình cũng như niên đại kiến trúc Các di tích có niên
đại khởi dựng sớm như chùa Đậu (thế kỷ XIV) được phong là “Đệ nhất đại
danh lam”, đình Nghiêm Xá (năm 1677), đình Ninh Xá (năm 1652), đình
Vĩnh Lộc (thời Hậu Lê)… Không những đa dạng về loại hình và niên đại, hệ thống di tích ở huyện Thường Tín còn phong phú về chất liệu xây dựng như
Trang 8gỗ, tre, gạch và chất liệu đá Nhìn chung, huyện Thường Tín có mật độ di tích dày đặc, với sự phong phú, hấp dẫn của những thông điệp mà các di tích đem lại tạo nên thành quả to lớn bao đời hun đúc, xây dựng cần phải được bảo tồn và phát huy
1.3 Trong thời gian qua, công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín
đã được các cấp, các ngành quan tâm và đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc do những tác động chủ quan và khách quan: Trải qua thời gian, nhiều di tích xuống cấp, tình trạng tự ý tu bổ còn diễn ra, hầu hết các di tích trên địa bàn huyện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sự phân cấp quản
lý DT còn nhiều bất cập và chồng chéo chưa phù hợp trong điều kiện hiện nay… Vì vậy cần nghiên cứu, xây dựng mô hình phù hợp, những giải pháp mới nhằm khắc phục nhược điểm trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch của huyện trong thời gian tới là hết sức cần thiết
Là một cán bộ công tác trong ngành Văn hoá, xác định và hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý DSVH dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay Được sự đồng ý của trường Đại học Văn hóa Hà Nội học viên thực hiện
đề tài: “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội” làm Luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành Quản lý văn hoá, khóa
2015 - 2017
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thường Tín là một huyện có lịch sử lâu đời, một nền văn hóa đa dạng Chính
vì vậy, từ xa xưa đã có nhiều học giả nghiên cứu, tìm hiểu về vùng đất cổ Thường Tín, từ đó giới thiệu về những nét văn hóa truyền thống, cũng như giới thiệu hệ thống di tích ở huyện Thường Tín Có thể phân chia các công trình nghiên cứu theo các hướng sau:
Trang 92.1 Những công trình nghiên cứu viết về địa bàn nghiên cứu và hệ thống di tích ở huyện Thường Tín
* Sách
Lịch triều hiến chương loại chí do Phan Huy Chú soạn đã khảo về địa lý
Thường Tín rằng: “Phủ Thường Tín ở phía bắc Sơn Nam, địa giới gần trung
đô, các huyện đều men theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không có rừng núi ngăn cản Duy có dòng sông Tô Lịch quanh vòng trong hạt…Thượng Phúc thịnh hơn” [15] Đại Nam nhất thống chí (quyển XIII) có chép: “Huyện Thượng Phúc, đông tây cách nhau 20 dặm” (huyện Thượng Phúc xưa gần như
nằm trọn trong huyện Thường Tín ngày nay) [25] Di tích Hà Tây giới thiệu về di
tích cách mạng kháng chiến, những di tích quan trọng và hệ thống các di tích tiêu biểu ở tỉnh Hà Tây (cũ), trong đó huyện Thường Tín có 24 di tích bao gồm chùa Đậu, đình An Lãng, đền An Lãng, đình Cống Xuyên, đình Chương Dương, đình Đống Chanh, chùa Đống Chanh, đình Hướng Dương, chùa Hướng Dương, đình Khoái Cầu, chùa Khoái Cầu, đình Nghiêm Xá, nhà thờ Nguyễn Trãi, đình Ninh Xá, đền Ninh Xá, chùa Ninh Xá, đình Phú Mỹ, đình Thượng Cung, đình Thụy Ứng, Đình Hạ và cây gạo ở Tự Nhiên, chùa Văn Giáp, chùa Văn Hội, đền Vân Trai, đình Vĩnh Lộc Mỗi di tích tuy giới thiệu không nhiều xong đều thống nhất với các nội dung cơ bản sau: lịch sử hình thành và quá trình trùng tu, tu bổ; đặc điểm kiến trúc,
điêu khắc, các di vật, cổ vật tiêu biểu; lễ hội…[49] Lễ hội cổ truyền Hà Tây giới
thiệu các lễ hội tiêu biểu ở Hà Tây (cũ), miêu tả diễn biến các lễ hội, đi sâu vào những trò diễn, những lễ thức đặc sắc có giá trị văn hóa Trong đó, Thường Tín
có 8 lễ hội cổ truyền bao gồm hội làng Hạ Thái, hội rước thành hoàng tổng Hà Hồi, hội làng Khê Hồi và trò thủy chiến của đình, lễ hội đền Đông Bộ Đầu, đền Lộ - truyền thuyết và lễ hội, hội xã Tự Nhiên, lễ hội đền Rầm, rước lốt hổ -
trò diễn cổ ở xã Minh Cường [48] Các vị thánh thần sông Hồng của tác giả Vũ
Thanh Sơn, giới thiệu các vị thánh thần sông Hồng Trong đó, có đề cập đến
Trang 10các vị thánh thần được thờ ở các di tích của huyện Thường Tín như đền Lộ thờ
tứ vị thánh nương, làng Khê Hồi thờ Cao Sơn Đại Vương, làng Hạ Thái thờ đức ông Bùi Hữu Lương và đức bà Đinh Thị Trạch, làng Tự Nhiên thờ Chử
Đồng Tử - Tiên Dung – Tây cung tiên nữ [47] Đồ thờ trong di tích của người
Việt của tác giả Trần Lâm Biền viết về đồ thờ của người Việt trên phương diện
niên đại, mỹ thuật và ý nghĩa Trong đó, trang 66, trang 105, trang 108, trang
148, trang 170 có miêu tả về đồ thờ ở những quán chuyển thành chùa như
Hưng Thánh quán (xã Tô Hiệu, hay còn gọi là chùa Mui); “bảng gỗ đẹp và lớn
nhất ở chùa Đậu, bảng chùa Đậu cao xấp xỉ 70 cm, rộng tới hơn 130 cm, đó là một tác phẩm nghệ thuật được chạm đầy mây cuộn, ẩn hiện trong đó là đôi rồng cùng chầu vào trung tâm là một cụm vân xoắn hình chữ S bốc lửa Hiện vật này gần như duy nhất và có niên đại vào cuối thế kỷ XVII”; chiếc ngai bành
ở đình Hạ (xã Tự Nhiên), “dáng của chiếc ngai này thấp, lưng và tay ngai chủ
yếu được làm bằng ván, ván lưng hơi ngả ra phía sau, đỉnh ván dạng hình đường biên lá sòi, tay ngai kết bởi nhiều cung tròn thấp dần về phía trước Thông thường hai mặt tay ngai chạm rồng chạy ra, lưng ngai phía trên cũng là rồng, phía dưới có khi là lân và ở chính giữa bên dưới thường có ngọn tam sơn mọc lên từ nước”; bộ ngũ sự (đỉnh, hai cây đèn, hai lọ hoa) bằng chất liệu gỗ ở
đền Đại Lộ; đồ thờ mang chất liệu vàng mã như ở đền Dầm thờ Mẫu Thoải
cung (xã Ninh Sở) [9] Làng Chương Dương qua Di sản Hán nôm, của tác giả
Chu Huy, Cung Khắc Lược, Nguyễn Trọng Hải giới thiệu về địa danh Chương Dương, bến Chương Dương trong lịch sử; đồng thời giới thiệu các bản phiên
âm, dịch nghĩa trên các văn bia, thần tích, sớ, hương ước…liên quan đến địa danh Chương Dương Ngoài ra, còn giới thiệu một số bài viết của các tác giả về
địa danh Chương Dương, huyện Thường Tín [40] Thường Tín đất danh hương
giới thiệu lịch sử tự nhiên huyện Thường Tín với những biến thiên duyên cách, ghi chép khá tỉ mỉ các tổng, xã, làng của huyện qua các thời kỳ cũng như danh
Trang 11nhân và văn hóa (Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Dương Trực Nguyên, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Trúc Đàm, Lương Ngọc Quyến, Từ Diễn Đồng); đồng thời giới thiệu các di tích tiêu biểu ở huyện Thường Tín (đền bến Chương Dương, đình Hà Hồi, chùa Đậu, chùa Quất Động, chùa Pháp Vân, đình Nghiêm Xá, đình Là, đình Thượng Cung, lăng đá Quận Vân, đền Đông Bộ Đầu) cùng các lễ hội tiêu biểu nhất của huyện (lễ hội đền Lộ, đền Dầm, đền Cửu; lễ hội đền thờ Chử Đồng Tử; lễ hội làng Đông Bộ Đầu) Ngoài ra còn giới thiệu những sự kiện và con người Thường Tín từ khi
có Đảng, quê hương Thường Tín trong thời kỳ đổi mới [4] Bí mật phía sau
nhục thân của các vị thiền sư, của tác giả Nguyễn Lân Cường Viết về nhục
thân Thiền sư Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu, Thường Tín Trong đó, từ tr.13 đến tr.92 giới thiệu về chùa Đậu và nhục thân của hai vị
thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh [20,tr13-tr92] Địa chí Hà Tây của
tác giả Đặng Văn Tu và Nguyễn Tá Nhí (chủ biên) Trong phần giới thiệu nội dung địa chí Hà Tây đã khái lược về huyện Thường Tín dưới góc độ địa giới hành chính, điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử văn hóa xã hội Trong phần lịch
sử truyền thống, giới thiệu Thường Tín có dấu tích văn hóa Bắc Sơn (là giai đoạn muộn của văn hóa Hòa Bình) ở di chỉ khảo cổ học Kiều Thị, cũng ở xã Thắng Lợi còn phát hiện ngôi mộ hình thuyền Đồng thời, cuốn sách còn giới thiệu các nhà văn hóa tiêu biểu ở huyện Thường Tín như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi – danh nhân văn hóa thế giới, Lý Tử Tấn và viết về các nhà thờ
họ nổi tiếng như nhà thờ Nguyễn Trãi (1380 – 1442), nhà thờ Tiến sĩ Lý Tử Tấn ở Triều Đông cùng danh lam thắng cảnh chùa Đậu Ngoài ra, thống kê danh mục 80 di tích đã xếp hạng cấp tỉnh Hà Tây đến 31/10/2007 của huyện
Thường Tín [58] Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Thường Tín
(1930 – 2010) giới thiệu chi tiết nội dung: địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư hành
chính huyện Thường Tín; đồng thời giới thiệu về đảng bộ và nhân dân huyện
Trang 12Thường Tín qua các thời kỳ lịch sử [5] Hà Nội danh thắng và di tích của tác giả
Lưu Minh Trị giới thiệu về các danh thắng và di tích tiêu biểu trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong đó, Thường Tín có 16 di tích bao gồm nhà thờ tổ ca trù họ Ngô, đình Thượng Cung, đình Thụy Ứng, đền Vân Trai, đình Vĩnh Lộc, chùa An Định, chùa Đậu, chùa Đống Chanh, chùa Hướng Dương, chùa Khoái Cầu, chùa Mui, chùa Ninh Xá, chùa Pháp Vân, chùa Thụy Ứng, chùa Văn Hội,
di tích lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghiêm Xuyên Ngoài ra, còn thống
kê 35 di tích được xếp hạng từ năm 1995 đến năm 2007 ở huyện Thường Tín (đình Hướng Dương, chùa Hướng Dương, đình Khoái Cầu, chùa Khoái Cầu, đình Thượng Cung, lăng đá Quận Vân, đình Nỏ Bạn, đình Nghiêm Xá, đình Cống Xuyên, nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghiêm Xuyên, đình Là, đình Thụy Ứng, chùa Thụy Ứng, đình Phú Mỹ, đình Vĩnh Lộc, đình Đống Chanh, chùa Đống Chanh, chùa Văn Hội, chùa Pháp Vân, đền Ninh Xá, đình Ninh Xá, chùa Ninh Xá, đình Hạ Tự Nhiên, đình - đền An Định, chùa An Định, chùa Mui, nhà thờ Tổ ca trù họ Ngô, đền Vân Trai, đình Đan Nhiễm, đình Khánh Vân, đình Liễu Nội, đình Phương Quế, chùa Đậu, nhà thờ Nguyễn Trãi,
đình Nhân Hiền [56] Tìm về Hà Nội qua lễ hội truyền thống của tác giả Phạm
Thị Thanh Quy giới thiệu các lễ hội truyền thống của Hà Nội Trong đó, Thường Tín có 3 lễ hội được đề cập đến với những nội dung ngắn gọn bao gồm
chùa Đậu – đệ nhất danh lam, hội Lộ và hội làng Trát Cầu [44] Chùa Việt Nam
của tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, giới thiệu 118 ngôi chùa trên toàn quốc Trong đó, từ tr.226 đến tr.229 viết về chùa Đậu (xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín) Mỗi chùa tuy giới thiệu không nhiều xong đều thống nhất với các nội dung cơ bản sau: lịch sử hình thành, quá trình trùng
tu, tu bổ, đặc điểm kiến trúc, điêu khắc, các di vật tiêu biểu và có hình ảnh minh họa Đồng thời, còn lập danh sách các ngôi chùa được Bộ VH,TT&DL công nhận “Di tích lịch sử văn hóa” (tính đến ngày 31/12/2009); Trong đó,
Trang 13Thường Tín có 12 ngôi chùa được công nhận là chùa Đậu, chùa Xâm Động, chùa Pháp Vân, chùa Ninh Xá, chùa Văn Hội, chùa Hướng Dương, chùa Đống Chanh, chùa Khoái Châu, chùa Mui, chùa Đào Xá, chùa Khê Hồi, chùa
Chương Dương [52] Danh mục lễ hội truyền thống Hà Nội thống kê các lễ hội
tiêu biểu ở Hà Nội Trong đó, huyện Thường Tín có 26 lễ hội hiện đang được
tổ chức thường xuyên hàng năm (hội Lộ, hội Chùa Đậu, hội đền thờ Nguyễn Trãi, lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, lễ hội làng Bộ Đầu, lễ hội chùa Mui, lễ hội Văn Trai, lễ hội làng Nỏ Bạn, lễ hội làng Bình Vọng, lễ hội đình Là, lễ hội hàng tổng, lễ hội làng Tè, lễ hội làng Hướng Dương, lễ hội làng Khoái Cầu, lễ hội làng Đào Xá, lễ hội làng Phú Mỹ, lễ hội làng Vĩnh Lộc, lễ hội làng Đan Nhiễm, lễ hội làng Liễu Nội, lễ hội làng Khánh Vân, lễ hội làng Cống Xuyên,
lễ hội làng Nghiêm Xá, lễ hội làng Liễu Viên, lễ hội làng Hạ Thái, lễ hội làng
Duyên Trường, lễ hội Chương Dương) [50, tr.215 – tr.219] Hà Nội truyền
thống và di sản của TS Lưu Minh Trị gồm 3 chương Trong đó, tác giả dành
toàn bộ chương 2 để giới thiệu về truyền thống lịch sử, văn hóa huyện Thường Tín và các DSVH tiêu biểu ở huyện Các DSVH tiêu biểu huyện Thường Tín gồm các di tích tiêu biểu (nhà thờ Nguyễn Trãi, chùa Đậu, đình Đan Nhiễm, đền Vân Trai, nhà thờ Ca trù họ Ngô, chùa Mui, đình Hạ Tự Nhiên, đền Ninh
Xá, chùa Pháp Vân, đình Đống Chanh, đình Vĩnh Lộc, đình Thụy Ứng, đình
Là, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghiêm Xuyên, đình Cống Xuyên, lăng đá Quận Vân, đình Thượng Cung, đình Khoái Cầu) và lễ hội (lễ
hội làng Tự Nhiên) [57, tr.30 - 84] Các nhà khoa bảng, trí thức và nghệ nhân
tiêu biểu huyện Thường Tín (1075 – 2015) giới thiệu về cán bộ, đảng viên,
nhân dân Thường Tín với những nét khái quát về quá trình phát triển của sự nghiệp giáo dục – đào tạo; “đất trăm nghề” Thường Tín và những đóng góp quan trọng của các nhà khoa bảng, trí thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước; đồng
Trang 14thời gợi mở, định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quê
hương Thường Tín trong thời kỳ đổi mới [7] Tập bài giảng Lịch sử hình thành
huyện Thường Tín gồm 2 phần: Phần thứ nhất là Bài giảng lịch sử huyện
Thường Tín dùng trong nhà trường và gợi ý giảng dạy từ lớp 4 đến lớp 12 giúp thầy, cô giáo và các học sinh thuận lợi trong giảng dạy và học tập Phần thứ hai được thiết kế thành 04 nội dung: 1 Giới thiệu về các xã, thị trấn; 2 Một số di tích được xếp hạng trên địa bàn huyện (chùa Đậu, nhà thờ Nguyễn Trãi, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghiêm Xuyên…); 3 Bác Hồ với Thường Tín; 4 Một số câu chuyện về LSVH huyện Thường Tín Đây là tài liệu tham khảo quan trọng giúp giáo viên và học sinh hiểu sâu sắc thêm về LSVH của quê hương Thường Tín [8]
* Các nguồn tài liệu khác
Bài viết trên báo với nội dung: Tu bổ thành công hai di hài tại chùa Đậu, của tác giả Khiết Hưng [31]; Hai pho tượng chùa Đậu sẽ thêm hàng trăm năm
tuổi của tác giả Đỗ Huyền [30] Hồ sơ xếp hạng di tích viết về lịch sử hình
thành, quá trình tồn tại, nhân vật lưu niệm, giá trị lịch sử, văn hoá và khoa học của 111 di tích đã được xếp hạng ở huyện Thường Tín Kèm theo hồ sơ di tích còn có các văn bản như khoanh vùng bảo vệ, bản vẽ kỹ thuật, mặt bằng
và kiến trúc DT…[29] Kỷ yếu hội thảo Quốc tế lần thứ II có bài viết Bảo tồn
DSVH qua ba lần tu bổ di hài các vị thiền sư ở chùa Đậu (Hà Tây), chùa Phật Tích và chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh), của tác giả Nguyễn Lân Cường [21] Các
bài viết đăng trên báo điện tử: Bảo tàng Hà Nội tổ chức trao tặng giấy khen
cho tập thể có thành tích trong công tác phát hiện và bàn giao cổ vật của tác
giả Trần Văn Tùy Miêu tả tóm tắt quá trình phát hiện, nghiên cứu và bàn giao
cổ vật tại chùa Tó cho Bảo tàng Hà Nội lưu giữ, bảo quản phát huy giá trị; đồng thời, miêu tả diễn biến buổi lễ trao tặng bằng khen của Sở VH&TT Hà Nội cho tập thể Phòng VH&TT huyện Thường Tín và UBND xã Nguyễn Trãi
Trang 15[59] 14 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia Trong đó,
Thường Tín có 01 nhóm hiện vật được công nhận là tượng Thiền sư Vũ Khắc
Minh và Thiền sư Vũ Khắc Trường Huyện Thường Tín đang lãng phí tài
nguyên du lịch [42] Xây dựng Thường Tín thành vùng công nghiệp mới của thủ đô của tác giả Việt Anh [2] Huyện Thường Tín chú trọng phát triển du lịch của tác giả Nguyễn Công [17] Đình Hạ Thái, Thường Tín, Hà Nội được xếp hạng di tích quốc gia của tác giả Huyền Chi [15] Huyện Thường Tín có
16 di tích xuống cấp trầm trọng của tác giả Miên Hạo và Việt Tuấn như: đền
thờ Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê), đền - bến Chương Dương (xã Chương
Dương), chùa Pháp Vân (xã Văn Bình) [22]
2.2 Các công trình viết về công tác quản lý di tích
Các nghiên cứu: Khóa luận tốt nghiệp đại học Tìm hiểu di tích chùa Đậu,
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Minh Thu giới thiệu về
vị trí, đặc điểm chùa Đậu và đưa ra phương án bảo tồn, phát huy giá trị di tích
[55] Khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Hoàng Thúy Hằng viết về Tìm
hiểu di tích lịch sử văn hóa đình Hà Hồi, xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giới thiệu về vị trí, đặc điểm đình làng Hà Hồi, đặc biệt tác
giả luận văn đã dành ra một chương để viết về bảo tồn và phát huy giá trị di
tích đình làng Hà Hồi [23] Luận văn thạc sĩ Giá trị lịch sử - văn hóa của di
tích chùa Đậu, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội của học
viên Nguyễn Thị Mai Phương [41] giới thiệu về chùa Đậu trong diễn trình lịch sử; đồng thời đưa ra những phương án để bảo tồn và phát huy giá trị di
tích chùa Đậu Bảo tồn, phát huy các trò chơi dân gian qua lễ hội truyền
thống Hà Nội Trong đó, tr.23 - tr.24 giới thiệu trò diễn tái hiện công đức của
các vị thần ở làng Cống Xuyên (xã Nghiêm Xuyên) và đặc biệt trò “thủy chiến cửa đình” ở làng Khê Hồi (xã Hà Hồi) được tổ chức rất quy mô và hoành tráng Ngoài ra, từ tr.204 đến tr.208 viết về loại hình nghệ thuật dân
Trang 16gian đặc biệt, một DSVH của nhân dân được yêu thích ngang với hát chèo đó
là hát trống quân ở xã Khánh Hà, huyện Thường Tín [6]
Những tập hợp và phân tích trên đây cho thấy, phần lớn các tác giả tập trung nghiên cứu về mảnh đất Thường Tín, viết về di tích, lễ hội, và ít tài liệu viết về quản lý di tích, khai thác khá sâu về nguồn tài liệu thành văn và tài liệu khảo sát, sưu tầm, ghi chép ở phương diện văn hóa và quản lý văn hóa nói chung, hoặc ở góc độ hẹp trong bộ phận hệ thống di tích ở Thường Tín Thực
tế cho thấy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về công tác
quản lý di tích ở huyện Thường Tín Trong quá trình triển khai đề tài “Quản lý
di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” tác giả luận
văn sẽ tiếp thu, kế thừa kết quả của các tác giả đi trước để từng bước bổ sung làm sáng tỏ thêm vai trò của công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín; Kết hợp với việc điều tra khảo sát thực địa về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích ở Thường Tín, góp phần đưa những nhận định đánh giá về thực trạng, đề ra giải pháp công tác quản lý phù hợp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, phân tích thực trạng nhằm rút ra những mặt tích cực, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín thời gian qua (2010 - đến nay) Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý di tích ở huyện Thường Tín trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập hợp, phân tích các công trình, bài viết của các tác giả đi trước viết
về di tích và công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín
Nghiên cứu cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý trong công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý di tích LSVH nói riêng
Trang 17Nghiên cứu, đánh giá tổng quan về hệ thống di tích ở huyện Thường Tín Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích ở huyện Thường Tín trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng công tác quản
lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành sử học, khảo cổ học, văn hóa học, xã hội học, quản lý văn hoá
Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, so sánh được
áp dụng trong quá trình triển khai đề tài
Phương pháp khảo sát điền dã: Tiếp cận địa bàn, quan sát, tìm hiểu công tác quản lý di tích tại địa bàn, chụp ảnh thực trạng tại các di tích ở huyện Thường Tín
Trang 18Phương pháp phỏng vấn sâu: Áp dụng với các nhà quản lý thuộc lĩnh vực văn hóa và quản lý DSVH; phỏng vấn cộng đồng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Luận văn cung cấp một cái nhìn bao quát về thực trạng công tác quản lý di tích LSVH ở huyện Thường Tín; đồng thời cùng những tư liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú nguồn tài liệu tham khảo và nội dung nghiên cứu chuyên ngành quản lý văn hoá
6.2 Về mặt thực tiễn
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và quản lý, luận văn góp phần hoàn thiện bằng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích ở huyện Thường Tín, làm cơ sở phát triển kinh tế, văn hóa,
du lịch huyện trong thời gian tới
7 Bố cục luận văn
Đề tài nghiên cứu “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội” ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa,
tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện
Thường Tín
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích
lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín
Trang 191.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm
1.1.1.1 Di sản văn hóa
Theo Luật DSVH năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích LSVH, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
UNESCO chia DSVH thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện,
Trang 20sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích danh thắng DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình văn học - nghệ thuật (âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại), các sinh hoạt và kinh nghiệm dân gian (lễ hội, nghi lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ)
Như vậy, DSVH chính là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; là minh chứng sống động cho sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian
1.1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH Khái niệm di tích LSVH được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau Ở văn bản quốc tế khái niệm về di tích LSVH đã được nêu ra trong Điều 1 Hiến chương Venice – Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và Di chỉ (1964):
Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch
sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật
to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [12,tr.145]
Di tích lịch sử văn hóa là một khái niệm với hàm nghĩa rất rộng, vì vậy,
ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về di tích
LSVH như trong Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Di tích là các loại
dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học Di
Trang 21tích là di sản văn hoá – lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tuỳ tiện dịch chuyển, thay đổi, phá huỷ”
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích LSVH, danh
lam thắng cảnh quy định “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây
dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch
sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội”
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa được xem là đầy đủ nhất và cụ thể
nhất phải kể đến Luật Di sản văn hoá do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Trong văn
bản của Luật này, di tích LSVH được quy định ở Điều 4, khoản 3: “Di tích
lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” Điều 28 của Luật DSVH quy định rằng để trở thành di tích LSVH phải
có một trong các tiêu chí cụ thể như sau:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời
kỳ lịch sử;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều
giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [34,tr.19-20]
Trang 22Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân ra thành 04 loại hình, bao gồm: di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); di tích kiến trúc nghệ thuật; di tích khảo cổ; danh lam thắng cảnh
1.1.1.3 Quản lý và quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp
tác lao động C.Mác đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào
mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hoà giữa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [13, tr.480]
Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực của tập thể để thực hiện mục tiêu chung, diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp, nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất
cao hơn trong công việc Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì “quản lý” có
thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh quá trình xã hội và hành
vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đã định Mục tiêu là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác cũng như lựa chọn phương pháp quản lý thích hợp Do đó, quản lý
là một quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện nhằm hoàn thiện hoá hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả
- Quản lý di tích lịch sử văn hóa: Quản lý di tích LSVH có thể hiểu là tổ
chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ Cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm
Trang 23trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo; tổ chức bảo vệ với mục tiêu chống xuống cấp để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng, xác định giá trị và cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ di tích Bảo tồn và phát huy giá trị là hai nhiệm vụ trung tâm của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện để tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy luật đó
Luật DSVH năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và Điều 55 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm
2009, cụ thể như sau:
Điều 54: Quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH;
Trang 243 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH;
4.Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo
4 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.2.1 Các văn bản của Trung ương
Việc bảo vệ, gìn giữ DSVH được coi là nội dung cần thiết trong mọi giai đoạn Nhìn lại hệ thống pháp luật về lĩnh vực văn hoá nói chung và DSVH nói riêng, nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành từ rất sớm và ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể:
Trang 25Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, dù còn nhiều công việc phải làm nhưng nhà nước Việt Nam đã quan tâm ngay đến việc gìn giữ và phát huy giá trị DSVH dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
và nâng cao dân trí Điều đó được thể hiện bằng việc Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh số 65-SL ngày 23/11/1945 Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam về quản lý DSVH được ra đời chưa đầy 3 tháng sau khi đất nước giành được độc lập
Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/TTg quy
định về thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là văn bản pháp lý quan trọng của Chính
phủ có giá trị thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ các DSVH trong suốt hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta Nghị định là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý DSVH trong gần 30 năm (1957 - 1984)
Luật DSVH năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009, gồm 7 Chương, 74 Điều có nội dung bám sát thực tế; trong
đó, tại chương I, Điều 4, Mục 3 nêu: “Di tích lịch sử văn hóa là các công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” Mục 12,13 quy định về tu bổ, phục
hồi di tích LSVH và danh lam thắng cảnh Chương IV của Luật DSVH quy định
về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH vật thể, trong đó bao gồm các tiêu chí để trở thành các di tích LSVH Quy định thẩm quyền và thủ tục xếp hạng di tích Quy định các khu bảo vệ di tích bao gồm 2 khu vực bảo vệ (Điều 32) về việc xây dựng và thẩm định dự án bảo quản tu bổ, phục hồi DT (Điều 34, Điều 35) Văn bản luật còn quy định rõ nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước
về DSVH (chương V, Điều 54, Điều 55) Thống nhất quy định nguồn lực cho
các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH (Mục 2, chương V)
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật DSVH và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH
Trang 26Ngày 18/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số
70/2012/NĐ-CP quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch dự án bảo
quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Nghị định
bao gồm 4 chương, 25 Điều Chương I: Những quy định chung Chương II: Quy định những vấn đề cần tuân thủ khi tiến hành quy hoạch, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (từ Điều 6 đến Điều 15) Chương III: Quy định về việc lập và phê duyệt dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (từ Điều 16 đến Điều 23) Chương IV: Về điều khoản thi hành trong đó đề cập tới hiệu lực thi hành và
tổ chức thực hiện
Ngày 28/12/2012, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL ra Thông tư số
18/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi Di
tích Trong đó có những điều khoản cụ thể và cần thiết trong bối cảnh tình
trạng xuống cấp của các di tích và vấn đề tác động để gìn giữ di tích tồn tại lâu dài, bền vững Thông tư quy định lựa chọn và sử dụng các tổ chức có đủ điều kiện, năng lực hành nghề tham gia lập quy hoạch, dự án tu bổ di tích, báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế và thi công tu bổ di tích Tuân thủ Thông tư số 18/TT-BVHTTDL các cơ quan quản lý di tích sẽ có trách nhiệm lựa chọn, kiểm tra, giám sát các đơn vị thi công tu bổ di tích, tránh được những sai phạm khi tu bổ, tôn tạo di tích
Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ban hành ngày 14/7/2011 về việc lập
hồ sơ xếp hạng di tích Nội dung văn bản xác định đối tượng lập hồ sơ khoa
học cho di tích, quy định rõ nội dung hồ sơ khoa học di tích và cách tổ chức thực hiện Thông tư số 09 là cơ sở khoa học và pháp lý cho các cơ quan quản
lý di tích lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích
Ngày 30/12/2013, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL ra Thông tư số
17/2013/TT-BVHTTDL về việc hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch,
dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Trang 27Hệ thống các văn bản pháp lý về lĩnh vực quản lý DSVH nói chung và
di tích LSVH nói riêng được nhà nước Việt Nam ban hành trong thời gian qua
là cơ sở pháp lý để cấp ủy, chính quyền nhân dân các cấp, trong đó có huyện Thường Tín thực hiện công tác quản lý di tích, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
Trong xã hội, bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật để điều tiết đối tượng và trở thành nguyên tắc bắt buộc; trong trường hợp quản lý di tích cũng không ngoại lệ, Luật DSVH ra đời, các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Những nội dung trên được cụ thể hóa trong thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý di tích Trong đó nội dung quản lý di tích rất rộng, nên trong quá trình quản lý cần vận dụng và có phương pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về di tích LSVH nói riêng và DSVH nói chung Phòng VH&TT huyện Thường Tín thực hiện chức năng quản lý di tích LSVH góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Các văn bản của thành phố Hà Nội
Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND ngày 19/9/2016 của UBND thành
phố Hà Nội, Quy định phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực hạ tầng,
kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Quy định bao gồm 3 chương,
20 Điều Trong đó, Điều 16 đề cập đến nội dung phân cấp quản lý nhà nước ở lĩnh vực quản lý VH,TT&DL Cấp thành phố: đầu tư tu bổ, bảo tồn, phát huy giá trị các di tích quan trọng do thành phố trực tiếp quản lý và các di tích quốc gia đặc biệt khác (nếu có) do thành phố quản lý sau khi được xếp hạng, công nhận; đầu tư, tu bổ các di tích quốc gia đặc biệt, di tích lịch sử cách mạng kháng chiến do cấp huyện đang quản lý và các di tích quốc gia đặc biệt khác
Trang 28(nếu có) khi thành phố giao cấp huyện quản lý sau khi được xếp hạng, công nhận; hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích quốc gia do cấp huyện đang quản lý; duy tu, bảo trì và quản lý các di tích quan trọng mà thành phố trực tiếp đầu tư; quản lý và thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đối với các di tích trên địa bàn thành phố: nghiên cứu, kiểm kê xếp hạng, lập hồ sơ tư liệu, hồ sơ khoa học di tích, địa điểm khảo cổ; lập hồ sơ khoa học về di vật theo đề nghị của địa phương; quản lý và tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê phân loại DSVH phi vật thể; quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể; cấp phép tổ chức lễ hội cấp thành phố các lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử, cách mạng, lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch và lễ hội có nguồn gốc nước ngoài tổ chức tại Việt Nam Cấp huyện: đầu tư tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích còn lại trên địa bàn, trừ các di tích thành phố trực tiếp đầu tư và các di tích quốc gia đặc biệt, di tích lịch sử cách mạng kháng chiến do cấp huyện quản lý được thành phố hỗ trợ đầu tư tu bổ, tôn tạo; đối ứng cùng ngân sách thành phố đầu
tư tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích quốc gia do cấp huyện đang quản lý; duy tu, bảo trì và quản lý các di tích còn lại trên địa bàn, trừ các di tích thành phố trực tiếp quản lý sau đầu tư; tổ chức lễ hội quy mô cấp huyện,
chỉ đạo cấp xã tổ chức lễ hội quy mô cấp xã
Quyết định số 48/2016/QĐ-UBND ngày 17/11/2016 của thành phố Hà
Nội, Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và
danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố Hà Nội Quy chế bao gồm 5
chương và 22 Điều Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 3) Chương II: Bảo vệ và phát huy giá trị di tích (từ Điều 4 đến Điều 9) Đề cập đến vấn đề kiểm kê, xếp hạng di tích, tổ chức đón bằng xếp hạng di tích; quản
lý mặt bằng và không gian di tích; quản lý hiện vật thuộc di tích; quản lý hoạt động phát huy giá trị di tích; quản lý, sử dụng nguồn thu của di tích Chương
Trang 29III: Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (từ Điều 10 đến Điều 16) Đề cập đến việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ phục hồi di tích; điều chỉnh quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; lập, thẩm định, thỏa thuận, phê duyệt chủ trương lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích; lập, thẩm định, phê duyệt dự án tu bổ di tích; lập, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công tu bổ di tích; chuẩn bị và thực hiện thi công tu bổ
di tích; nghiệm thu, bàn giao dự án tu bổ di tích; tu sửa cấp thiết di tích Chương IV: quản lý và phân công quản lý (từ Điều 17 đến Điều 20) Đề cập đến vấn đề cơ quan quản lý di tích; phân công quản lý di tích; nguồn lực cho các hoạt động để bảo vệ và phát huy giá trị di tích …
Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 1/6/2017 của thành phố Hà Nội, khắc
phục những tồn tại, hạn chế; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích văn hóa, quản lý lễ hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong đó, nội dung kế
hoạch đề cập đến 2 vấn đề: 1/ Công tác quản lý di tích: Tổ chức rà soát bộ máy quản lý nhà nước về di tích từ thành phố đến cơ sở, thực hiện phân định trách nhiệm quản lý nhà nước và trách nhiệm của đơn vị quản lý di tích văn hóa; tổ chức rà soát danh mục các di tích (bao gồm cả di tích chưa xếp hạng) phân cấp quản lý trên địa bàn thành phố; quyết định và tổ chức bàn giao, giao trách nhiệm quản lý cụ thể từng di tích cho các đơn vị quản lý; thực hiện các giải pháp về đầu
tư, tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát huy sức mạnh của nhân dân để tu bổ, bảo tồn, phát huy giá trị di tích; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ cán bộ quản lý di tích, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý di tích; tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục về DSVH và hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; tăng cường kiểm tra hoạt động bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích 2/ Công tác quản lý lễ hội: tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội; siết chặt công tác quản lý các hoạt động trong, xung quanh khu vực lễ hội
Trang 30Các văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý DSVH được nhà nước Việt Nam và UBND thành phố Hà Nội ban hành là cơ sở để các địa phương trong đó
có huyện Thường Tín thực hiện tốt và hiệu quả công tác quản lý di tích LSVH góp phần vào việc gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
1.3 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hoá ở Thường Tín
1.3.1 Khái quát về huyện Thường Tín
1.3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Huyện Thường Tín nằm ở phía Đông Nam, cách trung tâm
thành phố Hà Nội khoảng 20km Phía Bắc giáp huyện Thanh Trì; Phía Đông giáp huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên với dải ngăn cách tự nhiên là sông Hồng; Phía Tây giáp huyện Thanh Oai; Phía Nam giáp huyện Phú Xuyên Là một huyện nằm ở cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội, có hệ thống giao thông Quốc gia chạy dọc trung tâm huyện (như đường Quốc lộ 1A, đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, đường sắt Bắc – Nam cùng với tuyến đường thủy trên sông Hồng Đây là điều kiện hết sức thuận lợi của huyện trong việc liên kết kinh tế, giao lưu hàng hóa với trung tâm Thủ đô và huyện khác thuộc thành
phố và các tỉnh lân cận
Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Thường Tín là
12.770.000 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 8.051,75 ha chiếm 63,05%, đất chuyên dùng là 2.459,36 ha chiếm 19,29%, đất ở là 1.202,93 ha chiếm 9,42%, đất chưa sử dụng và sông suối là 1.055,96 ha chiếm 8,24% Nhìn chung, đất đai huyện Thường Tín thích hợp sản xuất cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Khí hậu: Thường Tín nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có tính nhiệt đới gió mùa, nắng, mưa nhiều, có mùa đông giá rét, ít mưa Thủy văn: Lượng mưa hàng năm khá lớn, trung bình từ 1600 – 1700 ly, phân bố không đều, tập trung nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 75% lượng mưa cả năm Đây là một hạn chế vì mưa tập trung thường gây ra ngập úng Hệ thống
Trang 31sông: địa bàn huyện có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Nhuệ Sông Hồng nằm ở phía đông huyện, đóng vai trò quan trọng về giao thông đường thủy, là nguồn cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Sông Nhuệ nằm ở phía tây, cũng là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Tô Lịch chạy qua với chiều dài 12 km, hiện tại dòng sông bị rác và thực vật che phủ nên tốc độ dòng chảy chậm
Hệ thống giao thông của huyện đã được định hình và ổn định quy hoạch
từ những năm 1960 Các công trình giao thông đã phát huy tác dụng, góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội huyện Từ điều kiện tự nhiên đến vị trí địa lý và con người đã tạo cho Thường Tín một thế mạnh không phải nơi nào cũng có được, cùng với đó là sự nỗ lực của nhiều thế hệ người dân Thường Tín và sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp, các ngành để hôm nay Thường Tín đang dần tương xứng với vị thế có địa giới hành chính giáp danh với trung tâm Thủ đô
1.3.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại
Địa danh Thường Tín có tên trên bản đồ Việt Nam từ những buổi đầu dựng nước Theo sách Đại Nam nhất thống chí Thường Tín nguyên là đất thuộc quận Giao Chỉ (thời Bắc thuộc) Đến các triều đại phong kiến độc lập tự chủ: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần – Thường Tín là châu Thượng Phúc Thời Hậu Lê (1428–1527), vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Quang Thuận, 1460- 1469) đặt tên là Phủ Thường Tín Phủ Thường Tín thời Hậu Lê gồm ba huyện: Thanh Đàm (tức Thanh Trì), Phù Vân (tức Phú Xuyên) và Thượng Phúc (tức
Thường Tín ngày nay), thuộc lộ Sơn Nam [25] Theo Phan Huy Chú “Phủ
Thường Tín nằm ở phía bắc Sơn Nam, địa giới gần Trung Đô, các huyện đều men theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không có rừng núi ngăn cản, chỉ
có dòng sông Tô Lịch vây quanh” Phủ Thường Tín với ba huyện nói trên tồn
Trang 32tại cho đến vương triều Nguyễn Ngày 1/10/1831, vua Minh Mạng thực hiện cải cách hành chính, chia lại địa phận, tách nhập một số phủ, huyện, bỏ địa danh hành chính lộ, trấn, thành lập 18 tỉnh trong đó có tỉnh Hà Nội Huyện Thượng Phúc (tức Thường Tín) được thành lập từ đó [16] Theo sách: Tên
làng, xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX huyện Thường Tín gồm 12 tổng: Cổ Hiền,
Thượng Hồng, La Phù, Hà Hồi, Bình Lăng, Đông Cứu, Triều Đông, Tín An, Vạn Điểm, Chương Dương, Thụy Phú, Phượng Dực cùng với 81 xã, thôn Suốt thời Pháp thuộc (1884 - 1945), Thường Tín là một phủ thuộc tỉnh Hà Đông, vẫn gồm 12 tổng Từ ngày 21/4/1965 đến ngày 27/10/1975 Thường Tín là một huyện của tỉnh Hà Tây Ngày 27/10/1975 Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình Ngày 12/8/1991 chia lại tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây
Từ năm 1991 đến tháng 7/2008 Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây Từ ngày 1/8/2008 Thường Tín trở thành một trong 29 quận, huyện, thị xã của Thủ đô
Hà Nội Căn cứ vào những tư liệu lịch sử thành văn đầu thế kỷ XIX, huyện thượng Phúc (tức Thường Tín ngày nay) dù có tách, nhập hay đổi tên ở cấp tỉnh hay phủ, huyện thì cũng không có gì thay đổi lớn Con số 12 tổng thống nhất trong hơn 100 năm lịch sử Phủ Thường Tín
dân số 214.000 người; đơn vị hành chính có 01 thị trấn và 28 xã Trên địa bàn huyện có 126 làng cổ, hiện được phân thành 169 thôn, cụm dân cư, nằm ở các xã và thị trấn
1.3.1.3 Đời sống kinh tế
Thường Tín là huyện ngoại thành, nằm phía Nam Thủ đô Hà Nội, sau 9 năm hợp nhất địa giới hành chính, nền kinh tế huyện Thường Tín đã tăng trưởng khá, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp – thương nghiệp được duy trì phát triển Nông nghiệp: Hiện nay, cây lúa vẫn giữ vai trò chủ đạo Cây công nghiệp ngắn ngày là cây lạc, cây đậu tương Thủ công nghiệp: Trong những năm qua, nhóm ngành công nghiệp – xây dựng của huyện luôn được khuyến
Trang 33khích phát triển và đã đạt được những kết quả tích cực Hiện nay, huyện có 2 khu công nghiệp, 6 cụm công nghiệp (Liên Phương; Hà – Bình – Phương, Quất Động; Lưu Xá – Quất Động; Duyên Thái; Hà Hồi – Quất Động) và 26 điểm công nghiệp làng nghề.Thương nghiệp: huyện có 21 chợ trong đó có 01 chợ loại 1 (chợ Vồi), 01 chợ loại 2 (chợ Tía), 01 chợ đầu mối gia súc gia cầm (chợ Hà Vĩ) và các chợ loại 3 Huyện chưa chú trọng phát triển công nghiệp, mới tập trung phát triển làng nghề, tuy nhiên sức cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề còn hạn chế Tỷ lệ sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ giới hóa còn thấp
Nhìn chung, Thường Tín là huyện có nhiều lợi thế phát triển kinh tế Đây
là vùng đất có nhiều làng nghề truyền thống, khu cụm công nghiệp, gần các trục giao thông… Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thời gian qua chưa tương xứng những tiềm năng, lợi thế vốn có của Thường Tín
1.2.1.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa
Trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vùng đất Thường Tín có nhiều dấu ấn đi vào lịch sử Năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Tô Định, vùng đất An Duyên, nay là xã Tô Hiệu đã có những vị tướng cùng Hai Bà giương cao cờ nghĩa chống giặc ngoại xâm Nhiều địa danh đã được sử sách ghi lại như Chương Dương Độ, diễn ra trận chiến năm 1285 của nhà Trần dẫn đến chiến thắng cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai của nhà Nguyên Hà Hồi là nơi mở màn chiến thắng giặc Mãn Thanh của vua Quang Trung trên đường tiến đánh thành Thăng Long đầu xuân năm Kỷ Dậu (1789) [4]
Ở vào vị trí địa lí “gần đường quan lộ”, cửa ngõ phía Nam kinh thành Thăng Long xưa, Hà Nội ngày nay, Thường Tín là mảnh đất có nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và văn hóa Thường Tín là nơi sản sinh nhiều nhà văn hóa lớn như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, các bậc
Trang 34chí sĩ trong phong trào yêu nước như Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến… Huyện là vùng đất khoa bảng Trong lịch sử khoa cử thời phong kiến, Thường Tín có 26 làng có người thi đỗ đại khoa, có 63 người đỗ tiến sĩ
Ngoài ra, Thường Tín còn có mật độ di tích dày đặc với 440 điểm di tích Trong các di tích hiện đang lưu giữ 581 văn bia Đây là một số lượng di sản khá lớn so với các huyện quanh vùng Nguồn di sản này đã và đang đóng góp thiết
thực trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa huyện Thường Tín xưa và nay
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thường Tín
1.2.2.1 Số lượng và phân loại di tích lịch sử văn hóa
Số lượng: Theo số liệu thống kê của Phòng VH&TT huyện Thường Tín,
tính đến tháng 12 năm 2015, toàn huyện có 440 di tích bao gồm di tích đã xếp hạng và di tích chưa xếp hạng: 129 đình, 133 chùa, 86 đền, 27 miếu, 27 nhà thờ
họ, 03 lăng, còn lại là nhà thờ, nghè, quán, điếm… Trong đó, có 111 di tích đã được xếp hạng (58 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 53 di tích xếp hạng cấp thành phố) Số lượng này tập trung chủ yếu vào hai loại hình chính là di tích lịch sử
và di tích kiến trúc nghệ thuật Hệ thống di tích ở huyện Thường Tín phân bố
Trang 35(Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin)
Như vậy, theo số liệu thống kê của phòng VH&TT, xã Thắng Lợi có số lượng di tích nhiều nhất với 28 di tích chiếm 6,4 % di tích toàn huyện; thị trấn Thường Tín có số lượng di tích ít nhất với 02 di tích chiếm 0,5% di tích toàn huyện, các xã/ thị trấn trên địa bàn huyện đều có di tích
Phân loại: Mỗi di tích chứa đựng một nội dung lịch sử, giá trị văn hoá,
thông tin riêng biệt khác nhau Bởi vậy, di tích cần phải được phân loại để xác
Trang 36định tên gọi đúng với nội dung, đặc điểm thì mới có thể tiến hành hoạt động bảo vệ, sử dụng, phát huy giá trị di tích một cách hiệu quả Căn cứ Điều 28 Luật DSVH và Điều 13 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Di sản văn hóa, các di tích được phân loại như sau:
1 Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân);
Bảng 1.2: Bảng phân loại hình các di tích đã xếp hạng ở huyện Thường Tín
(Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin)
Như vậy, theo kết quả phân loại di tích, hầu như các di tích mới chỉ phân loại khi đã được xếp hạng, trên tổng thể 440 di tích toàn huyện với 03 loại hình
di tích chính biểu hiện qua giá trị tiêu biểu của các loại hình Còn lại các di tích
chưa được xếp hạng đều chưa được phân loại mà chỉ kiểm kê theo danh mục
Loại hình di tích khảo cổ: Theo nghiên cứu các tư liệu khảo cổ cũng như
các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy Thường Tín là địa bàn cư trú của người Việt
cổ từ khá sớm, điều đó được minh chứng qua các di chỉ khảo cổ đã phát hiện trên mảnh đất Thường Tín Nhiều di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện cho thấy
Trang 37con người có mặt tại đây từ thời kỳ đồ đá mới Tình cờ, trong quá trình sản xuất, người dân xã Thắng Lợi đã tìm được những hiện vật gồm 21 rìu đá được chế tác khá tinh xảo trong một ngôi mộ bên dòng sông Kim Ngưu Cách đó 3 km, họ đào được nhiều mộ thuyền tương tự như các hiện vật tại di chỉ xã Châu Can, huyện Phú Xuyên chứa đựng các đồ tùy táng bằng đồng: mũ, lá chắn, giáo, tên Tất cả đã được đưa về bảo tàng bảo quản và trưng bày Có thể thấy rằng, người Việt cổ thời Đông Sơn đứng trước những biến cố mới, sự thay đổi về môi trường sống từ trung du và đồng bằng cao xuống cư trú ở vùng đồng bằng thấp lầy trũng, gần sông, ao hồ, ruộng trũng Hình thức mai táng hình thuyền này phải chăng là một cách tân trong đời sống tâm linh của người Việt cổ khi chinh phục đồng bằng châu thổ Bắc Bộ?! [58, tr.199]
Loại hình di tích lịch sử: Huyện Thường Tín là một vùng đất cổ có bề dày
truyền thống LSVH Đồng thời, nơi đây còn ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Thường Tín và cả nước Đó là nơi ghi dấu cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông ở thế kỷ XIII - ở bến Chương Dương (xã Chương Dương); chiến thắng Hà Hồi - Quang Trung đại phá quân Thanh 1789 (xã Hà Hồi) Ngoài ra, còn có danh nhân cách mạng, danh nhân văn hóa còn lưu lại ngày nay đó là di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (xã Nghiêm Xuyên), đền thờ Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê) Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Nghiêm Xuyên - nơi Bác
Hồ về thăm, nói chuyện và tuyên dương thành tích của nhân dân xã nói riêng và nhân dân toàn tỉnh Hà Đông nói chung về công tác chống hạn tại Hội nghị chống hạn tỉnh Hà Đông; Đền thờ Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê): Thế phả họ Nguyễn ghi: đền dựng ở xóm Trù Lý, đến thời Minh Mạng mới chuyển ra địa điểm hiện nay
Tự hào và ghi nhớ công ơn vị anh hùng, nhà văn hóa lớn của dân tộc, năm 1980,
kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, xã Nhị Khê đã xây dựng quần thể kiến trúc khu đền: hồ bán nguyệt ở phía trước, tượng Nguyễn Trãi do nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo thiết kế Năm 2004, toàn bộ khu di tích được trùng tu khang trang
Trang 38Trường học của Nguyễn Phi Khanh ở xóm Hạ và nhà bia cũng được tôn tạo lại để nhắc nhở con cháu giữ vững truyền thống hiếu học của quê hương
Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật: Loại hình này bao gồm các công
trình tín ngưỡng tôn giáo, quân sự, kiến trúc lăng mộ và kiến trúc dân dụng mang nhiều giá trị và những nét đặc sắc của vùng đất danh hương Trong những năm gần đây, du khách trong và ngoài nước biết đến truyền thống văn hoá huyện Thường Tín không chỉ qua di chỉ khảo cổ học thời kỳ đồ đá mới phát hiện tại làng Kiều Thị (xã Thắng Lợi), hay một vùng quê cách mạng bất khuất kiên trung trong các cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Thường Tín còn nổi tiếng với hệ thống di tích có giá trị lịch sử văn hóa và nghệ thuật kiến trúc độc đáo như chùa Đậu (niên đại khởi dựng thế kỷ XIV, thời Trần) Chùa Đậu không những là một thắng cảnh tuyệt diệu của nước ta mà nơi đây còn là cõi chân tu đắc đạo của hai vị sư tổ Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã để lại cho dương thế, toàn thân còn nguyên vẹn suốt 3 – 4 thế kỷ Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường (Niên đại: giữa thế kỷ XVII) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia Hiện nay, chùa vẫn còn giữ cuốn sách đồng khắc chữ Hán nói về lịch sử chùa cùng một khánh đồng to đời
Lê Cảnh Hưng thứ 33 (1772), một chuông đồng to thời Tây Sơn (Cảnh Trịnh thứ
9 - 1801), hai tấm gỗ tứ thiết sơn son thếp vàng có chạm hai bài thơ của vua Lê
Hy Tông (1680 - 1705) và vua Lê Dụ Tông (1705 - 1719) khi về thăm chùa và một số bia đá cổ thời Mạc Sùng Khang (1566-1577), Dương Hòa (1635 - 1643), Thịnh Đức (1653-1657), Cảnh Hưng (1740-1786) Ở xã Tân Minh gần đó có ngôi đình thời Mạc, xây dựng năm 1585 nổi tiếng, đó là ngôi đình hàng tổng – tổng La Phù, xây dựng trên đất làng La Uyên Hệ thống di tích thời Lê (thế kỷ XVII – XVIII) còn nhiều di tích, tiêu biểu như đình Nghiêm Xá (xã Nghiêm Xuyên), đình Hạ Tự Nhiên (xã Tự Nhiên), chùa Mui (xã Tô Hiệu), đình Đào Xá (xã Thắng Lợi), chùa Pháp Vân (xã Văn Bình), đình Vĩnh Lộc (xã Thư Phú),…
Trang 39Kiến trúc lăng mộ cũng được coi là một trong những nét tiêu biểu trong
hệ thống di tích ở Thường Tín Khu lăng mộ bằng đá nổi tiếng được xây dựng
từ thế kỷ XVIII, thờ một vị tướng dưới triều Nguyễn mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là Lăng đá Quận Vân Đây là công trình kiến trúc kỳ thú, tất cả vật thể từ voi đá, chó đá, ngựa đá, nghê đá đến án thư, ngai, bàn đá đều được chạm trổ, gọt đẽo rất tinh vi, bằng một loại đá xanh quý hiếm, mà theo các bậc cao niên thì xung quanh đây không có loại đá này, phải lấy từ những ngọn núi trên miền ngược Và cho đến tận bây giờ, người dân xã Vân Tảo vẫn không sao lý giải được việc người xưa đã làm cách nào để có thể vận chuyển những khối đá to với một quãng đường dài như vậy trong khi phương tiện vận chuyển thời đó quá thô sơ để tạo nên một kiệt tác như thế Ông Phạm Gia
Phán, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã Vân Tảo, cho biết: "Hiện cả nước có rất ít
di tích làm bằng đá như thế này Ở một số nơi cũng có nhưng không được đồng bộ như ở đây, có nơi chỉ có chó đá, voi đá, cũng có nơi chỉ có án thư hoặc chiến binh" Trong khu di tích còn có một tấm bia ghi lại công lao
những người thợ xưa tạo dựng nên khu lăng đá Sau khu này có 3 án thư bằng
đá to, trạm trổ rồng chầu mặt nguyệt, hai bên là đôi voi, cùng đôi ngựa đá to như thật, được chạm khắc từ đá nguyên khối, phía sau án thư là hương án có tượng đôi chó đá nằm gác, trên hương án có một ngai bằng đá Đằng sau án thư là nhà bia (lăng đá), phía trước nhà bia có đôi nghê đá Cuối cùng là mộ
đá của vợ chồng ông Quận Công Đỗ Bá Phẩm Trải qua hơn 200 năm, khu lăng đá Quận Vân - một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, cùng hệ thống "linh vật" thuần Việt độc đáo
1.2.2.2 Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật các di tích
Qua kết quả khảo sát hiện trạng và từ tư liệu tổng hợp phân tích của huyện Thường Tín có thể phân loại tình trạng di tích ở huyện Thường Tín theo 03 mức
độ khác nhau:
Trang 40Nhóm 1: Loại di tích là phế tích: chủ yếu là các di chỉ khảo cổ học, hầu hết
các địa điểm khảo cổ học là phế tích Các di tích chỉ còn lại nền móng công trình hay công trình đã bị phá hủy Thường Tín là một trong những địa phương phối hợp tốt với cơ quan chức năng phát hiện, khai quật được nhiều di vật, cổ vật có giá trị là chứng tích từ thời kỳ đồ đá mới của người Việt cổ, đó là: 21 rìu đá được chế tác tinh xảo trong một ngôi mộ bên dòng sông Kim Ngưu; di chỉ mộ thuyền cùng các đồ tùy táng bằng đồng (mũ, lá chắn, giáo, tên) ở xã Thắng Lợi; hũ tiền
cổ ở xã Thống Nhất Trong những năm qua, công tác khai quật cổ vật đã có nhiều kết quả đáng kể, tiêu biểu là việc phát hiện 200 cổ vật ở chùa Đậu (xã Nguyễn Trãi) với các vật liệu kiến trúc như: Gạch, ngói, diềm trang trí thời Mạc, thời Trần tại Tam bảo chùa Đậu năm 2006 Ngoài các vật liệu kiến trúc, trong đợt khai quật này còn phát hiện được nhiều đồ gốm men với nhiều họa tiết trang trí, là chứng tích cho sự phát triển của nghệ thuật gốm sứ của người Việt ở thế kỷ XVI - XVII Năm 2015, trong quá trình thi công hạng mục sân chùa Tó (xã Nguyễn Trãi) đã phát hiện một số di vật, cổ vật Trước kia, ở đây tồn tại một
am thờ nhỏ, trong quá trình thi công phát hiện một lớp ngói vỡ, màu nâu đỏ, đây
là những mảnh vỡ của ngói lót có niên đại thế kỷ XVIII - XIX Ngoài ra, còn phát hiện một số chân tảng đá nhỏ, điều này cho thấy trước đây đã từng tồn tại một di tích kiến trúc Di vật, cổ vật gồm: 85 bình vôi còn nguyên dáng nhưng bị
vỡ quai và rất nhiều mảnh vỡ Bộ sưu tập bình vôi này có niên đại khoảng thế kỷ
XV - XIX, tập trung chủ yếu ở thế kỷ XV (53 chiếc) Đây là những cổ vật có giá trị về LSVH Toàn bộ số cổ vật trên hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Hà Nội
để phục vụ trưng bày, khai thác, phát huy giá trị Những hiện vật, cổ vật quý được phát hiện đã góp phần khẳng định thêm giá trị lịch sử, văn hóa cũng như ý nghĩa của đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của người dân đất Việt nói chung và cư dân khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng
Nhóm 2: Loại di tích xuống cấp: Di tích ở Thường Tín đa dạng, phong
phú về niên đại và chất liệu xây dựng như gạch, gỗ, đá… những tác động của