1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luan van quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở huyện hà trung, tỉnh thanh hóa

175 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu, hệ thống hóa các nguồn tư liệu từ trước đến nay về huyện Hà trung, tỉnh Thanh Hóa hệ và quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của thống di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia của huyện; Làm sâu sắc hơn cơ sở khoa học và pháp lý của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia nói riêng; Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 2020. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chủ yếu tập trung vào hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa theo tinh thần nội dung của Luật di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu về các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu về hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 2020.

Trang 1

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

********

NGUYỄN VĂN TÙNG

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP

QUỐC GIA

Ở HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 60310642

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Tiến

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Văn Tiến Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tùng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 15

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 15

VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 15

Ở HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA 15

1.Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 15

1.1.Một số khái niệm 15

1.2.Các loại di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu 26

1.3.Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử- văn hóa 31

2.Khái quát về huyện Hà Trung 33

2.1.Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên 33

2.2.Cư dân 36

2.3.Sự phát triển kinh tế - xã hội 36

2.4.Truyền thống lịch sử và văn hóa 37

3.Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung 40

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 41

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA 41

CẤP QUỐC GIA Ở HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA 41

1.Bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý 41

1.1.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích 41

1.2.Nguồn nhân lực quản lý di tích lịch sử- văn hóa 47

1.3.Các hoạt động quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung 52

2.Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 67

2.1.Hạn chế 70

2.2.Nguyên nhân 73

Chương 3 77

QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 77

Ở HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA 77

1.Một số quan điểm quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia 77

1.1.Quan điểm thống nhất vai trò quản lý di tích 77

Trang 4

1.2.Quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di tích phải đảm bảo tính trung thực, tính

nguyên gốc của các di tích 78

1.3.Quan điểm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể gắn với các giá trị văn hóa phi vật thể 78

1.4.Quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với cộng đồng và vì cộng đồng 79

1.5.Quan điểm bảo tồn, phát huy di tích gắn với sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương 79

2.Định hướng và nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 80

2.1.Định hướng 80

2.2.Nhiệm vụ 80

3.Một số giải pháp quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 80

3.1.Những căn cứ để đưa ra giải pháp 80

3.2.Một số giải pháp cụ thể 82

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 108

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG 110

Trên đây là kế hoạch tham mưu cho UBND huyện trong việc quản lý di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng trên địa bàn huyện Đề nghị UBND huyện quan tâm chỉ đạo./ 158 PHỤ LỤC 4 159

MỘT SỐ HÌNH ẢNH DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA 159

4.1 Đền thờ Trần Hưng Đạo 159

4.2 Ly cung 160

4.3 Đình Gia Miêu 162

4.5 Nhà thờ họ Nguyễn Hữu 163

4.6 Đình làng Đình Trung 164

4.8 Lăng miếu Triệu Tường 165

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia bao gồm: công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc

Những công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc

đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam

Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ

Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù

Hà Trung, mảnh đất địa linh, nhân kiệt, giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, nơi có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nổi tiếng của Xứ Thanh

Trang 6

Qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, các di sản văn hóa đã gắn liền chặt chẽ đời sống của người dân nơi đây Từ những dấu vết hoạt động chủ yếu của con người cổ xưa được các nhà khảo cổ học phát hiện và khai quật ở các di chỉ Cồn Cổ Ngựa, Hang Chùa trong thời đại đồ Đá mới khoảng hơn 5000 năm phát triển qua thời đại văn minh Đông Sơn, rồi

1000 năm đô hộ của phong kiến Phương Bắc, đến thời nhà nước phong kiến tự chủ trên dưới 1000 năm và gần một thế kỷ đấu tranh cách mạng kiên cường của dân tộc [37]

Trải qua các thời kỳ lịch sử, huyện Hà Trung với những tên gọi khác nhau: Tống Giang, Tống Sơn Đời Lê- Quang Thuận (1460- 1470), huyện Tống Giang thuộc phủ Hà Trung Đời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI) đổi Tống Giang thành Tống Sơn Vùng đất này là nơi phát tích của triều Nguyễn, một triều đại phong kiến phát triển cực thịnh với các thiết chế Nhà nước được xây dựng hoàn hảo từ Trung ương tới địa phương, từ bang giao đến

mở mang bờ cõi, từ phát triển kinh tế đến chấn hưng và phát triển văn hóa dân tộc Thời kỳ nào cũng vậy! Người Hà Trung luôn cần cù, dũng cảm, thông minh, giàu tình thương, trọng lẽ phải, anh dũng, kiên cường trong chiến đầu chống giặc ngoại xâm, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên gan bền bỉ trong phòng chống và khắc phục thiên tai [37]

Với diện tích tự nhiên là 24.450,48 ha, dân số 110.544 người, với 30.492 hộ Toàn huyện có 24 xã và 01 thị trấn với 201 thôn, tiểu khu thuộc 154 làng

cổ Người Kinh chiếm 98,4%, còn lại là dân tộc Mường chủ yếu cư trú ở

xã Hà Long Với tổng số gần 700 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có

406 di tích lịch sử - văn hóa đã được kiểm kê gồm: 342 di sản văn hóa vật thể, 64 di sản văn hóa phi vật thể Về di sản văn hóa vật thể đã có 72 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng, bao gồm: 08 di tích lịch sử- văn hóa được xếp hạng di tích cấp Quốc gia, 64 di tích được xếp hạng di tích cấp

Trang 7

tỉnh Về văn hóa phi vật thể có 28 di sản văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc vùng miền được khôi phục, phát triển, tiêu biểu như: Lễ hội Đốt Đình Liệu xã Hà Tiến, Lễ hội Cơm Thi xã Hà Thanh, Lễ hội Rước nước, Lễ hội

Kỳ Phúc, Lễ hội rước bóng tại các đình, đền Hà Trung được người xưa

ca ngợi là vùng đất “non thanh cẩm tú” có nhiều núi, đồi, hang động như:

núi Chiếu Bạch, các ngọn núi Thần Đầu, Ngưỡng Sơn, Thiên Tôn, Chum Vàng đã đi vào ca dao, tục ngữ, đặc biệt còn lưu lại trong các thi phẩm của Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Sĩ [37]

Trong những năm qua, dưới sự lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên địa bàn huyện đặc biệt được quan tâm Trong đó, đã tập trung chỉ đạo thực hiện kiểm kê di tích lịch sử- văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể; lập quy hoạch, khoanh vùng, cắm mốc và huy động nguồn lực để thực hiện bảo tồn các di sản văn hóa, công tác lập hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích, đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận di sản văn hóa được quan tâm chỉ đạo Đặc biệt là hoạt động quản lý Nhà nước trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa ngày càng được quan tâm, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa một cách chuyên nghiệp góp phần xây dựng quê hương Hà Trung ngày một giàu đẹp, văn minh

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa vẫn chưa tương xứng với giá trị và tiềm năng; nhất

là việc quản lý, bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn chưa thực sự hiệu quả; một số di tích bị xuống cấp, mai một, thu hẹp về diện tích, một số địa phương được giao làm chủ đầu tư thực hiện bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích không tuân thủ theo

hồ sơ thiết kế, việc quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ chống xuống cấp sai

Trang 8

mục đích, tiếp nhận các hiện vật từ cá nhân không đúng quy định, việc quản lý di tích ở một số địa phương còn lỏng lẻo, đội ngũ làm trong các di tích lịch sử - văn hóa còn thiếu, yếu, chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, cơ sở vật chất ở nhiều di tích còn nghèo nàn, môi trường di tích chưa thực sự trong sạch, kinh phí đầu tư cho việc trùng tu, tôn tạo, khôi phục phát huy giá trị di sản còn thấp; hoạt động dịch vụ trong các di tích, lễ hội chưa phong phú, đa dạng; bản sắc của địa phương chưa rõ nét Chính vì vậy, công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung đang là nhiệm vụ quan trọng kể cả trước mắt và lâu dài, đây không những là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị mà cần sự chung tay vào cuộc của cộng đồng, dân cư nơi có di tích và của toàn xã hội; không những thế, đòi hỏi phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư tương xứng với tiềm năng và giá trị của các di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn

Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể để khảo cứu, đánh giá ý nghĩa cũng như kiến nghị và đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy tốt, nâng cao hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của những di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện

Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở khoa học,

thực tiễn, tiếp thu những công trình khoa học đi trước, tôi đã chọn đề tài

“Quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ

Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 9

Ở trong nước, những năm gần đây có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, sách chuyên ngành đề cập tới lĩnh vực quản lý

di sản văn hóa nói chung, quản lý di sản văn hóa vật thể (trong đó nhiều phần đề cập tới quản lý di tích lịch sử văn hóa) nói riêng Trong bối cảnh của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm tới các di sản văn hóa với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá trị của chúng Theo xu hướng đó, các nghiên cứu của các tác giả trong nước tập trung xoay quanh các vấn đề về lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị cho từng trường hợp cụ thể Các bài viết theo dạng này chiếm số lượng khá lớn Thực tế quản lý di sản văn hóa nhất là đối với các di sản văn hóa vật thể, mọi hoạt động quản lý đều hướng tới mục đích quan trọng nhất đó là duy trì sự tồn tại của các di sản ở trạng thái tốt nhất, từ đó có thể khai thác, phát huy phục vụ cho cộng đồng xã hội

Trong bài Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa [63, tr.496 -511], khi đề

cập đến vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích, GS Lưu Trần Tiêu cho rằng, hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt cụ thể là: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học; bảo vệ di tích về mặt vật chất

kỹ thuật; cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện của xã hội Cụ thể, trong công tác quản lý tập trung vào 3 vấn đề là: công nhận di tích, quản lý cổ vật và phân cấp quản lý di tích Tác giả nhấn mạnh: các di tích lịch sử văn hóa chỉ có thể được bảo vệ và phát huy cao nhất giá trị văn hóa khi thực hiện một cách đồng bộ 3 mặt hoạt động này Do đó cần thiết

phải thực hiện: Thứ nhất, thiết lập cơ chế, chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong cả nước; Thứ hai, cần có

Trang 10

một hệ thống tổ chức thích hợp đủ khả năng biến các chủ trương chính

sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực; Thứ ba, cần tổ chức để đưa

các hoạt động bảo tồn thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân Từ đó, tác giả đã đề ra 6 biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cường việc thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích: 1/Thể chế hóa bằng pháp luật các chính sách, cơ chế của nhà nước; 2/Quy hoạch toàn bộ các di tích được công nhận; 3/Phân cấp quản lý; 4/Xã hội hóa hoạt động bảo tồn; 5/Ưu tiên đầu tư ngân sách; 6/Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ

Trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn

hóa, tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công

tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung bao gồm: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ); Việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn- bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích- là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [3, tr.11- 13]

Hai tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân trong

giáo trình Quản lý di sản văn hóa của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

[42], đã đưa ra một số nội dung như: 1/Khái niệm chung về quản lý và quản lý nhà nước về di sản văn hóa; 2/Quan điểm phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý di sản văn hóa dân tộc; 3/Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về di sản văn hóa Hai tác giả trên cho

Trang 11

đây là một số nội dung về nghiệp vụ quản lý di sản văn hóa mà thực chất đây là các mặt hoạt động bảo tồn di sản văn hóa

Trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội

nhập quốc tế của hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng

chủ biên) đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý di sản văn hóa Ở lĩnh vực này, các tác giả đưa ra thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng

và di sản văn hóa phi vật thể Nội dung quản lý được đề cập trên hai khía cạnh: 1/Công tác quản lý nhà nước: bao gồm việc ban hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; 2/Công tác phát triển sự nghiệp: tập trung phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích như nhà nước đã đầu tư toàn bộ kinh phí cho các di tích cách mạng kháng chiến, các di tích được đầu tư tu bổ, chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn Đồng thời nêu ra những hạn chế như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị, các dự án chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn Từ thực trạng này các tác giả đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa bền vững [26, tr.486]

Đề tài nghiên cứu Bảo vệ di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội và hội nhập quốc tế [34] của Cục Di sản văn hóa do TS

Nguyễn Thế Hùng làm chủ nhiệm cũng đã đề cập tới những ảnh hưởng của sự đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc bảo vệ di sản văn hóa Đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên phạm vi cả nước với

Trang 12

những thành tựu đạt được cũng như hạn chế trong hoạt động này Tác giả

đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa như: tăng cường công tác quản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xã hội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng cường hợp tác quốc tế

Đối với trường hợp cụ thể hơn, chuyên luận Nghiên cứu thực trạng và giải

pháp bảo tồn di sản văn hóa tại các vùng đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở đồng bằng sông Hồng [35] là công trình

nghiên cứu khoa học của TS Phạm Thị Thu Hương Chuyên luận nghiên cứu thực trạng bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng- đây là các khu vực có tốc độ phát triển mạnh mẽ, có tác động rõ nét tới di sản văn hóa Tác giả cho rằng, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác động theo hai xu hướng tích cực và tiêu cực đến di sản văn hóa: ở chiều tích cực, quá trình này đã tạo ra những nguồn lực kinh phí ngân sách của nhà nước và xã hội để đầu

tư cho việc tu bổ tôn tạo di sản văn hóa, nhiều thành tựu của khoa học công nghệ được áp dụng vào lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị di sản Theo chiều ngược lại thì các khu công nghiệp, các đô thị phát triển nhanh không lưu ý đúng mức đến sự tồn tại bền vững của di sản dẫn đến tình trạng di sản văn hóa lấn át, hư hỏng, biến dạng hoặc bị hủy hoại Cùng với

sự hư hỏng hoặc hủy hoại của di sản văn hóa vật thể, các di sản văn hóa phi vật thể tồn tại song song cũng không thể không bị ảnh hưởng tương

Trang 13

có nội dung bàn luận về hai vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta Các bài viết này có xu hướng đề cập cả những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của việc bảo tồn, phát huy và vai trò của di sản văn hóa trong bối cảnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế hiện nay Tuy nhiên, số lượng các bài viết thuộc dạng này khá lớn, do vậy khó có

thể bao quát hết toàn bộ quan điểm, nội dung của tất cả các bài viết đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống về công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016- 2020

- Đánh giá thực trạng quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011- 2016, phân tích những mặt tích cực, hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân từ đó đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý di tích lịch sử- văn

hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung giai đoạn 2016- 2020

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, hệ thống hóa các nguồn tư liệu từ trước đến nay về huyện

Hà trung, tỉnh Thanh Hóa hệ và quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của thống di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia của huyện;

- Làm sâu sắc hơn cơ sở khoa học và pháp lý của quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia nói riêng;

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch

sử - văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 14

- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước

về di tích lịch sử- văn hóa quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016- 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Sử học, Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

5.2 Phương pháp khảo sát, điền dã tại thực địa

Khảo sát thực địa tại một số di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nhằm tập hợp những thông tin bước đầu

về thực trạng quản lý các di tích theo các loại hình tại các địa phương này

5.3 Áp dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học văn hóa

Trang 15

Với mục đích thu được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng cách tiếp cận của xã hội học văn hóa với các phương pháp cụ thể của ngành khoa học này Trong

đó, các phương pháp nghiên cứu định tính (quan sát, phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn nhóm.), và xây dựng nội dung phỏng vấn sâu đối với các nhà quản lý, cộng đồng địa phương, các nhà khoa học

5.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại

Tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu của nhằm xem xét, đánh giá các lý thuyết, các quan điểm nghiên cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn Nguồn tài liệu nghiên cứu đi trước sẽ được tìm hiểu theo các vấn đề liên quan như: di sản văn hóa, quản lý di sản văn hóa, quản lý di tích lịch sử- văn hóa, các nghiên cứu về các di tích lịch sử- văn hóa cụ thể

ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa với tư cách là đối tượng quản lý, các vấn đề xây dựng chiến lược, xây dựng dự án nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa

Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tiềm năng về di sản cũng như thực trạng của hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa hiện nay, định hướng phát triển của địa phương, luận văn sẽ phân tích những điều đó để thấy được những điểm mạnh, những hạn chế, chỉ ra được những thuận lợi và thách thức trong hoạt động quản lý di tích Đó chính là cơ sở để tác giả luận văn có thể bước đầu đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa trong những điều kiện phát triển hiện nay

6 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 16

- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện Hà Trung trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dung làm cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của UBND, phòng VH&TT huyện Hà Trung nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và biện pháp đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn huyện

- Luận văn cũng góp thêm một nguồn tài liệu tham khảo cho các huyện lân cận

có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng xem xét, vận dụng vào quá trình đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của địa phương mình

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và hệ thống di tích

lịch sử văn hóa cấp Quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia ở huyện

Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

quản lý di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA

Ở HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa

1.1 Một số khái niệm

Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành di sản văn hóa Sở dĩ gọi là di tích lịch sử văn hóa vì chúng được tạo ra bởi con người Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Khái niệm di tích lịch sử văn hóa được đề cập trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và hàm nghĩa của nó cũng rất phong phú, đa

dạng, chẳng hạn tiếng Anh và tiếng Pháp gọi là di tích là vestige; tiếng Trung Quốc gọi là cổ tích, tiếng Nga gọi là pamiatnik,

Theo Điều 1 Hiến chương Venice (Italia) năm 1964 thì khái niệm di tích lịch sử không chỉ dùng để chỉ một công trình kiến trúc đơn chiếc mà là cả một khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc sự kiện lịch sử Khái niệm di tích lịch sử văn hóa không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà còn cả với những công trình khiêm tốn hơn mà theo dòng thời gian nó đã tích hợp

trong mình một ý nghĩa văn hóa [Các Hiến chương quốc tế về bảo tồn và

trùng tu (2004), Nxb Xây dựng, Hà Nội]

Di tích lịch sử - văn hóa là một khái niệm có hàm nghĩa rất rộng, vì vậy, ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về di tích

lịch sử văn hóa Từ điển tiếng Việt thì nêu ra định nghĩa: Di tích là các loại

dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di tích lịch sử, văn

Trang 19

hóa bất động [Nguyễn Như Ý (Chủ biên), (2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb

VHTT, Hà Nội] Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Di tích (lịch sử

văn hóa - NVT) là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học Di tích là di sản văn hoá – lịch sử được pháp luật bảo

vệ, không ai được tuỳ tiện dịch chuyển, thay đổi, phá huỷ” [Từ điển Bách

khoa Việt Nam, T1, tr 667]

Theo giáo trình "Bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa" của Trường Đại học Văn

hóa Hà Nội thì di tích là những không gian, vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử: do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [Trịnh Thị Minh Đức, Nguyễn Duy Đăng

(1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội]

Pháp lệnh số 14/LCT/HĐNN7 ngày 04 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng

nhà nước về "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng

cảnh" thì quy định: "Di tích lịc sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa

điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội" [Pháp lệnh số 14/LCT/HĐNN7 ngày 04

tháng 4 năm 1984 về "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam

thắng cảnh"]

Theo luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

thì coi di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [Luật Di sản văn hóa (2001) và được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2009, Nxb CTQG, Hà Nội]

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa quy định tại Điều

11 nêu rõ: "Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu

Trang 20

niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh" [Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính

phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa]

Chúng ta cũng tìm thấy có những ý kiến khác nhau tương tự trong các công trình nghiên cứu, trong các văn bản pháp qui có liên quan tới di tích lịch

sử văn hóa Song, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng các khái niệm đó đều có chung một nội dung, đó là di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan của quá khứ còn tồn tại đến ngày nay, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử Có thể nói rằng văn bản qui định nội hàm của khái niệm di tích lịch sử văn hóa được xem là đầy đủ nhất và cụ thể nhất phải kể

đến Luật Di sản văn hoá do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban

hành năm 2001, được sửa đổi, bổ sung thành Luật Di sản văn hoá năm 2009 Điều 28 của Bộ Luật này còn qui định thêm rằng:

a di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí cụ thể như sau:

- Công trình xây dựng địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;

- Công trình xây dựng, địa điểm găn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kì cách mạng, kháng chiến;

- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

b Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

- Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;

Trang 21

- Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,

đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng

những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất [Luật Di sản

văn hóa (2001) và được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2009, Nxb CTQG,

Hà Nội]

Như vậy, có thể nói rằng di tích lịch sử văn hóa là những nơi lưu giữ các giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch

sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu chiến công trống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị Mỗi di tích lịch sử văn hóa đều mang một giá trị văn hóa, lịch

sử nhất định, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại Nghị quyết TW5, khóa VIII của Đảng đã khẳng định văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình [Ban Chấp

hành Trung ương 5 khoá VIII, Nghị quyết lần thứ 5 (1998), Xây dựng và phát

triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc].

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, chế độ xã hội,

về nghề nghiệp, v.v mà nội dung của quản lý cũng được lý giải bằng nhiều cách khác nhau Với sự phát triển của phương thức sản xuất xã hội và sự mở rộng trong nhận thức của con người hiện nay, sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái niệm quản lý ngày càng trở nên rõ rệt Chính vì vậy mà cho đến

Trang 22

nay chúng ta vẫn chưa thấy có một định nghĩa thống nhất về quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã nêu ra những quan niệm không giống nhau về khái niệm quản lý

Xuất phát từ việc cho rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động và hợp tác lao động, cho nên cần có hoạt động quản lý Về vấn

đề này C.Mác đã cho rằng: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào

mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hòa giữa những hoạt động cá nhân một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [C Mác và F Ăng-ghen

Toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993]

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, chế độ xã hội,

về nghề nghiệp, v.v mà quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau Với sự phát triển của phương thức sản xuất xã hội và sự mở rộng trong nhận thức của con người hiện nay, sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái niệm quản lí ngày càng trở nên rõ rệt Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý Có thể nói rằng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý, nhất là trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mang tính chất bùng nổ của kinh tế-xã hội, các quan niệm về quản lý lại càng thêm phong phú

Thông thường, người ta xem xét khái niệm quản lý dưới hai góc độ: góc độ chính trị - xã hội và góc độ hành động

Ở góc độ chính trị - xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lãnh đạo mà trong sự vận hành của nó cần có một cơ chế phù hợp Cơ chế đúng và hợp lý thì thúc đẩy sự phát triển của xã hội, ngược lại, nếu cơ chế sai, không hợp lý thì sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, thậm chí càng làm

Trang 23

cho xã hội rối ren thêm Còn ở góc độ hành động, quản lý được hiểu là sự chỉ huy, điều khiển, điều hành

Nhìn vào sự vận hành của hoạt động quản lý, chúng ta có thể thấy rằng

về thực chất, quản lý cũng là một hành vi, trong đó có người tác động, người chịu tác động và mục đích của hành vi đó Nói cách khác, trong hoạt động quản lý có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục đích quản lý, 3 yếu tố này hợp thành hoạt động quản lý và có mối quan hệ hữu cơ với nhau Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải

là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, trong những điều kiện cụ thể

Như vậy, có thể hiểu rằng quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình

xã hội và hành vi của từng cá nhân nhằm hướng đến một mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan, dựa trên những chuẩn mực chung trong những thời điểm cụ thể

Trong định nghĩa này, chủ thể quản lý là người quản lý, tổ chức quản lý; khách thể hay đối tượng quản lý là các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, v.v… Hoạt động quản lý diễn ra tuân theo một hệ thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý.Trong xã hội luôn có nhiều nhiều phương diện, nhiều nhu cầu, đòi hỏi phải

có nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng những nhu cầu đó, chẳng hạn như: hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, văn hóa, giáo dục Mỗi lĩnh vực đều đặt dưới sự điều chỉnh của một cơ chế quản lý toàn xã hội, có sự chỉ đạo để điều hòa hoạt động của các cá nhân

từ đó hình thành nên hoạt động quản lý Thực chất hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động Quản lý diễn ra ở mọi tổ

Trang 24

chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của nó càng tăng lên Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc

Nhìn chung, có thể nói rằng quản lý là chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức Đồng thời, duy trì chế độ hoạt động thực hiện một chương trình và một mục tiêu của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý Hiểu theo nghĩa thông thường thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định

Trong xã hội hiện đại, quản lý có một vai trò đặc biệt vì nó giữ vị trí định hướng cho sự phát triển của một chế độ xã hội thông qua các phương pháp, cách thức thể chế hóa, đường lối chung Chức năng quản lý một lĩnh vực, một ngành bao gồm việc hoạch định chính sách, quy hoạch phát triển; chỉ đạo điều hành thông qua các chế tài và giám sát; quản lý hoạt động của ngành hay lĩnh vực đó

Quản lý di sản văn hóa là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất các các cấp độ, các địa phương Công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định bền vững để tồn tại và phát triển Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá cho nên chúng ta cần phải có những biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài Đồng thời phải làm cho các

di sản đến từ quá khứ phải trở thành một hợp phần quan trọng của đời sống xã hội hiện đại Tất cả những hoạt động đó được coi là những công việc thuộc về

Trang 25

quản lý di sản văn hóa Tuy nhiên, công tác quản lý di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giá trị đó phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại

Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được đề cập cụ thể tại Điều 54, Mục 1, chương 5 điều của Luật di sản văn hóa, gồm: 1/Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 2/Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 3/Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; 4/Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; 5/Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 6/Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa; 7/Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; 8/Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa”[41, tr.65-66]

Quản lý di sản văn hóa về bản chất là sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý để tác động đến đối tượng bị quản lý để đạt được mục tiêu đặt ra là bảo vệ lâu dài các yếu tố gốc cấu thành giá trị di sản văn hóa và phát huy giá trị phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp cư dân trong xã hội

Bàn về quản lý di sản văn hóa nhưng về cơ bản là quản lý các mặt hoạt động của con người có tác động theo cả hai chiều thuận và nghịch tới di sản văn hóa; không thể bỏ qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, tu bổ, tôn tạo, khai thác, sử dụng di sản văn hóa và phát triển kinh tế có liên quan

Trang 26

đến di sản Đối tượng của quản lý ở đây không chỉ là di sản mà còn bao gồm tất cả các hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa và cả những con người thực hiện các hoạt động đó Vì vậy trong quản lý di sản văn hóa người

ta luôn quan tâm đến vai trò và trách nhiệm xã hội của toàn thể cộng đồng

Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc trước hết vào các loại công cụ quản lý do các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và những người hoạch định chính sách đặt ra và sử dụng trong hoạt động quản lý di sản Có thể hiểu, công cụ quản lý là những cơ chế, chính sách, chủ trương đường lối của Đảng

và Nhà nước đã được phát triển, cụ thể thể hóa vào hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn, các quy hoạch, kế hoạch và dự án tu bổ, tôn tạo tác động trực tiếp tới di sản Ngoài ra hiệu quả của công tác quản lý di sản còn phụ thuộc vào tính hoàn chỉnh của tổ chức bộ máy, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý di sản và đặc biệt là sự tự nguyện tham gia của đông đảo tầng lớp cư dân trong xã hội Và cuối cùng, tiêu chí đánh giá hiệu quả của quản lý di sản văn hóa chính là các mục tiêu quản lý có được thực thi trong đời sống xã hội hay không? Nghĩa là yếu tố gốc, các mặt giá trị nổi bật của di sản có được bảo vệ và phát huy cao nhất phục vụ thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hay không? Quản lý nhà nước có thiết lập được sự cân bằng giữ bảo tồn và phát triển hay không

Vấn đề bảo tồn di sản thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng tựu lại có quan điểm chính đó là: 1/Quan điểm bảo tồn nguyên gốc; 2/Quan điểm bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa; 3/Quan điểm bảo tồn- phát triển [58, tr.80-86]

Theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, thì việc giữ gìn các di sản là đảm

bảo giữ nguyên trạng như sự vốn có của nó về kích thước, vị trí, đường nét,

Trang 27

màu sắc, kiểu dáng tránh tình trạng làm méo mó, biến dạng di sản Quan điểm này được các nhà bảo tàng học ủng hộ, đặc biệt là nó phù hợp với việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích và các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng Tổ chức UNESCO cũng có nhiều văn bản, công ước đề cập tới tính nguyên gốc của di tích chẳng hạn như: Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích (1964), Hiến chương Washington về bảo vệ thành phố và khu vực lịch sử (1987), Hiến chương Laussanne (1989) Về căn bản, đây là những lý thuyết về bảo tồn di tích được hình thành và tuân thủ ở nhiều quốc gia nhất là các nước phương tây, cốt lõi của nó là lấy việc bảo tồn tính nguyên gốc làm nguyên tắc và mục tiêu cao nhất

Trong khi đó những người theo quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa

lại cho rằng di sản cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian

và không gian cụ thể Khi di sản văn hóa ấy tồn tại trong một không gian và thời gian hiện tại, di sản cần phát huy giá trị văn hóa xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy [58, tr.82] Các nhà nghiên cứu nhận thấy quan điểm này gặp khó khăn ở chỗ cái nào là cần kế thừa, cần phát huy, yếu tố nào là thứ yếu và cần loại bỏ

Ngày nay, công chúng có thể tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa

của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau vì vậy mà quan điểm bảo tồn-

phát triển được nhiều học giả tán đồng Các nhà nghiên cứu nhìn nhận di sản

văn hóa theo những cách tiếp cận mới mẻ, phong phú nhất là về vai trò, giá trị của di sản văn hóa Theo đó, di sản văn hóa không còn được coi là sự vật của quá khứ với những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn Thay vào đó, di sản văn hóa được nhìn nhận lại như một quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động thực tại Và như vậy, di sản văn hóa là sản phẩm của thực tại, được tạo ra bởi cảm nhận về các giá trị của quá khứ, dẫn đường bởi những mối quan tâm đến vai trò của quá khứ trong các mối lo toan về thực tại và tương lai [9]

Trang 28

1.1.4 Quản lý di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử- văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể, do vậy nội dung quản lý di tích lịch sử- văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý di sản văn hóa Quản lý di tích lịch sử- văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử- văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và thực sự trở thành mục tiêu và động lực của phát triển Di tích phải hướng về cộng đồng và phục vụ sự phát triển cộng đồng, tạo động lực

để thu hút sự tham gia của họ vào hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Các di tích lịch sử- văn hóa cần được tôn trọng và bảo vệ trong mỗi quốc gia vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế du lịch Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của cộng đồng Như vậy, về thực chất, việc quản lý di tích nhằm hướng tới 2 mục

tiêu cơ bản: Một là, bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người; Hai là, khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích

phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội

Như vậy, quản lý di tích lịch sử văn hóa là quá trình tác động của chủ thể quản lý (chính là hệ thống các cơ quan quản lý di tích) tới đối tượng quản

lý (là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa) Để công tác quản lý có hiệu quả cần thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là di tích lịch sử văn hóa thì mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân và đáp ứng các yêu cầu của công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 29

1.2 Các loại di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu

Đình là yếu tố vật chất quan trọng nhất trong văn hóa làng Ngôi đình

là biểu tượng cho văn hóa làng Việt và khi nói đến văn hóa làng Việt là nói đến cây đa, giếng nước, sân đình

Đình làng ra đời vào khoảng thế kỉ XV, các ngôi đình cổ nhất còn lại hiện nay là: đình Thụy Phiêu (Ba Vì- Hà Nội- 1531), đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa- Bắc Giang- 1576), đình La Phù (Thường Tín- Hà Nội- 1579), đình Tây Đằng (Ba Vì- Hà Nội- 1583)

Đến thế kỉ XVI, Đình phát triển nhiều và đến thế kỉ XVII là sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Đình Đình không chỉ là biểu tượng cho làng xã Việt Nam mà còn là hình ảnh của con người Việt Nam, đặc biệt là trước cách mạng tháng Tám không ở đâu có hệ thống Đình phong phú như ở nông thôn miền Bắc nước ta Không biết tự bao giờ, Đình làng đã trở thành một bộ phận trong đời sống của bà con nông dân, đây là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói, mọi thay đổi trong đời sống văn hóa- xã hội của làng quê Việt Nam Có thể nói đình là biểu tượng, là linh hồn của làng quê, Đình là dấu ấn trong văn hóa truyền thống

Đình có ba chức năng chính đó là: chức năng hành chính, chức năng văn hóa và chức năng tôn giáo

Trước hết Đình là nơi thờ Thành Hoàng làng- người có công với làng Tín ngưỡng Thành Hoàng làng có nguồn gốc từ Trung Quốc và du nhập vào nước Việt Nam từ thời Bắc thuộc Thành Hoàng có nhiều loại: Đó có thể là nhân thần vật lịch sử (hay còn gọi là nhân thần) đã có công với đất nước như: các tướng của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo; có thể là các tăng ni cao đạo như: Không Lộ, Minh Không, Từ Đạo Hạnh; có thể là thiên thần như Thánh Tản Viên; có thể là những người có công lập làng (gọi là Tiền Thần), hay những ông tổ họ của làng, những người là tổ nghề (gọi là Tiền Sư)

Trang 30

Ngoài chức năng trên Đình còn có chức năng hành chính Đây là nơi thực hiện công việc của cả làng, cả xã Việc xử, việc phạt, khao đều được tiến hành tại Đình, phổ biến hương ước cũng được tiến hành tại đây Đây là nơi chứng kiến những việc của làng xã, những thay đổi trong tổ chức hành chính của làng quê Việt Nam

Chức năng văn hóa: Đình là nơi để biểu diễn kịch hay các hoạt động văn hóa nghệ thuật Đặc biệt vào là vào dịp lễ hội, ngoài phần lễ nghi không thể thiếu phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: múa hát, trọi trâu, trọi gà, đánh đu, bơi thuyền, hát xoan ghẹo Ở lễ hội, một mặt người ta biểu dương, giáo dục truyền thống tốt đẹp của quê hương đất nước, hướng con người ta đến cái “chân- thiện- mỹ ”, ở đây họ tìm thấy sự thoải mái và bình đẳng Mỗi dịp lễ hội như là một lần hẹn, vào dịp này tại mỗi làng quê, những người lao động không phải lo nghĩ gì, họ thả hồn mình đi trảy hội, đây là dịp để nam nữ hẹn hò gặp mặt Đình cũng là nơi để phát hiện, nuôi dưỡng những môn nghệ thuật độc đáo Ngay kể cả vào dịp không có lễ hội, mỗi khi thoáng mát, Đình cũng là nơi nghỉ ngơi, trò chuyện của người dân làng quê

Việc xây dựng đình có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của dân làng Người dân Việt Nam luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho Đình làng Đình được xây dựng do sự đóng góp tài sản và sức lực của mọi thành viên trong làng Đình là nơi hội tụ những nét đẹp về mặt truyền thống, kiến trúc nghệ thuật và cả yếu tố phong thủy Để xây dựng Đình, người dân phải chọn một mảnh đất có phong thủy đẹp, tức là địa điểm đó phải có sông, có cây, có hướng đất đẹp, là nơi cao ráo, có long mạch Chính vì vậy nhiều Đình để tạo thế đất người ta đào ao, hồ nước trước cửa đình

Ngoài những giá trị văn hóa, xã hội mà đình để lại cho đến ngày nay, thì giá trị kiến trúc - nghệ thuật lại không thể bỏ qua và đặc biệt ở đây là nghệ thuật điêu khắc Tại đây ghi lại sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật điêu

Trang 31

khắc, đặc biệt là hình tượng con rồng Các nghệ nhân đã dùng đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn của mình để khắc họa lên những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của người dân Việt Nam Tạo cho đình một không gian thoáng mát, linh thiêng và hội tụ những giá trị nghệ thuật cao đẹp Đây không chỉ là những bằng chứng xác thực cho một thời kì, một nền văn hóa mà là một nguồn tài liệu về lịch sử- mỹ thuật Việt Nam để nghiên cứu đời sống hàng ngày cũng như tâm hồn của người dân Việt Nam

Giống như Đền và Chùa, là những nơi linh thiêng nhưng lại là nơi có kiến trúc tôn giáo khác biệt Tại đây ta có thể bắt gặp những hình ảnh sinh động gần gũi với cuộc sống đời thường Cảnh hội hè đình đám: uống rượu, bơi chải, chọi gà; cảnh lao động làm ăn: dựng đình, săn hươu; cảnh sinh hoạt

ở làng: bế con, gánh con, cõng con đã biến những khúc gỗ vô tri vô giác thành những bức trạm trổ mang tính nghệ thuật cao; cũng có khi là những hình ảnh thoáng đạt như hiện tượng đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tự tình; cũng

có thể là hình tượng người phụ nữ ngồi khỏa thân

Qua sự biến đổi, phát triển của thời gian đến nay đã có nhiều ngôi Đình trở thành kiệt tác nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đặc sắc, độc đáo và trở thành những di tích lịch sử văn hoá quốc gia như: đình Tây Đằng (Hà Nội), Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Phù Lão (Vĩnh Phúc)

Chùa là một loại di tích lịch sử, có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, chiếm

số lượng lớn, do vậy chùa có vị trí quan trọng trong di sản văn hóa nước ta

Chùa có lịch sử ra đời và phát triển gắn liền với sự du nhập và phát triển của đạo phật ở nước ta và lịch sử phát triển của đất nước

Chùa được phát triển theo thời gian và phân hóa theo không gian, làng nào cũng có chùa (đất vua chùa làng) Chùa Việt Nam chủ yếu là chùa làng và chùa nước Chùa làng thường được xây dựng trong một không gian đẹp, yên

Trang 32

tĩnh, trong lành tĩnh mịch, nơi hội tụ khí thiêng trời đất Giống với chùa làng, chùa nước là những ngôi chùa có lịch sử hình thành và phát triển sớm, có quy

mô lớn, giá trị về văn hóa, lịch sử, tôn giáo, là nơi tu hành của các vị cao tăng

Do vậy, đây là loại hình di tích lịch sử văn hoá có sức lôi cuốn và hấp dẫn với

du khách trong những chuyến thăm quan, trong những chuyến hành hương của khách du lịch

Chùa có vai trò và vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam Nó giúp con người sống tốt hơn, lương thiện hơn do đó mà

họ có triết lý là sau khi chết đi linh hồn mình sẽ được siêu thoát và được lên cõi niết bàn Chùa không chỉ là nơi thực hiện các nghi thức tôn giáo mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa của làng xã Việt Nam Trải qua bao thăng trầm của lịch

sử những ngôi chùa vẫn tồn tại trong đời sống của người Việt Nam và nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống tâm linh của người Việt Nam Chùa ở Việt Nam còn có những nét đặc biệt đó là trong chùa không chỉ thờ phật mà trong nhiều trường hợp còn thờ cả thần Bởi các tôn giáo Việt Nam không hề bài xích nhau mà cùng hòa hợp với nhau và hòa hợp với tín ngưỡng bản địa Đây chính là nét khác biệt của chùa ở Việt Nam so với các chùa khác trong khu vực

Về mặt kiến trúc: các giá trị kiến trúc, lối kiến trúc của chùa thay đổi theo không gian và thời gian, đồng thời biến đổi đa dạng theo tín đồ Phật giáo pha trộn với tín ngưỡng bản địa Việt Nam Kiến trúc, điêu khắc của chùa thể hiện tư tưởng, phong tục tập quán làng xã, sự phát triển của làng xã Việt Nam qua các thời kỳ

Các khái niệm hay tên gọi này thường không có sự nhất quán giữa các làng song nhìn chung đây là nơi thờ thần linh, thành hoàng trú ngụ vì nhiều lí

do khác nhau: là nơi sinh, nơi hóa của thần, nơi thần dừng chân, nơi đóng doanh trại của thần

Trang 33

Đền là từ dùng chung chỉ mọi kiến trúc có liên quan đến thần linh, là giáo đường để con người thực hiện nghĩa vụ thông linh và vấn linh Đền là nơi thờ của các vị thần như: nhân thần, thiên thần, những danh nhân hay những vị anh hùng dân tộc, những tướng lĩnh nghĩa sĩ

Đền có lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước

Vì vậy, đây là loại di tích lịch sử- văn hoá có lịch sử phát triển lâu đời nhất ở nước ta Đền thường được xây dựng ở những nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nơi sinh hoặc nơi hóa của các thần điện

Các ngôi đền có chức năng riêng, kiến trúc riêng và tên gọi riêng Thứ nhất là các ngôi đền có liên quan đến Đạo giáo và Lão giáo, được gọi là Quán Vào thời Lý, Trần, Lê Sơ, các quán Đạo nước ta chủ yếu thờ thần tiên dân tộc, một số Quán trở thành đình (như quán Giá thuộc huyện Hoài Đức- Hà Nội) hoặc thành chùa (như chùa Sổ ở huyện Thanh Oai- Hà Nội) Còn những đền thờ thần linh mang tính chất phong thủy gọi là quán Đạo Từ thế kỉ XVI trở đi có nhiều quán Đạo Lão là sản phẩm của tư tưởng xã hội được hình thành Các dạng đền khác nằm ngoài mục đích thờ thần linh, anh hùng dân tộc thì thuộc hệ thống miếu thờ những bậc thánh và những vị tiên hiền Một dạng đền khác gắn với tín ngưỡng dân gian, chủ yếu là thờ Mẫu gọi là Điện Mẫu

Các kiến trúc mang tính chất trung tâm là nơi thờ Mẫu và tập hợp được nhiều tín đồ địa phương gọi là Phủ

Ở đây ta bắt gặp những giá trị thẩm mỹ nghệ thuật khác nhau như: các nhang án, đồ tế tự, tượng và đặc biệt là những hoành phi thường được sơn son thiếp vàng Những nét kiến trúc của Đình thường gắn liền với các truyền thuyết

Vì vậy, đền là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử truyền thuyết dân tộc Đây là một hình thức giáo dục truyền thống gắn với tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt

Trang 34

1.2.4 Di tích cách mạng kháng chiến

Các di tích cách mạng kháng chiến là di tích ghi lại một sự kiện trọng đại của lịch sử cách mạng địa phương có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng của địa phương, khu vực hay của cả quốc gia: hang Pác Pó, đình Hồng Thái, địa đạo Vĩnh Mốc, hầm Đờ Cát

1.3 Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử- văn hóa

Từ sau năm 1945, hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng để làm cơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc

biệt là công tác quản lý các di tích lịch sử- văn hóa

- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 quy

định nhiệm vụ của Đông Phương bác cổ học viện và đề cập tới việc cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện,

thành quách cùng lăng mộ phải được bảo tồn

- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ kí ngày 29/10/1957, quy

định Thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung

- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử- văn hóa và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban

hành ngày 4/4/1984 Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất, là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích

bằng các điều luật cụ thể

- Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chính

sách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, mở rộng phạm vi điều

Trang 35

chỉnh cả di sản văn hóa phi vật thể là một vấn đề mà đã được nhiều quốc gia

đề cập tới Luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn di sản văn hóa Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Vì vậy, năm 2009, Quốc hội

đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa

- Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký

Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020 Dự

án này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa,danh làm thắng cảnh ở nước ta

hiện nay

- Một số công ước quốc tế liên quan đến các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa

+ Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được

UNESCO ban hành năm 1972 đã khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đồng thời thức tỉnh ý thức của nguyên thủ các quốc gia cũng như toàn nhân loại về trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa Công ước hướng dẫn các yêu cầu và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời hướng dẫn cơ chế giám sát mang tính toàn cầu đối với hoạt

Trang 36

động của từng quốc gia thành viên bảo đảm sự toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thông qua một tổ chức thống nhất quản lý di sản và kế hoạch quản lý thích ứng cho các di sản được đưa vào danh mục di sản thế giới

+ Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO thông qua

năm 2003 là công ước tôn vinh giá trị di sản văn hóa phi vật thể cũng như tính

đa dạng văn hóa toàn nhân loại, đề cao vai trò của cộng đồng cư dân địa phương với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa- chủ sở hữu, người thụ hưởng giá trị- người trực tiếp bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội Công ước đặt ra danh mục hai loại hình di sản văn hóa phi vật thể là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể trong tình trạng khẩn cấp nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, vai trò của cộng đồng cư dân địa phương

+ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa

được UNESCO thông qua năm 2005 Công ước có mục đích bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được thể hiện và truyền tải cụ thể trong các hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa- các phương tiện của nền văn hóa đương đại Đồng thời, đặt ra một khung pháp lý thuận lợi cho tất cả các quốc gia thành viên trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, truyền bá, tiếp cận và hưởng thụ các biểu đạt văn hóa từ nhiều nguồn gốc khác nhau

2 Khái quát về huyện Hà Trung

2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Châu, Hà Đông, Hà Dương, Hà Giang, Hà Hải, Hà Lai, Hà Lâm, Hà Lĩnh, Hà Long, Hà Ngọc, Hà Ninh, Hà Phong, Hà Phú, Hà Sơn, Hà Tân, Hà Thái, Hà Thanh, Hà Tiến, Hà Toại, Hà Vân, Hà Vinh, Hà Yên và thị trấn Hà Trung

Trang 37

Huyện Hà Trung được hình thành từ rất sớm, là một trong những cái

Giang, thuộc Châu Ái Thời thuộc Minh, là phần đất chủ yếu của huyện Tống

Tống Sơn được gọi là quý huyện, Gia Miêu được gọi là quý hương Về sau,

Sơn do phủ Hà Trung kiêm lý Tống Sơn là đất xuất tích của triều Nguyễn

Trải qua các thời kỳ lịch sử, huyện Hà Trung với những tên gọi khác nhau: Tống Giang, Tống Sơn Vùng đất này là nơi phát tích của triều Nguyễn, một triều đại phong kiến phát triền cực thịnh với các thiết chế nhà nước được xây dựng hoàn hảo từ Trung ương tới địa phương, từ bang giao đến mở mang

bờ cõi, từ phát triển kinh tế đến chấn hưng và phát triển văn hóa dân tộc Thời

kỳ nào cũng vậy! Người Hà Trung luôn cần cù, dũng cảm, thông minh, giàu tình thương, trọng lẽ phải, anh dũng, kiên cường trong chiến đầu chống giặc ngoại xâm, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên gan bền bỉ trong phòng chống và khắc phục thiên tai

Vị trí địa lý Hà Trung là một huyện đồng bằng nằm ở phía bắc tỉnh

qua đang được xây dựng

Trang 38

Với vị trí địa lý tự nhiên rõ ràng và đặc biệt như vậy, cho nên mặc dù khép kín trong vành đai bao bọc của núi- sông thiên nhiên tạo nhưng vốn từ lâu, huyện Hà Trung vẫn luôn là vùng đất mở, cửa ngõ nối liền hai miền Trung- Bắc Từ huyện Hà Trung theo đường bộ, đường sắt và đường sông, chúng ta có thể đi lại và liên lạc khắp các vùng, miền trong, ngoài tỉnh Các con đường thượng đạo, hạ đạo thông thương với Ninh Bình để ra với xứ Bắc đều bắt đầu từ đây Vùng Hà Vinh với cửa biển Thần Phù cũ và sông Lèn đến Ngã Ba Bông- nơi “một con gà gáy 5 huyện cùng nghe” đều là vùng đất để tiếp nhận các luồng văn hóa, văn minh từ các phương đổ về Chính vị trí và giới hạn địa lý này đã tạo ra cho Hà Trung nhiều thế mạnh và sắc thái riêng biệt mà những vùng đất khác không thể nào có được [37]

Là vùng tiếp nối giữa trung du và đồng bằng ven biển, Hà Trung có thể chia thành hai dạng địa hình cơ bản là vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng chiêm trũng Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía Tây Bắc được bao bọc bởi nhiều dãy đồi núi cao, đã làm cho địa hình huyện Hà Trung, tuy là huyện đồng bằng, nhưng mang tính đa dạng hơn Do địa hình tạo thành nhiều tiểu vùng dạng lòng chảo, nên mùa mưa thường hay ngập úng cục bộ, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân Xưa kia, Hà Trung trong bức tranh toàn cảnh, chúng ta đều thấy rõ đó là một vùng nhiều đồi núi bao bọc, chen giữa các xứ đồng thấp trùng quanh năm ngập nước bị chia cắt manh mún bởi địa hình núi- sông Người dân xứ Thanh từ lâu vẫn gọi đây là vùng đất trũng “chiêm khê mùa thối” [37]

Về mặt địa hình, theo các nhà địa lý học Việt Nam và Thanh Hóa thì huyện Hà Trung và thị xã Bím Sơn được xếp là “vùng cảnh quan, núi đồi thấp” Cùng với phần nhỏ huyện Thạch Thành, Hoằng Hóa thì đây là “phần rìa đông của nếp sống sông Mã tiếp nối với dải núi đối thấp Hòa Bình, Thanh Hóa ở phía Tây- Tây Bắc” Đặc điểm địa hình của vùng đồi núi thấp này

Trang 39

không mấy phức tạp như các vùng đồi núi khác Độ cao của vùng núi thấp Hà Trung- Bỉm Sơn thường ít vượt quá 250m [37]

Dạng địa hình chủ yếu của Hà Trung là bao gồm các đồi, núi thấp xen

kẽ với các mảnh bình nguyên cổ, giữa chúng là các thung lũng dạng xâm thực, bồi tụ hoặc thung lũng lũ tích

Do đặc điểm địa hình như trên nên điều kiện khí hậu ở vùng này tương đối giống với vùng cảnh quan đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhưng thực tế lại có sự khác biệt trong chừng mực nhất định như biên độ dao động nhiệt độ

vùng địa hình này vẫn tương đối ôn hòa và thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và canh tác nông nghiệp trong suốt cả 4 mùa

Tuy địa hình không đa dạng và phức tạp như các vùng núi cao khác, nhưng do những yếu tố cao thấp không đều và sự chia cắt, xé nhỏ bởi địa hình sông, núi mà vùng đất Hà Trung ngoài những yếu tố thuận lợi thì cũng còn vô

số những khó khăn, thách thức trong quá trình chinh phục, cải tạo thiên nhiên

để phát triển kinh tế và văn hóa [Nguồn: tổng hợp từ cổng thông tin điện tử

[Nguồn: tổng hợp từ cổng thông tin điện tử huyện Hà Trung].

2.3 Sự phát triển kinh tế - xã hội

Hà Trung đã có bước phát triển nhanh, mạnh Các ngành kinh tế tiếp tục ổn định và phát triển mạnh mẽ, văn hoá- xã hội có nhiều khởi sắc, nhất là

Trang 40

trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo Đến nay, cùng với sự phát triển của cả nước, kinh tế huyện Hà Trung có những bước phát triển đáng kể Sản xuất hàng hóa phát triển đều cả về quy mô và chất lượng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực tăng trưởng cao Công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệp nông thôn được phát triển, thích ứng dần với cơ chế thị trường

Hà Trung đã tập trung tuyên truyền, quảng bá, kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế của huyện như khai thác, sản xuất, chế biến vật liệu xây dựng, dịch vụ du lịch, phát triển ngành nghề, nuôi trồng thủy sản, phát triển kinh tế trang trại Trước mắt tập trung vào các công trình trọng tâm, trọng điểm như: điểm du lịch từ cầu Lèn đến đền cô bơ, khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tâm Quy, Hồ Con Nhạn, cụm di tích thắng cảnh Ba Bông- Hàn Sơn; cụm di tích lăng miếu Triệu Tường (Hà Long), các cụm công nghiệp làng nghề Hà Phong mở rộng, Hà Lĩnh, Hà Tân, Hà Bình, Hà Long,

Hà Dương, vùng kinh tế trang trại Đông- Phong- Ngọc; trung tâm các xã, các

tụ điểm kinh tế, di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh Tạo mọi điều kiện thuận lợi về môi trường đầu tư để các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện tham gia đầu tư phát triển làm giầu cho mình và quê hương

Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, huyện Hà Trung đã tập trung vào các lĩnh vực có nhiều tiềm năng, thế mạnh như: sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác chế biến đá xuất khẩu , chú trọng khôi phục ngành nghề truyền thống; nhanh chóng đưa ngành nghề mới để phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Tập trung đầu tư phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở 5 cụm kinh tế tổng hợp: Đò Lèn (Thị trấn), Gũ (Hà Phú), Cầu Cừ (Hà Yên- Hà Dương), xã Hà Lĩnh, Bái Đền (Hà Long)

2.4 Truyền thống lịch sử và văn hóa

Ngày đăng: 11/08/2020, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A Radughin (chủ biên) (2004), Văn hóa học những bài giảng, bản dịch của Vũ Đình Phòng, Từ Thị Loan hiệu đính, Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học những bài giảng
Tác giả: A.A Radughin (chủ biên)
Năm: 2004
2. Đặng Văn Bài (1995), “Tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, In trong cuốn Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Cục Di sản văn hóa, tập 3, tr.373 - 388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, In trong cuốn "Một con đường tiếp cận "di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 1995
3. Đặng Văn Bài (2001), “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4, tr.11 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2001
4. Đặng Văn Bài (2006), “Bảo vệ di sản văn hóa trong qui hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam”, In trong cuốn Một con đường tiếp cận di sản văn hóa , Cục Di sản văn hóa xuất bản, Tập 3, tr.413- 420, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa trong qui hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam”, In trong cuốn "Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
5. Nguyễn Chí Bền (2005), “Bảo tồn di sản văn hóa vật thể Thăng Long- Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4, tr.31- 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa vật thể Thăng Long- Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2005
6. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hoá Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hoá Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
7. Nguyễn Chí Bền (2006), “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay”, Báo văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Chí Bền (2006), “"Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2006
9. Phan Thanh Bình (2012), Nhận thức mới về di sản văn hóa, www.vietnamnet.vn, ngày 19/6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức mới về di sản văn hóa
Tác giả: Phan Thanh Bình
Năm: 2012
10. Trương Quốc Bình (2008), “Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4, tr.9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2008
11. Trương Quốc Bình (2009), “Đổi mới hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa”. Tạp chí Cộng sản, số 2, tr.72 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa”. "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2009
14. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2010), Chỉ thị Về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị Về việc tăng cường công tác
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2010
16. Cục Di sản văn hóa (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Năm: 2007
17. Cục Di sản văn hóa (2012), Tuyển tập văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động bảo tàng (tuyển dịch) , Người dịch: Nguyễn Đạt Thức, biên soạn: Cục văn vật quốc gia Trung quốc, Hiệp hội bảo tàng Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Di sản văn hóa (2012), Tuyển tập văn bản quy phạm pháp luật về hoạt "động bảo tàng (tuyển dịch)
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Năm: 2012
18. Đại Việt sử ký toàn thư (1983), tập 1, Dịch theo bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
22. Dự án quỹ Ford - Viện Văn hóa Thông tin (2004), Nhập môn Quản lý văn hóa nghệ thuật , Tài liệu thuộc Dự án Nghiên cứu giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam do TS Lương Hồng Quang và ThS Đỗ Thị Thanh Thủy dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Quản lý văn hóa nghệ "thuật
Tác giả: Dự án quỹ Ford - Viện Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
24. Phạm Duy Đức (chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Duy Đức (chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn "2010 -"2020 xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
25. Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên) (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
26. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2011), “Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1, tr.52- 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w