1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện thanh trì, thành phố hà nội

144 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 4,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu công tác quản lý di tích lịch sử văn trên địa bàn huyện Thanh Trì. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Đề tài nghiên cứu hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Về thời gian: Đề tài chọn thời điểm nghiên cứu từ năm 2013 cho đến nay nhằm đánh giá công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì bởi những lý do sau: Thứ nhất, năm 2010 kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội là năm đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Thứ hai, từ năm 2013 đến nay, huyện Thanh Trì đã thu hút các nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa để bảo tồn, tôn tạo nhiều hạng mục công trình di tích trọng điểm. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì từ năm 2013 đến nay. Đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý hệ thống di tích lịch sử văn hóa của huyện Thanh Trì trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Xây dựng cơ sở lý luận để phân tích hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thanh Trì. Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì. Khảo sát điễn dã nghiên cứu thực địa. Thực hiện 100 phiếu điều tra xã hội học với đối tượng phỏng vấn gồm phòng VH TT huyện, các Ban QLDT xã, Tiểu BQLDT thôn. Bàn luận về một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thanh Trì. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp tổng hợp tư liệu bằng cách: nghiên cứu, chụp ảnh, khảo tả, cùng với các nguồn tư liêu do các đơn vị quản lý nhà nước về di sản văn hóa cung cấp. Trên cơ sở kết quả thu được, tiến hành so sánh, phân tích và tổng hợp tài liệu. Phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm sáng tỏ tư liệu và luận giải đối tượng, chú trọng phương pháp đối chiếu, so sánh để tìm ra ý nghĩa, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. 6. Đóng góp của luận văn Góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết về những giá trị đặc trưng của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xây dựng cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thanh Trì trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.

Trang 1

********

NGUYỄN VĂN TƯỜNG

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Ở HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 60 31 06 42

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Hoài Sơn

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Hoài Sơn Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tường

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THANH TRÌ 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa 11

1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa 12

1.1.3 Khái niệm quản lý và quản lý di tích lịch sử - văn hóa 13

1.1.4 Hệ thống văn bản của Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 17

1.1.5 Quy chế quản lý di tích lịch sử - văn hóa của thành phố Hà Nội 20

1.1.6 Quy chế quản lý di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thanh Trì 23

1.2 Tổng quan huyện Thanh Trì và hệ thống di tích lịch sử - văn hóa 25

1.2.1 Tổng quan huyện Thanh Trì 25

1.2.2 Khái quát hệ thống di tích ở huyện Thanh Trì 29

1.2.3 Một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của huyện Thành Trì 31

1.2.4 Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thanh Trì trong đời sống xã hội 41

Tiểu kết 44

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THANH TRÌ 45

2.1 Khái quát bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 45

2.1.1 Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội 45

2.1.2 Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội 47

2.1.3 Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thanh Trì 48

2.1.4 Ban quản lý di tích xã 51

2.1.5 Tiểu Ban quản lý di tích thôn 53

2.2 Thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì 54

2.2.1 Xây dựng kế hoạch quản lý di tích lịch sử - văn hóa 54

2.2.2 Ban hành các văn bản nhà nước về hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa 56

2.2.3 Lập hồ sơ quản lý di tích lịch sử - văn hóa 56

2.2.4 Xây dựng, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 58

2.2.5 Nghiên cứu khoa học dành cho di tích lịch sử - văn hóa 59

2.2.6 Quản lý các nguồn lực bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa 60

2.2.7 Công tác thanh tra, kiểm tra di tích lịch sử - văn hóa 62

2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 63

Trang 4

2.3.1 Đánh giá của người dân đối với công tác quản lý di tích lịch sử -

văn hóa 64

2.3.2 Đánh giá của chính quyền địa phương về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 68

2.3.3 Những thành tựu và hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 74

Tiểu kết 78

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THANH TRÌ 79

3.1 Vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì 79

3.1.1 Sự tác động của quá trình đô thị hóa đối với công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 79

3.1.2 Định hướng quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì những năm tới 81

3.2 Quan điểm và mục tiêu quản lý di tích lịch sử - văn hóa 82

3.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội 82

3.2.2 Quan điểm của huyện Thanh Trì 87

3.2.3 Ý kiến của người dân 89

3.2.4 Mục tiêu và nguyên tắc bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa 89

3.3 Giải pháp quản lý và khai thác giá trị của di tích 91

3.3.1 Giải pháp cơ chế chính sách 91

3.3.2 Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 92

3.3.3 Giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 94

3.3.4 Giải pháp huy động nguồn lực tài chính 94

3.3.5 Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức 95

3.3.6 Giải pháp kiện toàn bộ máy quản lý di tích lịch sử - văn hóa 97

3.3.7 Giải pháp thanh tra, kiểm tra di tích lịch sử - văn hóa 98

3.3.8 Giải pháp phối hợp liên ngành trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 99

3.3.9 Giải pháp phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 100

3.3.10 Giải pháp xã hội hóa các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 101

Tiểu kết 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 112

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Huyện Thanh Trì là địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng Vùng đất này đã ghi dấu những địa danh đầy chiến tích huy hoàng chống giặc ngoại xâm, như địa danh Triều Khúc, nơi đóng quân của Phùng Hưng trong cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường; Ngọc Hồi - Đầm Mực, chứng kiến chiến công oanh liệt của đại quân Quang Trung - Nguyễn Huệ vào xuân Kỷ Dậu 1789 Những yếu tố về địa danh, lịch sử văn hóa của huyện Thanh Trì đã tạo nên một kho tàng di sản văn hóa phong phú và đa dạng Theo khảo cứu số liệu của phòng văn hóa huyện Thanh Trì, trên địa bàn huyện có tổng

số 64 di tích lịch sử - văn hóa, bao gồm 37 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 17 di tích xếp hạng cấp thành phố Với số lượng di tích đình, đền, chùa tương đối lớn trên địa bàn huyện đã góp phần đáp ứng về đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng dân cư và các vùng lân cận trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (2001), công tác quản lý di tích trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích

Cá biệt có một số di tích đã bị mất cắp cổ vật, di vật, tình trạng này đã gây bức xúc trong dư luận suốt thời gian dài Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước còn chưa cao Bên cạnh đo, sự phối kết hợp giữa chính quyền địa phương và cộng đồng dân

cư trong việc quản lý di tích còn nhiều bất cập

Cùng với sự phát triển trung của thành phố Hà Nội, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm này sinh nhiều vấn đề trong đời sống, đã tác động không nhỏ tới hệ giá trị văn hóa truyền thống trong mối quan hệ giữa con người với di sản văn hóa, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Trang 8

Nhiều di tích có giá trị lịch sử lâu đời đang có nguy cơ bị hủy hoại do thiếu ý thức của con người, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt đem lại Đó là lý

do học viên lựa chọn vấn đề “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hóa

Nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hóa không phải là chủ đề mới, ngay cả trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý văn hóa

đã có một số công trình tiêu biểu có liên quan đến như:

- Đào Thị Huệ, Quản lý các di tích lịch sử – văn hoá trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2008;

- Nguyễn Doãn Văn, Quản lý di tích lịch sử – Văn hoá trên địa bàn Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2009;

- Đặng Thị Kim Thoa, Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2010;

- Nguyễn Văn Tiệp, Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Oai – Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, luận văn Thạc sĩ năm 2011; Nguyễn Thị Hiền, Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Chương Mỹ, thành phố

Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2011; Phạm Vũ Sơn, Quản lý di tích lịch sử quân sự tiêu biểu ở Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2011; Nguyễn Tiến Lộc, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà

Nội (hiện trạng và giải pháp), luận văn Thạc sĩ năm 2011;

- Trần Thị Vân Anh, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội , luận văn Thạc sĩ năm 2012; Nguyễn Mạnh Cường, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở nội thành thủ đô Hà Nội , luận văn Thạc sĩ năm 2012; Nghiêm Thị Thanh Nguyệt, Quản lý di tích lịch sử văn

Trang 9

hóa quận Hà Đông , thành phố Hà Nội , luận văn Thạc sĩ năm 2012; Nguyễn Thị Phương, Quản lý di tích , danh thắng quận Tây Hồ trong cơ chế thi ̣ trường, luận văn Thạc sĩ năm 2012;

- Trần Thị An, Quản lý nhà nước về văn hoá ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2013; Nguyễn Thu Hiền, Quản lý hệ thống di tích lịch sử văn hoá găn với Hội Gióng ở Làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2013;

- Nguyễn Thị Thu Hiền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2013; Ngô Thị Hương, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2014; Vũ Khắc Lương, Quản lý di tích lịch

sử văn hóa trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2014; Nguyễn Thúy Nga, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2014;

- Nguyễn Thị Vân Hà, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015; Bùi Thị Minh Hiền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015; Nguyễn Thị Thanh Huyền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015;

Các công trình này cung cấp thông tin để tác giả luận văn có thêm kiến thức chung về công tác quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa để thực hiện đề tài luận văn của mình

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì

Trước đây đã có nhiều công trình sách, bài viết nghiên cứu về vùng đất, con người và truyền thống văn hóa, di tích lịch sử ở huyện Thanh Trì Tiểu biểu, một số tác giả: Mai Hồng (chủ biên), Đinh Công Vỹ, Nguyễn Tài Học,

Trang 10

Truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng huyện Thanh Trì, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2007; Bùi Xuân Đính, sách Đại Áng - truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng, Nxb Hà Nội, năm 2011…đã khái quát về tổng quan

lịch sử hình thành và phát triển của huyện Thanh Trì Trong đó, nhóm tác giả

đã đi sâu nghiên cứu về truyền thống cách mạng của người dân huyện Thanh Trì trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc Mỹ, cũng như những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới

Một số tác giả như, Nguyễn Quang Lê, sách Nghiên cứu văn hóa dân gian làng cổ Đông Phù, Nxb Văn hóa Dân tộc, năm 2010; Trần Văn Mỹ, Làng Đại Lan những nét văn hóa xưa, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2010…đi

sâu nghiên cứu về sinh hoạt văn hóa dân gian, cũng như đời sống lao động, sản xuất, nét ứng xử văn hóa của người dân huyện Thanh Trì từ thời Pháp thuộc đến nay Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả: Lê Đình Hùng,

Nguyễn Xuân Thủy, Trần Thị Vân, Thanh Trì - di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2014… đã tập hợp, thống kê số

lượng, loại hình di tích và lễ hội trên địa bàn huyện Thanh Trì Trong đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu, miêu tả về kiến trúc nghệ thuật, nhân vật thờ tự của hệ thống di tích gắn với lễ hội truyền thống của địa phương

Nhìn chung, tất cả những công trình khoa học đước đây chỉ nghiên cứu

về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, mà chưa đề cập đến công tác quản lý di tích lịch sử

- văn hóa ở huyện Thanh Trì Luận văn đã kế thừa những thành tựu nghiên

cứu của đề tài đi trước để tìm ra những luận điểm nghiên cứu riêng của mình nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài nghiên cứu

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu công tác quản lý di tích lịch sử - văn trên địa bàn huyện Thanh Trì

Trang 11

Thứ nhất, năm 2010 kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội là năm

đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Thứ hai, từ năm 2013 đến nay, huyện Thanh Trì đã thu hút các nguồn

vốn nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa để bảo tồn, tôn tạo nhiều hạng mục

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận để phân tích hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì

- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì

- Khảo sát điễn dã nghiên cứu thực địa Thực hiện 100 phiếu điều tra

xã hội học với đối tượng phỏng vấn gồm phòng VH - TT huyện, các Ban QLDT xã, Tiểu BQLDT thôn

- Bàn luận về một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch

sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp tư liệu bằng cách: nghiên cứu, chụp ảnh, khảo

tả, cùng với các nguồn tư liêu do các đơn vị quản lý nhà nước về di sản văn hóa cung cấp Trên cơ sở kết quả thu được, tiến hành so sánh, phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm sáng tỏ tư liệu và luận giải đối tượng, chú trọng phương pháp đối chiếu, so sánh để tìm ra ý nghĩa,

đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết về những giá trị đặc trưng của

hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xây dựng cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, chú thích, danh mục tài liệu tham khảo

và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì

Chương 2: Thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thanh Trì

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN HỆ THỐNG DI TÍCH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THANH TRÌ

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Khái niệm di sản văn hóa là một thuật ngữ khoa học được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, xuất phát từ quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản Để tránh sự thất thoát, chính phủ Pháp đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia Sau này khái niệm di sản văn

hóa đã được Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới của

UNESCO, năm 1972 định nghĩa như sau “Các di tích, các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo

cổ học, các dấu khắc, các nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học” [8]

Ở Việt Nam, di sản văn hóa được quy định trong phần nói đầu của Luật Di sản văn hóa, ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Điều 1, Luật Di sản văn hóa nói cụ thể hơn: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [35]

Từ nhận thức trên, di sản văn hóa có những đặc điểm như sau: 1/Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc

Trang 14

2/Tính đặc trưng của dui sản trong thời kỳ lịch sử nhất định 3/Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác 4/Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau, dễ dàng bị hư hỏng, bị phá hủy và bị mai một đi do những tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý văn hóa phải

có chính sách và giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ mới

1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa

Khái niệm về di tích là một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biến

ở Việt Nam và trên thế giới Tại Đại hội quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư

và các kỹ thuật gia chuyên về di tích, họp tại thành phố Venice từ ngày 25 - 31/5/1964 đã thông qua Hiến chương Venice, theo đó di tích được hiểu:

“Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có

ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử” [49]

Theo Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh” công bố ngày 04/4/1984 thì “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội”

Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa X, thông qua trong kỳ họp thứ IX ngày 29 tháng 9 năm

2001 định nghĩa tại Điều 4: “Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó

có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

Để được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cần phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 28, chương IV, Luật Di sản Văn hóa: 1/Công trình xây

Trang 15

dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước 2/Công trình xây dựng địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, của danh nhân đất nước 3/Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng kháng chiến 4/Quần thể các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

Theo Luật Di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa được phân loại theo những đặc điểm như sau: 1/Các loại hình di tích: Loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình di tích khảo cổ học, loại hình di tích danh lam thắng cảnh 2/Phân loại xếp hạng di tích: Di tích quốc gia đặc biệt,

di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh 3/Dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại: Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý, di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý, di tích do cá nhân, cộng đồng quản lý 4/Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích được phân thành 2 loại: Di tích có khả năng khai thác, di tích chưa có khả năng khai thác

Từ các khái niệm trên có thể khẳng định rằng di tích lịch sử - văn hóa

là tài sản vô giá của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc Do đó, khi tiến hành công tác nghiên cứu, quản lý thì yêu cầu chủ thể phải tiếp cận cận một cách chân xác hệ thống giá trị của di sản văn hóa

1.1.3 Khái niệm quản lý và quản lý di tích lịch sử - văn hóa

* Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động nhằm đảm vận hành một hệ thống, một tổ chức một cách hiệu quả và khoa học Như vậy quản lý được hiểu như là:

“Chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức nhằm bảo đảm giữ gìn một

cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và đảm bảo thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [50, tr.580]

Trang 16

Trong đời sống xã hội, hoạt động quản lý bao gồm nhiều phương diện nhu cầu, đòi hỏi nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng nhu cầu

đó Mỗi lĩnh vực hoạt động này đều đặt dưới sự chỉ huy của một cơ chế quản

lý xã hội Trước đây đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm

về quản lý, tuy nhiên ở một góc độ nào vấn đề quản lý có hai vấn đề cơ bản sau: 1/Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức 2/Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức Đối tượng quản lý cũng có thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng người hay một tổ chức nhất định Quản lý phải là một quá trình liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, sao cho sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành Với quan điểm

trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có tính pháp lý Ngoài ra, quản lý được hiểu: Là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người Đó là cách thức tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra

Như vậy, quản lý là hình thức vận dụng, khai thác các nguồn nhân lực

để đạt được những kết quả như mong muốn Hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý

là sự tác động của con người hoặc (cơ quan quản lý) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt có hiệu quả để giải quyết các nhiệm vụ đề ra Đồng thời quản lý cũng được hiểu như là sự trông coi, giữ gìn

Trang 17

theo những yêu cầu nhất định của tổ chức hoặc cá nhân nhằm điều hành các hoạt động theo yêu cầu nhất định

Trong lĩnh vực quản lý có quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý các đối tượng khác nhau Quản lý xã hội là sự tác động đến xã hội, nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện những đặc điểm

đó của xã hội Do tính chất xã hội lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào Lao động của con người luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể, nhưng có quan hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động Vì vậy, cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa người với ngườitrong một

tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định

* Khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa

Học giả GS A.A.Radugin đã đưa ra định nghĩa khái niệm quản lý nhà nước đối với văn hóa, đó là:

Sự tác động chủ huy và quản lý đối với hoạt động kinh tế trong văn hóa, trong điều kiện nhà nước là chủ thể Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng việc tham gia này là cần thiết, nhưng vấn đề ở chỗ mức độ và hình thức tham gia như thế nào để đảm bảo mối cân bằng giữa việc lãnh đạo của nhà nước với việc tự quản của đơn vị văn hóa trong xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể [49, tr.374-375]

Từ khái niệm trên có thể hiểu, quản lý di sản văn hóa thực chất là tên gọi thực hành trong quản lý văn hóa Nó là một nhánh của quản lý nguồn tài nguyên văn hóa như bảo tàng học, khảo cổ học, di tích và kiến trúc nghệ thuật Trọng tâm quản lý di sản văn hóa là nhằm nhận diện, phân loại di sản

Trang 18

Đánh giá các giá trị đặc trưng của di sản Phân tích, đánh giá và đề xuất cơ chế chính sách bảo tồn các giá trị di sản Thực hiện cơ chế giám sát trong quá trình thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị của di sản

Trong quản lý di sản văn hóa thường trú trọng phát triển các nguồn lực

về con người và tài chính để đầu tư vào bảo tồn, tôn tạo và phục hồi đối với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trước các mối đe dọa: Phát triển đô thị, phát triển nông nghiệp quy mô lớn, hoạt động khai thác khoáng sản, cướp bóc, thiên tai và sự phát triển không bền vững Mặt khác, chính phủ và các nhà quản lý cần có trách nhiệm thông tin cho người dân hiểu biết và ý thức được những giá trị, tiềm năng của di sản đối với sự phát triển kinh tế xã hội, mà trong đó du lịch là một khía cạnh quan trọng sẽ đóng góp một phần thu nhập đáng kể hỗ trợ thường xuyên cho công tác quản lý di sản

Xét về tính chất của (văn hóa và quản lý) cho ta thấy, trong di sản văn

hóa đã hàm chứa đặc điểm, bản chất của di sản với tính chất thực tiễn của nó đã chứa đựng yếu tố quản lý, với tính chất thái độ đặc trưng và mối quan hệ qua lại Chức năng quan trọng nhất của văn hóa là chủ đạo, điều hành mối quan hệ

xã hội và các mối quan hệ khác, định ra trật tự, chuẩn mực, tiêu chuẩn, hạn chế các hành vi của con người, cho toàn bộ hoạt động, toàn bộ những mối quan hệ

xã hội, không phải chỉ giữa những con người, những nhóm xã hội, những cộng đồng, những tầng lớp xã hội mà cả giữa xã hội và thiên nhiên

Với những quan niệm trên, chúng ta có thể đúc kết và đưa ra khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam như sau: Đó là quá trình tác động liên tục của Nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các cấp chính quyền địa phương) lên đối tượng quản lý (các loại hình di tích lịch sử - văn hóa và các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý di sản văn hóa) bằng các hình thức cơ chế, chính sách, thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích tích lịch sử - văn hóa cách có hiệu quả trong đời sống xã hội

Trang 19

Ý thức được tầm quan trọng của di tích lịch sử - văn hoá trong phát triển xã hội, Hội đồng di sản thế giới đã ban hành: Hiến chương về bảo vệ thành phố và khu vực đô thị lịch sử Washington (1987); Hiến chương về bảo

vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990); Hiến chương Athens về trùng tu di tích lịch sử; Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964); Nguyên tắc chỉ đạo việc giáo dục và đào tạo về bảo vệ di tích, cụm công trình và di chỉ (1993); Nguyễn tắc lập hồ sơ di tích, cụm kiến trúc và di chỉ (1996) Tất cả những công ước trên đều có nội dung bảo vệ và quản lý di tích lịch sử - văn hóa Nhờ đó mà ngày nay nhân loại được thừa hưởng, chiêm ngưỡng nhiều công trình văn hoá nổi tiếng, chứa đựng những thông tin nguyên gốc có giá trị về lịch sử, văn hóa và khoa học

1.1.4 Hệ thống văn bản của Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến giữ gìn di sản văn hóa dân tộc Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã lập tức ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Ngày 29/10/1957, Nghị định số 519 - TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ công bố đã tạo

điều kiện cho ngành VHTT tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc

Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội

đồng Nhà nước công bố ngày 31/3/1984, đã chứng tỏ sự quan tâm của Đảng

và Chính phủ đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc

Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Trong điều

30, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy

định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam; tiếp thu

Trang 20

tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa”

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 14/ 06/ 2001 và được sửa đổi bổ sung ngày 18/ 06/ 2009 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở Việt Nam Đối tượng quản

lý của Nhà nước về di tích đã được cụ thể hóa trong Luật Di sản như sau:

Chương IV, Mục 1, Điều 28 sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1/Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương 2/Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử 3/Địa điểm khảo

cổ có giá trị tiêu biểu 4/Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

Chương IV, Mục 1, Điều 29 được sửa đổi, bổ sung:

+ Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm

vi địa phương; Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương

+ Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của

Trang 21

dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học

về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù

+ Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.” Chương IV, Mục 1, Điều 32 được sửa đổi, bổ sung: các khu vực bảo vệ

di tích bao gồm:1/Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích 2/Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa,

Trang 22

Thể thao và Du lịch quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định: 2/ Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trên bản đồ địa chính, trong biên bản khoanh vùng bảo vệ của hồ sơ di tích và phải được cắm mốc giới trên thực địa 3/ Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó Việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo

vệ II đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việc xây dựng công trình quy định tại khoản này không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích.”

1.1.5 Quy chế quản lý di tích lịch sử - văn hóa của thành phố Hà Nội

UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số Số: 48/2016/QĐ - UBND ngày 17 tháng 11 năm 2016 về việc ban hành Quy chế “quản lý, bảo

vệ phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng trên địa bàn thành phố Hà Nội” Tại chương 2, nội dung bảo tồn và phát huy giá trị di tích được quy định những điểm sau:

Điều 4 Kiểm kê di tích: 1/Di tích thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân Thành phố phải được kiểm kê, lập hồ sơ theo quy định pháp luật về

di sản văn hóa 2/Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì, phối hợp Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện kiểm kê di tích trên địa bàn, trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt, công bố hoặc điều chỉnh, bổ sung danh mục kiểm

Trang 23

kê di tích Định kỳ hàng năm tổng hợp số liệu về những biến động (tăng, giảm); định kỳ 05 (năm) năm thực hiện rà soát và trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt điều chỉnh, bổ sung danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội 3/ Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm kê khai bổ sung các công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên trên địa bàn chưa có trong danh mục kiểm kê di tích, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện lập danh sách, gửi Sở Văn hóa và Thể thao để kiểm tra, tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố

Điều 5 Xếp hạng di tích, tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích: 1/Lập hồ

sơ xếp hạng di tích theo quy định tại Điều 13, Điều 14 Nghị định của Chính phủ

và Thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 2 Tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích: Sở Văn hóa và Thể thao hướng dẫn đón Bằng xếp hạng di tích;

Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức hoặc ủy quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích quốc gia, di tích cấp Thành phố

Điều 6 Quản lý mặt bằng và không gian di tích: 1/Di tích thuộc danh mục kiểm kê phải được bảo vệ về đất đai, mặt bằng và không gian 2/Di tích

đã được xếp hạng phải thực hiện cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích 3/Ngay sau khi di tích được xếp hạng, tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý di tích chịu trách nhiệm xây dựng nội quy, bản trích giới thiệu nội dung di tích 4/Việc cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích phải thực hiện đúng Điều 15 Nghị định số 98/2010/NĐ - CP và các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước và thành phố Hà Nội có liên quan

Điều 7 Quản lý hiện vật thuộc di tích: 1/Định kỳ hàng năm, các đơn vị quản lý di tích cấp Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo kiểm kê hiện vật thuộc di tích đã được xếp hạng và báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện về

Trang 24

Sở Văn hóa và Thể thao 2/Tổ chức, cá nhân được giao quản lý di tích không tự

ý di dời, tu sửa, làm thay đổi màu sắc, kiểu dáng hiện vật là yếu tố gốc cấu thành

di tích hoặc tiếp nhận, đưa thêm hiện vật vào di tích và khuôn viên di tích khi chưa được sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về văn hóa

Điều 8 Quản lý hoạt động phát huy giá trị di tích: 1/Lễ hội tổ chức tại

di tích phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 15/2015/TT - BVHTTDL ngày 22/12/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việc tổ chức lễ hội phải phù hợp với tính chất, đặc điểm lịch sử của di tích, thuần phong mỹ tục và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương nơi có di tích 2/Hoạt động tại di tích

là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ quy định của pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng và các quy định pháp luật khác có liên quan 3/Hoạt động dịch vụ tại di tích phải được bố trí ở vị trí thích hợp, đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng tới yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan môi trường của di tích, an ninh và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo gắn với di tích 4/Tập thể, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, ngăn ngừa các hành vi làm xâm hại đến di tích, di vật; giữ gìn vệ sinh, cảnh quan môi trường

di tích xanh - sạch - đẹp; đảm bảo an ninh trật tự; thực hiện nếp sống văn minh tại di tích; dâng lễ, đặt tiền lễ, tiền giọt dầu, thắp hương, hóa sớ, bỏ rác thải đúng nơi quy định 5/Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia xã hội hóa trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích

Điều 9 Quản lý, sử dụng nguồn thu của di tích: 1/Nguồn thu của di tích bao gồm: Phí tham quan di tích; Các khoản thu hợp pháp từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di tích; Nguồn tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và các khoản thu khác 2/Quản lý, sử dụng: Nguồn thu từ phí tham quan di tích được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí; quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố về mức thu phí tham quan di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội; Các khoản thu hợp pháp

Trang 25

từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa được sử dụng theo quy định; Nguồn xã hội hóa được tiếp nhận, quản lý, sử dụng theo nguyên tắc công khai, minh bạch, chi đúng mục đích, đúng quy định và được sự giám sát, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền theo phân công quản lý

1.1.6 Quy chế quản lý di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thanh Trì

Trước đây, huyện Thanh Trì đã bàn hành Quy chế tạm thời để quản lý di tích lịch sử - văn hóa Sau này khi thành phố Hà Nội ban hành Quy chế “quản

lý, bảo vệ phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng trên địa bàn thành phố Hà Nội” năm 2016, huyện Thanh Trì đã vận dụng vào công tác quản

lý di tích của địa phương Như vậy, Quy chế tạm thời của huyện Thanh Trì ban hành trước đây có quy định tại Chương 1, những quy định chung có ghi:

Điều 1: Mục đích của hoạt động Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di

tích lịch sử - văn hóa: 1/Bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng

trước những tác động xấu của môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội 2/Bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc và các giá trị chân xác của di tích về các mặt: vị trí, cấu trúc, chất liệu, kỹ thuật truyền thống, chức năng, nội thất, ngoại thất, cảnh quan liên quan và các yếu tố khác của di tích, nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích 3/Bảo đảm sự hài hòa giữa di tích với môi trường cảnh quan xung quanh

Điều 2: Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng: 1/ Bao gồm các di

tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật đã được xếp hạng và những

di tích đã có Quyết định đưa vào danh mục bảo tồn trên địa bàn huyện 2/Quy chế này quy định về hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng trong phạm vi địa giới hành chính huyện

Điều 3: Nguyên tắc quản lý: 1/Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn

hóa thuộc sở hữu toàn dân, công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể,

sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu cá nhân và các hình thức sở hữu khác theo

Trang 26

quy định 2/UBND huyện thực hiện quyền quản lý Nhà nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện theo sự phân cấp của UBND thành phố 3/Hoạt động của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện phải chấp hành nghiêm túc đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Tại Chương 2, phần những quy định cụ thể có ghi:

Điều 4 Phòng Văn hóa và Thông tin: 1/Tham mưu cho UBND huyện

thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện 2/Phổ biến những chủ trương, chính sách của Nhà nước, các quy định của ngành về hoạt động tín ngưỡng 3/Hướng dẫn các Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa làm tốt nhiệm vụ giữ gìn các cổ vật, bảo quản và tu bổ

di tích theo quy định 4/Kiểm tra, đề xuất xử lý vi phạm hành chính đối với những cơ sở tín ngưỡng dân gian không chấp hành các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa và tổ chức lễ hội 5/P hối hợp, hỗ trợ UBND dân

xã, thị trấn về nghiệp vụ chuyên môn, giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng

Điều 5 Phòng Nội vụ: Phối hợp với phòng VH&TT, Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam huyện hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để các di tích lịch

sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật đã được xếp hạng di tích cấp Thành phố và những di tích đã có Quyết định đưa vào danh mục bảo tồn trên địa bàn huyện thực hiện đúng theo quy định của Luật Di sản văn hóa

Điều 6 Ủy ban nhân dân xã, thị trấn: 1/ UBND xã, thị trấn thực hiện việc

quản lý Nhà nước đối với các cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn huyện 2/ Phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện hướng dẫn các cơ sở tín ngưỡng; giải quyết những kiến nghị và những vấn đề phát sinh từ cơ sở tín ngưỡng trong phạm vi thẩm quyền của mình; báo cáo với UBND huyện biện pháp và kết quả giải quyết 3/Có trách nhiệm hỗ trợ việc giữ gìn an ninh trật tự, cảnh quan nơi

cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn các xã, thị trấn quản lý khi có yêu cầu

Trang 27

Điều 7 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huyện: 1/Phối hợp UBND

huyện, xã, thị trấn và các cơ sở tín ngưỡng thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước 2/Phối hợp với phòng VH&TT, Phòng Nội vụ, UBND xã, thị trấn giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng 3/Phối hợp với phòng VH&TT, Phòng Nội

vụ, UBND các xã, thị trấn hướng dẫn về nội dung và nhân sự cho Hội nghị bầu Ban khánh tiết ở các cơ sở tín ngưỡng dân gian, di tích lịch sử - văn hóa

1.2 Tổng quan huyện Thanh Trì và hệ thống di tích lịch sử - văn hóa

1.2.1 Tổng quan huyện Thanh Trì

1.2.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử phát triển

Huyện Thanh Trì nằm ở phía Nam và Đông Nam Hà Nội, giáp các quận: Thanh Xuân, Hoàng Mai, Hà Đông, huyện Gia Lâm và huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Sông Hồng là ranh giới tự nhiên (phía Đông), huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín (phía Nam) Trên địa bàn huyện có đoạn cuối của sông Tô Lịch chảy qua nối với sông Nhuệ ở phía Tây Nam

Theo dấu lịch sử, từ xưa vùng đất này có tên là Long Đàm (đầm Rồng) Thế kỷ X, sứ quân Nguyễn Siêu chiếm đóng Tây Phù Liệt, khai khẩn đất hoang tạo nên một thế lực quân sự mạnh và phát triển thành một trong 12 sứ quân Đến thời thuộc Minh, không muốn dân chúng nhớ lại tên Thăng Long, chính quyền phong kiến phương Bắc đã đổi tên kinh đô nước Việt thành Đông Quan và Long Đàm cũng bị đổi theo thành Thanh Đàm (đầm nước trong) thuộc châu Phúc Yên Sang thời Lê Thế Tông (1573 - 1591), để kiêng húy tên vua, vùng đất này được đổi tên thành Thanh Trì đến nay

Trước năm 1945, huyện Thanh Trì thuộc Phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông Năm 1942, Pháp sáp nhập một phần huyện Thanh Trì của tỉnh Hà

Trang 28

Đông vào Hà Nội, thành lập “Đại lý đặc biệt Hà Nội” gồm huyện Hoàn Long

và 22 xã thuộc Phủ Hoài Đức, được chia thành 8 tổng, 60 xã

Giai đoạn 1949 - 1954 Thanh Trì và huyện Thanh Oai nằm trong quận Văn Điển của thành phố Hà nội Năm 1956 hai huyện này được trả về tỉnh Hà đông Ngày 20 tháng 4 năm 1961, huyện Thanh Trì được sáp nhập vào Hà Nội (trừ 4 xã: Liên Ninh, Việt Hưng (Ngọc Hồi), Đại Thanh (Tả Thanh Oai), Thanh Hưng (Đại Áng) nhập vào huyện Thường Tín Ngày 31 tháng

5 năm 1961, lập huyện Thanh Trì mới trên cơ sở hợp nhất huyện Thanh Trì

cũ, gồm thị trấn Văn Điển và 21 xã: Đại Kim, Định Công, Đông Mỹ, Duyên

Hà, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Khương Đình, Lĩnh Nam, Ngũ Hiệp, Tam Hiệp, Tân Triều, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Vĩnh Tuy, Yên Mỹ, Yên Sở

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, 4 xã: Liên Ninh, Ngọc Hồi, Đại Áng, Tả Thanh Oai của huyện Thường Tín và xã Hữu Hòa của huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình sáp nhập vào huyện Thanh Trì Từ đó, huyện Thanh Trì có thị trấn Văn Điển và 26 xã

Ngày 26 tháng 10 năm 1990, chuyển xã Hoàng Văn Thụ về quận Hai

Bà Trưng quản lý để thành lập phường Hoàng Văn Thụ đến năm 2004 thuộc quận Hoàng Mai Ngày 22 tháng 11 năm 1996, xã Khương Đình thuộc huyện Thanh Trì được cắt ra để thành lập quận Thanh Xuân

Ngày 6 tháng 11 năm 2003, TP Hà nội tách một phần diện tích của huyện gồm 9 xã thuộc huyện Thanh Trì là: Đại Kim, Định Công, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Yên Sở, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú và 55ha diện tích tự nhiên của xã Tứ Hiệp được cắt ra để hợp với 5 phường của quận Hai

Bà Trưng là: Tương Mai, Tân Mai, Mai Động, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thành quận Hoàng Mai

Trang 29

Sau khi chia tách, diện tích huyện Thanh Trì chỉ còn 6.317,27 ha với dân số 147.788 người (2003), gồm thị trấn Văn Điển và 15 xã: Đại Áng, Đông Mỹ, Duyên Hà, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Thanh Liệt, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Yên Mỹ; xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì còn lại 412,20 ha và 9.584 người

1.2.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

Thanh Trì là một huyện sản xuất nông nghiệp với các sản phẩm chính như lúa, ngô, đậu, rau xanh Về công nghiệp, huyện cũng có nhà máy phân lân Văn Điển, nhà máy pin Văn Điển, nhà máy chế tạo biến thế ABB, khu công nghiệp Ngọc Hồi Giai đoạn từ năm 2005 - 2010, tình hình kinh tế huyện Thanh Trì duy trì tăng trưởng khá Hầu hết các chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu, trong đó, kinh tế đạt tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17,1%(vượt 2,1%), thu ngân sách hàng năm tăng 28,55% (vượt 12,55% so vói kế hoạch)

Tuy là huyện thuần nông, nhưng đến nay Thanh Trì cũng đã có 1.236 doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước; 1.477 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN); 1.002 doanh nghiệp và 5.630 hộ kinh doanh dịch vụ thương mại (DV - TM) Trong phát triển, huyện luôn chú trọng quy hoạch và bảo vệ môi trường mà điển hình là cụm công nghiệp Ngọc Hồi là nơi đầu tiên xây dựng nhà máy xử lý nước thải, có 34 doanh nghiệp hoạt động ổn định và dự kiến mở rộng thêm 18,2 ha Huyện đã xây dựng cụm làng nghề tập trung Tân Triều; đang đầu tư làng nghề cho các xã: Hữu Hòa, Tam Hiệp, Vạn Phúc; cùng đó xây dựng thương hiệu sản phẩm truyền thống bánh trưng xã Duyên

Hà, mây tre nan (Vạn Phúc)

Trong nông nghiệp, huyện mạnh dạn, đầu tư kiên cố hóa kênh mương, lấy nước sông Hồng (từ kênh Hồng Vân) thay nước sông Tô Lịch ô nhiễm phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các xã Vĩnh Quỳnh, Đại Áng, Liên Ninh, Tả Thanh Oai chuyển đổi 200 ha sang nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả có giá trị kinh tế

Trang 30

cao, hình thành 228 trang trại, đạt giá trị sản xuất trên 100 triệu đồng/ha Nhờ vậy, thu nhập bình quân đầu người từ 5,5 triệu đồng (năm 2005) tăng lên 13,3 triệu đồng, vượt 4,3 triệu đồng so với kế hoạch; giá trị sản xuất trên một ha canh tác đạt 70,7 triệu đồng (tăng 15,7 triệu đồng so năm 2005) Mục tiêu của huyện

từ năm 2010 - 2015 là phát huy những lợi thế sẵn có về nông nghiệp, công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng để đẩy nhanh việc phát triển kinh yế theo hướng bền vững, xây dựng huyện giàu mạnh, văn minh, hiện đại [56]

1.2.1.3 Truyền thống văn hóa

Từ buổi đầu lịch sử dựng nước và giữ nước, vùng đất Thanh Trì đã ghi dấu những địa danh đầy chiến tích huy hoàng Triều Khúc, nơi đóng quân của Phùng Hưng trong cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường; Ngọc Hồi – Đầm Mực, chứng kiến chiến công oanh liệt của đại quan Quang Trung – Nguyễn Huệ vào xuân Kỷ Dậu 1789 Nhiều danh nhân văn hóa Thanh Trì đã làm rạng rỡ quê hương, đó là Chu Văn An người Quang Liệt, Nguyễn Như Đổ người Đại Lan, họ Bùi ở Giáp Nhị, Nguyễn Quốc Trinh người Đại Áng, Nguyễn Văn Siêu người Kim Lũ, Ngô Thì Nhậm người Tả Thanh Oai

Thanh Trì còn là vùng đất phát triển mạnh về các hoạt động văn hoá -

xã hội Đây là nơi thành phố quyết định khảo sát để xây dựng nông thôn mới làm thí điểm do huyện có 9/19 tiêu chí cơ bản đạt so sới tiêu chí của chính phủ ban hành Hiện nay, địa phương đang tập trung xây dựng mô hình thí điểm tại xã Đại Áng, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2010 Theo kế hoạch đến năm 2017, toàn huyện có 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới

Thanh Trì là địa phương có bề dày truyền thống văn hóa Trên địa bàn huyện có 56 cụm di tích và di tích, 2 tượng đài, đài tưởng niệm được xếp hạng di tích lịch sử cách mạng, văn hoá nghệ thuật, nơi đây còn là quê hương của rất nhiều danh nhân văn hóa Truyền thống văn hóa này là cơ sở, bối cảnh

xã hội hình thành nên hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thanh Trì

Trang 31

1.2.2 Khái quát hệ thống di tích ở huyện Thanh Trì

Theo quyết định số 41/2016/QĐ - UBND ngày 19/9/2016 của UBND thành phố Hà Nội và công văn số 1329/UBND - TCKH ngày 10/10/2016

về phân cấp quản lý, huyện Thanh Trì có tổng số 153 di tích đình, đền, chùa, miếu Trong đó, có 64 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 18 di tích được xếp hạng cấp thành phố, 71 di tích chưa được xếp hạng Các di tích nằm trên địa bàn 15 xã, thị trấn:

- Xã Liên Ninh có tổng số 11 di tích: 07 di tích cấp quốc gia, 01 di tích cấp thành phố, 03 di tích chưa xếp hạng

- Xã Thanh Liệt có tổng số 10 di tích: 03 di tích cấp quốc gia, 07 di tích chưa xếp hạng

- Xã Vĩnh Quỳnh có tổng số 07 di tích: 04 di tích cấp quốc gia, 02 di tích chưa xếp hạng

- Xã Đông Mỹ có tổng số có 08 di tích: 02 di tích cấp quốc gia, 03 di tích cấp thành phố, 02 chưa xếp hạng

- Xã Ngọc Hồi có tổng số 07 di tích: 04 di tích cấp quốc gia, 02 di tích chưa xếp hạng

- Xã Tân Triều có tổng số 07 di tích: 06 di tích cấp quốc gia, 01 di tích chưa xếp hạng

- Xã Đại Áng có tổng số 10 di tích: 08 di tích cấp quốc gia, 02 di tích chưa xếp hạng

- Xã Hữu Hòa có tổng số 12 di tích: 02 di tích cấp quốc gia, 05 di tích cấp thành phố, 05 di tích chưa xếp hạng

- Xã Tam Hiệp có tổng số 07 di tích: 05 di tích cấp quốc gia, 01 di tích cấp thành phố, 01 di tích chưa xếp hạng

- Xã Tả Thanh Oai có tổng số 31 di tích: 10 di tích cấp quốc gia, 03 di tích cấp thành phố, 18 di tích chưa xếp hạng

Trang 32

- Xã Ngũ Hiệp có tổng số 11 di tích: 02 di tích cấp quốc gia, 05 di tích cấp thành phố, 03 di tích chưa xếp hạng

- Xã Tứ Hiệp có tổng số 08 di tích: 02 chùa, 02 đình, 02 nhà thờ 03 di tích cấp quốc gia, 02 di tích cấp thành phố, 03 di tích chưa được xếp hạng

- Xã Duyên Hà có tổng số 08 di tích: 02 di tích cấp quốc gia, 06 di tích chưa được xếp hạng

- Xã Yên Mỹ có tổng số 04 di tích: 02 di tích cấp quốc gia, 02 di tích chưa được xếp hạng

- Xã Vạn Phúc có tổng số 04 di tích: 02 đình, 02 chùa cấp quốc gia

Biểu đồ 1.1: Thống kê di tích trên địa bàn huyện Thanh Trì

Nguồn: Phòng VH&TT huyện Thanh Trì năm 2017

Để thuận tiện cho công tác quản lý, bảo tổn và phát huy giá trị di sản văn hóa, phòng VH-TT huyện Thanh Trì đã tiến hành phân loại, loại hình di tích lịch sử - văn hóa như sau:

Di tích cấp TP

Trang 33

Biểu đồ 1.2: Loại hình di tích trên địa bàn huyện Thanh Trì

Nguồn: Phòng VH&TT huyện Thanh Trì năm 2017

Nhìn chung, hệ thống thiết chế văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì tương đối phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại Đặc biệt, số lượng

di tích được xếp hạng cấp quốc gia tương đối lớn so với một số địa phương khác Tuy nhiên, số lượng di tích chưa được xếp hạng còn khá nhiều, chủ yếu

ở xã Thanh Liệt và Tả Thanh Oai Nguyên nhân là do đa số những di tích trên đều do tư nhân quản lý nên không đủ điều kiện xếp hạng, hoặc bị thất lạc sắc phong nên khó khăn trong việc xác định giá trị của di sản Mặt khác, một số

di tích đã được người dân tự ý xây dựng, tôn tạo đã làm thay đổi kết cấu, kiến trúc, không còn giữ được những giá trị gốc của di sản

1.2.3 Một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của huyện Thành Trì

1.2.3.1 Cụm di tích đình - chùa Vạn Phúc (xã Vạn Phúc)

- Giới thiệu di sản

Đình Vạn Phúc: Đình gồm tam quan, đại đình, phương đình và nhà tả, hữu mạc Tam quan dài 13m, cao 6m, xây kiểu chồng diêm Đại đình là toà nhà hình chữ nhật làm theo kiểu đầu hồi bít đốc, bộ khung làm theo kiểu

“thượng rường hạ kẻ” với 4 hàng chân cột, phía trên là bộ mái vảy Phương đình hình vuông xây chồng diêm 8 mái, các mảng trang trí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX Hậu cung có kết cấu kiến trúc hình chữ “đinh”, hay

Trang 34

còn gọi là hình chuôi vồ, làm theo kiểu “thượng rường hạ kẻ” đơn giản Nhà trong đặt khám thờ và long ngai, bài vị Thành hoàng Các bức hoành phi, câu đối, cuốn thư, bộ bát bửu, long đình, kiệu gỗ, khám thờ, hương án được chạm trổ tinh vi mang nét nghệ thuật cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Chùa Vạn Phúc: Chùa gồm các công trình tiền đường, toà thiêu hương

và thượng điện Tiền đường là một hình chữ nhật dài 15,5m, rộng 5m, bộ vì kèo được làm dưới dạng “thượng rường hạ kẻ” với 4 hàng chân cột, mái lợp ngói ta Trong tiền đường có 4 bộ tượng, thứ tự từ trái qua phải gồm chính giữa là tượng Hộ Pháp, bên trái là bàn thờ bà Chúa họ Trần, bên phải là tượng

và bia hậu của bà Chúa Toà thiêu hương là một ô vuông xây cao hơn toà tiền đường khoảng 0,20m là nơi thỉnh kinh niệm Phật Đình Vạn Phúc cùng với chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hoá năm 1992

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn 1

Công tác quản lý: Cụm di tích được đầu tư nâng cấp cổng tam quan và các hạng mục di tích Quy chế bảo vệ di tích được niêm yết với những quy định

cụ thể, rõ ràng Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Còn xảy ra tình trạng xả rác bừa bãi, làm ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp cảnh quan và không gian thiêng của di tích vẫn chưa được giải quyết triệt để, đặc biệt vào những ngày tổ chức lễ hội làng

1.2.3.2 Cụm di tích đình - chùa Triều Khúc (xã Tân Triều)

- Giới thiệu di sản

Đình Triều Khúc: Đình có kiến trúc gồm nghi môn, phương đình, hai dãy nhà dải vũ, đại đình và hậu cung Nghi môn là một khoảng sân rộng Phương đình được làm kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái, mái lợp ngói di Đại đình được kết cấu 6 hàng chân cột, bao gồm 8 cột cái và 16 cột quân theo

Trang 35

kiểu “thượng thu hạ thách” Hậu cung của đình Triều Khúc gồm 3 gian dọc được làm nối liền với gian giữa đại đình theo kiểu chữ Đinh Đình vẫn giữ được một hệ thống di vật có giá trị như hệ thống ngai thờ, sập thờ, nhang án, kiệu cùng với 18 bức hoành phi, 5 đôi câu đối

Đền Triều Khúc: Đền có kiến trúc mái uốn cong hình đầu rồng, nền nhà là sàn gỗ, mặt trước sau để trống Nhà Tiền tế kiểu đầu hồi bít đốc, tường hồi tay ngai, trang trí nghê và mặt trời, vì kèo được làm kiểu “chồng rường giá chiêng” Trung đền dạng 2 tầng, 8 mái đầu đao uốn cong thành hình đầu rồng Hậu cung có long ngai bài vị và hòm sắc của thần Đền còn

lưu giữ 1 cuốn Thần phả ghi sự tích của Bố Cái Đại Vương, 11 sắc phong

năm Cảnh Hưng 44 (1783), Khải Định 9 (1924), 18 hoành phi, 32 đôi câu đối, 2 bộ long ngai bài vị, 3 bộ kiệu, 4 bức cuốn thư sơn son thiếp vàng, 1 sập gỗ thờ, 11 bát hương sứ, 5 bộ tam sự bằng đồng, 2 bộ bát bửu, 3 hương

án, mâm bồng, lọ hoa sứ, 1 đôi quán tẩy Cụm di tích đình - đền Triều Khúc được công nhận di tích lịch sử - văn hoá năm 1993

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Triều Khúc

Công tác quản lý: Cụm di tích được đầu tư xây dựng, tôn tạo bằng nguồn vốn xã hội hóa Quy chế bảo vệ di tích được niêm yết cụ thể, rõ ràng

Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Một số hạng mục công trình phụ trợ trong di tích bị xuống cấp làm ảnh hưởng đến hoạt động tín ngưỡng của di sản Tình trạng xâm hại hành lang di tích chưa được giải quyết triệt để

1.2.3.3 Cụm di tích đình - chùa Ba Dân (xã Tứ Hiệp)

- Giới thiệu di sản

Đình Ba Dân: Đình có kiến trúc gồm nghi môn, phương đình, trung đình, đại đình và hậu cung Nghi môn xây cao theo kiểu chồng diêm tám mái

Trang 36

Phương đình là ngôi nhà vuông, đỡ các mái nhỏ mang nét nghệ thuật của thời Nguyễn Trung đình là một toà nhà lớn rộng 5 gian, các bộ vì kèo làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng xà nách” Nhà đại đình gồm 5 gian, mái lợp ngói ta, phía trước mở các cửa bức bàn bằng gỗ Hậu cung gồm 3 gian, các thức vì có kết cấu đơn giản kiểu vì kèo quá giang Bên trong đặt các bộ long ngai bài vị và tượng của các vị thành hoàng làng

Chùa Ba Dân (Long Quang Tự): Chùa có kiến trúc gồm tam quan, khu chùa chính, sau cùng là nhà thờ Mẫu Tam quan được xây 2 tầng, 8 mái, 3 cửa vòm Khu chùa chính có kết cấu kiến trúc hình chữ “đinh” bao gồm tiền đường và thượng điện Toà tiền đường gồm 5 gian xây theo kiểu “đầu hồi bít đốc tay ngai” Toà thượng điện gồm 5 gian kiến trúc chuôi vồ, bộ khung làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, xà nách đăng đối Ở phía sau gồm 3 nếp nhà, vòng quanh sân là nhà khách, nhà Tổ và nhà thờ Mẫu Đình - chùa Ba

Dân được công nhận là di tích lịch sử - văn hoá năm 1994

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Cổ Điển

Công tác quản lý: Cụm di tích được đầu tư xây dựng, tôn tạo các hạng mục: cổng tam quan, phương đình, trung đình Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích chưa tuân thủ theo

Luật di sản, chưa đúng với nguyên gốc của di tích

1.2.3.4 Cụm di tích đình - chùa Đại Lan (xã Duyên Hà)

- Giới thiệu di sản

Chùa Đại Lan: Chùa có quy mô kiến trúc khá lớn 2 ngôi nhà liền tiếp nhau Nhà tiền tế làm nơi hội họp của dân làng, nhà phía sau làm chùa thờ Phật Nhà phía sau chùa được xây dựng theo kiểu chữ Đinh, 3 gian tiền đường gắn thông với 2 gian hậu cung Tại hậu cung có xây các bệ cao đặt pho tượng

Trang 37

Phật Tam Thế, A Di Đà, Ngọc Hoàng, hai bên là Phạm Thiên, Đế Thích, Thích Ca sơ sinh, Kim Đồng và Ngọc Nữ Phía ngoài Tiền đường có các bệ thờ Đức Ông, Thánh Hiền, Diệm Nhiên và Đại Sĩ Bên cạnh chùa là nhà thờ

Tổ và Mẫu cũng được xây theo hình chữ Đinh, có tiền đường và hậu cung

Đình Đại Lan: Đình có kiến trúc hình chữ Đinh gồm 3 gian tiền đình và

2 gian hậu cung Hai gian bên nền tiền đình được tôn cao 20cm làm chỗ ngồi cho dân làng mỗi khi có hội họp Trong hậu cung còn có 1 khám lớn, đặt các long ngai và bài vị của 4 vị Thành hoàng làng Đình còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị, với 11 đạo sắc phong của các triều Lê và Nguyễn Một cửa võng, 3 long ngai bài vị, 1 hương án, 2 án văn, 2 cây trúc hoá long nghê, 4 bộ kiệu, bát hương gồm, choé sứ, những hiện vật này đều mang nét nghệ thuật thế kỷ XVIII Cụm di tích đình – chùa Đại Lan được công nhận là

di tích lịch sử - văn hoá năm 1989

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Đại Lan

Công tác quản lý: Không xảy ra tình trạng mất cắp cổ vật và đồ thờ tự

Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân bảo vệ di sản văn hóa chưa cao Một số hạng mục di tích bị xuống cấp do

chưa có kinh phí sửa chữa

1.2.3.5 Cụm di tích đình - chùa Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp)

- Giới thiệu di sản

Chùa Huỳnh Cung: Chùa được làm kiểu nội công, ngoại quốc, phía trước là Tiền đường, phía sau là Thượng điện, nối liền hai công trình là ống muống Nhà Tiền đường gồm 5 gian, cửa bức bàn, kiến trúc 4 hàng chân, hàng bên trong đã thay bằng tường gạch Thượng điện gồm 5 gian, kiến trúc

Trang 38

làm theo lối „vì kèo” bào trơn đóng bén Tất cả các pho tượng trong chùa đều được sơn son thiếp vàng, mang phong cách tạo tượng của thế kỷ XVIII, XIX

Đình Huỳnh Cung: Đình thờ Hồng Bác Đại Vương và Uy Mang Đại Vương - con vùa Hùng 17 Trong đình còn phối thờ Chu Văn An là người có công lớn đối với dân làng Huỳnh Cung Không có tài liệu lưu giữ về niên đại xây dựng, nhưng căn cứ vào các bia dựng vào các năm 1717, 1757 thì đình

đã được xây dựng trước đó Đây là đất qui xà ẩm thuỷ có hồ nước Đầm Mực

và có sông Tô Lịch sát cạnh Cụm di tích được công nhận di tích lịch sử - văn hoá năm 1989

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Huỳnh Cung

Công tác quản lý: Cụm di tích được bảo quản khá tốt Chưa xảy ra tình trạng mất cắp cổ vật và đồ thờ tự của di tích Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Cổng tam quan đình Huỳnh Cung, hệ thống vì kèo mái chùa Huỳnh Cung được tôn tạo, sửa chữa không đúng với nguyên gốc của

di sản, làm mất đi giá trị của di tích

1.2.3.6 Cụm di tích đình - chùa Lạc Thị (xã Ngọc Hồi)

- Giới thiệu di sản

Chùa Lạc Thị: Chùa có kiến trúc gồm cổng tam quan, chùa chính, nhà

Tổ và nhà Mẫu Cổng quan có 2 tầng, 3 lớp mái, đầu đao cong Chùa chính, kiến trúc kiểu chữ đinh gồm tiền đường và hậu cung Nhà Tổ và nhà Mẫu nối liền tường hồi phía trái tiền đường Hai bên và phía trước tường hồi tiền đường là 2 cột trụ cao, trên đỉnh đắp hình nghê, bờ nóc tiền đường đắp nổi lưỡng long triều nguyệt Khung chùa chính được trang trí các hình long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, lan chạm khắc tinh vi Chùa Lạc Thị vẫn bảo tồn được nhiều nét kiến trúc và điêu khắc của các thế kỷ XVII, XVIII, XIX

Trang 39

Đình Lạc Thị: Đình có kiến trúc gồm cổng tam quan, giếng, tiền đường

và hậu cung Cổng tam quan xây 4 cột trụ với một cổng chính và 2 cổng phụ Qua tam quan là một giếng đình, giữa giếng có một hòn đảo nhỏ trên trồng cây cảnh Đại đình gồm tiền đường nối liền với hậu cung Trong hậu cung có

2 ngai thờ với bài vị, phía trước ở hai bên ngai thờ đặt tượng 2 ông phỗng quỳ Giữa tiền đường đặt một hương án chạm trổ tứ linh, cỏ cây, hoa lá Hai bên hương án đặt một bộ bát bửu, một kiệu bát cống và một số đồ thờ khác Quần thể đình - chùa Lạc Thị mang phong cách kiến trúc thời Lê được công nhận là di tích lịch sử - văn hoá năm 1990

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Lạc Thị

Công tác quản lý: Cổng tam quan và nhà Mẫu được tôn tạo bằng nguồn

xã hội hóa Công tác quản lý, phát huy giá trị di tích được thực hiện tốt

Tồn tại và hạn chế: Một số hạng mục di tích được tôn tạo không đúng với nguyên bản gốc của di tích Tình trạng lấn chiếm hành lang di tích vẫn

còn xảy ra, chưa được giải quyết triệt để

1.2.3.7 Cụm di tích đình - chùa Quỳnh Đô (xã Vĩnh Quỳnh)

- Giới thiệu di sản

Chùa Quỳnh Đô: Kiến trúc của di tích gồm tam quan, chùa chính, nhà khách, nhà Tổ, nhà Mẫu, khu nhà bia cùng vườn sân phía sau Tam quan là chùa chính xây theo kiểu chữ Đinh, tiền đường và hậu cung Tại tiền đường, ở hai bên còn các tượng Đức Ông, đức Thánh Hiền và 2 tượng Khuyến Thiện, Trừng Ác đều được tạc lớn Đa số các tượng khác có phong cách ở thế kỷ XIX Phía sau chùa chính là nhà thờ Tổ, nhà Mẫu Ngoài 32 pho tượng tròn, chùa Quỳnh Đô còn lưu giữ được nhiều hiện vật như 2 quả

Trang 40

chuông đồng, 2 hương án, 6 tấm bia đá, 1 cửa võng, 4 bát hương sứ, 1 lư đồng, nhiều cây đèn

Đình Quỳnh Đô: Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII Từ ngoài đi sâu vào là cổng tam quan, cửa giữa to cao và 2 cửa tả hữu

thấp hẹp hơn Phía trên cửa đắp nổi 4 chữ Hán “ Quỳnh Đô công đình” Tiếp

đến là sân đình, nhà tiền tế, đại đình và hậu cung Đình còn lưu giữ được cuốn

Thần phả ghi sự tích công trạng của Tô Hiến Thành, 24 sắc phong, 1 tấm bia

khắc thời Gia Long (1819), 9 bức hoành phi, 7 đôi câu đối chữ Hán, 1 bộ kiệu

gỗ, 1 bức cuốn thư, 2 bức y môn, 2 cửa võng, 1 bộ long ngai và bài vị Cụm di tích được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa năm 1989

- Thực trạng di sản

Cấp quản lý: Tiểu ban quản lý di tích thôn Quỳnh Đô

Công tác quản lý: Cụm di tích được đầu tư xây dựng một số hạng mục sau: điện thờ tại chùa chính được tôn tạo lại, gian hậu cung và một số bệ thời của đền được tu sửa, nâng cấp Hồ sơ di tích được bảo quản tốt

Tồn tại và hạn chế: Công tác tuyên truyền bảo vệ, phát huy giá trị di tích

chưa cao Còn xảy ra tình trạng vi phạm, lấn chiếm hành lang di tích

1.2.3.8 Cụm di tích đình - chùa Thọ Am (xã Liên Ninh)

- Giới thiệu di sản

Đình Thọ Am: Đình có quy mô kiến trúc gồm đại đình và hậu cung Đại đình gồm 5 gian 2 dĩ, được xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta Hậu cung nối với gian giữa đại đình, gồm 5 gian, xây tường bao kín tạo thành chữ “đinh” Nhà rộng, có 4 bộ vì kèo được làm theo kiểu “giá chiêng kẻ chuyền” Đình còn lưu giữ được 4 bia đá thời Nguyễn thế kỷ XIX, 2 bức hoành phi, 2 đôi câu đối, 1 hương án gỗ chạm thủng hoa văn rồng, hổ phù,

Ngày đăng: 11/08/2020, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (2013), Quản lý nhà nước về văn hoá ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về văn hoá ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2013
2. Trần Thị Vân Anh (2012), Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên đi ̣a bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội , luận văn Thạc sĩ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên đi ̣a bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2012
3. Nguyễn Mạnh Cường (2012), Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở nội thành thủ đô Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở nội thành thủ đô Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2012
4. Đặng Văn Bài (2005), “Tiếp cận thực tế công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo tinh thần của Luật Di sản Văn hóa”, trong Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 1, Cục Di sản Văn hóa xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận thực tế công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo tinh thần của Luật Di sản Văn hóa”, trong "Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2005
5. Thanh Bình (2002), Những quy định pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa
Tác giả: Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2002
6. Bộ Văn hóa Thông tin (2001), Quyết định số 1706/2001/QĐ - BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ VHTT về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1706/2001/QĐ - BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ VHTT về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
10. Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức
Năm: 1993
11. Bùi Xuân Đính, sách Đại Áng - truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng, Nxb Hà Nội, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Áng - truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
12. Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
13. Lê Như Hoa (2000), Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Viện Văn hóa và Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
14. Nguyễn Thị Vân Hà, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
15. Nguyễn Thị Vân Hà, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
16. Đào Thị Huệ, Quản lý các di tích lịch sử – văn hoá trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý các di tích lịch sử – văn hoá trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
17. Nguyễn Thị Hiền, Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
18. Nguyễn Thị Thu Hiền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
19. Bùi Thị Minh Hiền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
20. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
21. Ngô Thị Hương, Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
22. Hội đồng Nhà nước (1984), Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 14 - TL/HĐNN về “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh”, ngày 04/04/ 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 14 - TL/HĐNN về “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh”
Tác giả: Hội đồng Nhà nước
Năm: 1984
23. Nguyễn Quốc Hùng (2005), “Truyền thống dân tộc trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”, trong Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 1, do Cục Di sản Văn hóa xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống dân tộc trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”, trong "Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm