3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Các di tích LSVH huyện Thạch Thành trong tổng thể hệ thống di tích LSVH tỉnh Thanh Hóa. Hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành trong giai đoạn hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3.2.1. Về không gian Toàn bộ không gian tồn tại của các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành (trong điều kiện cho phép, liên hệ tới hoạt động quản lý di tích LSVH ở một số địa phương khác trong tỉnh để đối chiếu, so sánh). 3.2.2. Về thời gian Tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay. (Trong một số trường hợp cụ thể, khi cần viện dẫn số liệu phục vụ nghiên cứu, đề tài sẽ đề cập đến những giai đoạn lịch sử khác). 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành trong thời gian tới bằng việc đề xuất định hướng, giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di tích trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng, đặc điểm, giá trị di tích và thực trạng của hoạt động quản lý di tích. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hóa tư liệu về di tích LSVH và hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành. Xác định hiện trạng, đặc điểm, giá trị và thực trạng quản lý các di tích LSVH ở huyện Thạch Thành. Đề xuất định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích LSVH phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Thạch Thành trong thời gian tới. 5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa. Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học có tính liên ngành, đa ngành như khoa học quản lý văn hóa, văn hóa học, giáo dục học, tâm lý học và xã hội học.
Trang 1********
TRỊNH THỊ THUẬN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Khang
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Khang Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thuận
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA 14
1.1 Một số khái niệm 14
1.1.1 Khái niệm Di sản văn hóa 14
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa 14
1.1.3 Khái niệm Quản lý và Quản lý di tích lịch sử - văn hóa 15
1.2 Một số văn bản pháp lý về di tích lịch sử văn hóa 17
1.3 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành 19
1.3.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 19
1.3.2 Các loại hình di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thạch Thành 21
1.4 Hiện trạng, vai trò và giá trị của các di tích Lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành 23
1.4.1 Hiện trạng các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành 23
1.4.2 Giá trị của các di tích Lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa 27
1.4.3 Vai trò của di tích lịch sử - văn hóa trong đời sống cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Thạch Thành 31
Tiểu kết 35
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THẠCH THÀNH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY 37
2.1 Hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử - văn hóa 37
2.1.1 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch 37
2.1.2 Phòng văn hoá, thông tin 41
2.1.3 Ban quản lý di tích cấp huyện 44
2.1.4 Ban văn hoá xã, phường, thị trấn 45
2.1.5 Ban Quản lý di tích cơ sở 45
Trang 42.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống quản lý di tích lịch sử - văn
hóa ở huyện Thạch Thành 48
2.2.1 Hoạt động xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa 48
2.2.2 Hoạt động xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật 51
2.2.3 Tổ chức quản lý hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 53
2.3 Đánh giá kết quả quản lý di tích lich sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành 67
2.3.1 Ưu điểm 67
2.3.2 Một số hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân của một số hạn chế 71
Tiểu kết 72
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN THẠCH THÀNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 74
3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành 74
3.1.1 Định hướng chung 74
3.1.2 Một số định hướng cụ thể đối với huyện Thạch Thành 79
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Thạch Thành trong giai đoạn hiện nay 79
3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 79
3.2.2 Giải pháp về nâng cao nhận thức 81
3.2.3 Giải pháp đổi mới phương pháp quản lý 83
3.2.4 Giải pháp huy động nguồn lực để tu bổ, tôn tạo di tích 85
3.2.5 Giải pháp về kinh tế và phát triển dịch vụ du lịch 85
3.2.6 Một số giải pháp hỗ trợ khác 86
Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 102
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Liên hợp quốc (United Nations of Educational, Scientific and Cultural Organization)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Di sản văn hóa (DSVH) Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Đó là những dòng đầu tiên đã được ghi trong Luật DSVH năm 2001 [17, tr.11] Qua đó có thể nhận thấy, việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa nói chung, quản lý
di tích lịch sử - văn hóa (LSVH) nói riêng chính là việc tôn vinh lịch sử dân tộc, củng cố và bồi đắp để góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc Đây là hoạt động diễn ra theo một quá trình phát triển liên tục của nhận thức, năng động và tiếp biến Do đó, cần có đủ thời gian cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp trong lĩnh vực này được cập nhật tri thức của mình Các chương trình đào tạo sau Đại học, chương trình bồi dưỡng nghiệp
vụ về bảo vệ và quản lý DSVH phải được quan tâm thỏa đáng Mục đích cuối cùng của mọi hoạt động quản lý phải đạt đến, là kéo dài đời sống của di tích
và nếu có thể, làm sáng tỏ những thông điệp về mỹ thuật và lịch sử của di tích
mà không làm mất đi tính xác thực và ý nghĩa của di tích đó Tất cả những lý
do trên đã cho thấy, quản lý di tích là một hoạt động phức tạp, bao hàm cả văn hóa, mỹ thuật, kỹ thuật và thủ công dựa trên các nghiên cứu có tính hệ thống
về nhân văn và khoa học
Tính đến tháng 6 năm 2017, trong hệ thống các di tích LSVH, danh lam thắng cảnh ở nước ta đã có 8 DSVH và thiên nhiên đã được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới, 85 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng và hơn 3000 di tích đã được xếp hạng quốc gia Trong hệ thống di tích nêu trên, huyện Thạch Thành thuộc tỉnh Thanh Hóa có 45 di tích và địa điểm được kiểm kê, quản lý và 13 di tích được xếp hạng Trong
đó, gồm 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 01 di tích cấp quốc gia và 11 di tích
Trang 8cấp tỉnh Đây là con số khá ấn tượng, đòi hỏi nguồn lực lớn cả về tài chính và tri thức để thực hiện quản lý, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, chúng ta đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau, nước ta lại ở trong khu vực khí hậu khắc nghiệt,có những mùa nắng lửa - bão dông, hanh khô - ẩm ướt đan xen nhau theo một biên độ giao động về thời gian ngắn và bất thường… tất cả điều kiện
đó đã khiến cho di tích bị hủy hoại nhiều hơn và xuống cấp nhanh hơn Các di tích LSVH huyện Thạch Thành cũng cùng chung hiện trạng đó
Công tác quản lý di tích LSVH ở huyện đang gặp những khó khăn và hạn chế nhất định, như việc lập hồ sơ khoa học để xếp hạng còn chậm, số di tích được xếp hạng vẫn còn ít so với số lượng thực tế đã được kiểm kê; việc đầu tư kinh phí để tu bổ, tôn tạo di tích vẫn còn nhiều hạn chế kể cả từ nguồn vốn đầu tư thường xuyên của Nhà nước và nguồn xã hội hóa…; công tác tuyên truyền phổ biến phục vụ phát huy giá trị di tích mặc dù đã được quan tâm, song chưa thỏa đáng… Trước thực trạng đó, để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy giá trị di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành (trong đó có việc giúp cho thế hệ trẻ hiểu và trân trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông, hướng về cuội nguồn, bồi dưỡng lòng yêu nước thương nòi, lòng
tự hào dân tộc, biết trân trọng quá khứ hào hùng của thế hệ trước qua việc thăm quan và trải nghiệm tại các di tích) thì cần có một công trình khát quát
và giới thiệu về nguồn gốc hình thành, quá trình tu bổ, tôn tạo, đặc điểm kiến trúc điêu khắc, cách bài trí trong các di tích LSVH của huyện
Với những lý do nêu trên, đề tài “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay” đã được
tác giả lựa chọn để thực hiện luận văn Thạc sỹ, với mong muốn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị các di tích LSVH của địa phương
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều công trình cũng như các đề án, luận án, kế hoạch nghiên cứu về di tích LSVH để thực hiện tốt công tác quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành nói riêng và trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa nói chung
Cụ thể:
- Trong chương trình hợp tác khoa học 5 năm giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã nghiên cứu khai quật hang Con Moong và các di tích vùng phụ cận
Trong quá trình khai quật, căn cứ vào những hiện vật thu được các nhà khảo cổ học khẳng định hang Con Moong là nơi cư trú liên tục của người nguyên thuỷ thuộc các nền văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn, nguồn sống chính là hái lượm trái cây và săn bắt những loài nhuyễn thể, họ đã biết sử dụng đá cuội, đá ba-gian,… để tạo ra công cụ lao động, là những chiếc rùi
Qua nghiên cứu các tầng văn hóa khảo cổ, nhận thấy một số công cụ lao động đặc trưng cho Văn hoá Sơn Vi - hậu kỳ thời đại đá cũ, những di vật đặc trưng cho Văn hoá Hoà Bình và Văn hoá Bắc Sơn - sơ kỳ đá mới
- Đối với công tác xuất bản, ấn phẩm, đã có một số công trình sau đây:
Cuốn sách Di tích - Danh thắng miền Tây Thanh Hóa [26] đề cập đến
một số di tích nổi tiếng của các huyện miền núi xứ Thanh, đặc biệt là viết về
di tích khảo cổ hang Con Moong xã Thành Yên - Di chỉ văn hóa khảo cổ học đặc biệt quan trọng ở Việt Nam và Đông Nam Á và Chiến khu du kích Ngọc Trạo - cái nôi tiền thân của cách mạng, hay giới thiệu về di tích lịch sử kết hợp với danh lam thắng cảnh Phố Cát Thạch Thành…
Cuốn sách Chiến khu Ngọc Trạo - Bước phát triển mới của phong trào cách mạng tỉnh Thanh Hóa [6] đã đi sâu phân tích quá trình ra đời và phát
Trang 10triển của chiến khu Ngọc Trạo Bên cạnh đó, còn một số công trình đã xuất
bản liên quan đến Chiến khu Ngọc Trạo, bao gồm: Phong trào phản đế cứu quốc và chiến khu Ngọc Trạo (1940 - 1941) [1], Chiến khu Ngọc Trạo 1941 [2], Hướng về chiến khu (hồi ký cách mạng) [3], Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Chiến khu Ngọc Trạo (19/9/1941 - 19/9/1981) [4], đều do Ban Nghiên
cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa tổ chức biên soạn
Cuốn Dư địa chí Thạch Thành [20] gồm năm chương giới thiệu khái
quát về Thạch Thành, truyền thống và lịch sử, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội, những nhân vật Thạch Thành Đây là cuốn tài liệu viết về địa lý - lịch sử
- văn hóa, hệ thống tư liệu phong phú, đa dạng, cung cấp cho độc giả những
tư liệu bổ ích về con người và vùng đất Thạch Thành
Cuốn Chùa xứ Thanh, tập 1 [29] do Tỉnh Hội phật giáo Thanh Hóa
phối hợp với các nhà khao học, các nhà nghiên cứu tại địa phương đã biên soạn nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa Cuốn sách đã cho ta thấy tài năng sáng tạo và đời sống tinh thần phong phú của người dân Thanh Hóa Qua việc miêu tả quá trình hình thành và hiện trạng của 41 chùa tại Thanh Hóa (trong đó có Chùa Hòa Luật, thuộc xã Thành Tân, huyện Thạch Thành) đã cho thấy phong tục, tập quán, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật nơi di tích lịch sử này Chùa Hòa Luật là một ngôi chùa cổ với kiến trúc nghệ thuật, mỹ thuật độc đáo là điểm đến hấp dẫn của du khách gần xa
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thục, với tên gọi: Quản lý
Di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay, thực hiện năm 2008 [28] đã đề cập đến một số di tích được xếp hạng
trên địa bàn huyện Thạch Thành, như Đền Phố Cát, Chiến khu Ngọc Trạo, Hang Con Moong…
Trang 11Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tiến Lộc, với đề tài: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đông Anh, Hà Nội hiện nay, thực hiện năm 2011
Nguyễn Đăng Duy – Trịnh Thị Minh Đức (1993), Bảo tồn di sản lịch
sử văn hóa, Bộ Văn hóa – Thông tin – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Đã cung cấp cơ sở lý luận chung nhất về quản lý di tích và lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đánh giá, miêu tả
đề cập sơ bộ về quá trình hình thành, đặc điểm, hiện trạng của một số di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành Đây là những căn cứ, là nguồn tài liệu quý, giúp cho tác giả luận văn kế thừa để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều có giá trị ở những mức độ khác nhau, góp phần hỗ trợ tư liệu cho việc nghiên cứu Song, thực tế
là, các tài liệu này chủ yếu tập trung vào mô tả, đánh giá về giá trị đơn lẻ của các di tích hoặc khảo tả chi tiết lễ hội; một số di tích đã được xếp hạng chưa được đề cập và nghiên cứu (như di tích Đền Tam Thánh hay Đền Mẫu xã Thạch Bình, Đền Cô Luồng, Đình Sồi và đền Tự Cường xã Thành Minh hay Nghè Đồi sao xã Thành Long) Có thể nhận thấy rằng, cho đến nay, chưa thấy xuất hiện những công trình nghiên cứu tổng hợp, đánh giá về giá trị của hệ thống di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành cũng như hiệu quả quản
lý các di tích LSVH đó
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, qua việc khảo sát, đánh giá và phân tích hiện trạng hệ thống các di tích được xếp hạng cũng như công tác quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện, luận văn nêu lên những kết quả đạt được cũng như tồn tại hạn chế của công tác quản lý di tích LSVH trên địa bàn và từ đó
Trang 12định hướng, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích LSVH để phát huy giá trị các di tích LSVH ở huyện Thạch Thành trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các di tích LSVH huyện Thạch Thành trong tổng thể hệ thống di tích LSVH tỉnh Thanh Hóa
- Hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành
trong giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về không gian
Toàn bộ không gian tồn tại của các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành (trong điều kiện cho phép, liên hệ tới hoạt động quản lý di tích LSVH ở một số địa phương khác trong tỉnh để đối chiếu, so sánh)
3.2.2 Về thời gian
Tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay (Trong một
số trường hợp cụ thể, khi cần viện dẫn số liệu phục vụ nghiên cứu, đề tài sẽ đề cập đến những giai đoạn lịch sử khác)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành trong thời gian tới bằng việc đề xuất định hướng, giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di tích trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng, đặc điểm, giá trị di tích và thực trạng của hoạt động quản lý di tích
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa tư liệu về di tích LSVH và hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành
Trang 13- Xác định hiện trạng, đặc điểm, giá trị và thực trạng quản lý các di tích LSVH ở huyện Thạch Thành
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích LSVH phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Thạch Thành trong thời gian tới
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ Nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học có tính liên ngành, đa ngành như khoa học quản lý văn hóa, văn hóa học, giáo dục học, tâm lý học và xã hội học
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Sưu tầm tài liệu
Để có nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn tiến hành sưu tầm, tham khảo và tích lũy tài liệu ở Thư viện Bảo tàng tổng hợp Thanh Hóa, Thư viện Sở văn hóa, Thể Thao và Du lịch Thanh Hóa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm bảo tồn di sản Thanh Hóa, Thư viện huyện Thạch Thành Bên canh đó, tác giả nghiên cứu thực địa và thu thập tài liệu tại các di tích, gặp gỡ cán bộ phòng Văn hóa Thông tin huyện, cán bộ Ban quản lý di tích huyện, người phụ trách, trông coi tại các di tích tiêu biểu… ; đồng thời, nghiên cứu thư tịch gồm các loại sách, báo cáo, tổng kết của các cấp, các ngành, tài liệu thống kê… về quản lý văn hóa, quản lý di tích lịch sử, thu thập các tư liệu của các học giả đi trước, các tài liệu khoa học nhằm giải quyết các nhiệm vụ của đề tài
Trang 145.2.2 Xử lý tư liệu
Tác giả luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, lôgic để trình bày một cách có hệ thống về quá trình xây dựng, bảo tồn các di tích LSVH theo thời gian, diễn biến lịch sử và cấp xếp hạng các di tích Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp so sánh với các di tích LSVH có liên quan, từ đó đánh giá, tổng hợp, phân tích, thống kê, đối chiếu với các tư liệu khác nhau… nhằm nhận diện đặc điểm riêng của các di tích, nhân vật lịch sử cũng như nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, cách bài trí thờ tự của các di tích
5.2.3 Khảo sát thực tế
Phương pháp khảo sát tại các di tích LSVH giúp cho tác giả có cách tiếp cận tổng quan, nắm bắt những giá trị của di tích, những tiềm năng có thể phát huy và những tồn tại hạn chế, những bất cập… để từ đó đề xuất được những giải pháp mang tính khả thi dựa trên cơ sở thực tiễn Trong quá trình khảo sát thực tế, sẽ có sự đối chiếu, bổ sung những thông tin mới và cần thiết cho việc giải quyết vấn đề nghiên cứu
5.2.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này nhằm tìm ra điểm chung, điểm khác biệt trong hoạt động quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành so với những địa phương khác, từ đó khai thác những mặt lợi thế của huyện, phát huy giá trị của các di tích, bổ sung thêm vào nhóm giải pháp, định hướng được sát thực hơn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa Khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hệ thống di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Trang 156.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp hướng tiếp cận tổng quan về thực trạng công tác quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trong những năm vừa qua
- Luận văn đã đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành trong thời gian tới
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, phổ biến kiến
thức liên quan đến di tích LSVH trên địa bàn huyện
7 Bố cục luận văn
Ngoài các thành phần cấu trúc theo quy định (mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo), nội dung chính của luận văn được bố cục trong 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về di tích lịch sử - văn hóa và
di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (23 trang)
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành từ năm 2001 đến nay (38 trang)
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành trong giai đoạn hiện nay (21 trang)
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THẠCH
THÀNH, TỈNH THANH HÓA
1.1 Một số khái niệm
Trong luận văn này, những khái niệm liên quan đến DSVH được tham
khảo từ tài liệu Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10382:2014 (Xuất bản lần 1) - Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan-Thuật ngữ và Định nghĩa [38]; những
khái niệm liên quan đến công tác quản lý nói chung và quản lý DSVH nói riêng được trích dẫn từ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam và một số tài liệu khác
1.1.1 Khái niệm Di sản văn hóa
Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể [38, tr.6]
DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [38, tr.17]
DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá
nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [38, tr.26]
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đã được xếp hạng theo quy định của pháp luật [38, tr.18]
Trang 17Theo quy định của Luật DSVH năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm
2009 [21], di tích LSVH phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
Khái niệm di tích LSVH nêu trên đã cho thấy cơ sở khoa học và cũng
là tiền đề để xây dựng các văn bản pháp lý khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích LSVH, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.3 Khái niệm Quản lý và Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
1.1.3.1 Khái niệm quản lý
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến và có nhiều cách diễn đạt khác nhau, chưa có sự thống nhất Theo nghĩa tiếng Việt, Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [37, tr.800]
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [23]; “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt
Trang 18động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [19]… Có ý kiến cho rằng, Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức
Từ những ý chung của nhiều định nghĩa, có thể coi “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [18, tr.15]
Như vậy, quản lý cần phải có hai yếu tố cơ bản, đó là: đối tượng thực hiện chức năng quản lý và đối tượng bị quản lý Có thể nói, quản lý là một khái niệm khá rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, chính trị,… nó giúp cho các hoạt động ở mọi lĩnh vực đi đúng hướng và mang lại hiệu quả cao hơn
1.1.3.2 Khái niệm Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Có thể cho rằng, Quản lý di tích LSVH là sự tác động của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý (di tích LSVH), giúp di tích LSVH tồn tại bền vững, phát huy vai trò nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương nói riêng và dân tộc nói chung [28] Di tích LSVH là đối tượng đặc
biệt, rất quan trọng cần được gìn giữ và phát huy nhằm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
Cho đến nay, pháp luật về DSVH đã cơ bản hoàn thiện, việc quản lý nhà nước về DSVH được cụ thể hóa từ chức năng, nhiệm vụ, nội dung, đối tượng và các mối quan hệ trực tiếp, phối hợp từ trung ương đến địa phương trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH dân tộc Qua đó, cũng dễ dàng nhận thấy, việc quản lý di tích LSVH đang là một công việc cấp bách cần được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, các ngành để DSVH được nhận diện, phát huy giá trị góp phần tạo động lực cho việc phát triển bền vững đất nước
Trang 19DSVH của mỗi vùng, miền, địa phương hay dân tộc đều chịu sự quản
lý của chủ thể nhất định, đó có thể là Nhà nước hay một cộng đồng được Nhà nước thừa nhận Quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị hiện tồn, mà còn phục hồi các giá trị đã bị mai một góp phần giáo dục truyền thống, hướng về cuội nguồn, đặc biệt là phát huy giá trị văn hóa, làm giàu bản sắc văn hóa của mỗi địa phương, dân tộc
Cở sở quan trọng, tiên quyết cho việc quản lý di sản chính là Luật di sản văn hoá Luật định hướng các nội dung, mục tiêu quản lý di sản đi vào nề nếp, xác định rõ đối tượng quản lý, góp phần thúc đẩy sự phối hợp trong thực hiện giữa các cấp, các ngành, làm cho di sản trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương
1.2 Một số văn bản pháp lý về di tích lịch sử văn hóa
Theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước ta, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích LSVH luôn được quan tâm và xem là nhiệm vụ then chốt, nhằm giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đã có nhiều văn bản về bảo vệ và phát huy di tích LSVH được ban hành như: Luật DSVH ngày 29/6/2001 [17]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH ngày 18/6/2009 [21]; Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công; Luật tín ngưỡng - tôn giáo; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH [15]; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự
án bảo quản, tu bổ phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh [16]; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích [9]…
Tại Thanh Hóa, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1692/VX-UBTT ngày 19/9/1996 về tu bổ phục hồi di tích Đến năm 2005 có
Trang 20Công văn số 5330/UBND-VX ngày 22/12/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo quy định của pháp luật Công văn
số 222/SVHTTDL-DSVH ngày 12/02/2009 của Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa về việc điều chỉnh, bổ sung hướng dẫn phân cấp công tác bảo quản,
tu bổ, phục hồi, tôn tạo và tu sửa cấp thiết di tích- danh thắng
Đặc biệt, năm 2013, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2060/2013/QĐ-UBND quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa [34] và các chỉ thị, quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh và Sở VHTTDL về quản lý, phát huy giá trị di tích và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng như Kết luận số 82-KL/TU ngày 30/5/2017 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017-2025 [25] Công văn số 2214/SVHTTDL-DSVH ngày 18/8/2017 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về xây dựng kế hoạch đề xuất cơ chế, chính sách và dự toán kinh phí triển khai thực hiện kết luận số 82-KL/TU ngày 30/5/2017 của Ban Thường vụ tỉnh
ủy Thanh Hóa
Huyện Thạch Thành đã căn cứ vào các văn bản của Tỉnh Thanh Hóa và Trung ương về quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa UBND huyện đã ban hành một số văn bản có liên quan về di tích, cụ thể là công văn số 1092/UBND – VHTT ngày 10/12/2015 về việc thành lập, kiện toàn Ban quản
lý di tích cấp xã, thị trấn, Báo cáo số 197/UBND – VHTT huyện Thạch Thành
về công tác trùng tu, tôn tạo các di tích trên địa bàn huyện từ năm 2011 đến tháng 7 năm 2016 và Kế hoạch số 147/KH- UBND ngày 05/9/2017 về việc triển khai thực hiện Kết luận số 82-KL/TU ngày 30/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017-2025
Trang 211.3 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành
1.3.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Thạch Thành là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá,
trung tâm huyện cách thành phố Thanh Hóa 58km, phía Bắc - Tây Bắc giáp các huyện Lạc Sơn, Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình), phía Đông Bắc giáp huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình), phía Tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, phía Nam giáp huyện Vĩnh Lộc, phía Đông giáp huyện Hà Trung Ðặc biệt, với tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua địa phận huyện Thạch Thành
và một số điểm du lịch quan trọng như vùng đệm của rừng quốc gia Cúc Phương đã tạo cho Thạch Thành lợi thế phát triển thương mại - dịch vụ và
du lịch [PL.1]
1.3.1.2 Địa hình
Thạch Thành có diện tích tự nhiên là 55.811ha Trong đó: đồng bằng 9.120 ha (chiếm 13.3%); đồi bãi 9.600ha (chiếm 16%); đồi núi cao 31.785ha (chiếm 53.4%) [20, tr.18]
Thạch Thành có đầy đủ đặc điểm điển hình của địa hình miền núi đá vôi, đồi đất của miền trung du và đồng ruộng của đồng bằng Địa hình Thạch Thành được hình thành bởi các lòng máng lớn kề nhau xuôi theo hướng Bắc -Tây Bắc và thấp dần về phía Nam, tạo cho Thạch Thành có nhiều thuận lợi, là địa bàn giao lưu kinh tế của các vùng trong tỉnh
1.3.1.3 Khí hậu
Thạch Thành nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên khí hậu khắc nghiệt cả bốn mùa trong năm, tuy nhiên là huyện miền núi nên chịu ảnh hưởng khí hậu miền Bắc nhiều hơn miền Trung và do đó có đặc điểm riêng của tiểu vùng là khí hậu nóng ẩm với hai mùa rõ rệt: mùa hè và mùa đông
Trang 22Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào), mùa đông chịu ảnh hưởng của
độ trung bình của cả nước là 0,5oC; lượng mưa trung bình ở Thạch Thành hàng năm từ 1.500m - 1.700 mm [20, tr.27]
1.3.1.4 Tài nguyên sinh vật
Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên hệ sinh thái cũng mang đặc điểm chung của vùng rừng nhiệt đới, lại giáp với vành đai của rừng quốc gia Cúc Phương nên hệ động, thực vật huyện Thạch Thành rất phong phú và đa dạng Có nhiều loài động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam như:
Hổ, Báo, Hươu, Nai, Gấu, Voọc quần trắng, Gà Lôi, Yểng, Họa Mi Thảm rừng thực vật đa dạng phong phú có nhiều loại thuộc nhóm gỗ quý: Lát, Lim, Sến, Táu, Đinh Hương, nhiều loại cây thuốc quý chữa bệnh, cây làm nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
1.3.1.5 Đặc điểm dân cư
Hiện nay, dân cư ở Thạch Thành chủ yếu có hai dân tộc, Kinh và Mường Theo nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, người Kinh và người Mường ở đây vốn chung nguồn gốc và là người bản địa Tuy nhiên qua những biến cố lịch sử khác nhau nên các bộ tộc dòng họ là người Kinh, người Mường từ nhiều nơi khác nhau của các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình; các huyện Ngọc Lạc, Cẩm Thủy,
Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa… đã về đây cư trú Thạch Thành trước kia dân tộc Mường chiếm phần lớn tỷ lệ dân số trong huyện Từ những năm kháng chiến chống Pháp, đồng bào các tỉnh khu III tản cư vào Thạch Thành; những năm sau hòa bình lập lại ở miền Bắc dân cư từ nhiều nơi về đây xây dựng bốn nông - lâm trường quốc doanh trong huyện, nhất là những năm đầu thập kỷ 60, đồng bào các huyện miền xuôi lên Thạch Thành xây dựng kinh
tế và Việt kiều từ Thái Lan trở về đây sinh sống nên đến nay dân tộc Mường và dân tộc Kinh ở Thạch Thành chiếm tỷ lệ ngang nhau
Trang 231.3.2 Các loại hình di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thạch Thành
Theo quy định hiện hành về DSVH, di tích LSVH được chia làm ba loại hình, bao gồm: di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật và di tích khảo cổ Hiện nay, trong số các di tích đã được xếp hạng các cấp trên địa bàn huyện Thạch Thành có đủ đại diện cho các loại hình nêu trên (xem Bảng 1.1)
Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện tiêu biểu hoặc gắn với thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương trong các thời kỳ lịch sử, đã được xếp hạng theo quy định của pháp luật [38, tr.18]
Lịch sử huyện Thạch Thành nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Quá trình ấy đã để lại nhiều
di tích lịch sử, tính đến tháng 6/2017, trên địa bàn huyện Thạch Thành có 01 di tích lịch sử được xếp hạng, đó là di tích Chiến khu Ngọc Trạo Năm 1941, Tỉnh
ủy Thanh Hóa quyết định thành lập chiến khu du kích tại Ngọc Trạo để hưởng ứng phong trào Bắc Sơn, Nam kỳ khởi nghĩa Ngọc Trạo đã trở thành chiến khu trọng tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy trong cuộc kháng chiến chống Pháp
1.3.2.2 Loại hình di tích kiến trúc - nghệ thuật
Di tích kiến trúc - nghệ thuật là công trình kiến trúc - nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị, đánh dấu
Trang 24các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật, đã được xếp hạng theo quy định
của pháp luật [38, tr.18]
Đây là loại hình di tích tiêu biểu, chiếm số lượng nhiều nhất thuộc nhiều loại hình như: đình, đền, chùa, lăng mộ, ghè, giáp, miếu, phủ, nhà cổ… Trên địa bàn huyện có 11 di tích thuộc loại hình này đã được xếp hạng Mỗi
di tích trong số đó đều mang đậm dấu vết lịch sử của quá trình hình thành và đều có sự thể hiện khá tinh tế, tài hoa của các thế hệ đi trước trong lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc trên nhiều chất liệu khác nhau Cùng kết hợp với đồ án kiến trúc, điêu khắc là môi trường, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, tôn nghiêm, tạo sức hút kỳ lạ đối với người tham quan Một số di tích tiêu biểu như Đền Phố Cát, đền Mường Đòn, Đền Tam Thánh, Đền Mẫu, chùa Vĩnh Phúc, Đền Cô Luồng…
1.3.2.3 Loại hình di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là địa điểm lưu giữ những dấu tích, di vật phản ánh các
giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
đã được xếp hạng theo quy định của pháp luật [38, tr.18]
Hang Con Moong là di tích khảo cổ, được cán bộ vườn quốc gia Cúc Phương phát hiện lần đầu tiên vào tháng 11/1974, trong khi điều tra cảnh quan, di tích lịch sử khu vực Tây Nam vườn Đến tháng 01/1975, Viện khảo
cổ học kết hợp với Ban quản lý vườn thăm dò, khảo sát sơ bộ di tích này Tháng 4/1976, Viện khảo cổ học tiến hành khai quật hang Con Moong lần thứ nhất Bước đầu khai quật cho thấy, đây là một trong những ngôi nhà lớn của người Việt cổ cư trú Hang Con Moong được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 03/08/2007 Những năm gần đây, các nhà khảo cổ học ở Viện khảo cổ Việt Nam phối hợp với các nhà khoa học ở Viện khảo cổ học - dân tộc học Nôvôsibirsk, thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga tiến hành khai quật theo chương trình hợp tác 5 năm
Trang 25Ngày 23/12/2015, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng di tích hang Con Moong và các di tích phụ cận huyện Thạch Thành là di tích quốc gia đặc biệt
1.4 Hiện trạng, vai trò và giá trị của các di tích Lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành
1.4.1 Hiện trạng các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thạch Thành
Hệ thống di tích LSVH ở huyện Thạch Thành phân bố tương đối đồng đều khắp trên 26 xã và 02 thị trấn bao quanh hai nhóm di tích đã được xếp hạng và chưa được xếp hạng
Là huyện Miền Núi của tỉnh Thanh hóa, là địa phương có nhiều truyền thống lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng của tỉnh tiêu biểu như: Chiến khu Ngọc Trạo - cái nôi của lực lượng vũ trang Thanh Hóa Đặc biệt, Trong quá trình hình thành và phát triển các thế hệ người Thạch Thành cũng
đã để lại nhiều dấu ấn về lịch sử, về truyền thống văn hóa Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có những di tích chỉ còn lại trong tiềm thức, có những di tích đã thành phế tích không có khả năng phục hồi và có những di tích đã xuống cấp nặng nề Tính đến tháng 6 năm 2017, Thạch Thành có 13 di tích được xếp hạng các cấp (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng ở huyện Thạch Thành
Quốc gia đặc biệt
xã Ngọc Trạo
921/QĐ-BT, ngày 29/7/1994;
Quốc gia
Trang 26TT Tên di tích Địa điểm Số quyết định;
(Chùa Hòa Luật)
Thôn Hòa Luật,
xã Thành Tân
2382/QĐ-UBND, ngày 30/8/2006;
Tỉnh
(Đền Cây Thị)
Khu 3, Thị trấn Kim Tân
4092/QĐ-UBND, ngày 09/12/2011;
Tỉnh
xã Thạch Bình
3025/QĐ-UBND, ngày 14/9/2012;
Tỉnh
xã Thành Vân
410/QĐ-UBND, ngày 31/01/2013;
Tỉnh
Nguồn: tác giả
Trang 27Về tính chất sở hữu: 13 di tích LSVH trên địa bàn huyện đã được xếp hạng là di tích sở hữu của toàn dân, của cộng đồng Các di tích này đều được
sự quản lý của các Ban quản lý di tích cấp huyện và cấp xã
Đây là những công trình của làng, xã do tập thể đóng góp xây dựng như đình, đền, chùa hoặc có thể là một cá nhân đứng ra hưng công xây dựng nhưng vẫn có sự đóng góp của làng ở góc độ này hay góc độ khác
Các di tích LSVH nêu trên trãi qua thời gian và sự khắc nghiệt của thiên tai, nhưng hầu hết các di tích đã được bảo lưu, gìn giữ từ những cổ vật, hiện vật quý, mang đặc trưng của di tích, một số di tích được khôi phục lại từ những dấu tích còn sót lại hoặc do những người có uy tín sống lâu năm kể lại và phục dựng Bên cạnh những di tích đã bị bào mòn của thời gian, thì có những di tích được bảo lưu khá hoàn chỉnh so với cấu kiện, mỹ thuật ban đầu
Những di tích LSVH còn tồn tại đương đối tốt: Trên địa bàn huyện, những di tích được bảo tồn tương đối tốt như là Khu di tích chiến khu Ngọc Trạo, Khu di tích Hang Con Moong, di tích đền Tam Thánh, Đền Thánh Mẫu, Đền Phố Cát Đây là những di tích đến ngày nay vẫn giữ được hiện trạng mỹ thuật, có sự trùng tu tôn tại xong yếu tố gốc mang đậm giá trị nghệ thuật vẫn được bảo tồn, với những bức phù điêu cầu kỳ, tỉ mỉ, phản ánh trình độ mỹ thuật của các bậc tiền nhân Những Thanh Thượng lương ở những ngôi đền vừa phản ánh thời gian tồn tại của ngôi đền, vừa phản ánh nét tinh sảo trong điêu khắc Chẳng hạn như Thượng lương tại Đình Mường Đòn còn đề
“Hoàng Triều Bảo Đại thập niên…” cho biết Đình đã được tu sửa lớn vào năm thứ 10 niên hiệu Bảo Đại (1935) Thượng lương tại Đền Thánh Mẫu phản ánh đền được dựng vào tháng 8 niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (năm 1939) Những đề tài trang trí như hình rồng, hình phượng, hay sư tử, hưu, chim … phản ánh trí tưởng tượng phong phú con người bấy giờ, người dân nơi đây có
Trang 28một cuộc sống gần gũi thiên nhiên Sự tồn tại của các di tích khẳng định giá trị tinh thần độc đáo của dân tộc hướng về cuội nguồn truyền thống Đó là nơi
để hành hương, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng văn hóa Với giá trị độc đáo của nghệ thuật kiến trúc còn lưu lại, khẳng định tay nghề và tầm cao nghệ thuật của các nghệ nhân thời trước, thể hiện qua kiểu thức vì kèo bên trong theo thức chồng rường hay kẻ chuyển thường thấy trong những kiến trúc thời Nguyễn
Những di tích còn tồn tại song đã bị hư hỏng nặng: Số di tích này chiếm số lượng lớn Ngay cả những di tích được nhân dân bảo quản tốt vẫn có những phần bị hư hỏng, mối mọt Như khu tiền đường của đền Tam Thánh, Cầu bắc qua suối sang Đền Quan Giám và đền Bùi tại di tích thắng cảnh Phố Cát Những di tích đang ngày càng xuống cấp trầm trọng mà chưa có kinh phí
tu bổ đó là khu di tích LSVH Đình Mường Đòn Đây là di tích có kiến trúc độc đáo duy nhất còn lại của dân tộc Mường còn tồn tại đến ngày nay Dù đã được hỗ trợ chống xuống cấp hai lần, đó là tu bổ hậu cung và một số phần bên ngoài, song hạng mục đình chính của di tích có nguy cơ sập đổ Đền Tam Thánh với lối kiến trúc đặc trưng của thời Nguyễn Một số hạng mục ở khu Tiền đường bằng gỗ bị mối mọt, phần rui mè đều phải thay thế Di tích Nghè Đồi Sao, do sự bào mòn của thời gian và sự bảo quản không tốt nên tòa Tiền Bái đã bị cháy cuối thập niêm 60 của thế kỷ XX, chỉ còn lại dấu vết nền móng tường hậu và tòa hậu cung 2 giam cuốn vòm theo chiều dọc Hiện tại, do chưa
có kinh phí tu bổ, Chính quyền địa phương đã che chắn tạm bằng mái tôn để tránh bị sập đổ Đây là một thực trạng cần phải quan tâm và có sự chung tay vào cuộc của tất các các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương và sự chung tay ủng hộ của cả cộng đồng
Những di tích đã được phục dựng vẫn giữ nguyên giá trị: Các di tích này chủ yếu là ở địa phương còn lưu giữ cổ vật, hiện vật, bảo vật và di tích đã
Trang 29bị xuống cấp trầm trọng, được phục dựng trên nền cũ hoặc gần nên cũ, phục dựng chủ yếu là khôi phục lại nguyên so với kiến trúc ban đầu Đó là những
di tích như Đền Phố Cát, Đền Cô Luồng, Khu Nghi môn đền Tam Thánh, Đền Chúa Thượng, Đình Sồi, Đền Tự Cường, Nghè Phú Lộc, chùa Hòa Luật
Đây là các di tích được khôi phục lại từ nguồn vốn của nhân dân, chủ yếu là được xây dựng từ nguồn xã hội hóa, kinh phí của nhà nước hỗ trợ rất ít
Với các di tích đã kiểm kê chưa được xếp hạng: Ngoài những di tích LSVH được khảo tả trên đây, tại địa bàn huyện Thạch Thành, tính đến tháng
6 năm 2017 còn có 45 di tích đã được kiểm kê, quản lý và hoàn thành hồ sơ cũng như các điều kiện để đề nghị công nhận xếp hạng các cấp [PL.3]
Các di tích chưa xếp hạng chủ yếu là những di tích còn giữ nguyên kiến trúc và cấu kiện ban đầu, một số di tích là thuộc sở hữu của toàn dân như Giếng nước hay đền, đình Một số di tích thuộc quyền sở hưu của cá nhân như nhà cổ, nhà thờ họ…
Các di tích này phần lớn chưa được tôn tạo tu bổ và vẫn giữ được kiến trúc ban đầu
1.4.2 Giá trị của các di tích Lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
1.4.2.1 Giá trị lịch sử
Sự hình thành và tồn tại của các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành tồn tại gắn liền với các giai đoạn và dấu tích lịch sử dân tộc Trải qua biết bao biến động thăng trầm của lịch sử, các di tích LSVH vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay là các di chỉ khảo cổ, các nhân vật lịch sử có công với triều đại, với đất nước Là minh chứng cho các sự kiện lịch sử cách mạng, gắn liền với một thời gian nhất định Việc giữ gìn và phát huy các di tích LSVH là việc tôn vinh lịch sử Tín ngưỡng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng gắn liền với thờ anh
Trang 30hùng dân tộc và các danh nhân khai quốc công thần Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của huyện Nông Cống đã được xếp hạng quốc gia như Khu di tích chiến khu Du kích Ngọc Trạo là biểu tượng hào hùng về tinh thần bất khuất của nhân dân ta từ thời kỳ tiền khởi nghĩa Sự ra đời của chiến khu Ngọc Trạo, cùng với các đội du kích đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá về tinh thần chịu đựng gian khổ, anh dũng chiến đấu hy sinh, tình đoàn kết quân dân một lòng chống kẻ thù chung vì nền độc lập tự do của Tổ quốc Phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của chiến khu Ngọc Trạo, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã làm nên những
kỳ tích anh hùng, cùng cả nước tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thành công Tại Chiến khu, vẫn còn lưu lại ba ngôi mộ của những chiến sĩ dũng cảm kiên cường và cũng là niềm tự hào của người dân Thạch Thành nói riêng, dân Thanh Hóa nói chung đó là chiến sĩ Phạm Văn Hinh, Hoàng Văn Môn và Đỗ Văn Tước đã anh dũng hy sinh tại Chiến khu Ngọc Trạo năm 1941
Hay Nghè Phú Lộc, Đình Mường Đòn là những di tích tôn vinh những người có công với dân, với nước, được nhân dân tồn sùng và lập nên để tưởng nhớ công ơn của họ Di tích Nghè và mộ tướng quân Lê Phúc Hồng, Lê Phúc Quý (nghè Phú Lộc) có vốn lịch sử lâu đời, cho thấy sự xuất hiện tín ngưỡng thờ nhân thần có công với đất nước đã có từ rất lâu tại địa phương, trên cơ sở đó chúng ta có thể hiểu quá trình định cư lập làng ở vùng đất này của các dòng họ trong làng xã Mặt khác, trong lịch sử dưới thời Trần, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược đã trở thành vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia và độc lập chủ quyền dân tộc Việc xuất hiện những vị tướng quân ra sức giúp nước như Lê Phúc Hồng, Lê Phúc Quý ở các làng xã trong nước, cho thấy triều Trần đã lấy lực lượng nhân dân làm nòng cốt trong các cuộc kháng chiến - toàn dân đánh giặc cứu nước Việc dựng nghè thờ thần tại làng Phú Lộc cũng thể hiện truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, như một hằng số của văn hóa
Trang 31Việt Nam Di tích LSVH nghè Phú Lộc cũng là dấu tích lịch sử thờ người có công với đất nước gắn với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng tại nơi đây Di tích Đình Mường Đòn cũng là thể hiện niềm tưởng nhớ công ơn của người có công với nhân dân, nơi đây thờ tự hai danh nhân lịch sử gọi là Bạch Mã Linh Lang cùng công chúa Thổ Nương (e gái Bạch Mã) thời Hậu Lê Được nhân dân tôn thờ làm Thành Hoàng
1.4.1.2 Giá trị văn hóa
Đi cùng với quá trình hình thành và phát triển của đất nước, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, những người có công, những vị thần Thành hoàng làng đã ăn sâu trong tâm thức của người dân Việt Nam Nhân dân ta có truyền thống tôn vinh và tưởng nhớ những người có công trong lịch sử dân tộc Thể hiện điều đó thì họ đã lập các đền, đình, nghè sự ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng đã xây dựng cơ sở tôn giáo tín ngưỡng chùa để làm nơi thờ các vị thần, Phật
Vào những dịp lễ hội ở đình, đền, chùa, nhân dân các làng, (Hội đình Thánh Mẫu hiển linh ở đền Tam Thánh, Lễ Hội Đền Cô Luồng ), nhân dân
cả huyện và du khách thập phương (lễ hội Đền Phố Cát, lễ Hội Đình Mường Đòn ) lại tụ họp lại vừa mang ý nghĩa là tưởng niệm công lao của các vị thần, hay những người có công với dân với nước, những vị thánh mà nhân dân tôn sùng như Thánh Mẫu ( nàng Nga, cô Luồng, thánh mẫu Liễu hạnh ), nhân dân tưởng nhớ qua việc gìn giữ qua việc xây dựng và tu bổ tôn tạo cũng như qua việc bảo lưu các nét văn hóa phi vật thể Những trò chơi dân gian đền này vẫn được tổ chức vào các dịp lễ hội Đây là một nét đẹp văn hóa có tính bản sắc cộng đồng của nhân dân địa phương, là những di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn để truyền lại cho thế hệ sau khi mà trong nền kinh tế đất nước phát triển theo hướng hiện đại thì những nét đẹp văn hoá truyền thống này cần được bảo tồn và phát huy
Trang 32* Giá trị về văn hóa vật thể
Các công trình kiến trúc Đình, Chùa, Đền có giá trị văn hóa vật thể là những di tích còn lại trên địa bàn huyện Thạch Thành qua ba loại hình, đó là những công trình xây dựng, công trình kiến trúc, những di vật, cổ vật là những sản phẩm vật chất có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử, khoa học Thông qua các công trình, hiện vật lịch sử để lại đã phản ánh quá trình phát triển của một giai đoạn lịch sử như Hang Con Moong phản ánh quá trình hình thành và phát triển của loài người Việt cổ qua việc thu thập những mẫu xương nguười, những vật dụng bằng đá ở thời kỳ Sơn vi, Hòa Bình và Bắc Sơn , hoặc những chiến tích ghi lại truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, nhân dân ta Bảo tàng chiến khu Ngọc Trạo cùng với tượng đài các chiến sỹ Ngọc Trạo, những dấu tích còn lưu lại tại Khu trung tâm, Đồi Ma Mầu, Hang Treo
đã phản ánh đậm nét về giá trị văn hóa, lịch sử và khoa học Như vậy Tất cả các di tích được xếp hạng trên địa bàn huyện có giá trị về mỹ thuật, về lịch sử
và khoa học rất lớn Đây là những công trình mang đậm giá trị nghệ thuật cần được giữ gìn và phát huy, đặc biệt là trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc bảo lưu và gìn giữ lại có ý nghĩa quan trọng
* Giá trị về văn hóa phi vật thể
Những di tích LSVH đã được xếp hạng trên địa bàn huyện Thạch Thành, có giá trị vật thể và phi vật thể đó là những hoạt động lễ hội, như Lễ hội Mường Đòn hằng năm diễn ra vào 18 tháng Giêng, nhân dân tổ chức diễn tuồng ca ngợi các danh nhân, nhân vật lịch sử, đặc biệt mô tả tập trận, trấn đánh của Bạch Mã Linh Lang, hay cách gieo trồng cầy cấy, tỉa hạ, các trò chơi ném còn, đưa tin, hát đối đáp của đôi bên trai gái Đây còn diễn ra tế lễ, múa lân hay biểu diễn cồng chiêng, đặc biệt có lễ tế cá chép rất đặc trưng của người dân nơi đây
Trang 33Một số di tích khác như di tích Đền Tam Thánh và đền Thánh Mẫu, Đền Cô Luồng và đền Phố Cát cũng thường diễn ra hát đối, những trò diễn xướng, hát tuồng cổ
Các di tích LSVH trên địa bàn có giá trí về mặt văn hóa, lịch sử và khoa học và đặc biệt với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Thạch Thành Giá trị về văn hóa phi vật thể còn được thể hiện trong nội dung các bài tế tại các lễ hội truyền thống tại các di tích hay các loại hình nghệ thuật dân gian như: Hát ru mường, hát tuồng cổ (hát bội), hát mường, hát xường
Bên cạnh Nghệ thuật trình diễn dân gian, Thì các giá trị phi vật thể như phong tục, tập quán và lễ hội truyền thống cũng được tồn tại bảo lưu, gìn giữ qua việc bảo tồn và phát huy các Di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành
Loại hình văn hóa phi vật thể có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc và giáo dục truyền thống quê hương Trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc gắn bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể gắn với giá trị văn hóa phi vật thể có ý nghĩa quan trọng
1.4.3 Vai trò của di tích lịch sử - văn hóa trong đời sống cộng đồng
và sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Thạch Thành
Tất cả các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử và khoa học, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, qua những di tích nêu trên, đã để lại dấu ấn của loài người trên mảnh đất Thạch Thành, cung cấp những bằng chứng xác thực về truyền thống cư trú của loài người, truyền thống chế tác và sử dụng công cụ đá với sự thay đổi về loại hình và kỹ thuật, điều này có giá trị to lớn về mặt khoa học, lịch sử; là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử của ông cha và cũng là nơi để nuôi dưỡng đời sống tâm linh của người dân Thạch Thành, góp phần giáo dục đạo đức cho thế hệ
Trang 34trẻ hướng về cuội nguồn dân tộc Sự hiện tồn của các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc cần được giữ gìn
và phát huy, góp phần vào sự phát triển bền vững văn hóa - kinh tế - xã hội của huyện Thạch Thành nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung
Trải qua thời gian, với sự bào mòn khắc nghiệt của thiên nhiên, thì các
di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thạch vẫn giữ nguyên giá trị, có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng nhiều di tích vẫn giữ được lối kiến trúc nghệ thuật độc đáo và cầu kỳ, với những đề tài trang trí như hình rồng, hình phượng, chim, hưu, sư tử… phản ánh cuộc sống gần gũi của cư dân vùng này với không gian của vùng đất Sự hủy hoại của mưa nắng, mối mọt, một số kiến trúc đã hư hại nặng, một số di tích chỉ còn là dấu vết và hiện vật, nhưng với sự tồn tại của nó khẳng định giá trị tinh thần độc đáo của nhân dân vùng đất Thạch Thành, phản ánh vùng quê giàu truyền thống văn hóa và văn hiến Những nơi đền, chùa, miếu, nghè… là nơi để sinh hoạt và thờ tự, hành hương và cũng là điểm tập kết tinh thần của làng bản, để mọi người sum vầy và gắn bó, nhớ về cuội nguồn
và tri ân, tưởng nhớ về những nhân vật lịch sử, những nhân vật có vai trò đối với đời sống tín ngưỡng dân gian như những người mẹ của muôn dân, được phong là “thánh mẫu', hay “mẫu nghi thiên hạ” (đền Mẫu, đền Cô Luồng, đền Phố Cát, nghè Đồi Sao) hay những con người có sự ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của họ như các vị thành hoàng làng, những người có công với dân, với nước (Chiến khu Ngọc Trạo, nghè Phú Lộc, đền Tam Thánh, đền
Tự Cường, đình Mường Đòn…) Qua đó, thể hiện niềm kính cẩn linh thiêng vào những nhân vật huyền thoại hoặc tưởng nhớ tri ân với những nhân vật lịch sử, cách mạng, cũng là sự cầu mong phù trợ để con người thoát khỏi bệnh tật, mong chờ những lời khuyên dạy, ứng xử trong cuộc sống Đó là sự thể hiện đời sống tâm linh của người dân Thạch Thành nói riêng, của người
Trang 35dân Việt nam nói chung về hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn, mong ước một tương lai tươi sáng hơn Qua sự hiện diện của các di tích phản ánh giá trị nghệ thuật, kiến trúc đặc trưng qua các thời kỳ lịch sử, với kiểu thức vì kèo dân tộc bên trong và bên ngoài với kiểu cấu tạo “chồng rường kẻ bẩy” hay “quá giang kẻ chuyền”… mà ta vẫn thấy trong các ngôi đình, đền, chùa truyền thống Đây cũng là đề tài hấp dẫn đối với các nhà sử học, dân tộc học
và kiến trúc
Với việc giữ gìn, bảo tồn các di tích LSVH qua các thời kỳ khác nhau,
đã thấy vai trò của các di tích trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân vùng đất Thạch Thạch, là nét văn hóa đặc trưng của con người trong các giai đoạn lịch sử ở các vùng miền, là phong tục tập quán của người dân trong sản xuất và sinh hoạt Cũng là phản ánh sự hình thành, gắn bó của người Kinh
và Mường cùng nhau sinh sống và phát triển
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, các di tích LSVH đã có vai trò quan trọng, là động lực để phát triển kinh tế
Các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành phân bố đồng đều trên toàn huyện, phần lớn các di tích đã để lại cho thế hệ sau những công trình kiến trúc nghệ thuật tinh xảo, nét chạm khắc với nhiều hình độc đáo cùng sự linh thiêng tại các di tích là điểm đến hấp dẫn không chỉ đối với người dân vùng đất này mà còn thu hút khách thập phương trong và ngoài nước về thăm quan Đặc biệt, sự kết hợp rất tự nhiên của các di tích bên cạnh những khung cảnh núi non hùng vĩ, thiên nhiên tươi đẹp làm nên nét độc đáo riêng của vùng đất này như Hang Con Moong, Chiến khu Ngọc Trạo, khu di tích LSVH Phố Cát gắn với thắng cảnh Phố Cát… đã mang đến cho du khách xa gần những những trải nghiệm lý thú Sự phát triển, quan tâm và đầu tư cho các khu di tích LSVH gắn với khu du lịch sinh thái đã tạo cho vùng đất Thạch Thành những nguồn thu lớn,
Trang 36cũng như việc quản lý và phát triển kinh doanh dịch vụ tại vùng cận di tích đã tạo công ăn việc làm cho một bộ phận người dân tại những nơi này
Việc khai thác giá trị của di tích LSVH, gắn với vấn đề bảo vệ môi trường là sự phát triển bền vững nền kinh tế của huyện Trong những năm gần đây, UBND tỉnh Thanh Hóa chủ trương phát triển du lịch là nhiệm vụ chiến lược, nên việc quy hoạch để phát triển kinh tế du lịch gắn với di tích đã và đang đặt ra và có những giải pháp tích cực Các di tích trên địa bàn huyện Thạch Thành trở thành tiềm năng phát triển kinh tế Đối với khu di tích Phố Cát và Chiến khu Ngọc Trạo, hàng năm thu hút hàng nghìn lượt khách đến tham quan và khám phá Điều đó đã tạo sự phát triển thương mại, dịch vụ tại nơi đây, đem lại nguồn thu cho nhân dân trong huyện, đó cũng là cơ hội để người dân quảng bá những sản phẩm đặc trưng của vùng đất này tới mọi miền, mọi người như các sản phẩm nông nghiệp: Mía, Cam, ổi, nếp hạt cau…
và các sản phẩm thổ cẩm thủ công Việc du khách tới tham quan và nghỉ dưỡng cũng tạo nên sự phát triển các khu, điểm dịch vụ du lịch…
Với vị trí địa lý của huyện trong mối tương quan với các vùng phụ cận (như: từ trung tâm huyện đến thành phố Thanh Hóa 58km, giáp các huyện Lạc Sơn, Tân Lạc của tỉnh Hòa Bình, huyện Nho Quan của tỉnh Ninh Bình, huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, huyện Vĩnh Lộc và huyện Hà Trung; đặc biệt, với tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua địa phận huyện Thạch Thành và một số điểm du lịch quan trọng như vùng đệm của rừng quốc gia Cúc Phương) đã tạo cho Thạch Thành lợi thế phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch Việc du khách đến với các di tích LSVH cũng trở nên dễ dàng Có thể nhận thấy một số tiềm năng phát triển kinh tế du lịch qua việc thực hiện một số quy hoạch kết nối tạo tuyến như: Di tích thắng cảnh Phố Cát - Chiến khu Ngọc Trạo; Phố Cát - Vườn Quốc gia Cúc Phương; Phố Cát - Quần thể di tích khảo cổ Hang Con Moong và các di tích phụ cận; Hang Con Moong và các di tích phụ cận - Vườn
Trang 37Quốc gia Cúc Phương hay Hang Con Moong - Di tích LSVH Đình Mường Đòn Quy hoạch gắn kết các di tích với các khu du lịch sinh thái có các cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, chính là quy hoạch bảo tồn di tích gắn với phát triển
du lịch, góp phần thu hút khách du lịch trong và ngoài huyện như: sự gắn kết giữa Hang Con Moong với Khu du lịch sinh thái Thác Mây xã Thạch Lâm (cách 6km) hay Hang Con Moong với Vường Quốc gia Cúc Phương, với khu du lịch sinh thái Phố Cát, hay Di tích thắng cảnh Phố Cát - Chiến khu Ngọc Trạo với Thành Nhà Hồ (cách 10km) có thể đi bằng các phương tiện rất thuận lợi Đối với
di tích khảo cổ Hang Con Moong và các di tích phụ cận, việc chú trọng quy hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích quần thể này, trong đó đặc biệt lưu ý đến các giá trị cần bảo tồn như di vật, cổ vật, hiện trạng hang động và cảnh quan thiên nhiên, kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu… nhằm thu hút du khách đến để nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sẽ là cơ sở để thúc đẩy phát triển kinh tế
Trong xu thế lấy bảo tồn di sản văn hóa làm động lực phát triển như ngày nay, di tích LSVH trên địa bàn huyện có vai trò to lớn và có ý nghĩa đặc biệt (về quảng bá đặc trưng văn hóa, giá trị lịch sử - văn hóa, khoa học, phong tục tập quán ) đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tiểu kết
Theo thời gian, các di tích LSVH trên địa bàn huyện Thánh Thành đã dần mai một và xuống cấp, tuy nhiên, các di tích nêu trên vẫn còn lưu giữ những yếu tố gốc hoặc còn lưu những hiện vật có liên quan Mỗi di tích đều có những đặc điểm và giá trị riêng, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc, vùng miền Sự hiện diện của các di tích LSVH trên địa bàn Huyện đã phản ánh những thời kỳ, giai đoạn lịch sử, phản ánh nếp sống, đặc điểm sinh hoạt và cách nghĩ, tư duy của con người nơi đây Đồng thời, qua chức năng và kiến trúc di tích đã cho thấy mối quan hệ giữa tộc người Kinh và tộc người
Trang 38Mường cùng gắn bó, công cư ở vùng này Từ xa xưa, con người nơi đây đã biết đấu tranh chống lại những thế lực phong kiến để bảo vệ bản sắc văn hóa của mình, cũng qua những di tích này, phản ánh trung thực nhất sự vươn lên, vượt qua bao khó khăn trong lao động, phát huy tinh thần sáng tạo được thể hiện trong những tác phẩm nghệ thuật - di tích LSVH hết sức tinh sảo vẫn sừng sững với thời gian cũng như phản ánh những quá trình loài người xuất hiện sinh sống trên mảnh đất này từ thời tiền sử qua các thời kỳ văn hóa (Văn hóa Sơn vi, Văn hóa Hòa Bình và Văn hóa Bắc Sơn) Cùng với chiều dài của lịch
sử Thanh Hóa, các di tích LSVH cũng phản ánh tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người sinh sống trên mảnh đất Thạch Thành
Số lượng di tích LSVH trên địa bàn huyện Thạch Thành phong phú về
số lượng, đa dạng về loại hình, phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn huyện Việc phân cấp quản lý di tích ở Thạch Thành được triển khai có hiệu quả đồng bộ từ khi Luật DSVH có hiệu lực Tuy nhiên, từ hiện trạng, đặc điểm của di tích, có thể nhận thấy tình trạng xuống cấp và mai một của các di tích trở thành vấn đề bức thiết cần quan tâm tôn tạo, trùng tu Những di tích đang được kiểm kê chưa xếp hạng còn nhiều đang cần sự quan tâm của các cấp, các ngành có những tác động giúp cho di tích tồn tại vững bền trong lòng nhân dân địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Ở HUYỆN THẠCH THÀNH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
2.1 Hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử - văn hóa
2.1.1 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Ngày 14/9/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) và Bộ Nội
vụ ban hành Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV [10] quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở VHTTDL thuộc
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (TW) như sau:
Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện
chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về văn hóa, gia
đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, trên
môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản
phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin) ở địa phương theo
quy định của pháp luật; các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và
thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của
UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Tại mục 4 của Thông tư quy định về di sản văn hoá như sau:
Tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng các
nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương sau khi
được phê duyệt;
Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hoá phi
vật thể ở địa phương; cấp giấy phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hoá phi
vật thể trên địa bàn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài;
Trang 40Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị DSVH,
lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử ở địa phương;
Tổ chức kiểm kê, lập danh mục, lập hồ sơ xếp hạng di tích LSVH và danh lam thắng cảnh ở địa phương;
Thỏa thuận chủ trương lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật; thẩm định
dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật; thỏa thuận thiết kế bản vẽ thi công bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích cấp tỉnh ở địa phương; hướng dẫn, tổ chức thực hiện tu sửa cấp thiết và các dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt;
Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh ở địa phương có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di tích;
Tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn thủ tục, trình cấp có thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò, khai quật khảo cổ, khai quật khẩn cấp; theo dõi, giám sát việc thực hiện nội dung giấy phép khai quật ở địa phương;
Thẩm định hiện vật và hồ sơ hiện vật đề nghị công nhận bảo vật quốc gia của bảo tàng cấp tỉnh, ban hoặc trung tâm quản lý di tích, bảo tàng ngoài công lập, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc đang quản lý hợp pháp hiện vật
ở địa phương;
Tổ chức việc thu nhận, bảo quản các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do
tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở địa phương theo quy định của pháp luật; tổ chức đăng ký và quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; cấp chứng chỉ hành nghề đối với chủ cửa hàng mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, bảo tàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân ở địa phương; cấp, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động giám định cổ vật của cơ sở giám định cổ vật tại địa phương;