3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu; tìm hiểu về các giá trị di sản Văn hóa , và thực trạng quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van nhằm phát triển du lịch cộng đồng hiện nay. Qua đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Giáy để phát huy trở thành sản phẩm du lịch đặc thù, góp phần thúc đẩy du lịch cộng đồng xã Tả Van – Sa Pa – Lào Cai phát triển theo hướng bền vững. 3.2. Nhiệm vụ Luận văn tập trung khai thác và nghiên cứu các giá trị di sản văn hóa của người Giáy có thể khai thác trở thành sản phẩm du lịch đặc thù ở Tả Van với vấn đề quản lý và phát triển du lịch hiện nay. Phân tích thực trạng của việc quản lý, phát huy các giá trị di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van trong vấn đề phát triển du lịch cộng đồng hiện nay. Nêu phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý, và phát huy tốt các giá trị di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van đối với việc phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững. Luận văn góp phần bổ sung lý thuyết trọng việc quản lý di sản với phát triển du lịch. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giá trị di sản văn hóa của người Giáy và hoạt động quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van trong việc phát triển du lịch cộng đồng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về không gian, Luận văn lựa chọn xã Tả Van, Sa Pa, Lào Cai. Là địa điểm du lịch cộng đồng đang trong giai đoạn phát triển thu hút du khách trong và ngoài nước. Thời gian nghiên cứu:Nghiên cứu giai đoạn từ năm 2000 khi du lịch cộng đồng bắt đầu hình thành và phát triển tại xã Tả Van. Luận văn tập trung chính từ 2015 đến 2017.
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Sơn
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Trần Hữu Sơn Những nội dung trình bày trong luận văn
là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2018
Học viên
Sần Văn Phức
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA, DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÁY Ở TẢ VAN 11
1.1 Khái niệm và lý thuyết 11
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 11
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong quản lý 20
1.2 Vai trò của quản lý di sản đối với phát triển du lịch cộng đồng 26
1.3 Khái quát về thực trạng phát triển du lịch tại xã Tả Van hiện nay 28
Tiểu kết 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÁY NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 34
2.1 Chủ thể, đối tượng và cơ chế quản lý 34
2.1.1 Ủy ban Nhân dân xã 34
2.1.2 Ban quản lý du lịch cộng đồng 35
2.1.3 Các đối tượng tham gia hoạt động du lịch cộng đồng 39
2.2 Thực trạng các hoạt động quản lý 41
2.2.1 Quản lý kế hoạch, chính sách phát triển du lịch ở Tả Van 41
2.2.2 Quản lý tổ chức bộ máy phát triển Du lịch ở Tả Van 44
2.2.3 Quản lý về nguồn nhân lực 45
2.2.4 Quản lý thanh tra, kiểm tra 47
2.3 Các nguyên tắc quản lý 49
2.4 Thực trạng quản lý di sản văn hóa người Giáy ở Tả Van 50
2.4.1 Thực trạng quản lý văn hóa với vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Tả Van 51
Trang 42.4.2 Thực trạng quản lý các hoạt động di sản văn hóa với vấn đề xây
dựng sản phẩm du lịch 52
Tiểu kết 83
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÁY Ở TẢ VAN NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 85
3.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động văn hóa và di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững 85
3.1.1 Bảo vệ môi trường văn hóa 86
3.1.2 Bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc tạo sản phẩm du lịch 87
3.1.3 Coi trọng lợi ích của chủ thể văn hóa bản địa 89
3.2 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van nhằm phát triển du lịch cộng đồng 90
3.2.1 Nâng cao nhận thức phát triển du lịch bền vững đối với người dân và chính quyền cơ sở 90
3.2.2 Củng cố bộ máy quản lý du lịch cộng đồng 92
3.2.3 Xây dựng cơ chế chính sách theo hướng phát triển du lịch bền vững, xây dựng mối quan hệ hài hòa (đôi bên cùng có lợi) giữa doanh nghiệp và người dân bản địa tham gia du lịch 94
3.2.4 Nghiên cứu, phát huy bản sắc văn hóa tộc người Giáy từ đó xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù và hấp dẫn 95
3.2.5 Xây dựng phương thức quảng bá di sản văn hóa phát triển du lịch hiệu quả 98
3.2.6 Đổi mới vấn đề quy hoạch du lịch, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy di sản văn hóa và xây dựng nông thông mới 99
Tiểu kết 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
UNESCO United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Thống kê lượng khách đến Tả Van (2008 – 2010) 30
2 Bảng 1.2: Thống kê số lượt khách đến Tả Van (2016 - 6
Trang 7Xã Tả Van – huyện Sa Pa – tỉnh Lào Cai hiện nay có nhiều loại hình dịch vụ được du khách ưa thích nhưng vẫn còn chưa khai thác và không phát huy được giá trị di sản văn hóa trở thành sản phẩm du lịch, nhiều sản phẩm du lịch đang bị lai tạp không mang bản sắc riêng và thiếu tính đặc thù
Ngoài ra việc khai thác du lịch nơi đây còn đang tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích giữa người dân bản địa với các doanh nghiệp du lịch, mà nguyên nhân chủ yếu là do ban quản lý chưa phát huy được vai trò của mình trong các hoạt động quản lý và phát huy giá trị di sản văn hóa của người Giáy gắn nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững hiện nay
Du lịch cộng đồng ở xã Tả Van hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề về lý thuyết phát triển du lịch bền vững và lý thuyết về bảo tồn; phát huy bản sắc tộc người như: vai trò cộng đồng với vấn về phát triển bền vững; vai trò của người dân bản địa với phát triển kinh tế du lịch; vấn đề định hướng từ giá trị
di sản văn hóa tộc người phát triển thành loại hình du lịch di sản
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để góp phần vào mục tiêu quản lý di sản phát triển ngành du lịch của Lào Cai nói chung, và xã Tả
Trang 8Van nói riêng, tôi chọn: “Quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van
nhằm phát triển du lịch cộng đồng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu di sản văn hóa tộc người Giáy đã được nhiều tác giả đề cập
ở những phạm vi và góc độ khác nhau Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, nhiều tác giả nghiên cứu về văn hóa Giáy như:
Lò Ngân Sủn, Sần Cháng (sưu tầm, tuyển dịch), “Tục ngữ Giáy”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1994; Lù Dín Siềng có “Truyện cổ Giáy”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995; Sần Cháng nghiên cứu“Văn học dân gian Tỉnh
Lào Cai – Dân tộc Giáy Lào Cai”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1996; Sần
Cháng sưu tầm “ Vươn chang hằm (dân ca Giáy)”, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội 2000; Sần Cháng “Dân ca trong đám cưới và trong tiệc rượu người
Giáy”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001; Sần Cháng “ Giới thiệu Mo lễ
tang dân tộc Giáy Lào Cai”, Hội văn học nghệ thuật Tỉnh Lào Cai, 2003; Sần
Cháng “Một số phong tục tập quán dân tộc Giáy Lào Cai”, Nxb Văn hóa dân
tộc, Hà Nội, 2003 Song chủ yếu các tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu về văn học dân gian, phong tục tập quán của tộc người Giáy Nhìn chung những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa; phong tục tập quán, nhằm giới thiệu về những nét đặc sắc; cái hay; cái đẹp của văn hóa dân tộc Giáy Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Giáy nhưng chưa hướng các giá trị
di sản văn hóa đó thành sản phẩm du lịch Mặt khác do tác động của kinh tế thị trường, tác động của toàn cầu hóa, các giá trị di sản văn hoá dân tộc Giáy đang biến đổi và có những khía cạnh cần đi vào nghiên cứu thêm, từ đó có những giải pháp thiết thực để quản lý và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Giáy hiện nay nhằm phát triển du lịch
Trang 9Vấn đề du lịch, du lịch Sa Pa đã được một số tác giả đề cập đến như:
Phạm Quỳnh Phương “Vài suy nghĩ về du lịch bền vững và việc bảo tồn các
giá trị văn hóa truyền thống (khảo sát tại Sa Pa)”, Tuyển tập báo cáo Hội thảo
Du lịch, sinh thái và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Hà Nội(1998);
Nguyễn Thị Thu Nhàn “Nghiên cứu phát triển Du lịch gắn với cộng đồng Dân
tộc thiểu số ở Sa Pa theo hướng bền vững”,Luận văn Thạc sĩ du lịch, Đại học
Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2010;
Hoàng Thị Kim Luyến “Du lịch cộng đồng của người Giáy ở Tả Van, Sa Pa,
Lào Cai”Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2011;
TS.Trần Hữu Sơn“Để di sản thực sự thành tài sản”(2014); Vũ Thanh Ngọc
“Nghiên cứu phát triển du lịch Văn hóa tỉnh Lào Cai”, Luận văn Thạc sĩ Du
lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
Văn, (2015); Bùi Minh Hào “Hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ
trong quá trình đô thị hóa miền núi” Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc
học, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, (2016); TS Trần Hữu Sơn – ThS.Trần Thùy Dương “Du lịch cộng đồng –
Bài học kinh nghiệm từ Lào Cai”(2017);… Một số công trình nghiên cứu trên
đã nêu được vai trò của du lịch cộng đồng với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Một số bài nghiên cứu đề cao vai trò cộng đồng, đề cập đến nguồn lực văn hóa, tài nguyên du lịch và di sản văn hóa, nêu được những hạn chế trong phát triển du lịch văn hóa Tuy nhiên, các công trình đều chưa đi sâu vào quản
lý di sản văn hóa với phát triển cộng đồng, chưa đưa ra những tác động của vai trò quản lý di sản văn hóa đối với du lịch, chưa khuyến nghị giải pháp quản lý nguồn lực di sản văn hóa nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững
Chính vì vậy, đề tài:“Quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả
Van nhằm phát triển du lịch cộng đồng” sẽ đề cập và đi sâu phân tích những
vấn đề trên trong các chương sau
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu; tìm hiểu về các giá trị di sản Văn hóa , và thực trạng quản
lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van nhằm phát triển du lịch cộng đồng hiện nay Qua đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Giáy để phát huy trở thành sản phẩm du lịch đặc thù, góp phần thúc đẩy du lịch cộng đồng xã Tả Van – Sa Pa – Lào Cai phát triển theo hướng bền vững
3.2 Nhiệm vụ
- Luận văn tập trung khai thác và nghiên cứu các giá trị di sản văn hóa
của người Giáy có thể khai thác trở thành sản phẩm du lịch đặc thù ở Tả Van với vấn đề quản lý và phát triển du lịch hiện nay
- Phân tích thực trạng của việc quản lý, phát huy các giá trị di sản văn hóa
của người Giáy ở Tả Van trong vấn đề phát triển du lịch cộng đồng hiện nay
- Nêu phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý, và
phát huy tốt các giá trị di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van đối với việc phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững
- Luận văn góp phần bổ sung lý thuyết trọng việc quản lý di sản với
phát triển du lịch
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giá trị di sản văn hóa của người Giáy và hoạt động quản lý di sản văn hóa của người Giáy ở Tả Van trong việc phát triển du lịch cộng đồng
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, Luận văn lựa chọn xã Tả Van, Sa Pa, Lào Cai Là địa
điểm du lịch cộng đồng đang trong giai đoạn phát triển thu hút du khách trong
và ngoài nước
- Thời gian nghiên cứu:Nghiên cứu giai đoạn từ năm 2000 khi du lịch
cộng đồng bắt đầu hình thành và phát triển tại xã Tả Van Luận văn tập trung chính từ 2015 đến 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp định tính thu thập thông tin qua công tác điền dã: quan
sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tại thực địa Đồng thời tiếp cận theo góc nhìn của người trong cuộc
- Phương pháp nghiên cứu định lượng là phương pháp thu thập, khai
thác dữ liệu qua thống kê một số phiếu điều tra được thiết lập sẵn mà kết quả thu được phải bằng những con số đã được đo lường cụ thể Vì không có điều
kiện điều tra sâu nên luận văn chủ yếu dùng phương pháp thống kê
- Dựa trên những nguồn tư liệu thu thập được tôi sử dụng phương pháp
phân tích và tổng hợp tư liệu Từ đó hệ thống hóa những tư liệu thu thập được
để đưa vào hoàn thành luận văn
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trước hết, luận văn cung cấp tư liệu một cách hệ thống, chuyên sâu về giá trị di sản văn hóa của người Giáy tại Tả Van Qua đó định hướng và xây dựng các phương pháp quản lý di sản văn hóa của người Giáy trở thành sản phẩm du lịch
Trang 12Thứ hai, đề tài phát hiện thực trang mối quan hệ về quản lý di sản giữa cộng đồng địa phương với các doanh nghiệp du lịch, qua đó khuyến nghị một
số giải pháp về quản lý nhằm định hướng phát triển bền vững
Ngoài ra, kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những
ai quan tâm và có dự định nghiên cứu về du lịch văn hóa dân gian nói chung cũng như di sản văn hóa tộc người Giáy với phát triển du lịch nói riêng, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý văn hóa tại huyện Sa Pa
sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách, quản lý di sản văn hóa nhằm phát triển du lịch cộng đồng ở Tả Van
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý Di sản Văn hóa Du lịch Cộng đồng và tổng quan về Di sản Văn hóa của người Giáy ở Tả Van
Chương 2: Thực trạng quản lý di sản văn hóa của người Giáy nhằm phát triển du lịch cộng đồng
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị trong vấn đề quản lý di sản văn hóa người Giáy với việc phát triển du lịch theo hướng bền vững
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA, DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÁY Ở TẢ VAN
1.1 Khái niệm và lý thuyết
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm quản lý văn hóa
Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Hiện nay, hoạt động quản lý
thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,
Chúng ta hiểu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người và loài người sáng tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa biểu hiện trình độ phát triển mà xã hội đạt được trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Vì vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động của nhà nước đối với văn hóa thông qua việc tổ chức điều khiển mọi hoạt động của văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình xây dựng xã hội
Khái niệm “quản lý văn hóa” trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan
Trang 14bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/ thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân)
1.1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa
Di sản được hiểu là tất cả những gì mà chúng ta muốn giữ lại của tự
nhiên và xã hội loài người còn lại, hiện diện đến ngày nay Di sản ghi nhận và thể hiện quá trình phát triển lịch sử lâu dài vốn đã tạo nên bản chất của các thực thể quốc gia, khu vực, bản địa và địa phương là một bộ phận hữu cơ của đời sống hiện đại Nó là một điểm quy chiếu rung động và là một công cụ tác dụng cho phát triển và trao đổi Di sản riêng và ký ức tập thể của mỗi địa vực hoặc cộng đồng là không gì thay thế được và là một nền tảng quan trọng cho phát triển, hôm nay và cả mai sau
Di sản văn hóa bao gồm Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể: (Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam - thắng cảnh và di vật)
Di sản văn hóa quy định tại Luật di sản văn hóa năm 2001 định nghĩa:
“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật
Trang 15thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [22,tr.44]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý di sản
Quản lý là thông qua những thao tác kỹ năng khiến cho mọi người có tổ chức tiến hành một hệ thống hoạt động đạt đến mục tiêu Di sản văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế và Văn hóa là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau Do đó, việc bảo tồn di sản văn hóa không được cản trở, mà ngược lại, còn phải tạo động lực cho phát triển xét dưới góc độ tác động tới việc tạo nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ trực tiếp cho phát triển
Tóm lại, Quản lý di sản văn hóa là sự tác động bằng chính sách, pháp
luật và tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các sở hữu khác nhau để phát huy các di sản ấy phục vụ phát triển
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
Trang 16ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [19]
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một
trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp
Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội
1.1.1.5 Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch cơ bản, chiếm tỷ trọng cao nhất trong toàn bộ ngành du lịch Về khuynh hướng phát triển du lịch nói chung, nó là loại hình có tương lai phát triển nhanh nhất, song song với xu thế tất yếu là đời sống con người ngày càng được nâng cao
Về mặt khái niệm, đặc trưng đầu tiên trong nội hàm của khái niệm du lịch văn hóa và yếu tố mục đích của hoạt động du lịch Mục đích đó là có tính văn hóa, nhằm tiếp cận, chiêm ngưỡng, tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa mới, làm phong phú hơn vốn hiểu biết về văn hóa, lịch sử của người tham gia du lịch Nhấn mạnh tới yếu tố này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các cơ
sở, doanh nghiệp tổ chức, kinh doanh du lịch Quán triệt đặc trưng này là nhận thức cơ sở, chi phối tất cả các công việc, các khâu trong hoạt động du lịch văn hóa, từ khâu nghiên cứu, chuẩn bị nguồn lực cho sản phẩm du lịch,
Trang 17khâu quảng bá, hướng dẫn, cơ cấu dịch vụ để tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa với chất lượng cao nhất, cho đến những khâu khác có tính tương đồng với các loại hình du lịch khác
Đặc trưng chủ yếu vừa nêu trên cũng là công cụ nhận thức để khu biệt
du lịch văn hóa với các loại hình du lịch khác Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa du lịch văn hóa là loại hình du lịch trong đó các giá trị văn hóa là mục đích nghiên cứu, tiếp nhận và hưởng thụ của khách du lịch, là cơ sở để xây
dựng sản phẩm du lịch đối với các tổ chức du lịch
Du lịch văn hóa phổ thông (tổng hợp) là loại hình du lịch văn hóa dành cho những khách hàng đi du lịch với mục đính mở rộng sự hiểu biết về những nền văn hóa mới, tiếp nhận, tìm hiểu những phong tục, tập quán, văn hóa nghệ thuật, trang phục, lễ hội, ẩm thực của những cộng đồng văn hóa mà họ chưa biết Những thập niên gần đây, hoạt động này phát triển rất nhanh, đóng góp chủ yếu vào sự phát triển của ngành du lịch nói chung Những khía cạnh, phương thức, mức độ, thời
vụ của chúng rất phức tạp, đa dạng, đặt ra cho ngành kinh doanh và nghiên cứu du lịch những vấn đề rất mới mẻ và thú vị, xét cả về mặt khoa học và thực tiễn chỉ riêng công việc nhận diện phân loại để phục
vụ cho công việc nghiên cứu du lịch học nhằm định hướng cho sự phát triển du lịch đã cực kỳ phức tạp [9, tr.5]
1.1.1.6 Khái niệm du lịch di sản
Có thể coi du lịch di sản là một bộ phân hữu cơ trong lĩnh vực du lịch
văn nói chung Bản thân tên gọi du lịch di sản đã nói lên rằng cở sở văn hóa –
lịch sử cho sự nảy sinh và phát triển của lĩnh vực này là những di sản văn hóa của các dân tộc và di sản thiên nhiên mà tạo hóa ban tặng cho các quốc gia Ngoại diện của khái niệm du lịch di sản giao nhau với cả hai loại hình du lịch văn hóa có tính khoa học giáo dục và du lịch văn hóa phổ thông
Trang 18Như vậy, Du lịch di sản là loại hình du lịch lấy việc tìm hiểu, nghiên cứu
và thưởng thức các giá trị văn hóa hàm chứa trong di sản làm mục đích và động lực Sự phong phú và những giá trị văn hóa quý giá mà di sản đem lại có
ý nghĩa lớn lao về mọi mặt Những việc khai thác các giá trị này đòi hỏi nhiều công sức và tiền của, đòi hỏi ý thức đầy đủ về vấn đề bảo tồn các giá trị đó từ phía các cơ quan nhà nước và càng cần tới những nguồn lực nhân văn và tài chính để nghiên cứu, khai thác, quảng bá và gìn giữ chúng [9,tr.9]
1.1.1.7 Khái niệm du lịch cộng đồng
Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia,… có những dấu hiêu chung về thành phần giai cấp , truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội
“Du lịch cộng đồng” hay “Du lịch dựa vào cộng đồng” thực chất là
đối tượng nghiên cứu và triển khai các loại hình du lịch Là các cộng đồng địa phương như: làng (bản, buôn, sóc), xã, huyện, tỉnh – thành Du lịch cộng đồng đã và đang được biết đến như những quan điểm, giải pháp, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Ngày nay, Du lịch cộng đồng được hiểu là Cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch mang tính tự phát hoặc có tổ chức tại các địa phương có phân bố các nguồn tài nguyên du lịch, hoặc gần nới phân
bố các nguồn tài nguyên du lịch…
Trong các trường hợp cộng đồng địa phương tham gia một cách tự phát vào các hoạt động du lịch, hoặc trong các trường hợp có tổ chức, song các quy hoạch phát triển du lịch thiếu khoa học, không đúng đắn, thì thường cộng đồng địa phương trở thành những người làm thuê và thu nhập thấp sản phẩm du lịch
họ cung cấp thường đơn điệu, chất lượng thấp, quyền lợi của họ bị xâm hại bởi
Trang 19các tổ chức, những công ty từ nơi khác đến kinh doanh, quản lý nguồn tài nguyên du lịch Đồng thời, tài nguyên, môi trường du lịch và kinh tế - xã hội thường có xu hướng bị suy giảm, bị tác động tiêu cực Và kết quả phát triển du lịch đã không đáp ứng được nhu cầu hợp lý và giảm sức hấp dẫn của du khách, hiệu quả kinh doanh du lịch thấp, không thực hiện được các mục tiêu: phát triển
du lịch đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển cộng đồng
Hiện nay đã có một số nhà nghiên cứu cũng như một số tổ chức thế giới đưa ra các khái niệm về “Du lịch cộng đồng”:
Dẫn theo Đỗ Thanh Hoa trong “phát huy vai trò của cộng đồng địa phương phát triển du lịch bền vững”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 4, 2007, tr.22: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch, trong đó chủ yếu những người dân địa phương đứng ra phát triển quản lý du lịch Kinh tế địa phương
sẽ thu được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch”
Theo PGS TS Nguyễn Văn Thanh trong “Đào tạo du lịch cộng đồng,
du lịch sinh thái với bảo vệ môi trường”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11,
2005, tr 21: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo
vệ tài nguyên môi trường cả về tự nhiên và nhân văn tại các điểm, khu du lịch
và đồng thời được hưởng quyền lợi từ hoạt động du lịch mang lại”
Theo TS Nguyễn Thanh Bình trong “Để du lịch cộng đồng trở thành hiện thực”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 3, 2006, tr 5: “Du lịch cộng đồng là một loại du lịch nơi cộng đồng dân cư có thể trực tiếp tham gia vào tổ chức phát triển từ gian đoạn khởi đầu đến quản lý giám sát cả quá trình phát triển sau này và quan trọng hơn là được hưởng lợi từ phát triển đó, hay nói ngắn gọn là loại hình du lịch do dân và vì dân”
Các khái niệm du lịch cộng đồng trên khác nhau về ngữ, song về nghĩa
có một số điểm chung khẳng định:
Trang 20- Du lịch cộng đồng là “loại hình, hình thái, phương thức phát triển du lịch” có sự tham gia trực tiếp, chủ yếu của cộng đồng địa phương vào các giai đoạn, các khâu trong quá trình phát triển du lịch, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên môi trường, cộng đồng được hưởng lợi nhuận
từ hoạt động du lịch
- Các khái niệm về du lịch cộng đồng nêu trên mới chú ý đến vai trò chung du lịch của cộng đồng địa phương và việc hưởng lợi ích từ du lịch của cộng đồng địa phương
Theo cơ sở lý luận được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu đúc rút cũng như từ thực tiễn phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới và ở Việt
Nam, Du lịch cộng đồng có thể hiểu là phương thức phát triển du lịch bền
vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách, để mọi lớp dân cư đều có thể được sử dụng, tiêu dùng các sản phẩm du lịch”[34, tr.34,35]
1.1.1.8 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển ta có thể hiểu là sự nâng cấp đời sống con người về mọi mặt Trong quá trình sống của con người thông qua những hoạt động chính như sau: Sinh sôi nảy nở; ăn uống; Khai thác tài nguyên thiên nhiên; Xây dựng thêm nhà cửa; Hít khí O2 và thải ra phần lớn CO2; Gây ô nhiễm (rác thải và khí thải)
Về bản chất có thể tóm lại thành 3 hoạt động lớn:
Trang 21- Khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Xây thêm môi trường nhân tạo
- Trả lại vào tự nhiên rác thải và khí độc
Đấy là lúc con người xuất phát nhu cầu được duy trì nâng cấp cuộc sống một cách suôn sẻ, càng lâu càng tốt, và không bị môi trường tự nhiên ngăn cản Đó được gọi là phát triển một cách bền vững (lâu dài)
Trong quá trình nâng cấp cuộc sống đó, con người cũng nhận ra là, có đôi lúc, và có khi kéo dài hàng thế kỷ, con người mới chỉ tập trung vào việc phát triển kinh tế, hoặc chỉ tập trung vào nhu cầu cá nhân về:( ăn; mặc; ở và đi lại) mà không hề để ý tới việc cải tạo và khai thác tài nguyên một cách hiệu quả nhất
Sau nhiều nghiên và thông qua các hội thảo với sự đóng góp tri thức toàn cầu trong hàng nhiều chục năm, khái niệm phát triển bền vững được thống nhất là thực hiện hiệu quả khi ta cân bằng sự quan tâm vào 3 yếu tố
chính: Kinh tế, Xã hội và Môi trường Hiện nay, yếu tố xã hội còn được nhấn
mạnh về mặt Văn hóa, coi văn hóa cũng như kinh tế - xã hội và môi trường đều là cái trụ cột của phát triển bền vững
Ta có thể nghe đến những khái niệm như công trình xanh, kiến trúc thân thiện môi trường, công trình tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu các - bon(CO2) v.v về bản chất cũng là nỗ lực hướng tới sự bền vững, mặc dù cách gọi đó nghiêng về ứng xử với môi trường nhiều hơn, vì 2 yếu tố kinh tế
và xã hội có vẻ như mặc định đã được con người quan tâm một cách tự nhiên
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người dùng
Tóm lại, ta hiểu “phát triển bền vững” đó là nỗ lực duy trì càng lâu càng
tốt sự nâng cấp điều kiện sống của con người Và để thực hiện nhu cầu đó một cách hiệu quả, theo quan niệm tính đến thời điểm này, cần cân bằng quan tâm đầu tư hiệu quả để đảm bảo phục vụ con người, và ứng xử tốt với môi trường
Trang 22Từ những dẫn chứng đã nêu ở trên ta hiểu rằng: Phát triển bền vững là
một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để
hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong quản lý
1.1.2.1 Lý thuyết về nguồn lực văn hóa
Cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng an ninh…văn hóa với hạt nhân cơ bản là phẩm chất, trí tuệ và những giá trị sáng tạo của con người cũng là một nguồn lực nội sinh quan trọng, quyết định đến
sự phát triển bền vững của đất nước Việc nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa cũng như có những cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển nguồn lực này là những yêu cầu, điều kiện cần thiết để văn hóa phát huy được sức mạnh to lớn của mình, nhất là trong bối cảnh hiện nay
Trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay tạo nên mối đe dọa to lớn đối với nền văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số Nhiều nhà nghiên cứu và quản lý đang lo ngại về việc nhiều yếu tố văn hóa truyền thống
sẽ bị biến đổi, mất mát trong quá trình phát triển kinh tế thị trường Những lo ngại đó không phải không có căn cứ khi thực tế nhiều nét văn hóa của các dân tộc đã bị thị trường tác động mạnh và biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, văn hóa bị thị trường hóa, bị bán rẻ cho những lợi nhuận trước mắt Như nhiều lễ hội, nhiều sinh hoạt văn hóa của người Giáy cũng như nhiều dân tộc thiểu số
đã và đang rơi vào tình trạng như vậy Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác, lạc quan và tin tưởng vào năng lực ứng biến của con người, năng lực hòa nhập của cộng đồng, thì vẫn có nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của tộc
Trang 23người lại trở thành một nguồn lực, một động cơ để phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống
Nguồn lực văn hóa là các tri thức dân gian đó là các truyền thống lâu đời, các kinh nghiệm, thực tiễn sống của một cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, đời sống, tư duy của cộng đồng đó Tri thức bản địa bao gồm các loại trí khôn, kinh nghiệm, phong tục, lề thói ứng xử, các bài học của một cộng đồng Tri thức bản địa được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ người này qua người khác, thông qua truyện kể, huyền thoại, văn học dân gian, các nghi lễ,
lễ thức, tập quán, lề thói, quy định, luật tục, v.v….” (Hà Hữu Nga, 2009)
Người Giáy ở Tả Van là cộng đồng còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống Người Giáy sinh sống chủ yếu ở Tả Van Giáy I, Tả Van Giáy II
là hai thôn nằm trung tâm xã, Đây cũng là Dân tộc có số hộ tham gia hoạt động du lịch cộng đồng nhiều nhất Riêng người Kinh sống chủ yếu ở khu vực trung tâm xã và chủ yếu làm nghề buôn bán tạp hóa, quán ăn…
Trải qua mấy trăm năm sinh sống ở đây, người Giáy đã sáng tạo ra một
hệ thống tri thức dân gian phong phú, mang dấu ấn đặc trưng tộc người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ con người, xã hội, văn hóa và quá trình sản xuất kinh tế Hiểu theo nghĩa rộng, hệ thống tri thức dân gian của người Giáy gồm các thiết chế xã hội, thiết chế văn hóa, đặc trưng văn hóa như các lễ hội, sinh hoạt văn hóa, tổ chức sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, quan hệ xã hội, trí tuệ và kỹ năng sinh tồn…
Trong nhiều năm qua, dưới tác động của đô thị hóa và sự phát triển du lịch mà người Giáy ở Tả Van đang thay đổi nhanh chóng theo hướng hiện đại hóa và thị trường hóa Nền kinh tế của họ đang chuyển đổi nhanh chóng, nhiều hoạt động kinh tế mới xuất hiện và đời sống vật chất của người dân được nâng cao, người dân ngày càng tiếp cận với cuộc sống hiện đại hơn Có nhiều nguyên nhân tác động đến quá trình chuyển đổi này, trong đó có việc
Trang 24người dân bản địa đã khéo léo ứng dụng các tri thức dân gian của họ vào việc phát triển kinh tế hàng hóa để nâng cao chất lượng cuộc sống
Người Giáy ở Tả Van còn giữ được nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống tộc người đặc trưng từ ăn mặc, sản xuất, sinh hoạt văn hóa lễ hội như tết truyền thống, lễ hội Roóng Poọc, đám cưới, đám tang… Trong mỗi sinh hoạt văn hóa lại chứa đựng cả một hệ thống tri thức dân gian về lịch sử, văn hóa tộc người Với tính cách nhanh nhạy, cởi mở trong tiếp xúc với khách nên họ rất biết cách thu hút du khách qua các sinh hoạt văn hóa cộng đồng Nhiều du khách đến với người Giáy để được chứng kiến và trải nghiệm về văn hóa tộc người qua những nét văn hóa của họ Đó cũng là cơ
sở cho các hoạt động dịch vụ du lịch tại nhà của người Giáy Tại đây, khách du lịch được cùng ăn, cùng ở với người bản địa, trò chuyện để tìm hiểu về văn hóa của họ Có những khách nước ngoài đã ở lại hàng tháng để khám phá những điều mới mẻ từ người Giáy Chính vì vậy nên, dù cùng sinh sống trong cùng một xã nhưng người Giáy chiếm ưu thế hơn trong hoạt động du lịch tại nhà so với người Hmông ở bên cạnh vì họ biết vận dụng tri thức văn hóa tộc người vào việc kinh doanh hơn Càng ngày, hoạt động du lịch tại nhà càng phát triển hơn ở người Giáy, Điều này chứng tỏ sức thu hút của hoạt động kinh tế này đối với người dân bản địa, một nguồn thu nhập từ hoạt động này khá lớn và giữ vị trí quan trọng đối với cuộc sống của những hộ gia đình tham gia
Tuy nhiên, bên cạnh làm cho một số tri thức dân gian phát triển mạnh mẽ hơn, bổ sung vào kho tàng tri thức của người Giáy nhiều kinh nghiệm mới, yếu
tố mới thì kinh tế thị trường đã tác động tiêu cực đến nhiều yếu tố văn hóa truyền thống, làm mất mát và mai một nhiều tri thức dân gian Nhiều ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống bị hạn chế hay bị mất do không cạnh tranh được như nghề làm chạm bạc Nhiều sinh hoạt văn hóa như lễ hội Roóng Poọc… cũng
Trang 25thay đổi và không còn giữ được vị trí và vai trò liên kết cộng đồng như trước nữa Nhiều sản phẩm vì chạy theo thị hiếu thị trường cũng làm thay đổi mô típ, chất lượng và giá trị văn hóa tộc người bị giảm như thổ cẩm, thuốc tắm… Bên cạnh thị trường hóa văn hóa còn có quá trình Kinh hóa lối sống, Tàu hóa hàng hóa, nó tác động mạnh đến đời sống văn hóa người dân tộc Giáy hiện nay
Có thể nói, bên cạnh nguồn lực, “sức mạnh cứng” là kinh tế, quốc phòng, khoa học - kỹ thuật… văn hóa với những ưu thế và sức mạnh riêng cũng đang phát huy được những thế mạnh tiềm ẩn có khả năng điều hòa,
“điều tiết” sự phát triển bền vững của đất nước Nguồn lực văn hóa ngày nay đang tỏ rõ ưu thế vượt trội, bởi những mục tiêu tốt đẹp mà nó mang lại là những giá trị chân, thiện, mỹ, những khát vọng hòa bình, giúp con người xích lại gần nhau, cùng nhau chống lại cái ác, cái xấu để xây dựng một thế giới hòa bình, tất cả vì hạnh phúc của con người
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam với những đặc trưng tiêu biểu dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học, cùng những chính sách, chiến lược phát triển
văn hóa phù hợp, kịp thời của Đảng, Nhà nước; sự chung lòng, chung sức của hàng triệu con người Việt Nam, chúng ta có quyền hy vọng ở tương lai không
xa, nền văn hóa Việt Nam sẽ phát triển rực rỡ, đạt được nhiều thành tựu đáng
tự hào, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng - một “sức mạnh mềm” trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Lý thuyết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch Bảo tồn di sản được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự
tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Phát huy di sản có nghĩa là
những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Trang 26Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo
tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn
nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một
cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế
hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn
Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài
hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản
Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh,
Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các
Trang 27nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch,
để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên
cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy
Với quan điểm thứ nhất là đóng gói các sản phẩm văn hóa cần được bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm Nhờ các hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có văn hóa phi vật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa
Với quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi Sản phẩm văn hóa nào có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội
và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí
và hệ giá trị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo
sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù
Trang 28nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có
cơ hội tồn tại lâu dài
Rõ ràng là cả hai quan điểm trên đều xuất phát từ cách hiểu máy móc, siêu hình, thiếu cái nhìn biện chứng về khái niệm bảo tồn Chỉ có thể hiểu một cách đầy đủ và đúng nghĩa khi đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với phát huy Ngoài việc lưu giữ để không mất đi các giá trị văn hóa, bảo tồn còn phải biết lựa chọn trong các hiện tượng đang có nguy cơ bị mất đi, những yếu
tố, những khả năng tiềm ẩn để làm cho chúng tồn tại cùng với sự phát triển đi lên của cuộc sống Mục đích sâu xa của bảo tồn là đưa di sản văn hóa vào cuộc sống để phát huy giá trị của chúng Quan điểm trên cần phải được nhìn nhận một cách linh hoạt
Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội
1.2 Vai trò của quản lý di sản đối với phát triển du lịch cộng đồng
Nhận thức được vai trò của việc quản lý; phát huy các giá trị văn hoá
và vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển du lịch phải gắn liền với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá góp phần phát triển bền vững Tư tưởng này đã được cụ thể
hoá trong nội dung của Pháp lệnh Du lịch, 1999, theo đó : Nhà nước Việt Nam
xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hoá sâu sắc, đồng thời … bảo đảm phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam cũng như trong Luật Du lịch, 2005, theo đó một trong
Trang 29những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch là: phát triển có trọng tâm,
trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử,…bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch
Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững và kế thừa những tư tưởng
và kết quả đạt được từ Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ
2001-2010, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến
năm 2030 đưa ra một số quan điểm phát triển trong đó quan điểm về: Phát
triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc Tôn trọng văn hoá trong mối quan hệ với cộng đồng điểm đến…;Phát triển du lịch gắn với giảm nghèo
Kết quả hoạt động của những mô hình về phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa (Lào Cai), du lịch văn hoá ở Hội An (Quảng Nam), v.v là những thí dụ minh chứng cụ thể cho nỗ lực bảo tồn di sản văn hoá truyền thống và xoá đói giảm nghèo thông qua hoạt động phát triển du lịch ở Việt Nam trong thời gian qua Ở một số điểm du lịch văn hóa, hoạt động du lịch
đã có những hỗ trợ tích cực về vật chất đóng góp cho công tác bảo tồn Ví
dụ điển hình về vấn đề này là du lịch Hội An, theo đó ngoài nguồn kinh phí
từ Nhà nước, nguồn thu từ bán vé tham quan phố cổ mỗi năm được trích 55% cho việc sửa chữa, trùng tu các di tích, nhà cổ Có những ngôi nhà cổ được hỗ trợ tới 300 triệu đồng
Việt Nam cần đẩy mạnh hơn việc nghiên cứu khai thác các giá trị văn hoá làng quê để phát triển những sản phẩm du lịch văn hoá đậm bản sắc dân tộc, hấp dẫn và có sức cạnh tranh để thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, góp phần thực hiện những mục tiêu chiến lược đặt ra Song quan trọng hơn là thông qua phát triển du lịch làng quê, sẽ góp phần bảo vệ và phát huy được các giá trị văn hoá truyền thống và tạo cơ hội cho cộng đồng người dân ở nông thôn hiện chiếm phần lớn dân số ở Việt
Trang 30Nam, tham gia tích cực hơn vào hoạt động du lịch, có thêm thu nhập để cải thiện được cuộc sống của mình
Từ lý do trên ta cần có định hướng đối với phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và phát triển cộng đồng: Khai thác có hiệu quả các giá trị các di sản văn hoá để phát triển những sản phẩm du lịch đặc thù có tính cạnh tranh cao, thu hút khách du lịch Bên cạnh đó Phát triển du lịch di sản văn hóa phải gắn với phát triển cộng đồng Ngoài ra, Phát triển du lịch văn hóa, đặc biệt là du lịch di sản phải gắn với phát triển du lịch quốc gia và khu vực
Tóm lại, nhận thức được giá trị và cơ hội phát triển du lịch từ tài nguyên di sản văn hóa, chúng ta thấy được rõ vai trò của việc quản lý di sản đối với phát triển du lịch cộng đồng Qua đó có định hướng đúng đắn nhằm quy hoạch phù hợp trên nguyên tắc vừa bảo tồn tối đa các yếu tố nguyên gốc trong văn hóa truyền thống, vừa đáp ứng các nhu cầu của du khách Việc làm
đó vừa phát huy được những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân
1.3 Khái quát về thực trạng phát triển du lịch tại xã Tả Van hiện nay
Xã Tả Van (Tả Van Giáy) là tên gọi theo tên xã cộng với các tộc người
cư trú như: Tả Van Mông, Giàng Tả Chải Mông, Giàng Tả Chải Dao Từ xa xưa “Tả Van” được gọi là “Mướng Và”, Mướng Và nghĩa là một sải tay theo ngôn ngữ của người Tày (theo ngôn ngữ Tày, “Mướng” là đơn vị hành chính như làng, thôn “Và” là sải tay)
Xã Tả Van có diện tích khoảng 7033ha, Tả Van Giáy phía đông giáp với Bản Pho, Hầu Thư Ngài của xã Hầu Thào Phía tây giáp với Tả Van Mông của xã Tả Van và Lò Lao Chải của xã Lao Chải Phía nam giáp Giàng
Tà Chải Mông của xã Tả Van và phía Bắc giáp với Lò Lao Chải và Lý Lao Chải của xã Lao Chải Tả Van Giáy là trung tâm của xã Tả Van
Trang 31Đặc điểm địa hình của Tả Van Giáy: Phía trước của làng là con suối chảy từ xã San Xả Hồ qua xã Lao Chải rồi đi qua làng Tả Van Giáy Con suối
đó ngày nay người nơi xa hoặc báo chí gọi là con suối “Mường Hoa”; còn phía sau của làng là núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn Tả Van Giáy chạy dài theo sườn đồi và dọc suối với chiều dài khoảng 3km, chiều rộng tính từ bờ suối đến giáp Tả Van Mông là khoảng 1km Tả Van cách trung tâm Sa Pa 8km về phía Đông Nam, nằm sát trục đường giao thông chính giữa Sa Pa và Bản Dền nên phương tiện giao thông có thể đi tới tận trung tâm xã Bản Tả Van có địa thế đẹp, lưng dựa vào núi, trước mặt quang, thoáng với cánh đồng lúa ruộng bậc thang trên sườn đồi Ngang mặt là con đường trục chính từ Sa
Pa đi xuống đến Thanh Phú và thông ra Bến Đền Vị trí đó thuận tiện cho Tả Van Giáy phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu của cư dân và khách du lịch
Dân tộc chính của xã Tả Van là tộc người Giáy, và bên cạnh đó có hơn
20 hộ dân tộc người Hmông sống cùng thành một xóm riêng, trong số dân tộc Giáy có người nguồn gốc là người Kinh, Hán, Nùng từ đời trước, nay đã Giáy hóa và họ cũng tự nguyện khai nhận là người Giáy từ hai ba đời nay, trên sổ sách cũng như phong tục tập quán (văn hóa) thì làng “Mướng Và” chỉ có 2 tộc người là tộc người Giáy và Hmông còn Kinh, Hán, Nùng đã không còn thể hiện văn hóa riêng của tộc người mình nữa, kể cả trong cúng tổ tiên, lễ tết Theo khảo sát toàn xã có 799 hộ bằng 4260 khẩu trong đó có 2025 lao động chiếm 47,5% tổng dân số Số hộ và nhân khẩu ở đây chủ yếu gia tăng tự nhiên, như chia hộ sinh đẻ, lấy vợ lấy chồng nơi khác, còn gia tăng cơ học từ trước đến nay hầu như chưa được diễn ra
Ngày nay, xã Tả Van đang trên đà phát triển kinh tế ngành dịch vụ, bằng các hoạt động mua bán và trao đổi các sản phẩm văn hóa Nói cách khác người dân xã Tả Van đã biết tự khai thác vốn tài nguyên nhân văn là các giá trị di sản văn hóa vốn có của mình trong việc kinh doanh dịch vụ du lịch Bên cạnh đó, dịch vụ “Homestay - dịch vụ du khách nghỉ tại các hộ gia đình” đang
Trang 32ngày càng phát triển Số hộ gia đình tộc người Giáy tham gia kinh doanh dịch
vụ du lịch ngày càng gia tăng, qua đó đem lại nguồn thu không nhỏ, góp phần vào việc phát triển kinh tế của địa phương
Theo Báo cáo Hoạt động 6 tháng đầu năm 2017 của Ban quản lý Du lịch cộng đồng xã Tả Van cho biết đầu năm 2017 xã đã kiện toàn lại BQLDLCĐ với 7 thành viên Đồng chí Chủ tịch làm trưởng ban, Trưởng Công an xã làm phó ban, thành viên gồm: Công chức Văn hóa - Xã hội, Công chức Tài chính -
Kế toán xã, Trưởng thôn, Công an viên, Hộ kinh doanh có uy tín
BQLDLCĐ xây dựng lịch trực, phân công thành viên luân phiên thường trực tại ban để tiếp nhận giải quyết công việc hàng ngày và đăng ký khai báo lưu trú qua đêm cho khách du lịch
Tổ chức tuyên truyền, vận động người dân đăng ký lưu trú cho khách
du lịch; thực hiện nghiêm việc kê khai giá, niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết; đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm; không tham gia đeo bám, chèo kéo khách du lịch, lang thang, bán hàng rong và ăn xin
Lượng khách đến Tả Van không ngừng tăng qua các năm Theo số liệu báo cáo tổng kết năm 2008, 2009, 2010 của xã Tả Van - Sa Pa - Lào Cai và số liệu do ban quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van cung cấp cho thấy:
Bảng 1.1 Thống kê lượng khách đến Tả Van (2008 – 2010)
Năm Lượng khách đến Tả Van (Người) Lượng khách nghỉ qua đêm
tại Tả Van (Người)
Trang 33lượng khách đã tăng 1.54 lần so với năm trước lên 81.000 người Năm 2010 lượng khách tăng lên 90.054 người so với năn 2009 tăng 1.23 lần, so với năm
2008 tăng 1.71 lần Sự gia tăng này rất đáng mừng nhưng đồng thời với nó yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động du lịch cộng đồng ngày càng cần thiết
để thu nhiều hơn lượng khách đến với Tả Van
Số lượng khách đến xã Tả Van và đăng ký lưu trú tại gia luôn có chiều hướng gia tăng, đặc biệt từ năm 2010 đến 6 tháng đầu năm 2017 lượng khách tăng rất cao Trong 6 tháng đầu năm 2017 số lượt khách tham quan là người Việt Nam và khách người nước ngoài đến tham quan du lịch và nghỉ qua đêm trên địa bàn xã ước tính khoảng 38.000 lượt khách với 14 quốc tịch Tăng hơn 3000 lượt khách so với cùng kỳ năm 2016 Cụ thể tính từ ngày 01/01/2017 đến 15/6/2017 tổng lượt khách đến Tả Van ước đạt: 38.000 lượt
Trong đó khách đăng ký lưu trú qua đêm 5.691 lượt (Khách quốc tế: 4.485
lượt ; Khách nội địa: 1.206 lượt) Doanh thu từ kinh doanh dịch vụ lưu trú tại
gia (Homestay) 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt: 398.370.000đ (Ba trăm chín
mươi tám triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn)
Bảng 1.2 Thống kê số lƣợt khách đến Tả Van (2016 - 6 tháng đầu năm 2017)
Mục đích du khách đến du lịch tại Tả Van của khách nội địa và quốc tế
có sự khác nhau và cũng có sự chênh lệch Qua tài liệu cung cấp của BQLDLCĐ từ công tác điều tra xác xuất ý kiến của khách du lịch với 100 bảng hỏi tại Tả Van ta cho thấy:
Trang 34Bảng 1.3 Thống kê mục đích khách du lịch đến với Tả Van
Mục đích Người Khách nội địa Khách quốc tế % Người %
du lịch nội địa họ đến Tả Van chủ yếu là ngắm cảnh và thưởng thức khí hậu (93.33% và 60%), một số tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với việc học tập và nghiên cứu (16.67%)
Xã Tả Van ngày nay đã có những thành tích đáng kể trong việc thực hiện khai thác kinh doanh dịch vụ Du lịch Cộng đồng Tuy nhiên, việc gìn giữ và sử dụng các giá trị di sản văn hóa của tộc người Giáy trở thành sản phẩm du lịch chưa hiệu quả Ngoài các hộ gia đình người Giáy, hiện nay cũng có nhiều doanh nghiệp, và các cá nhân từ nơi khác đến thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ
du lịch tại xã Tả Van, và làm cho du lịch cộng đồng nay bị xáo trộn và nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa các cá nhân; doanh nghiệp với cộng đồng địa phương trong lợi ích từ du lịch đem lại Từ việc quản lý kế hoạch, chính sách phát triển
du lịch của chủ thể quản lý chưa hiệu quả làm cho xã Tả Van phát triển một cách
ồ ạt, không theo một quy hoạch nhất định Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho xã Tả Van ngày càng bị đô thi hóa, những ngôi nhà truyền thống đang dần bị phá dỡ và thay vào đó là những mẫu nhà xây bê tông khung cứng, những
Trang 35ngôi nhà khung sắt lợp mái tôn hiện đại Hơn nữa những lối sinh hoạt thường nhật truyền thống của cộng đồng đang bị xáo trộn và thay đổi theo thị trường kinh tế, đó cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến các giá trị di sản văn hóa ngày càng bị mai một, vốn văn hóa ngày càng bị nghèo nàn và lai tạp, quang cảnh thiên nhiên bị phá hoại một cách trầm trọng, điển hình là ruộng bậc thang bị phá
ở mức báo động đỏ Điều đó làm cho các giá trị di sản văn hóa, các sản phẩm du lịch đặc thù vốn thu hút được nhiều sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước đến với xã Tả Van dần bị mất giá trị
Tiểu kết
Di sản văn hóa là sự kết tinh của trí tuệ, tình cảm, truyền thống qua các thế hệ Giá trị di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam, với tư cách là nguồn nhân lực quan trọng trong đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Bên cạnh đó các giá trị di sản văn hóa cũng góp phần không nhỏ trong sự phát triển các sản phẩm dịch du trong ngành du lịch đất nước Việt Nam
Người Giáy cư trú tại xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã có lịch
sử trên 200 năm cùng nhiều giá trị di sản văn hóa Đó là những nét riêng biệt,
cổ xưa tại đây với những ngôi nhà truyền thống, những bộ trang phục đặc trưng Đặc biệt hơn, đó là cảnh quan văn hóa của làng, với dòng suối Mường Hoa thơ mộng, cùng với đó là những cánh đồng lúa nước hình bậc thang trải dài trên những sườn núi bao quanh làng cùng với những làn điệu múa truyền thống, những câu hát giao duyên, tất cả những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan và trải nghiệm du lịch văn hóa, du lịch làng bản nơi đây Bên cạnh đó những giá trị di sản văn hóa của tộc người Giáy cũng góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế dịch vụ
du lịch cộng đồng của làng bản nói riêng và mục tiêu phát triển du lịch toàn tỉnh Lào Cai nói chung
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÁY NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
2.1 Chủ thể, đối tượng và cơ chế quản lý
Trong công tác tổ chức quy hoạch và quản lý du lịch ngoài vấn đề về kinh phí thì công tác lựa chọn các thành viên tham gia thực hiện quy hoạch và quản lý giữ vai trò quan trọng có tính quyết định đến việc quy hoạch phát triển du lịch có đạt hiệu quả cao hay không Nhìn chung các nước trên thế giới cũng như Việt Nam, các thành viên tham gia quy hoạch và quản lý thường bao gồm: nhóm lãnh đạo các cơ quan của Chính phủ, các bộ ngành có liên quan, cơ quan quản lý nhà nước hoặc địa phương về du lịch, nhóm chuyên gia tư vấn, nhóm kỹ thuật quy hoạch, nhóm ngoại vi, các nhà thầu, các tổ chức kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp du lịch, cộng đồng địa phương
và khách du lịch Đối với du lịch cộng đồng xã Tả Van cũng có chủ thể quản
lý, đối tượng quản lý và cơ chế quản lý cụ thể như sau:
2.1.1 Ủy ban Nhân dân xã
UBND xã Tả Van gồm: Chủ tịch xã; Ban Công an xã; Ban chỉ huy Quân sự Cùng các bộ phận chuyên môn: Công chức Văn hóa-Xã hội; Công chức Tư pháp; Công chức Địa chính; Công chức Tài chính – Kế toán; Công chức Văn phòng Trong đó tham gia vào bộ máy của BQLDLCĐ gồm có chủ tịch xã; Ban công an; Cán bộ Văn hóa – Xã hội; Cán bộ Tài chính – Kế toán
Trong các Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như Hội đồng Nhân dân và UBND xã chưa chú trọng việc phát triển du lịch cộng đồng, xác định đưa hoạt động du lịch cộng đồng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương Cụ thể UBND xã chưa định hướng xây dựng các kế hoạch, chính sách để thực hiện chỉ đạo; giám sát triển khai xây dựng du lịch cộng đồng
Trang 37Hiện nay, UBND xã trực tiếp quản lý hoạt động Du lịch cộng đồng xã
Tả Van trên cơ sở các chính sách và hướng dẫn chuyên môn từ Phòng Văn hóa huyện Sa Pa BQLDLCĐ xã Tả Van do UBND xã quyết định thành lập
và có chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo các chính sách và quy định của Ủy ban và Phòng Văn hóa huyện Sa Pa ban hành Nhiệm vụ của các thành viên
do chủ tịch xã - trưởng BQLDLCĐ phân công thực hiện
Ban quản lý giai đoạn đầu mới được thành lập chưa có quỹ hoạt động, cuối năm 2015 đầu năm 2016 Ban quản lý đã tạm dừng hoạt động vì không đạt hiệu quả Nguyên nhân trực tiếp là do việc sử dụng nguồn quỹ du lịch thu được của chính quyền xã không đúng mục đích tạo sự bất bình từ phía người dân tham gia làm du lịch và chưa có cơ chế chính sách và các phương hướng hoạt động riêng cho du lịch cộng đồng xã Tả Van Cụ thể là chưa thống nhất đưa ra kế hoạch hoạt động cả một năm đón bao nhiêu khách; đón như thế nào; thống nhất tất cả các khung giá cả về các gói dịch vụ như: giá ăn; giá nghỉ lưu trú; giá bán các sản phẩm đồ lưu niệm và các dịch vụ khác như câu cá; đeo đồ; hướng dẫn hỗ trợ đi lại; và các hoạt động trải nghiệm cùng cộng đồng… Bên cạnh đó do các chủ thể quản lý chưa thật sự có trách nhiệm trong việc thực hiện các chính sách
và phương hướng chỉ đạo từ phòng Thương mại Du lịch và phòng Văn hóa huyện Sa Pa, Ban quản lý không bảo vệ cộng đồng, chưa có các nội quy và biện
Trang 38pháp kỷ luật, đối với các cá nhân và doanh nghiệp phá giá và không tuân theo các quy chế của Ban quản lý và cộng đồng địa phương
Căn cứ tình hình thực tế trong việc phát triển dịch vụ du lịch và công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch tại địa phương; Xét đề nghị của BQLDLCĐ xã Tả Van Nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã trong việc tuyên truyền, vận động người dân bảo tồn nền văn hóa dân tộc, bảo vệ thiên nhiên phát triển nền du lịch theo hướng bền vững, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cộng đồng và sự chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch cộng đồng mang lại Tăng cường công tác quản lý và phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã đi vào nề nếp, thực hiện đúng quy định của pháp luật Thực hiện nghiêm việc đăng ký giá, niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết; đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm; không tham gia đeo bám, chèo kéo khách du lịch, bán hàng rong trên địa bàn
xã quản lý, UBND xã Tả Van đã tiến hành kiện toàn BQLDLCĐ mới Căn cứ
theo quyết định số: 12/QĐ-UBND, ngày 06/01/2017 (Ban hành quy chế quản
lý hoạt động du lịch cộng đồng tại các xã trên địa bàn huyện Sa Pa); Căn cứ
Quyết định số: 22/ QĐ – UBND, ngày 22/ 07/ 2017 (Về việc củng cố và kiện
toàn Ban quản lý Du lịch Cộng đồng xã Tả Van năm 2017); tiến hành củng cố
và kiện toàn BQLDLCĐ năm 2017, Về cơ cấu tổ chức, gồm: 01 trưởng ban,
02 phó ban, 01 thủ quỹ và 02 thành viên Trong đó, Chủ tịch xã giữ vị trí Trưởng ban; Trưởng công an xã giữ vị trí Phó ban; các thành viên gồm: Công
an viên; Công chức Văn hóa – Xã hội; Công chức Tài chính – Kế toán; Trưởng thôn và một người đại diện hộ kinh doanh BQLDLCĐ xã Tả Van có trụ sở thường trực tại Nhà ban quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van Nhiệm
vụ của các thành viên trong Ban quản lý do Trưởng ban phân công
Về chức năng, nhiệm vụ, Ban quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van,
BQLDLCĐ là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, hoạt động dưới hình thức kiêm
Trang 39nhiệm thuộc UBND xã Tả Van Chịu sự Hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng văn hoá và thông tin huyện Sa Pa BQLDLCĐ chịu trách nhiệm thay mặt UBND xã Tả Van quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch
vụ trên địa bàn xã theo đúng định hướng, kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng
Xây dựng kế hoạch hoạt động theo tháng, quý năm và phân công nhiệm
vụ cụ thể cho các thành viên trong đội Hỗ trợ các hộ gia đình và các cá nhân kinh doanh du lịch, dịch vụ trong việc đón tiếp và phục vụ khi khách yêu cầu trong thời gian lưu trú và tham quan tại xã Phối hợp Ban công an xã làm thủ tục khai báo, đăng ký lưu trú cho khách nghỉ qua đêm tại các nhà nghỉ Cử cán bộ viết phiếu thu, thu số tiền trích nộp 7.000đ/ khách vào quỹ du lịch
cộng đồng theo quy định
Ban quản lý du lịch cộng đồng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các hộ gia đình đăng ký kinh doanh đón khách, nghỉ trọ qua đêm Ngày 25 hàng tháng, quý, năm làm báo cáo gửi Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND xã, Phòng văn hoá và thông tin huyện Sa Pa theo quy định
Để triển khai thực hiện tốt các hoạt động của Ban Quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van năm 2017 Trưởng BQLDLCĐ xã Tả Van đã ban hành Thông
báo số: 06/TB-BQLDLCĐ, Thông báo “Phân công nhiệm vụ các thành
viên Ban Quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van năm 2017”, Nhằm thực hiện
phân công nhiệm vụ các thành viên cụ thể căn cứ Quyết định số: 12/QĐ-UBND
ngày 06/01/2017 của UBND huyện Sa Pa “về việc Ban hành quy chế quản lý
hoạt động du lịch cộng đồng tại các xã trên địa bàn huyện Sa Pa”; Căn cứ Kế
hoạch số: 32/KH-UBND ngày 03/05/2017 của UBND xã Tả Van, “Kế hoạch
hoạt động Ban quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van năm 2017”, cụ thể như sau:
Chủ tịch UBND xã – Trưởng ban, Chỉ đạo, điều hành toàn bộ hoạt
động của Ban quản lý du lịch cộng đồng xã, triệu tập, chủ trì các cuộc họp thường kỳ của Ban;Quản lý, theo dõi kết quả thực hiện nhiệm vụ của các
Trang 40thành viên; Xây dựng kế hoạch kiểm tra, tiến hành kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra bất thường về các hoạt động liên quan đến ddến du lịch cộng đồng trên địa bàn xã.Chịu trách nhiệm trước thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân
dân, UBND xã và UBND huyện về toàn bộ hoạt động của ban
Phó ban quản lý, Giúp Trưởng ban thường trực để giải quyết công việc
hàng ngày; Xây dựng lịch trực vào buổi tối cho các thành viên trong Ban để các hộ kinh doanh đến đăng ký và khai báo lưu trú cho khách; Tổng hợp số liệu khách lưu trú theo tuần, tháng, quý, năm gửi UBND xã, phòng Văn hóa – Thông tin theo quy định; Chịu trách nhiệm thường trực tại Ban để tiếp nhận công tác đăng ký và quản lý lưu trú; Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Trưởng ban ủy quyền
Công chức Văn hóa –Xã hội (Thành viên Ban quản lý), Phụ trách xây
dựng Kế hoạch, tổng hợp, báo cáo tình hình hoạt động của Ban; Lập bảng chấm công và thực hiện việc chấm công cho các thành viên trong Ban, làm căn cứ chi trả thù lao theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Trưởng
ban phân công
Những thành viên còn lại, Phụ trách rà soát các đối tượng tham gia đeo
bám, chèo kéo khách và bán hàng rong; duy trì công tác kiểm tra các hoạt động đeo bám, chèo kéo khách, bán hàng rong; Thực hiện các nhiệm vụ khác
do Trưởng ban và Phó ban phân công; Trên cơ sở nhiệm vụ được phân công các thành viên Ban quản lý du lịch cộng đồng xã Tả Van căn cứ nhiệm vụ
được phân công phụ trách, tổ chức triển khai thực hiện
Căn cứ các thông tin trên cho thấy về cơ cấu tổ chức bộ máy của BQLDLCĐ phần lớn nhân lực là chính quyền xã, trong đó chỉ có trưởng thôn
và một thành viên hộ kinh doanh đại diện cộng đồng nằm trong tổ chức bộ máy BQLDLCĐ, vai trò của cộng đồng chưa được đề cao để khai thác và phát huy giúp cộng đồng chủ động tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch Cộng