-Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu cho các dự án, chươngtrình trọng điểm qua KBNN từ năm 2003 trở lại đây đã mang lại những ýnghĩa thiết thực, khẳng định hướng đi đúng trong ch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng của chính sách tàichính quốc gia, gắn bó mật thiết với chính sách ĐTPT kinh tế, chính sách tiền
tệ tín dụng, tác động trực tiếp đến các quan hệ phân phối thu nhập, tích luỹ tiêu dùng toàn xã hội Đây là chính sách được ưu tiên hàng đầu của các quốcgia đang phát triển Trong những năm gần đây, Chính phủ đã chủ trương xâydựng và hoàn thiện chính sách huy động vốn, trong đó đặc biệt chú trọng đadạng hoá các hình thức huy động
-Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu cho các dự án, chươngtrình trọng điểm qua KBNN từ năm 2003 trở lại đây đã mang lại những ýnghĩa thiết thực, khẳng định hướng đi đúng trong chiến lược tạo vốn phục vụphát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện, khối lượng pháthành TPCP nói chung và TPCP cho các Chương trình, dự án trọng điểm cònthấp, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế và tiềm năng trong xãhội, cơ chế phát hành còn một số bất cập, kỹ thuật phát hành đã được cải tiếntheo thông lệ quốc tế nhưng chưa triệt để, chưa đáp ứng được yêu cầu vốn choĐTPT KT-XH, thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện phát triểnthị trường vốn, bảo đảm đủ nguồn lực tài chính cần thiết phục vụ nhu cầu vàmục tiêu phát triển KT-XH của đất nước cũng như tăng cường khả năng huyđộng cho các Chương trình, dự án trọng điểm của Chính phủ trong giai đoạnsắp tới, đòi hỏi công tác phát hành TPCP tiếp tục cải tiến và hoàn thiện
Xuất phát từ tình hình trên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài: " Tăng cường huy động vốn thông qua phát hành TPCP cho các Chương trình, dự
án trọng điểm quốc gia" để nghiên cứu.
Trang 22 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nội dung đề tài khẳng định sự cần thiết phải tăng cường phát hànhTPCP cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia ở Việt Nam; phân tích,đánh giá thực trạng sau 6 năm phát hành TPCP cho các chương trình, dự ántrọng điểm quốc gia ở Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2008, đánh giá nhữngmặt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân nhằm đưa ra các quanđiểm và đề xuất các giải pháp tăng cường huy động vốn bằng TPCP cho cácchương trình, dự án trọng điểm quốc gia ở Việt Nam trong thời gian tới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào công tác pháthành công trái giáo dục đợt I/năm 2003, đợt II/năm 2005 và phát hành TPCPhuy động vốn cho các công trình GT-TL từ năm 2003 đến năm 2008 qua hệthống KBNN
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài chủ yếu làthu thập thông tin, tổng hợp, so sánh và phân tích
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia thành 3 chương:
Chương 1 Sự cần thiết huy động vốn thông qua phát hành TPCP cho
các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia
Chương 2 Thực trạng công tác huy động vốn thông qua phát hành
TPCP cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia ở Việt Nam từ năm
2003 đến năm 2008
Chương 3 Giải pháp tăng cường huy động vốn bằng TPCP cho các
chương trình, dự án trọng điểm quốc gia ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 3CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH TPCP CHO
CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA.
1.1 Chương trình, dự án trọng điểm quốc gia và vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước
Để thực hiện chương trình phát triển KT-XH cần xây dựng các dự ánnhằm đạt được mục tiêu của chương trình đề ra, tức là dự án phát triển nhằm
cụ thể hóa các chương trình, triển khai thực hiện chương trình
Các chương trình, dự án phát triển KT-XH trọng điểm của quốc giagồm hiện nay gồm: các chương trình mục tiêu quốc gia; công trình trọng điểmquốc gia, vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, các khu công nghiệp, chế xuất
1.1.2 Vai trò của Chương trình, dự án phát triển KT-XH đối với sự phát triển:
Thực hiện các chương trình mục tiêu là một trong những hoạt động pháttriển KT-XH quan trọng của bất cứ quốc gia nào Để khắc phục tình trạng tụthậu hiện nay chúng ta buộc phải thực hiện được các mục tiêu KT-XH đã đượcxác định trong chiến lược phát triển Tuy nhiên, nguồn lực để thực hiện cácmục tiêu đó còn rất hạn hẹp; trong khi cách thức sử dụng nguồn lực lại phântán, cục bộ, chồng chéo gây lãng phí nguồn lực, hiệu quả thấp
Nhận thức rõ vai trò của chương trình, dự án phát triển KT-XH, trongcác giai đoạn của kế hoạch 5 năm, Chính phủ đều hoạch định các chươngtrình, dự án cụ thể Các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia là các dự án
Trang 4triển khai thực hiện trong thời gian dài trên phạm vi cả nước Đặc biệt, cácchương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, xóa đói, giảm nghèo
và việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi luôn được Chính phủquan tâm ưu tiên hàng đầu
Đặc điểm của các dự án trọng điểm quốc gia là nhuũng dự án có mộtlượng vốn lớn và phải được quản lý bằng một cơ chế riêng trong suốt quá trìnhthực hiện; Thời gian thực hiện những dự án này kể từ khi bắt đầu khởi côngđến khi hoàn thành đưa công trình vào sử dụng, khai thác dài Nhiều côngtrình không thuộc diện phải hoàn vốn trực tiếp hoặc thời gian hoàn vốn lâudài
1.2 Các nguồn vốn tài trợ cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia
Vốn cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia thường là cácnguồn vốn từ NSNN, nguồn vốn huy động từ các tổ chức trung gian tài chính,nguồn vốn từ phát hành TPCP, vốn ODA và vốn tín dụng hỗ trợ ĐTPT Vị trítác dụng của từng nguồn vốn cụ thể như sau:
Nguồn vốn từ NSNN: Đây là nguồn vốn quan trọng và chủ yếu dành cho
các mục tiêu phát triển KT-XH Trong nền kinh tế thị trường, chính sách chitiêu ngân sách được sử dụng như là một công cụ để điều tiết vĩ mô đối với nềnkinh tế Chi tài trợ cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia là nộidung được ưu tiên hàng đầu trong cơ cấu chi ngân sách
Chi từ NSNN bao gồm chi từ NSTW và chi từ NSĐP Trong nhữngnăm vừa qua, mặc dù nguồn chi từ NSNN cho ĐTPT chỉ chiếm tỷ trọng từ 27đến 30 % trong tổng số chi NSNN nhưng đây là khoản chi có tính ổn định vàbền vững
Chi cho các chương trình, dự án trọng điểm chủ yếu chi từ NSTW thôngqua các nguồn sau:
Nguồn vốn huy động thông qua phát hành TPCP:
Trang 5TPCP là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành, có thời hạn,mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với người sở hữutrái phiếu.
Chính phủ (thường ủy nhiệm cho Bộ Tài chính) phát hành để bù đắp bộichi NSNN và bổ sung vốn ĐTPT xây dựng các công trình, dự án trọng điểmquốc gia, các chương trình, mục tiêu của Chính phủ
Nguồn vốn thanh toán trái phiếu được bố trí từ NSNN hoặc nguồn thu
do công trình mang lại
Theo quy định tại Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 củaChính phủ về việc phát hành TPCP thì TPCP gồm các loại sau:
- Tín phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn dưới 01 năm do KBNNphát hành nhằm phát triển thị trường tiền tệ và để bù đắp thiếu hụt tạm thờicủa NSNN trong năm ngân sách
- Trái phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, doKBNN phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của NSNN theo dự toánNSNN được Quốc hội quyết định
- Trái phiếu công trình trung ương: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 nămtrở lên do KBNN, nhằm huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chínhphủ cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của NSTW, đã ghi trong kế hoạchnhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm
- Trái phiếu đầu tư: Là loại TPCP, có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do các tổchức tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng được Thủ tướng Chínhphủ chỉ định phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính sách củachính phủ
- Trái phiếu ngoại tệ: là loại TPCP, có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do Bộtài chính phát hành cho các mục tiêu theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ
- Công trái xây dựng Tổ quốc: do Chính phủ phát hành nhằm huy độngnguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng
Trang 6quốc gia và các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vậtchất, kỹ thuật cho đất nước.
Như vậy phát hành TPCP qua KBNN để huy động vốn cho các chươngtrình, dự án trọng điểm quốc gia từ năm 2003 đến năm 2008 bao gồm pháthành Công tráí XDTQ- Công trái giáo dục đợt 1/năm 2003 và đợt 2/năm 2005
và trái phiếu Công trình trung ương - TPCP cho các công trình giao thông,thủy lợi của đất nước giai đoạn từ năm 2003 đến 2010
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức tài chính trung gian:
Các tổ chức tài chính trung gian hiện nay gồm có: Hệ thống các NHTMthuộc mọi thành phần kinh tế; Ngân hàng phát triển; Các công ty bảo hiểm;Quỹ tín dụng nhân dân; Các công ty chứng khoán; Công ty cho thuê tàichính
Nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính trung gian có những đặcđiểm: Quy mô huy động vốn không bị giới hạn; hình thức huy động đa dạng,đối tượng huy động phong phú Tuy nhiên nguồn vốn huy động từ các tổ chứctrung gian (chủ yếu là các NHTM) thì thường là ngắn hạn, trong khi các dự ánđầu tư cần vốn dài hạn Tuy nhiên, theo xu thế phát triển thì việc dựa quánhiều vào nguồn vốn từ khu vực ngân hàng có thể dẫn đến rủi ro cho thịtrường và cho nền kinh tế
Nguồn vốn huy động thông qua ODA, vốn tín dụng hỗ trợ ĐTPT: Trong
thời gian qua, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng thấp cho đầu tư các chươngtrình, dự án trọng điểm quốc gia
Nguồn vốn huy động từ đóng góp của các nhà tài trợ: ở nước ta nguồn
vốn này ít và chiếm tỷ trọng nhỏ
Đối với các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia thì nguồn vốn đầu
tư từ NSNN đóng vai trò chủ đạo Nguồn vốn NSNN chủ yếu dựa vào huyđộng trong nước thông qua phát hành TPCP lại mang nhiều lợi ích to lớn.Chính vì thế, hiện nay hầu hết các quốc gia đều đi theo xu hướng này bởi lẽphát hành TPCP sẽ thu hút một lượng vốn trung hạn và dài hạn không hạn chế
Trang 7(từ các khoản tiền nhàn rỗi, phân tán trong xã hội; từ nguồn vốn của các nhàđầu tư tài chính; từ nguồn vốn của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế ) đểđầu tư cho các công trình, dự án trọng điểm quốc gia với chi phí rẻ nhất vàtránh áp lực vay trực tiếp từ hệ thống Ngân hàng, giảm thiểu rủi ro cho hệthống ngân hàng Phát hành trái phiếu theo tiến độ giải ngân sẽ tránh ứ đọngvốn và tránh áp lực tăng lãi suất trên thị trường khi phải huy động một lượngvốn lớn trên thị trường Hơn nữa, trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp, để huyđộng một lượng vốn lớn trong thời gian dài thì phát hành TPCP được xem làcông cụ hữu ích góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như phát triển thịtrường tài chính.
Trong điều kiện hiện nay, khả năng tích lũy cho đầu tư của ngân sáchcòn thấp, mà các nhiệm vụ chi quan trọng của NSNN lại đặt ra yêu cầu rất lớn(quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, xã hội, cải cách tiền lương ); Việc thựchiện tăng vốn đầu tư hạ tầng đối với những dự án quan trọng chiến lược bằnggiải pháp phát hành TPCP là cần thiết Đây cũng là kinh nghiệm mà TrungQuốc và một số nước đã tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả quan
1.3 Sự cần thiết phải phát hành TPCP cho Chương trình kiên cố hóa trường lớp học và Dự án các công trình GT-TL của đất nước:
Chiến lược phát triển KT-XH 2001- 2010 của nước ta đã xác định mụctiêu phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường kếtcấu hạ tầng kinh tế, xã hội; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội,bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia
Để đạt được mục tiêu này, từ năm 2002 Đảng và Nhà nước đã triển khaithực hiện hai dự án trọng điểm quốc gia đặc biệt quan trọng là Chương trìnhKiên cố hóa trường lớp học từ năm 2002 đến hết năm 2007 với tổng nguồnvốn trên 5.000 tỷ đồng và Dự án đầu tư cho các công trình GT-TL quan trọngcủa đất nước từ năm 2003 đến 2010 với tổng nguồn vốn 110.000 tỷ đồng trong
đó nguồn vốn chủ yếu thông qua phát hành TPCP
Trang 81.3.1 Chương trình kiên cố hóa trường lớp học:
Trong xu thế mở cửa và hội nhập hiện nay cần có một lực lượng laođộng chất lượng cao, đạt trình độ quốc tế về khả năng và nghệ thuật quản lý,cũng như có tay nghề cao Việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có chấtlượng cao là cần thiết để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Kiên cố hoá trường lớp học là một trong số các Chương trình dự ántrọng điểm Quốc gia để nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện mục tiêucủa chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và những năm tiếp theo
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2002 thì cơ sở vật chấtcủa ngành giáo dục đặc biệt là giáo dục phổ thông và giáo dục tiểu học cònnhiều thiếu thốn tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, hải đảo và Tây nguyên cònnhiều phòng học tranh tre nứa lá và nhiều phòng học 3 ca Cả nước ta hiện cóhơn 1000 phòng học 3 ca và khoảng 50.000 phòng học tranh tre nứa lá Đểphát triển sự nghiệp giáo dục, bên cạnh việc tăng cường cơ sở vật chất và hiệnđại hoá các trường, lớp học đã đủ tiêu chuẩn, cần đầu tư để xóa tình trạng học
3 ca và phòng học tranh tre nứa lá Đây là một mục tiêu mà Đảng ta đã đề ratrong chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2010: “ Tăng cường đầu tư chogiáo dục từ NSNN và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục đào tạo; Khuyến khíchmạnh mẽ các thành phần kinh tế ĐTPT giáo dục ở tất cả các bậc học, đáp ứngnhu cầu đa dạng của xã hội NSNN tập trung nhiều hơn cho các các bậc giáodục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền núi đảm bảo học tập cho con emngười có công và gia đình nghèo ”
Để huy động thêm nguồn lực để xây dựng trường lớp học, phát hànhcông trái là hình thức huy động vốn được lựa chọn để tài trợ chủ yếu choChương trình kiên cố hoá trường học
1.3.2 Dự án các công trình GT-TL quan trọng của đất nước
Giao thông là cơ sở hạ tầng quan trọng của nền kinh tế Nền kinh tế thịtrường cần đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông thông suốt, hiện đại,nhanh chóng và đảm bảo thuận lợi Giao thông luôn gắn với nhịp độ cuộc
Trang 9sống và chất lượng cuộc sống của người dân; đảm bảo cho mọi miền được kếtnối, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi
Hệ thống thủy lợi đảm bảo cho việc tưới tiêu, chống lũ lụt, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, mùa vụ, thực hiện chính sách an ninh lương thực, ổn định vànâng cao đời sống của người nông dân nói riêng và toàn xã hội nói chung Trong điều kiện nước ta 80% dân số làm nông nghiệp và giá trị sản lượngnông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao trong GDP thì việc đầu tư vào thuỷ lợi cótác dụng tích cực trong việc phát triển kinh tế
Trong những năm qua, Chính phủ đã tập trung đầu tư cho 2 lĩnh vựcnày khá lớn: hệ thống đường bộ nhất là tuyến quốc lộ đã được nâng cấp và mở
ra nhiều tuyến đường mới; hầu hết các xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã;
hệ thống đường sắt đã được hiện đại hoá; nhiều cảng biển, cảng sông, sân bayđược nâng cấp mở rộng và xây dựng mới Hệ thống thuỷ lợi được hoàn thiện,với nhiều hồ đập, kênh mương được xây dựng, chủ động tưới tiêu phục vụnông nghiệp ở nhiều vùng mà trước đây rất khó khăn
Tuy nhiên, do thiên tai lũ lụt, những công trình hạ tầng giao thông vàthuỷ lợi bị ảnh hưởng và xuống cấp nghiêm trọng Thêm vào đó, hiện tại nhiềucông trình kết cấu hạ tầng quan trọng của nền kinh tế (đặc biệt là các côngtrình GT-TL) cần sớm xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng để tạo ra nănglực sản xuất mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiệnđời sống nhân dân Vì vậy, vốn đầu tư của NSNN phải dành một phần để phụchồi, nâng cấp những công trình đã có, trong khi nhiều công trình cần phải xâydựng mới để phát triển kinh tế các tỉnh miền núi, các tỉnh có nhiều khó khăn
Vì vậy, việc huy động thêm nguồn vốn để đầu tư cho các công trình phục vụphát triển kinh tế nói chung và cho các công trình phát triển GT-TL quan trọngcủa đất nước nói riêng là cần thiết và cấp bách
Thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng đó, để giảm bớt gánh nặng choNSNN, Chính phủ chủ trương phát hành TPCP để đầu tư cho Dự án các côngtrình GT-TL quan trọng của đất nước với tổng mức huy động là 110.000 tỷ
Trang 10đồng, thực hiện từ năm 2003 đến năm 2010 do KBNN trực tiếp phát hành vàNSNN bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi đúng hạn.
1.4 Một số nguyên tắc về phát hành TPCP cho Chương trình, dự
án trọng điểm quốc gia:
1.4.1 Nguyên tắc chung:
Các nguyên tắc phát hành TPCP để bổ sung vốn đầu tư cho các chươngtrình, dự án trọng điểm quốc gia:
Thứ nhất, phải phù hợp với nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong các tổ
chức kinh tế và dân cư
Thứ hai, việc huy động thêm vốn không được gây tác động xấu đến
tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể phải bảo đảm:
- Khuyến khích sản xuất - lưu thông phát triển;
- Ổn định giá, tỷ giá, cân đối tiền hàng, cân đối xuất nhập khẩu;
- Giữ quan hệ tốt với các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, Chính phủcác nước về tín dụng, đặc biệt là ODA và thu hút đầu tư;
- Giữ vững an ninh kinh tế, chủ động đối phó với các rủi ro từ bên trongcũng như bên ngoài
Thứ ba, sử dụng nguồn vốn bổ sung thực sự tiết kiệm, có hiệu quả,
mang lại lợi ích thiết thực cho phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, anninh
Thứ tư, tiến độ phát hành trái phiếu phù hợp với tiến độ sử dụng vốn
của các chương trình, dự án, hạn chế ứ đọng vốn để giảm lãi phải trả
Thứ năm, việc phát hành trái phiếu được thực hiện linh hoạt về hình
thức, lãi suất; vừa có tính chiến lược, vừa có thể chủ động điều chỉnh cho phùhợp với từng giai đoạn
Tóm lại, phát hành TPCP cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia là
hình thức huy động vốn hữu hiệu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đangphát triển như Việt Nam Qui mô, phạm vi, hình thức phát hành TPCP sẽ tuỳ
Trang 11thuộc vào chính sách của mỗi nước và mức độ phát triển của thị trường tàichính của các nước Nhận thức được vấn đề này từ năm 2003, Chính phủ đã
có chủ trương tăng nguồn vốn thông qua phát hành TPCP nhằm huy độngnhiều hơn các nguồn lực trong dân để thực hiện các chương trình, dự án trọngđiểm quốc gia qua đó kích thích sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, tạo thêmnhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Trang 12CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TPCP CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN
TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2008
2.1 Khát quát về hoạt động phát hành TPCP ở Việt Nam:
Từ đầu những năm 90, Chính phủ đã chú trọng giải pháp huy động vốntrong nước thông qua phát hành các loại tín phiếu, trái phiếu để bù đắp bội chiNSNN và bổ sung vốn cho ĐTPT Từ đó, hoạt động phát hành TPCP đã từngbước phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào sự phát triển củathị trường tiền tệ và thị trường tài chính
Hoạt động phát hành TPCP từ năm 1990 đến nay có thể chia thành 3giai đoạn chính :
2.1.1 Giai đoạn năm 1991 đến năm 1994:
Trong giai đoạn này, TPCP chủ yếu phát hành dưới hình thức tín phiếukho bạc Tháng 3/1991, tín phiếu kho bạc được phát hành thí điểm tại thànhphố Hải Phòng với loại kỳ hạn 3 tháng, do KBNN bán trực tiếp đến dân cư
Từ thành công của đợt phát hành này, sang đầu năm 1992 Bộ Tài chính quyếtđịnh mở rộng địa bàn phát hành tín phiếu kho bạc ra các thành phố lớn: HàNội, TP Hồ Chí Minh và từ cuối năm 1992 phát hành rộng khắp tại các tỉnh,thành phố trong cả nước với các loại kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng Nguồn thutín phiếu được sử dụng chủ yếu để cân đối NSNN
Cùng với việc phát hành tín phiếu kho bạc để cân đối NSNN, trong giaiđoạn này KBNN còn phát hành tín phiếu đường dây 500 KV từ tháng 7 năm
1992 đến tháng 12 năm 1994 thu được 334,3 tỷ đồng Ngoài ra KBNN cũngphát hành tín phiếu ngoại tệ và phối hợp với Uỷ ban nhân dân một số tỉnh,thành phố phát hành trái phiếu công trình địa phương để đầu tư xây dựng cáccông trình kết cấu hạ tầng Tuy nhiên, do bối cảnh chung của nền kinh tế cònnhiều khó khăn, giá trị đồng tiền nhiều biến động nên kết quả phát hành cácloại tín phiếu, trái phiếu trong thời kỳ này còn rất hạn chế
Trang 13Có thể nói đây là giai đoạn thử nghiệm trong việc sử dụng công cụTPCP để huy động vốn cho NSNN và cho ĐTPT Những tồn tại của giai đoạnnày là: Cơ sở pháp lý cho phát hành TPCP chưa đầy đủ, hiệu lực pháp lý củacác văn bản hướng dẫn chưa cao; các hình thức và phương thức phát hành tráiphiếu còn sơ khai, Mặc dù vậy, những kết quả đạt được trong giai đoạn này
đã khẳng định TPCP là một kênh huy động vốn quan trọng để bù đắp bội chiNSNN và đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia Mặt khác, trong điềukiện nhà nước áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để chống lạm phát, nguồnthu từ phát hành TPCP còn có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần giải quyếtkịp thời nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của NSNN
2.1.2 Giai đoạn năm 1995 đến năm 1999
Ngày 26/7/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 72/CP về quy chế pháthành TPCP đã tạo hành lang pháp lý cho công tác huy động vốn Theo đó, cơchế phát hành TPCP đã được cải tiến và mở rộng với nhiều hình thức khácnhau: phát hành trực tiếp qua hệ thống KBNN, đấu thầu qua NHNN và đại lýphát hành
Thực hiện Nghị định 72/CP của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫncủa Bộ Tài chính, từ tháng 6/1995, hệ thống KBNN chỉ phát hành trực tiếp racông chúng các loại trái phiếu kho bạc có kỳ hạn từ 1 - 2 năm Các đợt pháthành được thực hiện tương đối liên tục trong năm tại tất cả các đơn vị KBNN
Từ tháng 5/1999 đến hết 7/1999, KBNN phát hành công trái xây dựng
tổ quốc (XDTQ) để huy động vốn cho các công trình trọng điểm quốc gia vàcác công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống Cơ chế phát hành vàthanh toán của đợt Công trái XDTQ năm 1999 đã có một bước đổi mới cănbản so với đợt phát hành công trái giai đoạn 1983-1988, đảm bảo phù hợp với
cơ chế thị trường, đủ sức hấp dẫn người mua nên kết quả phát hành khả quan,(huy động được hơn 4.500 tỷ đồng) Đây cũng là đợt phát hành TPCP có kỳhạn dài nhất (5 năm) trong giai đoạn từ năm 1991đến năm 1999
Trang 14Đối với tín phiếu kho bạc ngắn hạn (dưới 1 năm), KBNN đã phối hợpvới NHNN đưa vào hoạt động thị trường đấu thầu theo hình thức chiết khấu.Việc triển khai kênh phát hành này đánh dấu một bước tiến mới về phươngthức và kỹ thuật phát hành TPCP theo thông lệ quốc tế Hoạt động thị trườngđấu thầu tín phiếu kho bạc tuy còn ở giai đoạn thử nghiệm song đã mang lạinhững kết quả thiết thực Cơ chế đấu thầu đã bước đầu tạo ra cơ hội cạnhtranh, hình thành lãi suất tín phiếu theo cơ chế thị trường Tín phiếu phát hànhtheo hình thức ghi sổ nên giảm bớt chi phí phát hành NHNN thực hiện việcquản lý sổ sách và thanh toán tín phiếu đã cho phép rút ngắn thời gian thanhtoán và tạo thuận lợi cho việc chuyển giao tín phiếu trên thị trường thứ cấp.Nghiệp vụ quản lý phát hành và thanh toán tương đối đơn giản, thuận lợi cho
cả nhà phát hành và các nhà đầu tư
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 72/CP, việc phát hành trái phiếucông trình địa phương và trung ương đã có bước phát triển mới KBNN đãphối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng các đề án và tổ chức huyđộng vốn để đầu tư một số công trình quan trọng nằm trong kế hoạch đầu tưcủa Chính phủ nhưng chưa có vốn bố trí như: Thủy điện Yaly, Xi măng PhúcSơn, các công trình hạ tầng của các tỉnh: Hà Nội, Bình Thuận, Cà Mau, KhánhHòa, Tiền Giang Toàn bộ số trái phiếu trên được đấu thầu qua NHNN theohình thức chiết khấu Nguồn vốn thanh toán trái phiếu được cân đối trong kếhoạch đầu tư của ngành, địa phương và các nguồn thu khác do công trìnhmang lại Nhờ có nguồn thu từ trái phiếu mà một số công trình trung ương vàđịa phương được đẩy nhanh tiến độ thực hiện, phục vụ kịp thời yêu cầu pháttriển KT-XH Mặt khác, cho phép mở ra một cơ chế huy động vốn mới chocác công trình, dự án đầu tư khá hiệu quả mà nhiều nước đã áp dụng
2.1.3 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Nhằm tăng cường huy động các nguồn vốn cho ĐTPT, tạo hàng hoá chothị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động, trong giai đoạnnày Chính phủ ban hành Nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày 13/1/2000 về quy
Trang 15chế phát hành TPCP thay thế Nghị định 72/CP Sau đó Nghị định này thay thếbởi Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 Theo đó, bên cạnh việcduy trì phương thức đấu thầu tín phiếu qua NHNN và phát hành trực tiếp racông chúng qua hệ thống KBNN, TPCP còn được phát hành theo hai phươngthức mới: Đấu thầu qua trung tâm GDCK và bảo lãnh phát hành Trái phiếuphát hành theo hai phương thức này được đăng ký, lưu ký, niêm yết và giaodịch tại trung tâm GDCK, tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường thứ cấpTPCP Quy chế mới cũng đã quy định rõ hơn về cơ chế phát hành TPCP, tráiphiếu chính quyền địa phương và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
Theo quy định tại Nghị định 141, Chính phủ cho phép phát hành nhiềuloại trái phiếu và thị trường trái phiếu mới bắt đầu được hình thành và pháttriển mạnh Đặc biệt là sau sự ra đời của Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh(nay là Sở GDCK TP Hồ Chí Minh), TPCP đã trở thành hành hoá thực sựđược giao dịch trên thị trường
Trong giai đoạn này số lượng TPCP phát hành tăng so với giai đoạn từnăm 2002 trở về trước về quy mô phát hành, phương thức phát hành và kỳ hạncũng như phương thức trả lãi Đồng tiền phát hành được đa dạng hơn Số liệuTPCP phát hành cho các chương trình dự án trọng điểm của đất nước từ năm
2003 đến năm 2008 được phân tích cụ thể ở điểm 2.2 dưới đây
Tuy nhiên, nếu so sánh với thế giới và các nước trong khu vực, thịtrường trái phiếu ở Việt Nam còn rất hạn chế cả về qui mô và trình độ pháttriển, chỉ chiếm khoảng 13,72 %GDP (số liệu năm 2007), trong khi thị trườngtrái phiếu Mỹ, Nhật Bản và EU chiếm đến 80% Thị trường trái phiếu ởSingapore, Malaysia và Thái Lan phát triển mạnh hơn Việt Nam cũng chiếmkhoảng 30-40% GDP
2.2 Thực trạng phát hành TPCP cho các Chương trình, dự án trọng điểm quốc gia từ năm 2003 đến năm 2008.
2.2.1 Cơ chế chính sách phát hành TPCP cho các chương trình, dự
án trọng điểm Quốc gia:
Trang 16Việc phát hành TPCP từ năm 2003 đến nay được thực hiện theo các vănbản pháp lý sau:
+ Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về phát hành TPCP,trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương;
Các văn bản hướng dẫn Nghị định số 141 gồm:
+ Thông tư 21/2004/TT-BTC ngày 24/3/2003 hướng dẫn việc đấu thầuTPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địaphương qua TTCK tập trung;
+ Thông tư 29/2004/TT-BTC ngày 6/4/2004 hướng dẫn việc bảo lãnhphát hành và đại lý phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh vàtrái phiếu chính quyền địa phương;
+ Quyết định 66/2004/QĐ-BTC ngày 11/8/2004 ban hành quy chếhướng dẫn trình tự, thủ tục phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảolãnh và trái phiếu chính quyền địa phương;
+ Quyết định 46/2008/QĐ-BTC ngày 1/7/2008 về việc ban hành quychế quản lý giao dịch TPCP tại trung tâm GDCK Hà Nội;
+ Quyết định 46/2006/QĐ-BTC ngày 6/9/2006 ban hành quy chế pháthành TPCP theo lô lớn;
+ Quyết định 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 về việc tập trung đấu thầuTPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội;
+ Thông tư 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 hướng dẫn thuế giá trịgia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực chứng khoán,
+ Thông tư 72/2006/TT-BTC ngày 10/8/2006 sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Thông tư 100/2004/TT-BTC
Trình tự lập kế hoạch, xây dựng phương án phát hành, quyết định pháthành, điều hành lãi suất và các vấn đề có liên quan đến tổ chức phát hànhTPCP được thực hiện theo quy định chung tại Quyết định số 66/2004/QĐ-BTC ngày 11/8/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Trang 17Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Chính phủ vềtổng khối lượng vốn huy động thông qua phát hành TPCP cho các chươngtrình, dự án trọng điểm của đất nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính tính toán, giaonhiệm vụ huy động vốn thông qua phát hành TPCP cho KBNN hàng năm.KBNN chủ trì phối hợp với Vụ NSNN, Vụ TCNH xây dựng kế hoạch pháthành theo các kênh huy động, báo cáo Bộ trưởng phê duyệt và công bố kếhoạch của các đợt phát hành trên phương tiện thông tin đại chúng.
Kế hoạch về từng đợt phát hành bao gồm tổng mức phát hành của đợt,thời điểm phát hành, điều kiện, điều khoản của công trái, trái phiếu (đồng tiềnphát hành nội tệ hay ngoại tệ), kỳ hạn, lãi suất, phương thức phát hành, thờigian, địa điểm phát hành, đối tượng được mua, quyền lợi của người sở hữu,niêm yết giao dịch trên Sở GDCK
Căn cứ vào tính chất đặc điểm của từng loại TPCP và từng thời điểm,KBNN chủ động tổ chức triển khai thực hiện việc phát hành TPCP theo hìnhthức phát hành trực tiếp qua hệ thống KBNN (bán lẻ) hoặc theo hình thức bánbuôn cho các tổ chức bảo lãnh, đấu thầu hoặc kết hợp cả hai hình thức để đảmbảo có hiệu quả, cụ thể là:
- Phát hành trực tiếp qua hệ thống KBNN (bán lẻ): là hành vi trực tiếp
giao trái phiếu và thu tiền của tổ chức phát hành đối với từng đối tượng muachủ yếu là các tầng lớp dân cư dưới hình thức chứng chỉ Đây là hình thứcphát hành nhỏ lẻ rộng rãi tại các đơn vị KBNN trên cả nước, chủ yếu pháthành theo chiến dịch, vận động người dân và các tổ chức tham gia trong thờigian ngắn khoảng 1 đến 2 tháng thông qua phát hành công trái XDTQ, tráiphiếu cho ĐTPT Phát hành theo hình thức này mang ý nghĩa chính trị để toànthể các tầng lớp trong xã hội biết chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nướcnhằm thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, đảm bảo lợi ích cho người dân,kiểm soát tiền trôi nổi trong dân cư, các tổ chức và sử dụng có mục đích
Trang 18Hình thức công trái, trái phiếu phát hành theo phương thức bán lẻ chủyếu dưới hình thức ấn chỉ và không đủ điều kiện niêm yết, giao dịch trên thịtrường chứng khoán tập trung.
- Phát hành theo hình thức bán buôn gồm: đấu thầu qua thị trường
Đây là hai phương thức phát hành tiên tiến Nếu như phát hành trực tiếpqua hệ thống KBNN (bán lẻ) đối tượng chủ yếu là các tầng lớp dân cư thì pháthành thông qua đấu thầu, bảo lãnh với đối tượng chủ yếu là các tổ chức tàichính trung gian, các NHTM và công ty chứng khoán Trái phiếu của một đợtphát hành với khối lượng lớn có cùng ngày phát hành và ngày đến hạn thanhthanh toán, đủ điều kiện niêm yết giao dịch trên thị trường chứng khoán tậptrung Hiện nay trái phiếu phát hành theo hai hình thức này được ghi sổ và lưu
ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán và giao dịch tại Sở GDCK Hà Nội Pháthành theo hình thức bán buôn có ưu điểm lớn là chi phí phát hành thấp nhất,kết quả nhanh
Phát hành theo hình thức bán buôn cho các chương trình, dự án quốc giahiện nay chỉ thực hiện tại KBNN (Ban Huy động vốn) kết hợp với các đơn vị
có liên quan triển khai thực hiện như Vụ TCNH, Sở GDCK Hà Nội, Trungtâm lưu ký chứng khoán Căn cứ vào nhu cầu và tiến độ giải ngân cho cácchương trình, dự án KBNN tổ chức huy động từng đợt, và từng phiên đảm bảotổng số vốn cần giải ngân, tránh tình trạng huy động về chưa giải ngân đượcvẫn phải trả lãi gây lãng phí
Trang 192.2.2 Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học giai đoạn 2002-2007:
2.2.2.1 Về cơ chế chính sách để phát hành TPCP cho Chương trình: Chương trình Kiên cố hoá trường, lớp học giai đoạn 2002-2007 thựchiện theo Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướngChính phủ Chương trình nhằm mục tiêu xoá bỏ tình trạng học 3 ca vào cuốinăm 2003 và đến cuối năm 2005 không còn phòng học tạm thời tranh tre, nứa
lá đối với các cơ sở giáo dục công lập và bán công trong phạm vi cả nước, từgiáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông, với tổng số phòng học dự kiến xâydựng là 67.500 phòng Tổng mức đầu tư của Chương trình là 4.032 tỷ đồngbao gồm các nguồn vốn: NSTW hỗ trợ cho các địa phương (chủ yếu là nguồnvốn phát hành CTGD), nguồn vốn NSĐP, nguồn vốn huy động đóng góp tựnguyện bằng nhiều hình thức của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước
Năm 2003, Quốc hội giao cho Chính phủ phát hành 2.000 tỷ đồng theoNghị Quyết số 09/2002/QH ngày 28/11/2002 Thực hiện Nghị quyết của Quốchội, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2003/NĐ-CP ngày 31/3/2003 vềviệc phát hành CTGD năm 2003, Bộ Tài chính ban hành Thông tư30/2003/TT-BTC ngày 15/4/2003 hướng dẫn thực hiện phát hành và cácQuyết định, Công văn hướng dẫn thực hiện KBNN đã phối hợp với các đơn
vị có liên quan trong Bộ nghiên cứu soạn thảo các cơ chế chính sách có liênquan đến việc phát hành CTGD Đến ngày 18/4/2003, hệ thống văn bản quyphạm pháp luật và các tài liệu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ đã được ban hànhđầy đủ, đồng bộ và được gửi đến các Bộ ngành, các địa phương, các cơ quanthông tấn báo chí, phát thanh truyền hình để triển khai kịp thời cuộc vận độngphát hành CTGD đợt 1 từ ngày 5/5/2003 đến hết ngày 23/5/2003 trên phạm vi
cả nước Tổng số tiền huy động trong đợt phát hành này là được 2.580 tỷ
đồng, bằng 117% so với kế hoạch (2.580 tỷ đ/2.200 tỷ đồng).
Sau khi giải ngân nguồn vốn phát hành đợt 1 năm 2003 đạt 80%,KBNN tiếp tục triển khai phát hành Công trái đợt 2/2005 với tổng khối lượng
Trang 20là 1.500 tỷ đồng, sau đó bổ sung chỉ tiêu phát hành thêm 1.200 tỷ đồng Nhưvậy tổng mức chỉ tiêu phát hành đợt 2/2005 là 2.700 tỷ đồng Để thực hiệnphát hành CTGD đợt 2/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2005/NĐ-
CP ngày 29/3/2005 về việc phát hành CTGD năm 2005, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Chỉ thị về tổ chức triển khai và hưởng ứngcuộc vận động phát hành công trái, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số25/2005/TT-BTC ngày 5/4/2005 hướng dẫn phát hành và các công văn hướngdẫn của KBNN Đến ngày 22/4/2005, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vàcác tài liệu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ
để triển khai kịp thời cuộc vận động phát hành CTGD từ ngày 19/5/2005 trênphạm vi cả nước Tổng giá trị huy động vốn đợt 2 được 2.816 tỷ đồng, bằng104% so với kế hoạch điều chỉnh (2.816 tỷ đồng/ 2.700 tỷ đồng)
Năm 2005, tổng mức phát hành theo kế hoạch là 1.500 tỷ , Chính phủ
bổ sung chỉ tiêu phát hành thêm 1.200 tỷ Như vậy tổng mức chỉ tiêu phát
Trang 21hành đợt 2/2005 là 2.700 tỷ đồng và tuỳ theo kết quả để xác định thời điểmdừng phát hành
b Lập kế hoạch giao chỉ tiêu vận động cho các tổ chức, đơn vị muacông trái: Vì phát hành công trái chỉ thực hiện qua hình thức bán lẻ quaKBNN nên yêu cầu về lập kế hoạch phát hành rất quan trọng, ảnh hưởng lớnđến kết quả phát hành Từ kinh nghiệm cuộc vận động mua công trái năm
1999, các đơn vị được giao chỉ tiêu vận động mua CTGD được xác định gồm
5 nhóm:
Nhóm 1: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Nhóm 2: Các tổ chức tín dụng: Trên cơ sở sự phát triển của các tổ chứctín dụng hiện nay, ngoài 4 NHTM quốc doanh có thêm sự tham gia của các tổchức tín dụng khác
Nhóm 3: Các công ty bảo hiểm
Nhóm 4: Khu vực các doanh nghiệp
Nhóm 5: Khu vực dân cư
Về nguyên tắc, việc giao chỉ tiêu mua công trái cho các đơn vị cụ thểđược xác định dựa trên cơ sở tham khảo kết quả mua công trái năm 1999 vàđánh giá khả năng tham gia Số liệu kế hoạch vận động các tổ chức đơn vịmua công trái năm 2003 và năm 2005 tại Bảng 1 và Bảng 2 dưới đây
Ví dụ để huy động 2.000 tỷ đồng năm 2003, KBNN dự kiến giao chỉtiêu cụ thể cho các đơn vị như sau:
- Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam: chỉ tiêu mua CTGD được giao là1.000 tỷ, bằng 50% tổng mức huy động Chỉ tiêu vận động này đã được traođổi với BHXHVN về khả năng thực hiện và trong phương án đầu tư của cơquan BHXHVN cũng đã tính đến việc thực hiện chủ trương này
- Đối với các tổ chức tín dụng: chỉ tiêu mua CTGD được giao là 6.000
tỷ, chiếm 30% tổng mức huy động (trong đó NH Ngoại thương 100 tỷ đồng,
NH Công thương 200 tỷ đồng, NH Đầu tư 200 tỷ đồng, NH Nông nghiệp 50
tỷ đồng, các tổ chức tín dụng khác 50 tỷ đồng) So với tỷ trọng tham gia mua
Trang 22công trái năm 1999 là 38,84%, tỷ trọng tham gia mua CTGD 2003 của các tổchức tín dụng giảm Tuy nhiên, Bộ Tài chính cũng xác định việc giao chỉ tiêucao cho các tổ chức tín dụng trong đợt này vừa không cần thiết, vừa khônghợp lý vì tổ chức tín dụng chủ yếu sử dụng vốn để cấp tín dụng cho nền kinh
tế Việc tham gia mua CTGD nên ở mức độ vừa phải Theo đánh giá từ VụTCNH, khả năng thực hiện chỉ tiêu này đối với các tổ chức tín dụng là chắcchắn
- Đối với các công ty bảo hiểm: Hệ thống các công ty bảo hiểm đã cóbước phát triển mới so với năm 1999, đặc biệt là có sự tham gia của các công
ty bảo hiểm nhân thọ Việc mua CTGD đối với các công ty bảo hiểm thực chất
là hoạt động đầu tư, vì vậy chỉ tiêu giao cho đối tượng này tăng hơn so với lầntrước (từ mức 2,31% tăng lên mức 10%) với tổng mức giao là 200 tỷ (trong đóTổng công ty Bảo hiểm Việt Nam là 100 tỷ đồng, các công ty bảo hiểm khác
là 100 tỷ đồng) Theo vụ TCNH, khả năng tham gia của các công ty bảo hiểm
có thể còn cao hơn vì nguyện vọng đầu tư hiện nay đều tăng
- Nhóm các doanh nghiệp: dự kiến giao 200 tỷ đồng, chiếm 10% tổngmức phát hành Sở dĩ không đặt ra vấn đề giao chỉ tiêu cao cho các doanhnghiệp vì trong thực tế đã cân nhắc đến khả năng nguồn vốn của các doanhnghiệp Hơn nữa, đối với doanh nghiệp việc tăng trưởng nguồn vốn phục vụsản xuất kinh doanh, giảm chi phí lãi vay ngân hàng, tăng sức cạnh tranh củasản phẩm hàng hoá cần thiết hơn Chỉ tiêu 200 tỷ đồng sẽ tập trung vận độngđối với các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có các nguồn quỹ phúc lợi - khenthưởng lớn
- Nhóm dân cư: dự kiến giao 200 tỷ đồng, chiếm 10% tổng mức pháthành Trên cơ sở chỉ tiêu chung, KBNN sẽ thực hiện phân bổ nhiệm vụ huyđộng vốn cho các KBNN tỉnh, thành phố Với mức giao này, khả năng thựchiện là chắc chắn
c Về điều kiện, điều khoản của CTGD:
c.1 Thời điểm phát hành:
Trang 23Để thuận tiện cho công tác tuyên truyền vận động, thời điểm phát hànhcông trái nên bắt đầu vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc Năm
1999 phát hành vào ngày 19/5, năm 2003 chọn dịp kỷ niệm ngày Giải phóngMiền Nam thống nhất đất nước và quốc tế lao động 1/5 với các lý do:
Phát hành công trái là một chủ trương lớn, mang ý nghĩa chính trị sâurộng cần phải bảo đảm đủ thời gian để chuẩn bị: Văn bản pháp quy, văn bảnhướng dẫn, in ấn chỉ, tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền vận động,… khó triểnkhai từ đầu năm; Nếu phát hành dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9 thì cũngkhông phải là thời điểm thích hợp vì khi học sinh chuẩn bị tới trường, dướinhiều hình thức khác nhau, các bậc phụ huynh đều phải chi tiêu mua sắm vàđóng góp kinh phí “xây dựng trường” Vì vậy, nếu vận động mua CTGD đểkiên cố trường học vào dịp này sẽ không thuận lợi cho công tác tuyên truyền,
do đó khó đạt mục tiêu huy động vốn đề ra Trên cơ sở đánh giá tình hình nhưvậy, năm 2003 thời điểm phát hành từ ngày 5/5/2003, năm 2005 phát hành từngày 19/5/2005
c.2 Đối tượng mua công trái
Phát hành công trái là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằmphát huy nội lực, huy động sức đóng góp của toàn dân cho công cuộc xâydựng và phát triển đất nước Vì vậy đối tượng mua công trái không hạn chế,bao gồm:
- Công dân Việt Nam ở trong và ngoài nước
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài
- Người nước ngoài làm việc, cư trú ở Việt Nam
- Cơ quan hành chính, sự nghiệp
- Tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội, xã hôi – nghề nghiệp
- Doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tê
- Tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 24- Các đối tượng là tổ chức không được sử dụng kinh phí của NSNN cấp
để mua công trái
c.3 Đồng tiền phát hành và thanh toán: Công trái được phát hành vàthanh toán bằng đồng Việt Nam
c.4 Hình thức công trái Để khắc phục những hạn chế của công trái pháthành năm 1999, công trái năm 2003 sẽ có hai hình thức:
Công trái ghi danh, không in trước mệnh giá: chỉ phát hành cho cácdoanh nghiệp, tổ chức mua với số lượng lớn có giá trị từ 50.000.000 đồng(năm mươi triệu đồng) trở lên, mệnh giá tối đa trên tờ công trái là10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng)
Công trái không ghi danh, in trước mệnh giá: phát hành cho các tầnglớp dân cư và các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu lấy loại công trái này
Về mẫu ấn chỉ công trái: sử dụng mẫu năm 1999 vì các yếu tố liên quanđến đợt phát hành: kỳ hạn, lãi suất, ngày phát hành, ngày thanh toán còn đểtrống, mặt khác tiết kiệm lượng ấn chỉ còn tồn kho tại các KBNN (gần 3 triệu
tờ, tương đương hơn 4.000 tỷ đồng) Trên cơ sở số lượng phiếu tồn kho và nhucầu phiếu cho đơn vị phát hành 2003, KBNN sẽ tính toán và trình Bộ số lượngphiếu cần in bổ sung
c.5 Mệnh giá công trái
Do những hạn chế của loại công trái mệnh giá 20.000 đồng năm 1999như đã đánh giá ở trên, mặt khác kinh tế nước ta trong những năm qua đạtmức tăng trưởng khá (6,7% - 6,8%/năm), đời sống của nhân dân được cảithiện rõ rệt, vì vậy nâng mức mệnh giá tối thiểu từ 20.000 đồng lên 50.000đồng và mức mệnh giá tối đa từ 50.000.000 lên 100.000.000 đồng
Cụ thể CTGD bao gồm 11 loại mệnh giá: 50.000 đồng; 100.000 đồng;200.000 đồng; 500.000 đồng; 1.000.000 đồng; 2.000.000 đồng; 5.000.000đồng; 10.000.000 đồng; 20.000.000 đồng; 50.000.000 đồng; 100.000.000đồng
c.6 Lãi suất công trái
Trang 25Theo quy định tại pháp lệnh số 12/1999/PL-UBTVQH10 ngày27/4/1999 về việc phát hành công trái XDTQ, Nhà nước bảo đảm giá trị tiềnmua công trái và lãi suất công trái; lãi suất công bố khi phát hành công trái sẽbao gồm mức trượt giá và tỷ lệ lãi thực không thấp hơn 1,5%.
Mức lãi suất cụ thể của công trái năm 2003, Vụ Chính sách tài chínhchịu trách nhiệm phối hợp KBNN và các đơn vị có liên quan nghiên cứu vàtrình Bộ trong dự thảo Nghị định theo nguyên tắc sau:
- Lãi suất công trái sẽ được công bố trước khi phát hành công trái và cốđịnh trong cả kỳ hạn công trái
- Để thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia mua công trái, bêncạnh việc tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa của công trái, vận độngngười dân tiết kiệm, cùng Nhà nước đầu tư nâng cấp điều kiện học tập cho họcsinh vùng sâu, vùng xa, công trái phải đảm bảo đem lại lợi ích thực sự chongười mua tương đương với lợi ích thu được khi đầu tư và các loại hình tiếtkiệm khác
c.7 Kỳ hạn công trái: 5 năm
Theo quy định tại pháp lệnh số 12/1999/PL-UBTVQH10 ngày27/4/1999 về việc phát hành công trái XDTQ, công trái có 2 loại kỳ hạn 5 nămhoặc 10 năm Tuy nhiên trong điều kiện thực hiện hiện nay, việc huy động vốntrung hạn đang gặp nhiều khó khăn (trong vòng 2 tháng từ 16/4/2001-15/6/2001, phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 năm thanh toán lãi định kỳ hàng nămtại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhưng chỉ thu được 48 tỷ đồng), vì vậy kỳ hạncông trái năm 2003 chỉ nên quy định 5 năm là hợp lý
c.8 Phương thức thanh toán gốc, lãi: để NSNN sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động từ phát hành công trái, gốc và lãi công trái sẽ được thanh toán một lần khi đến hạn Trong trường hợp đặc biệt, người sở hữu có nhu cầu thanh toán trước kỳ hạn thì được thanh toán đầy đủ, kịp thời tiền gốc và lãi trong thời gian sở hữu công trái tính chẵn theo năm
Trang 26c.9 Địa điểm phát hành và thanh toán công trái: Công trái được pháthành tại tất cả các đơn vị KBNN trên toàn quốc Công trái ghi danh đượcthanh toán tại KBNN nơi phát hành; Công trái vô danh được thanh toán tại tất
cả các đơn vị KBNN trên toàn quốc
c.10 Quyền lợi và trách nhiệm của người sở hữu công trái
Người sở hữu công trái có quyền bán, tặng, cho, để lại thừa kế hoặc sửdụng để cầm cố; không được dùng công trái để thay thế tiền trong lưu thông
và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; có thể gửi phiếu công tráitại KBNN để bảo quản, cất giữ và phải nộp một khoản phí theo quy định; cótrách nhiệm giữ gìn bảo quản phiếu công trái Phiếu công trái làm giả, bị tẩyxóa, sửa chữa, rách một phần hoặc biến dạng không giữ được hình dạng và nộidung ban đầu thì không được thanh toán Người sở hữu công trái không ghidanh bị mất phiếu công trái coi như mất tiền và không được thanh toán
c.11 Quản lý nguồn vốn huy động từ phát hành công trái và bố trínguồn thanh toán gốc lãi công trái khi đến hạn
- Nguồn vốn huy động từ phát hành công trái được ghi thu NSTW và sửdụng cho chương trình kiên cố hóa trường học và cấp phát theo cơ chế riêng,không hòa chung vào NSNN
- NSNN bố trí nguồn thanh toán gốc lãi khi đến hạn
c.12 Chi phí phát hành và thanh toán công trái
Chi phí phát hành và thanh toán công trái do NSNN bảo đảm, khôngtính trong kinh phí khoản chi của KBNN
c.13 Phương án sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành công trái.Nguồn vốn huy động từ phát hành công trái được tập trung vào NSTW
Vụ NSNN với Vụ Đầu tư thực hiện cấp vốn trực tiếp cho từng địa phươngtheo tiến độ thực hiện
d Các công việc KBNN tổ chức chỉ đạo, điều hành việc phát hànhCTGD năm 2003, năm 2005:
Trang 27Về công tác chuẩn bị phát hành: chủ động nghiên cứu, thiết kế trình BộTài chính cho in bổ sung các loại mẫu công trái, với cơ cấu các loại mệnh giáhợp lý, đảm bảo cung cấp kịp thời cho KBNN các tỉnh, thành phố có đủ sốlượng, chủng loại chứng chỉ cần thiết trước khi phát hành, dự thảo công vănhướng dẫn KBNN các tỉnh, thành phố; Làm tốt công tác tuyên truyền về đợtphát hành: Báo cáo và phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổquốc Việt Nam, các Bộ ngành có liên quan; các cơ quan thông tấn báo chí,phát thanh truyền hình ở Trung ương tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong các
cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân về mục đích, ýnghĩa và nội dung của đợt phát hành CTGD, đồng thời hoàn tất việc phân bổchỉ tiêu vận động mua công trái cho các địa phương, khu vực kinh tế và cácđối tượng trọng điểm KBNN phối hợp với Ban chỉ đạo phát hành CTGD của
Bộ tổ chức nhiều đoàn công tác kiểm tra việc chuẩn bị tại các KBNN tỉnh,thành phố, nắm tình hình và chỉ đạo kịp thời công tác triển khai cuộc vận độngphát hành công trái trên một số địa bàn trọng điểm
Về phía các KBNN tỉnh, thành phố sau khi nhận được văn bản hướngdẫn phát hành CTGD đã chủ động sao gửi tài liệu cho các đơn vị trực thuộc vàcác cơ quan có liên quan trong tỉnh; tổ chức tập huấn nghiệp vụ, quán triệt tưtưởng đến toàn thể cán bộ về mục đích, ý nghĩa của CTGD và nhiệm vụ củangành KBNN trong cuộc vận động phát hành CTGD, phát động phong trào thiđua trong đơn vị tích cực hưởng ứng tham gia mua công trái và quyết tâmhoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Từ ngày 5/5/2003 đến hết ngày23/5/2003, hệ thống KBNN đồng loạt triển khai gần 1200 điểm phát hànhCTGD trên phạm vi cả nước Với phương châm “Đưa công trái đến với ngườimua”, KBNN các tỉnh, thành phố đã bố trí địa điểm và thời gian bán công tráihợp lý, làm thêm ngoài giờ và ngày nghỉ, bố trí thêm các bàn bán công trái lưuđộng tại các khu vực đông dân cư hoặc các cơ quan, đơn vị có số lượng ngườimua công trái lớn, tạo thuận lợi nhất cho người mua công trái, đảm bảo tuyệtđối an toàn tiền của Nhà nước và nhân dân Các địa điểm phát hành được tổ
Trang 28chức an toàn, thuận tiện phục vụ cho người mua công trái Công tác tổng hợp,thông tin, điện báo, báo cáo được thực hiện rất nghiêm túc trong toàn hệ thốngKBNN, phục vụ tốt công tác chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo và Lãnh đạocác cấp.
Từ ngày 19/5/2005 đến hết ngày 3/6/2005, hệ thống KBNN đồng loạt tổchức việc phát hành CTGD với hàng nghìn bàn phát hành trên phạm vi cảnước KBNN các tỉnh, thành phố đã bố trí địa điểm và thời gian bán công tráihợp lý, bố trí thêm các bàn bán công trái lưu động tạo thuận lợi nhất cho ngườimua công trái
e Kết quả phát hành CTGD năm 2003 và năm 2005 cụ thể là:
CTGD 2003: Sau hơn 2 tuần phát hành, đến hết ngày 23/5/2003, số thuCTGD trong cả nước đã đạt 2.580 tỷ đồng, bằng 117% chỉ tiêu vận động đượcTổng Giám đốc KBNN giao (2.200 tỷ đồng) và bằng 129% chỉ tiêu vận động
Trang 29mua CTGD đã đạt hiệu quả rất tốt Bên cạnh đó thì ý thức của mọi người vềtrách nhiệm và quyền lợi khi mua CTGD đã được nâng cao Có 25 tỉnh, thànhphố trong số 61 tỉnh, thành phố có thành tích nổi bật (đạt tỷ lệ từ 300% trở lên
so với chỉ tiêu được giao hoặc đạt doanh số huy động khu vực dân cư từ 10 tỷđồng trở lên):
Đơn vị tính: Triệu đồng STT TỈNH, THÀNH PHỐ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN % H.thành
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có số tiền mua công trái lớn từ 1 - 1,4 tỷ đồng.Nhiều cơ quan, đơn vị mua công trái với số tiền lớn như: Tổng công ty Bảo
Trang 30hiểm Việt Nam, NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn, NH Đầu tư và Pháttriển;
Tính đến ngày 18/5/2003, tất cả 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch huy động từ khu vực dân cư
do Bộ Tài chính giao Tỉnh đạt cao nhất: 538,4%, tỉnh đạt thấp nhất 138% chỉtiêu kế hoạch Một số tỉnh hoàn thành chỉ tiêu được giao ngay trong ngày pháthành đầu tiên như: Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Gia Lai, Các tỉnh miềnnúi và một số tỉnh Tây Nguyên, tuy kinh tế còn khó khăn, nhưng được sự quantâm chỉ đạo của chính quyền các cấp và sự nhiệt tình, năng động của cácngành chức năng nên đều thực hiện vượt kế hoạch chỉ tiêu vận động từ khuvực dân cư do Bộ Tài chính giao Có trên 80% tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ hoànthành kế hoạch huy động từ khu vực dân cư cao từ 200% trở lên và trên 50%tỉnh, thành phố có tổng số thu công trái trên địa bàn đạt 10 tỷ đồng trở lên
CTGD 2005: Tổng khối lượng công trái giáo dục đã phát hành tính đếnhết ngày 03/6/2005 là 2.803 tỷ đồng; so với kế hoạch ban đầu đạt 187% (2.803
tỷ đồng/1.500 tỷ đồng); so với tổng mức chỉ tiêu sau khi được Chính phủ bổsung đạt 104% (2.803 tỷ đồng/2.700 tỷ đồng) Kết quả thực hiện cụ thể so với
kế hoạch vận động 1.500 tỷ đồng như sau:
Bảng 2: Số liệu phát hành CTGD năm 2005.
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tính đến 16h30’ ngày 03/6/2005, tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch huy động từ khu vực dân cư Trong đó, một số
Trang 31địa phương có thành tích nổi bật (đạt tỷ lệ từ 200% trở lên so với chỉ tiêu kế hoạch hoặc có khối lượng phát hành từ 15 tỷ đồng trở lên):
Như vậy Bộ Tài chính đã phát hành 02 đợt CTGD với tổng khối lượnghuy động được 5.396 tỷ đồng, đạt 110% so với kế hoạch được giao(5.396/4.900)
2.2.2.3 Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2002-2007
và giải ngân nguồn vốn CTGD:
Đề án thực hiện Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học giai đoạnnăm 2002 đến năm 2007 đã thực hiện một phần nhiệm vụ theo chủ trương củaĐảng và Nhà nước, được các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
TW khẳng định tại Hội nghị tổng kết thực hiện chương trình Kiên cố hoátrường lớp học và tiếp tục thực hiện chương trình này giai đoạn 2008-2010 để
Trang 32nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triểngiáo dục đến năm 2010 và những năm tiếp theo.
Khối lượng vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2002-2007 là 9.310 tỷđồng từ các nguồn vốn như sau:
+ NSTW huy động từ phát hành CTGD năm 2003, năm 2005 hỗ trợ các
địa phương là 5.223 tỷ đồng (từ nguồn thu phát hành CTGD 5.396 tỷ đồng)
+ Ngân sách hàng năm của các địa phương (tỉnh, huyện): 3.174 tỷ đồng+ Các nguồn vốn khác (huy động các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước ) đónggóp bằng tiền và hiện vật quy đổi ra tiền là 913 tỷ đồng
Sau hơn 5 năm thực hiện Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học, xéttrên phạm vi cả nước, kết quả đạt được có ý nghĩa về nhiều mặt Cụ thể:
- Về kết quả đầu tư:
- Theo báo cáo của UBND 55 tỉnh thuộc đối tượng thực hiện chươngtrình Kiên cố hóa trường lớp học, tổng số phòng học đã triển khai xây dựng là74.216 phòng, trong đó:
+ Thực hiện mục tiêu xóa phòng học 3 ca: 4.207 phòng;
+ Xoá phòng học tạm thời tranh tre nứa lá 56.086 phòng;
+ Thực hiện các mục tiêu khác (thay thế phòng cấp 4 xuống cấp, táchtrường, đáp ứng yêu cầu phát triển, yêu cầu học 2 buổi/ngày là 13.923 phòng)
- Số phòng đã hoàn thành đưa vào sử dụng là 67.053 phòng
Chất lượng của đại đa số các trường lớp học đều được đảm bảo Chấtlượng của trường được khẳng định và thể nghiệm qua các đợt bão lũ lụt trongnăm 2006-2007
Với 74.216 phòng học mới được xây dựng kiên cố (trong đó có 67.053phòng học đã đưa vào sử dụng) có đủ bàn, ghế, bảng, đèn điện chiếu sáng vàquạt trần, giải quyết cho gần 3 triệu học sinh và hàng vạn giáo viên từ giáo dụcmầm non đến giáo dục phổ thông trên toàn quốc có cơ sở khang trang học tập;
Cơ sở vật chất nhiều trường học được tăng cường, tỷ lệ trường học, phòng học
Trang 33kiên cố hóa ngày càng tăng, tạo điều kiện cho cho việc củng cố và giữ vữngkết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học; thực hiện chủ trương phổ cậpTHCS theo Nghị quyết 41 của Quốc hội khóa X; góp phần ổn định và pháttriển qui mô giáo dục; tạo điều kiện cho các trường học phấn đấu xây dựng đạtchuẩn Quốc gia, hình thành mạng lưới trường học của từng tỉnh và trên phạm
vi toàn quốc
- Về mặt xã hội: Kết quả đạt được của Chương trình có ý nghĩa chính trị
xã hội và nhân văn sâu sắc, góp phần đem lại sự bình đẳng về quyền hưởng lợicủa học sinh đối với giáo dục, đặc biệt đối với học sinh và đồng bào các dântộc thiểu số thuộc các tỉnh miền núi có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế- xã hội,các tỉnh vùng sâu vùng xa, vùng núi cao, ven biển và hải đảo tạo điều kiệngiảm dần sự cách biệt giữa các vùng miền Môi trường sư phạm của nhiềutrường học được thay đổi rõ rệt Các ngôi trường mới xây dựng thực sự làđiểm sáng về văn hóa, giáo dục của các địa phương, phát huy hiệu quả khi cóbão lụt Chương trình tạo điều kiện đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóađối với giáo dục cả về nhận thức và việc làm cụ thể Một trong những thànhcông của chương trình là một số tỉnh, thành phố không được NSTW hỗ trợhoặc hỗ trợ với số kinh phí rất nhỏ nhưng đã huy động được kinh phí lớn từnguồn vốn của địa phương để thực hiện Chương trình, điển hình là Đồng Nai
Trang 34định chỉ quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc, các nội dung cụ thể vềmức phát hành, thời điểm phát hành, lãi suất trình Chính phủ giao cho Bộtrưởng Bộ Tài chính quyết định phù hợp với quy định của Pháp lệnh về Côngtrái xây dựng tổ quốc và tình hình thị trường tài chính- tiền tệ vào thời điểmphát hành.
+ Về tổng mức phát hành: rút kinh nghiệm từ huy động đợt 2 với mứchuy động ít, chỉ trong thời gian quá ngắn đã đủ số vốn cần huy động, gây lãngphí
- Về công tác phát hành: KBNN đã chủ trì, phối hợp tốt với các đơn vịtrong và ngoài ngành trong việc lập kế hoạch phát hành, tuyên truyền vậnđộng về ý nghĩa mục đích của đợt phát hành; Chỉ đạo điều hành các KBNNđịa phương làm tốt công tác chuẩn bị, thuận tiện cho người mua, an toàn tiền
và tài sản của Nhà nước và nhân dân
- Về tình hình thực hiện khối lượng xây dựng cơ bản: Theo báo cáo củaBan chỉ đạo chương trình kiên cố hóa trường lớp học, tính đến hết tháng12/2008, khối lượng xây dựng cơ bản các trường học, lớp học trong cả nước là5.718 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch vốn đầu tư tỉnh giao cho các chủ đầu tư
- Về kết quả giải ngân nguồn vốn CTGD: Việc quản lý, sử dụng các
nguồn vốn của chương trình được thực hiện theo quy chế quản lý đầu tư xâydựng; việc cấp phát và thanh toán vốn đầu tư được thực hiện theo Thông tưhướng dẫn của Bộ Tài chính, do đó đã giảm được đến mức thấp nhất hiệntượng thất thoát, tiêu cực đối với các công trình trường học được xây dựngthuộc Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học
Theo số liệu báo cáo tổng hợp của KBNN, tính đến hết năm 2008, tổng
số nguồn vốn CTGD đã giải ngân được 5.589 tỷ đồng, bằng 103,5% so vớinguồn vốn từ CTGD phát hành năm 2003 và năm 2005 (5.589 tỷ/5.396 tỷ)
2.2.3 Trái phiếu các công trình Giao thông - Thuỷ lợi:
2.2.3.1 Về cơ chế chính sách để phát hành TP GT-TL :
Trang 35Để thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH đến năm 2010 và chiến lượccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020, một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm cấp bách là phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượngxây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, trước hết là các công trình GT-
TL
Theo tính toán của các ngành chức năng, lĩnh vực GT-TL mỗi năm cầnđầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng để xây dựng và nâng cấp các công trình trọngđiểm Nhu cầu vốn đầu tư thì rất lớn, song nguồn vốn từ NSNN thì có hạn Vìvậy phải tăng cường huy động các nguồn lực trong nước để bổ sung nguồnvốn cho lĩnh vực này
Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số KTTH ngày 11/4/2003 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính phối hợp với
202/VPCP-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, NHNN Việt Nam, Văn phòng Chính phủ và các cơquan có liên quan xây dựng đề án phát hành TPCP để xây dựng một số côngtrình GT-TL trọng điểm của đất nước trình Chính phủ, Quốc hội
Ngày 29/8/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 11 đã ban hànhNghị quyết số 414/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 29/8/2003 để đầu tư cho Dự
án các công trình GT-TL quan trọng của đất nước với thời gian triển khai thựchiện từ năm 2003 đến năm 2010 thông qua phát hành TPCP Bộ Chính trịBCHTW Đảng đã ra chỉ thị số 28- CT/TW ngày 24/9/2003 vận động toàn dântham gia mua TPCP để xây dựng các công trình GT-TL, giai đoạn 2003- 2010.Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 182/2003/QĐ-TTg ngày5/9/2003 về tổng nguồn vốn phát hành TPCP để đầu tư cho các công trình GT-
TL giai đoạn 2003- 2010 là 63.000 tỷ đồng và danh mục các công trình Sốvốn này được đầu tư cho 38 công trình và dự án trọng điểm, gồm: 20 côngtrình giao thông với tổng số vốn: 41.500 tỷ đồng; 16 công trình thủy lợi vớitổng số vốn gần 14.000 tỷ đồng; 2 dự án tái định cư thủy điện Sơn La vàTuyên Quang có vốn là 8.800 tỷ đồng
Trang 36Như vậy, phát hành TPCP để đầu tư cho các công trình GT-TL là mộtchủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy nội lực, huy động sựđóng góp của toàn dân cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, gópphần hình thành và nâng cấp một cách cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng chủyếu ở nước ta trong 10 năm tới Những công trình chủ yếu của hệ thống GT-
TL này bao gồm: đường Hồ Chí Minh, các đường vành đai biên giới phía Bắc;
hệ thống đường bộ vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên, TâyNam Bộ, các tỉnh vùng sâu thuộc đồng bằng sông Cửu Long cùng với hệthống hồ thủy lợi tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên để phục vụ tưới tiêu
và khắc phục thiên tai thường xuyên xảy ra ở khu vực này
Căn cứ vào Quyết định Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính ban hànhcác Thông tư hướng dẫn số 88/2003/TT-BTC ngày 16/9/2003, Chỉ thị số05/2005/CT-BTC ngày 26/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc hưởngứng và tổ chức triển khai thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân tham gia muaTPCP
Qua hai năm thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủtướng Chính phủ; theo kết quả khảo sát và báo cáo của Bộ Giao thông vận tải,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và địa phương thì nhu cầu vốn đầu tưcho các công trình GT-TL đòi hỏi rất lớn Để tiếp tục đáp ứng nhu cầu bức xúc
về vốn đầu tư cho các công trình GT-TL, nhất là các công trình GT-TL miềnnúi và đảm bảo được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 171/2006/QĐ-TTg ngày 24/7/2006 về việc pháthành và sử dụng TPCP giai đoạn 2003-2010 nâng mức phát hành TPCP giaiđoạn 2003 - 2010 từ 63.000 tỷ đồng lên 110.000 tỷ đồng, tức là huy độngthêm 47.000 tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu
Căn cứ vào Quyết định số 171/2006/QĐ-TTg ngày 24/7/2006 về việcphát hành và sử dụng TPCP giai đoạn 2003-2010 nâng mức phát hành TPCPgiai đoạn 2003 - 2010 lên 110.000 tỷ đồng và bổ sung thêm danh mục các dự
Trang 37án trọng điểm đã được duyệt đầu tư, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số103/2006/TT-BTC ngày 2/11/2006 bổ sung, sửa đổi một số điều của TT 88 vàcác văn bản hướng dẫn thực hiện.
2.2.3.2 Về tổ chức thực hiện từ năm 2003 đến năm 2008:
Hàng năm Bộ trưởng Bộ Tài chính giao nhiệm vụ cho KBNN về tổngmức phát hành TPCP cho các công trình GT-TL Trên cơ sở nhiệm vụ pháthành TPCP cho Dự án các công trình GT-TL Bộ Tài chính giao hàng năm, căn
cứ vào kế hoạch giải ngân của các công trình GT-TL, KBNN lập kế hoạchphát hành chi tiết theo các kênh huy động (bán lẻ, bán buôn) cả năm và hàngquý trình Bộ Tài chính phê duyệt và thông báo trên các phương tiện thông tinđại chúng và gửi cho các thành viên thị trường (đối với kênh đấu thầu, bảolãnh) Đối với kênh bán lẻ qua hệ thống KBNN, KBNN phối hợp với các cơquan báo, đài tuyên truyền về đợt phát hành bán trực tiếp (bán lẻ) qua KBNN,điều kiện, điều khoản của trái phiếu, tập huấn cho các cán bộ phát hành, banhành công văn hướng dẫn các KBNN tỉnh thành phố triển khai thực hiện.Phương thức bán buôn được triển khai ngay từ đầu năm, theo lịch biểu pháthành TPCP hàng quý để thông báo cho các thành viên thị trường Việc huyđộng theo phương thức bán buôn theo từng đợt và phù hợp với tiến độ giảingân của Dự án
Từ năm 2003 đến hết 2008, Bộ Tài chính đã phát hành 57.970 tỷ đồngTPCP để đầu tư cho một số công trình GT-TL quan trọng, bằng 52,7 % so với
kế hoạch của dự án (57.970 tỷ đồng/110.000 tỷ đồng) Trong đó gồm 56.732
tỷ đồng và 77,4 triệu USD theo các kênh sau:
Đấu thầu qua NHNN: 14,5 triệu USD (tương đương 233 tỷ đồng)
Đấu thầu qua TTGDCK: 9.563 tỷ đồng
Bảo lãnh phát hành: 20.845 tỷ đồng
Bảo hiểm xã hội mua: 22.500 tỷ đồng
Trang 38Bán lẻ qua hệ thống KBNN đạt 3.526 tỷ đồng và 62,8 triệu USD (tươngđương 4.533 tỷ đồng).
Bảng 3: Số liệu phát hành TP GT-TL từ năm 2003 đến năm 2008.
Đơn vị: tỷ đồng/ triệu USD
TT Kênh huy động Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tổng cộng
Nguồn: KBNN Việt Nam.
2.2.3.2.1 Bán lẻ qua hệ thống KBNN từ năm 2003 đến năm 2008:
KBNN thực hiện bán lẻ trái phiếu GT-TL ba năm liên tục từ năm 2003đến 2005 trên toàn quốc Cách thức triển khai giống như phát hành công trái.Đặc điểm của hình thức bán lẻ là phát hành dưới hình thức ấn chỉ, phát hànhtheo đợt vận động trong thời gian ngắn, mang ý nghĩa chính trị, tuyên truyềnvận động Trái phiếu phát hành theo phương thức bán lẻ không đủ điều kiệnđăng ký, lưu ký, niêm yết giao dịch trên Sở GDCK
Trang 39Về thời điểm phát hành: Đối với phương thức bán lẻ qua hệ thống KBNNcần chọn thời điểm phát hành thích hợp để thuận tiện cho công tác tuyêntruyền vận động và bảo đảm đủ thời gian để chuẩn bị các văn bản pháp quy,văn bản hướng dẫn, in ấn chỉ, tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền vận động.Năm 2003 thực hiện phát hành bán lẻ từ ngày 15/10 đến hết ngày 15/12/2003,năm 2004 từ ngày 15/4 đến hết ngày 15/6/2004, năm 2003 từ ngày 1/8 đến hếtngày 30/9/2005.
Về đối tượng mua trái phiếu: Phát hành trái phiếu GT-TL là một chủtrương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm phát huy nội lực, huy động sức đónggóp của toàn dân cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy đốitượng mua trái phiếu không hạn chế, giống như đối tượng mua CTGD đã nêu
ở trên
Về đồng tiền phát hành và thanh toán: bằng VNĐ được phát hành tại tất
cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, bằng USD được phát hành năm 2003 tại
Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, năm 2004 mở rộng thêm 4 KBNN tỉnh, thành phốnữa là Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bà rịa - Vũng tàu
Về hình thức, mệnh giá ấn chỉ: gồm 2 loại không ghi tên và có ghi tên insẵn mệnh giá có 5 tem lĩnh lãi hàng năm
+ Bằng VNĐ gồm 10 loại mệnh giá: 100.000 đồng, 200.000 đồng,500.000 đồng, 1.000.000 đồng, 2.000.000 đồng, 5.000.000 đồng, 10.000.000đồng, 20.000.000 đồng, 50.000.000 đồng, 100.000.000 đồng
+ Bằng USD gồm 5 loại mệnh giá: 500 USD, 1.000 USD, 2.000 USD,5.000 USD, 10.000 USD
Loại ấn chỉ không ghi tên bằng VNĐ được thanh toán vãng lai trên toànquốc, loại ấn chỉ có ghi tên bằng VNĐ và ấn chỉ bằng USD (cả ghi tên vàkhông ghi tên) được thanh toán tại KBNN phát hành
Về kỳ hạn, lãi suất trái phiếu: trái phiếu có kỳ hạn 5 năm, lãi suất cốđịnh trong 5 năm lĩnh lãi hàng năm Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định lãi
Trang 40suất cho từng đợt phát hành: năm 2003 lãi suất bằng VNĐ là 8,5%/năm, bằngUSD là 3,5 %/năm; năm 2004 lãi suất bằng VNĐ là 8,5%/năm, bằng USD là3,5 %/năm, năm 2005 lãi suất bằng VNĐ là 8,6%/năm.
Về phương thức thanh toán gốc, lãi: lãi trái phiếu được thanh toán định
kỳ hàng năm, gốc được thanh toán khi đến hạn Điều khoản này cũng khá hấpdẫn với nhà đầu tư có tổ chức
Về nguyên tắc trái phiếu không được thanh toán trước hạn Đối với chủ
sở hữu là cá nhân có nhu cầu thanh toán trước hạn, trong trường hợp đặc biệtphải có xác nhận của cấp có thẩm quyền thì được thanh toán đầy đủ, kịp thờitiền gốc và lãi trong thời gian tính chẵn theo năm
Về quyền lợi và trách nhiệm của chủ sở hữu trái phiếu: về cơ bản giốngCTGD Tuy nhiên đối với các tổ chức vẫn phải đóng thuế thu nhập khi mua
TP GT-TL, chỉ được miễn thuế thu nhập khi mua công trái
Về quản lý nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu và bố trí nguồnthanh toán gốc lãi trái phiếu khi đến hạn
- Nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu được ghi thu NSTW và sửdụng cho Dự án các công trình GT-TL của đất nước
- NSNN bố trí nguồn thanh toán gốc lãi khi đến hạn và chi phí phát hành
và thanh toán trái phiếu
Bảng 3: Bán lẻ qua hệ thống KBNN cho Dự án từ năm 2003 đến năm 2008