đối tác trên tinh thần hoà bình đồng thời tính kế thừa được bảo đảm để tất cảnhững mối quan hệ, vốn liếng, kiến thức và kinh nghiệm đó được chuyển giaomột cách đầy đủ nhất từ thế hệ này
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình phát triển hệ thống kế toán Việt Nam, hệ thống báocáo tài chính cũng không ngừng được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp vớicác chuẩn mực chung của kế toán quốc tế thu hẹp sự khác nhau giữa kế toánViệt Nam với các chuẩn mực chung của kế toán quốc tế
Tuy nhiên, do môi trường kinh tế xã hội luôn luôn biến động nên hệthống báo cáo tài chính không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp vớithông lệ và chuẩn mực quốc tế đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng.Đặc biệt là Việt nam chúng ta giờ đây là thành viên của WTO thì việccông khai thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho cácnhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của các nhà đầu tư trong vàngoài nước, cơ quan quản lý nhà nước, người lao động làm công ăn lương vàcác đối thủ cạnh tranh
Đối với các công ty cổ phần niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch thì
hệ thống báo cáo tài chính trở thành thông tin tổng hợp mang đầy đủ tính chấtpháp lý cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cần quan tâm phân tích.Nội dung của phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp nói chung
và Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình nói riêng chưađóng vai trò vị trí vì thế nên cần phải hoàn thiện
Nhu cầu về sự an toàn, tiện nghi và thẩm mỹ cho nơi ăn chốn ở và sinhhoạt của con người thường xuyên biến đổi và đòi hỏi ngày càng cao.Vì vậy,Ngành Xây dựng và Địa ốc tuy có lúc thịnh lúc suy nhưng sẽ tồn tại và pháttriển không ngừng cũng vì vậy, một trong những định hướng, quan trọng củaHoà Bình là phát triển Công ty một cách bền vững và lâu dài qua nhiều thế
hệ Để đảm bảo sự lâu dài và bền vững này, vấn đề tạo lập một môi trườnglàm việc thật tốt cho Công ty phát triển luôn luôn được chú trọng Môi trườngnày được hoàn thiện dần theo hướng nhân bản và mang tính văn hoá caonhằm tạo điều kiện cho mỗi người phát huy toàn diện năng lực và sức sángtạo Tích luỹ cho Công ty ngày càng nhiều vốn liếng, kiến thức và kinh nghiệm.Bên cạnh đó, Hoà Bình rất quan tâm đến việc xây dựng, duy trì và pháttriển những mối quan hệ hợp tác lâu dài, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau với các
Trang 2đối tác trên tinh thần hoà bình đồng thời tính kế thừa được bảo đảm để tất cảnhững mối quan hệ, vốn liếng, kiến thức và kinh nghiệm đó được chuyển giaomột cách đầy đủ nhất từ thế hệ này sang thế hệ khác.Trên thực tế Hoà Bình đã
và đang thể hiện vai trò tích cực đối với sự nghiệp phát triển không ngừng củađất nước.Việc nắm bắt tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tàichính thông qua phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là việc làm khôngthể thiếu trong công tác quản lý tài chính nhằm đưa ra những quyết định quantrọng về chiến lược sản xuất và kinh doanh kịp thời và hiệu quả
Mặc dù việc phân tích tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính
có vai trò quan trọng như vậy nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong đó
có cả Công ty Cổ phần Xây dựng và Địa ốc Hoà Bình chưa chú trọng và quantâm đúng mức mà chủ yếu vẫn dừng ở lại những mức phân tích đơn giản.Việcphân tích báo cáo tài chính cũng chưa được thực hiện thường xuyên và đầy đủnên chưa thể hiện được vai trò là một công cụ quan trọng và không thể thiếutrong quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác phân tích báocáo tài chính trong các doanh nghiệp và thực trạng phân tích báo cáo tài chínhtại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình, tác giả đã lựachọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ là "Hoàn thiện phân tích báo cáotài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình"
2 Mục đích của đề tài nghiên cứu.
Xuất phát từ thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phầnXây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình, đề tài được nghiên cứu nhằm vàocác mục đích sau
Nghiên cứu và hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thốngbáo cáo tài chính và công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp theocác quy định và chế độ hiện hành của Việt Nam
Tìm hiểu thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phầnXây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tàichính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống báo cáo tài chính của ViệtNam và báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa
ốc Hoà Bình
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lấy số liệu năm 2008 báo cáo tài chínhcủa Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài đã vận dụng các phương pháp luận và quan điểm của chủ nghĩaduy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tíchtổng hợp, hệ thống hoá để trình bày các quan điểm, giải pháp để đạt được mụcđích nghiên cứu của đề tài
Luận văn cũng kết hợp lý luận cơ bản của khoa học chuyên ngành kếtoán, tài vụ và phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung quản lý Nhà nước
về tài chính trong điều kiện kinh tế thị trường
5 Những đóng góp của luận văn.
Trên cơ sở lý luận về phân tích Báo cáo tài chính trong các doanh nghiệptác giả đã đánh giá thực trạng và nội dung công tác phân tích báo cáo tàichính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
Luận văn cũng đưa ra những phương hướng và giải pháp hoàn thiệnphân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa
ốc Hoà Bình
6 Tên đề tài và kết cấu của luận văn
* Tên đề tài: "Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ
phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình".
* Kết cấu của luận văn: luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận đượcchia làm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận về phân tích Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phân tích Báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích Báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hoà Bình
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việcxem xét, đánh giá định kỳ báo cáo tài chính về quá trình hoạt động của nhàquản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong
kỳ Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp những sự kiện kinh tế phátsinh được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,những công bố và ghi chú trên thuyết minh báo cáo tài chính trên cơ sở nhữngnguyên tắc kế toán và những đánh giá phán xét mang tích chất cá nhân màtrong đó những phán xét và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởngchủ yếu đến việc ghi nhận, phân loại và trình bày các sự kiện kinh tế phát sinh
đó Những đánh giá phán xét tùy thuộc vào khả năng xét đoán trung thực liêmkhiết của người lập báo cáo tài chính và các nhà quản lý doanh nghiệp, đồngthời phụ thuộc vào sự tuân thủ với những nguyên tắc kế toán đang ban hành
Như vậy, báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính, tổng hợp
và phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản và nguồn vốn củamột doanh nghiệp tại một thời điểm Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin
về tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp được phân loại theo cơ cấu tàisản và tổng giá trị nguồn hình thành tài sản phân loại theo cơ cấu nguồn vốn(Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.Căn
cứ vào bảng cân đối kế toán người sử dụng báo cáo tài chính có thể nhận xét,đánh giá chung về tình hình tài chính, cơ cấu tài sản và năng lực kinh doanh,
cơ cấu nguồn vốn và khả năng tự chủ về tài chính, khả năng thanh toán cáckhoản nợ
Trang 5Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,phản ánh tổng quát tình hình và hiệu quả kinh doanh trong một kỳ kế toáncủa doanh nghiệp, chi tiết theo theo các loại hoạt động chủ yếu.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu
và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ ta cóthể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thường , khả năngthanh toán ,và dự đoán được luồng tiền trong kỳ tiếp theo của doanh nghiệp
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báocáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích bổ sung thông tin vềtình hình hoạt động doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chínhkhác chưa trình bày rõ ràng và chi tiết được
1.1.2 Phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đốichiếu, so sánh các số liệu về tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chínhhiện hành của doanh nghiệp với quá khứ
Qua việc phân tích báo cáo tài chính người sử dụng thông tin có thểđánh giá được tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh, những nguyênnhân ảnh hưởng và đưa ra những quyết định phù hợp với mục tiêu của từngđối tượng quan tâm Ngoài ra việc phân tích báo cáo tài chính còn cho phépđánh giá sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp
là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hộiđồng quản trị, các nhà đầu tư, cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay, các nhàquản lý, các cơ quan chức năng
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị mối quan tâm hàng đầucủa họ là tìm kiếm được lợi nhuận và khả năng trả nợ để đảm bảo sự tồn tạiphát triển của doanh nghiệp Họ cũng quan tâm đến mục tiêu khác như tạocông ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đóng góp phúc lợi xã hội …
Trang 6Do đó, họ đặc biệt chú ý đến số luợng tiền tạo ra và các tài sản có thểchuyển nhanh thành tiền Ngoài ra họ còn quan tâm đến số lượng vốn của chủ
sở hữu để đảm bảo chắc chắn rằng các khoản vay có thể sẽ được thanh toánkhi đến hạn
Đối nhà đầu tư, sự quan tâm của họ hướng vào các yêu tố rủi ro, thờigian hoàn vốn, mức tăng trưởng, khả năng thanh toán vốn do đó việc phântích báo cáo tài chính giúp cho họ tìm hiểu về thông tin về điều kiện tài chính,tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, khả năng sinh lời hiện tài và tươnglai của doanh nghiệp
Đối với nhà cung cấp họ phải quyết định xem có nên cho doanh nghiệpsắp tới mua chịu hành hoá hay không Vì vậy họ phải biết được khả năngthanh toán doanh nghiệp hiện tại và thời gian sắp tới
Đối với các nhà quản lý chức năng của Nhà nước, các cổ đông, ngườilao động thì mối quan tâm của họ cũng giống như các đối tượng kể trên tuynhiên ở góc độ này hay góc độ khác mà thôi
Như vậy nội dung phân tích báo cáo tài chính có thể không giống nhaugiữa các nhóm phân tích khác nhau nhưng nói chung phân tích báo cáo tàichính thường bao gồm nội dung sau
Đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm nhận định ban đầu về tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về tài chính cũngnhư khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang gặp phải đặc biệt là lĩnh vựcthanh toán Qua đó các nhà quản lý có thể đề ra các quyết định về đầu tư, hợptác liên doanh liên kết, mua bán cho vay…
Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạtđộng kinh doanh, các nhà phân tích cần khái quát tình hình đầu tư và sử dụngvốn của doanh nghiệp, tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản.Ngoài ra, nội dung phân tích còn góp phần củng cố cho các nhận định rút rakhi qua việc đánh giá khái quát tình hình tài chính
Trang 7Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của doanhnghiệp phản ánh rõ nét chất lượng hoạt động tài chính, nếu hoạt động tàichính tốt, khả năng thanh toán sẽ cao doanh nghiệp ít công nợ ít bị chiếmdụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chínhkém thì dẫn tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chiếm dụngvốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa kéo dài.
Phân tích hiệu quả kinh doanh trên các góc độ khác nhau thì các nhàquản lý có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời, từ đó
đề xuất giải pháp thích hợp để nâng cao
Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn là một trong nhữngnội dung phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, từ đó chúng ta cũng cóbiết được Tuy nhiên do tầm quan trọng của tài sản ngắn hạn nên doanhnghiệp thường đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn sẽ ảnhhưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả kinhdoanh
Phân tích rủi ro tài chính các nhà quản lý dự báo được những rủi rotiềm ẩn về tài chính trên khía cạnh thanh toán thậm trí cả rủi ro về phá sản màdoanh nghiệp có thể phải đương đầu Từ đó các nhà quản lý đề ra các kế sách,các quyết định kịp thời hợp lý để ngăn ngừa giảm thiểu rủi ro cho doanhnghiệp.Rủi ro tài chính gắn liền cấu trúc vốn và là rủi ro các chủ sở hữu phảichịu do việc sử dụng nợ mang lại Khi xem xét rủi ro tài chính thường xemxét rủi ro thanh toán nợ và ảnh hưởng đến cơ cấu nợ đến khả năng sinh lợitrên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính là một hệ thống công cụbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện hiện tượng các mối quan hệbên trong và bên ngoài các luồng dịch chuyển biến đổi các hoạt động đầu tưtài chính và các hoạt động khác, các chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động đầu
tư, hoạt động tài chính hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác củadoanh nghiệp để đưa ra các quyết định hợp lý
Trang 81.2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Như chúng ta biết, mỗi nhóm đối tượng đều có mối quan hệ khác nhau
về lợi ích kinh tế gắn với doanh nghiệp Do đó, mục đích phân tích báo cáo tàichính của họ cũng khác nhau Sự khác nhau về mục đích phân tích, cộng với
sự khác biệt trong khả năng tiếp cận tài liệu dùng để phân tích khiến mỗinhóm đối tượng tiến hành phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp dướicác góc độ khác nhau
1.2.1 Nội dung phân tích báo cáo tài chính từ các nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
Các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các cơ quan Nhà nước và đốitượng bên ngoài doanh nghiệp đều quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp Trong đó, nhà đầu tư, người cung cấp tín dụng là những đốitượng hay tiến hành phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhất Cácđối tượng này hầu như chỉ tiếp cận với tài liệu phân tích là báo cáo tài chính
đã được doanh nghiệp công bố rộng rãi ra bên ngoài như Bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay báo cáo lưu chuyển tiền tệ,thuyết minh báo cáo tài chính Hơn nữa, họ cần những thông tin tài chính củadoanh nghiệp để đưa ra các quyết định cho các mục tiêu khác nhau Sau đây,nội dung phân tích mà từng đối tượng thường quan tâm là
1.2.1.1 Nội dung phân tích phục vụ chủ yếu cho nhà đầu tư
Nhà đầu tư cần có những thông tin hữu ích để quyết định có nên đầu tưhay không Họ cần dự đoán khoản đầu tư nào sẽ đem lại lợi ích trong tươnglai Để thực hiện được việc này, họ buộc phải có những thông tin giúp đánhgiá một cách xác thực khả năng sinh lời của doanh nghiệp Xuất phát từ nhucầu thông tin giải đáp cho vấn đề trên, với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàngđầu chính là hiệu quả kinh doanh mà cụ thể là khả năng tạo ra lợi nhuận củadoanh nghiệp Trên thực tế, hiệu quả kinh doanh được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau vì thế cũng có nhiều chỉ tiêu khác nhau phản ánh nó Song, về
Trang 9mặt tổng quát, để đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh, các nhà phântích thường sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Suất sinh lời của tài sản: Phản ánh một đồng tài sản tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân
bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả Chỉ tiêu này được xác định nhưsau: công thức (1.1)
Suất sinh lời tài sản
Lợi nhuận sau thuếTổng số tài sản bình quân hay (1.2)
ROA = Doanh thu thuần x Lợi nhuận sau thuế
Tổng số tài sản bình quân Doanh thu thuầnROA = Số vòng quay của tổngsố tài sản x của doanh thuSuất sinh lời Như vậy, suất sinh lời của tài sản càng cao khi số vòng quay của tài sảncàng cao và suất sinh lời của doanh thu càng lớn Bằng phương pháp loại trừ,các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thayđổi suất sinh lời của tổng số tài sản trong kỳ
- Suất sinh lời của doanh thu: Phản ánh một đơn vị doanh thu thuầnđem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận Trị số chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khảnăng sinh lời của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn Chỉ tiêu nàyđược xác định như sau.(1.3)
Suất sinh lời của doanh thu
Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuầnhay (1.4)
ROS = Tổng số tài sản bình quânDoanh thu thuần x Tổng số TS bình quânLợi nhuận sau thuế
ROS = trên doanh thu thuầnHệ số tài sản x Suất sinh lời của tài sản
Trang 10Qua công thức trên, ta thấy suất sinh lời của doanh thu phụ thuộc vào
hệ số tài sản trên doanh thu thuần hoạt động kinh doanh và suất sinh lời củatài sản Do vậy, để tăng suất sinh lời của doanh thu, doanh nghiệp phải tìmbiện pháp tăng hệ số tài sản trên doanh thu và tăng suất sinh lời của tài sản.Bằng phương pháp loại trừ, ta sẽ xác định được sự ảnh hưởng của từng nhân
tố đến sự thay đổi suất sinh lời của doanh thu trong kỳ
- Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (Return on equity – ROE): Phản ánhkhái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chỉ tiêu này cho biếtmột đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị sốcủa chỉ tiêu càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu càng cao
và ngược lại Chỉ tiêu này được tính như sau: (1.5)
Tổng số TS bìnhquân
ROE = Hệ số tài sản trên
Vốn chủ sở hữu x
Số vòng quay củatài sản x
Suất sinh lờicủa doanh thuTrong đó:
Số vòng quay Của tài sản X
Suất sinh lời củadoanh thu =
Suất sinh lờicủa tổng TSROE = Hệ số tài sản trên Vốn chủ sở hữu x ROA
Qua công thức trên, suất sinh lời của vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào hệ
số tài sản trên vốn chủ sở hữu và suất sinh lời của tổng tài sản Nên muốntăng suất sinh lời của vốn chủ sở hữu thì ta phải tăng hai chỉ tiêu trên Các nhàphân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay đổi củasuất sinh lời vốn chủ sở hữu trong kỳ bằng phương pháp loại trừ
Ngoài ra, khi phân tích hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích còn chútrọng xem xét thêm các chỉ tiêu sau đây:
Trang 11- Suất sinh lời của vốn cổ phần thường: Phản ánh lợi nhuận mà các cổđông thường thu được trên mỗi đơn vị vốn đầu tư của họ Chỉ tiêu này đượctính như sau: (1.6)
Suất sinh lời của vốn cổ
phần thường =
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi
Vốn cổ phần thường bình quânĐối với những người tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp, chỉ tiêunày được họ quan tâm hàng đầu, Người ta muốn biết lợi nhuận sẽ có là baonhiêu từ sự đầu tư này
Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu thường Chỉ tiêu này được phản ánh lợinhuận mà các cổ đông thường thu được trên mỗi cổ phiếu thường là bao nhiêu
Chỉ tiêu này được tính như sau: (1.7)
Lợi nhuận cho mỗi cổ
phiếu thường =
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi
Số cổ phiếu thường bình quânLợi nhuận cho mỗi cổ phiếu thường là chỉ số đánh giá khả năng nội tạicủa doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận trên một cổ phần mà cổ đônggóp vốn chứ không từ việc nên hay xuống giá cổ phiếu của doanh nghiệp trênthị trường chứng khoán Nhà phân tích nên xem xét chỉ số này trong một giaiđoạn nhất định để đánh giá xu hướng ổn định và khả năng tăng trưởng của nó,qua đó sẽ thấy được hiệu quả quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Do số lượng cổ phiếu thường phát hành trong các khoảng thời giankhác nhau nên số cổ phiếu thường bình quân được tính bằng cách lấy bìnhquân số cổ phiếu phát hành trong năm theo thời gian (1.8)
Số cổ phiếu thường bình
∑viti12
Trong đó: vi: là số lượng cổ phiếu i phát hành
ti : là số tháng lưu hành trong năm của cổ phiếu i
Trang 12- Hệ số giá cả so với lợi nhuận cổ phiếu: Phản ánh một đơn vị lợi nhuận
mà mỗi cổ phiếu thu được tương ứng với mấy đơn vị giá cổ phiếu trên thịtrường
Chỉ tiêu này được tính như sau (1.9):
Hệ số giá cả so với lợi
nhuận cổ phiếu =
Giá trị trường của mỗi cổ phiếuLợi nhuận cho mỗi cổ phiếuChỉ số Hệ số giá cả so với lợi nhuận cổ phiếu cho thấy giá cổ phiếuhiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần hay nhà đầu tư phải trảcho một đồng thu nhập là bao nhiêu Chỉ số này được các nhà đầu tư quan tâmnhiều vì họ cho đó là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị cổ phiếu Thông thườngdoanh nghiệp nào có khả năng tài chính và kinh doanh có hiệu quả cao thì chỉ
số Hệ số giá cả so với lợi nhuận cổ phiếu cao và ngược lại, chỉ số Hệ số giá cả
so với lợi nhuận cổ phiếu thấp nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh kémhiệu quả Vì vậy, trước khi đầu tư mua cổ phiếu, các nhà đầu tư sẽ xem xét chỉ
số này đồng thời đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đó có triển vọng hay không để đưa ra quyết định cuối cùng
- Mức chi trả cổ tức so với lợi nhuận cổ phiếu: Phản ánh tỷ lệ cổ tức chitrả cho mỗi cổ phiếu thường so với lợi nhuận thu được trên mỗi cố phiếu Trị
số của chỉ tiêu tính ra càng lớn, chứng tỏ cổ tức chi trả càng cao , số lợi nhuậngiữ lại hoặc phân phối cho các lĩnh vực khác càng thấp và ngược lại (1.10)
Mức chi trả cổ tức so
với lợi nhuận cổ phiếu =
Mức cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu thường
Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu
- Mức cổ tức so với giá thị trường cổ phiếu (Dividend Yield): là chỉ tiêuphản ánh mỗi đồng giá thị trường cổ phiếu đem lại cho chủ sở hữu mấy đồng
cổ tức (1.11)
= Mức cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu thường
Trang 13Mức chi trả cổ tức so với
giá thị trường cổ phiếu Giá thị trường của mỗi cổ phiếu thường
- Hệ số giá thị trường so với giá trị sổ sách: Phản ánh một đơn vị giá trị
sổ sách của chủ sở hữu tương ứng với mấy đơn vị giá thị trường Trị số củachỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ giá trị đồng vốn của chủ đầu tư trên thị trườngcàng cao và ngược lại (1.12)
Hệ số giá thị trường so
với giá trị sổ sách =
Giá thị trường của mỗi cổ phiếu thườngGiá trị số sách của mỗi cổ phiếu thườngTrong đó, giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu được tính theo công thức (1.13):Giá trị sổ sách của mỗi
cổ phiếu thường =
Tổng vốn chủ sở hữu – Số cổ phần ưu đãi
Số lượng cổ phiếu thường lưu hành
1.2.1.2 Nội dung phân tích phục vụ chủ yếu cho nhà cung cấp tín dụng và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
Nhà cung cấp tín dụng và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp luôn
cần những thông tin về tình hình công nợ, khả năng tăng trưởng của doanhnghiệp, từ đó phán đoán khả năng trả nợ để quyết định có nên cung cấp chodoanh nghiệp hay không, cung cấp với số lượng bao nhiêu, thời hạn bao lâu
Do đó, các nội dung phân tích được họ quan tâm nhất chính là khả năng thanhtoán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp khả quan được thể hiện rõ nét quakhả năng thanh toán nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao, trả đượccác khoản nợ khi nó đến thời hạn Mỗi loại tài sản có khả năng chuyển đổithành tiền ở những mức độ khác nhau và mỗi khoản nợ có thời gian thanhtoán khác nhau vì vậy khi đánh giá khả năng toán của doanh nghiệp, người taphải tính toán nhiều chỉ tiêu khác nhau
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Đánh giá khả năng thanh toántổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.Chỉ tiêu này ≥ 1 thì doanh
Trang 14nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán và ngược lại, trị số này càng nhỏhơn 1 thì doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán:
Công thức tính toán như sau (1.14):
Hệ số khả năng thanhtoán tổng quát =
Tổng số tài sảnTổng số nợ phải trả
- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết khả năng giá trịcủa tài sản đảm đương các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm từ
đó đánh giá khả năng thanh toán tạm thời các nợ ngắn hạn của doanh nghiệptrong kỳ báo cáo Công thức xác định như sau (1.15):
Hệ số thanh toán nợ
Tổng giá trị thuần của TSNHTổng số nợ ngắn hạn Tuy nhiên, để đánh giá hệ số này của một doanh nghiệp là tốt hay xấucần phải xem xét thêm các yếu tố: bản chất ngành kinh doanh, cơ cấu tài sảnngắn hạn, hệ số quay vòng của từng loại tài sản ngắn hạn Ngoài chỉ tiêu “Hệ
số thanh toán nợ ngắn hạn”, các nhà phân tích còn sử dụng chỉ tiêu “Hệ sốthanh toán nhanh để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp bằng tiền, các khoản tương đương tiền và các khoản đầu tư tàichính ngắn hạn Công thức được tính như sau (1.16):
Hệ số khả năng thanh
toán nhanh =
Tiền, các khoản tương đương tiền và cáckhoản đầu tư tài chính ngắn hạnTổng số nợ ngắn hạnNếu chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toántương đối khả quan, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp gặp khó khăntrong việc thanh toán công nợ Tuy nhiên, hệ số này quá lớn lại gây ra tìnhtrạng mất cân đối của tài sản ngắn hạn do tập trung quá nhiều vào vốn bằngtiền và các chứng khoán ngắn hạn
Trang 15Để biết được khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn lànhanh hay chậm nhằm xác định doanh nghiệp có đủ tiền, thiếu tiền hay thừatiền phục vụ cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, các nhà phân tíchcòn dùng chỉ tiêu “Hệ số thanh toán của tài sản ngắn hạn ” Chỉ tiêu này đượctính như sau (1.17):
Hệ số thanh toán của tài
sản ngắn hạn =
Tổng số tiền và tương đương tiềnTổng giá trị thuần của TSNHTrên thực tế, hệ số thanh toán của tài sản ngắn hạn lớn hơn 0,5 thìlượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp nhiều, đảm bảo thừa khảnăng thanh toán, còn nếu nhỏ hơn 0,1 thì doanh nghiệp không đủ tiền để đápứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn Thừa hay thiếu tiền đều phản ánh mộttình trạng tài chính không bình thường Nếu thừa sẽ gây ứ đọng vốn, giảmhiệu quả sử dụng vốn; ngược lại, nếu thiếu sẽ không đảm bảo khả năng thanhtoán nợ ngắn hạn
Tuy nhiên “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn”, “Hệ số khả năngthanh toán nhanh”; “Hệ số khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn ” đềumang tính thời điểm vì tính toán dựa trên số liệu của Bảng cân đối kế toán nêntrong nhiều trường hợp, các chỉ tiêu này phản ánh không đúng tình hình thựctế.Vì vậy, các nhà phân tích cần kết hợp với chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanhtoán của tiền và các khoản tương ứng tiền” Hệ số này sẽ khắc phục đượcnhược điểm của ba chỉ tiêu trên vì nó được xác định cho cả kỳ kinh doanh vàkhông phụ thuộc vào yếu tố thời vụ (1.18)
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
của tiền và các khoản tương đương tiền =
Số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ
Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết với dòng tiền thuần tạo ra từ các hoạt động củamình trong kỳ, doanh nghiệp có đủ khả năng đảm bảo được khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn hay không Do tính chất của các hoạt động màdoanh nghiệp tiến hành trong điều kiện cho phép chỉ tiêu này có thể được xácđịnh riêng cho từng hoạt động (hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính)
Trang 16Ngoài ra, để quản lý các khoản vay nợ, một số nhà cho vay còn áp dụngcác hạn mức để khống chế các khoản vay nợ có thể dẫn đến rủi ro không thuhồi được nợ Do đó, các đối tượng này đặc biệt quan tâm đến các hệ số thểhiện tính tự chủ và ổn định trong cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Các
- Hệ số nợ so với tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản củadoanh nghiệp bằng các khoản nợ Chỉ tiêu này được xác định như sau (1.20):
Hệ số nợ so với tổng tài sản =
Nợ phải trảTổng số tài sảnTrị số của chỉ tiêu này càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của doanhnghiệp và chủ nợ càng lớn Đứng trên góc độ khả năng thu hồi vốn, nhữngngười cho vay thường thích những doanh nghiệp có tỷ suất này thấp
- Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đảmbảo nợ bởi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này được xác định như sau (1.21):
Hệ số nợ so với vốn chủ
Nợ phải trảVốn chủ sở hữuTrị số của chỉ tiêu này càng nhỏ, chứng tỏ mức độ đảm bảo của VCSHđối với các khoản nợ càng lớn, tính tự chủ của doanh nghiệp càng cao Thôngthường các Ngân hàng thường so sánh chỉ tiêu này với hạn mức mà ngânhàng quy định đối với doanh nghiệp Nếu trị số của chỉ tiêu thỏa mãn hạnmức quy định, lúc đó ngân hàng có thể xem xét đến việc cấp tín dụng chodoanh nghiệp
Trang 17- Hệ số tài trợ thường xuyên: Phản ánh nguồn tài trợ thường xuyênchiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệpCông thức tính (1.22).
Hệ số tài trợ thường
Nguồn tài trợ thường xuyênTổng nguồn vốnChỉ tiêu này càng lớn thể hiện tính cân bằng và ổn định tài chính củadoanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số tài trợ tạm thời: Chỉ tiêu này cho biết nguồn tài trợ tạm thời chiếm tỷtrọng bao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu nàyđược tính như sau (1.23):
Hệ số tài trợ tạm thời = Nguồn tài trợ tạm thời
Tổng nguồn vốnChỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện tính cân bằng và ổn định tài chính củadoanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên: Chỉ tiêu nàycho biết, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số nguồn tài trợthường xuyên Chỉ tiêu này được tính như sau (1.24):
Hệ số vốn chủ sở hữu so với
nguồn tài trợ thường xuyên =
Vốn chủ sở hữuNguồn tài trợ thường xuyênChỉ tiêu này càng lớn, thể hiện tính tự chủ và độc lập về tài chính củadoanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn: Chỉ tiêunày cho biết, mức độ tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn tài trợ thường xuyên Chỉtiêu này càng lớn, thể hiện tính ổn định và bền vững về tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này được tính như sau (1.25):
Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên
so với tài sản dài hạn =
Nguồn tài trợ thường xuyên
Tài sản dài hạn
- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biếtmức độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Chỉ tiêunày được tính như sau (1.26):
Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Trang 18Chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, thể hiện tính ổn định, bền vững về tàichính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Trên đây là các nội dung phân tích chính mà nhà đầu tư và nhà cho vaythường tiến hành Tất nhiên, nhà đầu tư có thể quan tâm đến các chỉ tiêu màngười cho vay sử dụng và ngược lại, nhà cho vay hoàn toàn có thể phân tíchhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như các nhà đầu tư Ngoài ra, các đốitượng này có thể quan tâm đến các chỉ tiêu phân tích về cơ cấu tài sản, cơ cấunguồn vốn, về cân bằng tài chính hay về khả năng đảm bảo vốn cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp… như những nhà phân tích bên trong doanh nghiệp
1.2.2 Nội dung phân tích báo cáo tài chính đối với những đối tượng bên trong doanh nghiệp.
Nhà quản trị trong doanh nghiệp cần thông tin để đưa ra các quyết địnhcho quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệpnhưng chọn phương án nào để đạt hiệu quả cao nhất thì thông qua phân tíchbáo cáo tài chính nhà quản trị sẽ kiểm soát chi phí đưa ra phương án cải thiệnkhả năng sinh lời
Đối với những nhà quản trị trong doanh nghiệp, tài liệu dùng để phântích báo cáo tài chính đa dạng, phong phú hơn những đối tượng bên ngoài.Bên cạnh việc sử dụng các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính, họ còntiếp cận với các thông tin trên các báo cáo chi tiết cũng như các thông tin phitài chính trong đơn vị Nội dung phân tích tích báo cáo tài chính mà nhà phântích tài chính trong các doanh nghiệp tiến hành rất đa dạng Tùy thuộc vào cáccấp lãnh đạo (các trung tâm trách nhiệm) mà giữa các nhà quản trị có nhu cầukhác nhau về phân tích báo cáo tài chính Trung tâm đầu tư quan tâm đến suấtsinh lời trên vốn đầu tư, trung tâm chú ý đến số vòng quay của tài sản hay lãixuất sinh lời của doanh thu, trung tâm chi phí lại thường quan tâm đến tỷ lệlãi gộp… Ngoài ra, các nhà quản trị trong doanh nghiệp cũng tự nhìn vềdoanh nghiệp mình như những gì mà các đối tượng bên ngoài nhìn nhận vàđánh giá Do đó, ngoài các chỉ tiêu phân tích giống như những nhà phân tíchbên ngoài, các đối tượng bên trong doanh nghiệp còn sử dụng các chỉ tiêu sau:
1.2.2.1 Phân tích cấu trúc tài chính
Trang 19Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích khái quát tình hình huyđộng, sử dụng vốn của doanh nghiệp Cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng,phản ánh cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản vànguồn vốn của doanh nghiệp Để phân tích khái quát tình hình huy động vốn và
sử dụng vốn, nhà phân tích tiến hành phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng nhưtừng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng đểthấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ
Tỷ trọng này được tính như sau (1.27):
Tỷ trọng của từng bộ phận tài
sản chiếm trong tổng số tài sản =
Giá trị của từng bộ phận tài sản
x 100Tổng số tài sản
Việc đánh giá mức độ hợp lý trong việc phân bổ tài sản phải căn cứ trêntính chất của lĩnh vực, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, tính thời
vụ hoặc chính sách đầu tư của doanh nghiệp
Tỷ trọng của tài sản cố định trong tổng số tài sản đối với từng ngànhnghề là khác nhau Để đánh giá tính hợp lý trong đầu tư tài sản cố định cầnxem xét đến số liệu trung bình ngành Ngoài ra, tỷ trọng tài sản cố định cònphụ thuộc vào chính sách đầu tư, phương pháp khấu hao doanh nghiệp ápdụng
Tỷ trọng của hàng tồn kho cũng tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinhdoanh của từng loại hình doanh nghiệp Nếu xây lắp, đóng tàu, thương mạithường tỷ trọng hàng tồn kho cao Còn kinh doanh dịch vụ thì tỷ trọng hàngtồn kho thấp Tỷ trọng loại tài sản này còn phụ thuộc vào chính sách dự trữ vàtính thời vụ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra khi phântích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong mối tương quan với tăng trưởngdoanh nghiệp
Tỷ trọng của khoản phải thu khách hàng, phụ thuộc vào phương thứcbán hàng, chính sách tín dụng bán hàng, khả năng quản lý nợ của doanhnghiệp Với doanh nghiệp bán lẻ, bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoảnphải thu thấp và ngược lại, đối với doanh nghiệp bán buôn thì tỷ trọng nàylớn Nếu thời hạn tín dụng dài, số dư nợ định mức cho khách hàng cao thì tỷ
Trang 20trọng khoản phải thu lớn và ngược lại Tuy nhiên, tín dụng bán hàng lại ảnhhưởng đến doanh số bán nên khi đánh giá hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt trongmối quan hệ với doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, nhà phân tích còn phân tích sự biến động về tỷ trọng của từng
bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều nămkhác nhau, đồng thời so sánh với cơ cấu chung của ngành để việc đáng giáđược toàn diện hơn
Phân tích cơ cấu nguồn vốn, được thực hiện nhằm đánh giá tình hìnhhuy động vốn Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự vớiviệc phân tích cơ cấu tài sản Ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng sốnguồn vốn cũng như từng nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm, các nhà phântích còn xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xuhướng biến động của chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về tài chínhcủa doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh haynhững khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu
Tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn được xác địnhqua công thức (1.28):
Tỷ trọng của từng bộ phận NV
chiếm trong tổng số NV =
Giá trị của từng bộ phận NV
x 100Tổng số NV
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốnthì doanh nghiệp có đủ khả năng đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lậpcủa doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao và ngược lại
Ngoài ra, khi phân tích tự chủ về tài chính cần sử dụng số liệu trungbình ngành, số liệu của các doanh nghiệp khác tương đương hoặc số liệu địnhmức mà ngân hàng quy định đối với doanh nghiệp Đồng thời để đánh giáchính xác hợp lý về mức độ an toàn tài chính, các nhà phân tích cần liên hệvới chính sách huy động vốn và chính sách đầu tư trong từng thời kỳ củadoanh nghiệp Ở các doanh nghiệp có trị số chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” thấp, “Hệ
số nợ so với tổng nguồn vốn” cao sẽ gặp nhiều khó khăn khi huy động vốn từcác nhà đầu tư, các ngân hàng…Do đó, doanh nghiệp cần phải có các giải
Trang 21pháp thích hợp để duy trì tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu một cáchthích hợp nhất.
1.2.2.2.Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh.
Để đảm bảo cung cấp đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh doanhnghiệp phải có những biện pháp tài chính để huy động và hình thành nguồnvốn Nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ vốn chủ sở hữu, vốnvay và vốn chiếm dụng trong quá trình thanh toán Thực chất của quá trìnhphân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh là việc phân tíchcân bằng tài chính nghĩa là xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồnhình thành thành tài sản của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có : Vốn chủ sở hữu = Tài sản dài hạn + Tài sản ngắn hạnthì doanh nghiệp không cần đi vay hoặc chiếm dụng vốn mà vẫn đảm bảođược các tài sản cho hoạt động của mình nhưng thực tế ít xảy ra, thườngdoanh nghiệp bị thiếu vốn phải vay bên ngoài hoặc doanh nghiệp thừa vốn bịchiếm dụng
Cấu trúc nguồn vốn không chỉ thể hiện tính tự chủ mà còn thể hiện tính ổnđịnh trong tài trợ Dưới góc độ ổn định trong tài trợ, toàn bộ nguồn vốn của doanhnghiệp được chia thành nguồn vốn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời.Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp được sử dụng lâu dàithường xuyên vào hoạt động kinh doanh, nguồn tài trợ thường xuyên trong doanhnghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu; các khoản vay; nợ dài hạn; nợ trung hạn.Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sảnxuất kinh doanh trong thời gian ngắn, nguồn tài trợ tạm thời trong doanh nghiệp gồmcác khoản vay, nợ ngắn hạn, các khoản vay, nợ quá hạn, các khoản chiếm dụng bấthợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác…cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳngthức sau (1.29):
Tài sản ngắn
hạn + Tài sản dàihạn = Nguồn vốn tài trợ thường xuyên + Nguồn vốn tàitrợ tạm thời
Cân bằng tài chính có thể được khái quát dưới sơ đồ sau
Trang 22sốnguồntài trợ
- Vay dài hạn
- Nợ dài hạn
- Vay trung hạn
- Nợ trung hạnTài
sản
ngắn
hạn
- Tiền và tương đương tiền
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
Nguồntài trợ tạm thời
Sơ đồ: 1.2 Nguồn tài trợ tài sản.
Khi ổn định về nguồn tài trợ tài sản khi phân tích cân bằng tài chínhcủa doanh nghiệp sẽ cung cấp cho nhà quản lý biết được sự an toàn, tính bềnvững, cân đối trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như nhân tố
có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính do đó cần so sánh tổng nhu cầu
về tài sản với nguồn tài trợ thường xuyên Nếu các nguồn tài trợ thườngxuyên trang trải đủ hoặc thừa tổng nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần sửdụng một cách hợp lý số dôi này để tránh bị chiếm dụng vốn Ngược lại, khinguồn tài trợ thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thì doanhnghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng cho phù hợp Tuy nhiênđối với từng nguồn tài trợ, cần phải phân tích thêm sự biến động về tổng sốcũng như cùng loại giữa cuối kỳ so với đầu năm và dựa vào sự biến động củabản thân từng nguồn tài trợ để rút ra nhận xét
Biến đổi được công thức sau như sau (1.30):
Tài sản ngắn
-Nguồn tàitrợ tạm thời =
Nguồn tài trợthường xuyên +
Tài sảndài hạnVậy nguồn tài trợ tạm thời cũng chính là số nợ ngắn hạn phải trả Dovậy, vế trái của đẳng thức trên (TSNH – Nguồn tài trợ tạm thời) cũng chính làchỉ tiêu “vốn hoạt động thuần” Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh sốvốn của doanh nghiệp được sử dụng để duy trì những hoạt động bình thường,diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp.Với số vốn hoạt động thuần này doanh
Trang 23nghiệp có khả năng bảo đảm chi trả cho các hoạt động diễn ra mà không cầnphải vay mượn hay chiếm dụng bất cứ một khoản nào khác.
Vốn hoạt động thuần: Cho biết vốn hoạt động thuần được tài trợ chủyếu cho TSNH là những TS có tính thanh khoản cao công thức tính như sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Vốn hoạt động thuần: Thể hiện quan hệ tài trợ giữa nguồn tài trợ thườngxuyên với TSDH Công thức tính như sau
Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên – Tài sản dài hạn Vốn hoạt động thuần có thể nhỏ hơn; lớn hơn hoặc bằng 0 Trong mỗi trườnghợp sẽ có một ý nghĩa khác nhau
- Trường hợp vốn hoạt động thuần <0: Thì nguồn tài trợ thường xuyênkhông đủ tài trợ cho TSDH nên phần thiếu hụt doanh nghiệp phải bù đắp bằng
nợ ngắn hạn Cân bằng tài chính trong trường hợp này là không tốt vì doanhnghiệp luôn rơi vào tình trạng chịu áp lực nặng nề về thanh toán các khoản nợngắn hạn, cán cân thanh toán luôn mất cân bằng Khi vốn hoạt động thuầncàng nhỏ hơn 0, DN càng gặp khó khăn trong thanh toán ngắn hạn và có nguy
cơ phá sản
- Trường hợp vốn hoạt động thuần = 0 Thì nguồn tài trợ thường xuyêncủa doanh nghiệp vừa đủ để trang trải cho TSDH nên không cần huy độngthêm ở nợ ngắn hạn để bù đắp Lúc này, cân bằng tài chính xảy ra, tuy nhiêntính ổn định chưa cao, vẫn tồn tại nguy cơ rơi vào tình trạng mất cân bằng
- Trường hợp vốn hoạt động thuần >0: Thì nguồn tài trợ thường xuyêncủa doanh nghiệp không những được sử dụng để trang trải cho TSDH mà còntrang trải một phần cho TSNH Lúc này, cân bằng tài chính được coi là “cânbằng tốt”, an toàn và bền vững Một doanh nghiệp muốn hoạt động thuần hợp
lý để thỏa mãn việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho.Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn, khả năng thanh toán của Dn
Trang 24càng cao Ngược lại, khi vốn hoạt động thuần giảm sút, doanh nghiệp mất dầnkhả năng thanh toán.
Tuy nhiên để đánh giá tính ổn định và bền vững của cân bằng tài chínhtrong tương lai, các nhà phân tích phải xem xét sự biến động của vốn hoạtđộng thuần trong nhiều năm liên tục để loại trừ những sai lệch về mặt số liệu
do tính thời vụ hay tính chu kỳ trong kinh doanh
Ngoài ra, để có nhận xét chính xác và toàn diện về tình hình bảo đảmvốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp , khi phân tích các nhà phântích còn sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số tài trợ thường xuyên: Cho biết nguồn tài trợ thường xuyênchiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện tính cân bằng và ổn định tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số tài trợ tạm thời: Phản ánh nguồn tài trợ tạm thời chiếm tỷ trọngbao nhiêu trong tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu càngnhỏ thì tính cân bằng và ổn định tài chính của doanh nghiệp càng cao vàngược lại
- Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên: Phản ánhvốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số nguồn tài trợ thườngxuyên Chỉ tiêu càng lớn thì tính tự chủ và độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn: Chobiết, mức độ tài trợ TSDH bằng nguồn tài trợ thường xuyên Chỉ tiêu cànglớn, thể hiện tính ổn định và bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao
và ngược lại
Trang 25- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: Cho biết, mức độ tàitrợ TSNH bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Chỉ tiêu càng lớn hơn 1, thể hiệntính ổn định, bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
1.2.2.3.Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nétchất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp
a Phân tích tình hình thanh toán
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phátsinh việc thu, chi và thanh toán Nếu doanh nghiệp có hoạt động tài chính tốt,lành mạnh khả năng thanh toán sẽ cao, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, ít bị chiếmdụng vốn Ngược lại nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạngdoanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoảncông nợ phải thu phải trả sẽ dây dưa, kéo dài Do vậy “việc phân tích tìnhhình thanh toán của doanh nghiệp , tìm ra nguyên nhân của mọi sự ngưng trệ,tồn đọng các khoản công nợ, nhằm tiến tới làm chủ về tài chính có một ýnghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”
Tình hình thanh toán của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu phảnánh nợ phải thu và nợ phải trả Về mặt tổng thể, khi phân tích tình hình thanhtoán, nhà phân tích so sánh, nhận xét dựa vào sự biến động của các chỉ tiêusau:
- Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với nợ phải trả (%): Phản ánh cáckhoản doanh nghiệp bị chiếm dụng bằng bao nhiêu phần trăm các khoảndoanh nghiệp chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân khác Chỉ tiêu này đượctính như sau (1.31):
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so
với các khoản nợ phải trả =
Tổng số nợ phải thu
x 100%Tổng số nợ phải trả
Nếu tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả lớn hơn100%, chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn hơn số vốn
Trang 26doanh nghiệp đi chiếm dụng và ngược lại Thực tế cho thấy, số bị chiếm dụnglớn hơn hay nhỏ hơn số chiếm dụng đều phản ánh một tình hình tài chínhkhông lành mạnh.
Chỉ tiêu này được xem xét cho tổng số nợ phải thu và tổng số nợ phảitrả cũng như từng loại nợ phải thu, nợ phải trả Mỗi một nội dung xem xét sẽcho các nhà quản lý có những nhận định riêng về tình hình thanh toán ở từnglĩnh vực, đề ra các quyết sách phù hợp
Như khi xem xét tỷ lệ các khoản phải thu người mua với các khoảnphải trả người bán, các nhà quản lý sẽ biết tình hình bị chiếm dụng hay chiếmdụng trong thanh toán ngắn hạn
- Số vòng quay của các khoản phải thu :Phản ánh trong kỳ kinh doanhcác khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng
Công thức tính như sau (1.32)
Chỉ tiêu “số vòng quay các khoản phải thu” cho biết mức hợp lý của số
dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ Số vòng quay càngcao chứng tỏ tình hình quản lý và thu hồi nợ tốt Tuy nhiên, cũng có trườnghợp số vòng quay quá cao không có lợi cho doanh nghiệp như bán hàng thubằng tiền mặt, khó cạnh tranh và mở rộng thị trường Tùy vào tình hình cụ thể
và sách lược kinh doanh, chỉ tiêu trên sẽ được vận dụng cho phù hợp
- Hệ số giữa nợ phải thu so với tổng số tiền bán hàng chịu
Ngược với chỉ tiêu “Số vòng quay các khoản phải thu”, chỉ tiêu này lạicho các nhà quản lý biết được cứ mỗi đồng tiền bán chịu trong kỳ thì cuối kỳcòn phải thu bao nhiêu Chỉ tiêu này được tính như sau(1.33):
Trang 27Hệ số giữa nợ phải thu so với
tổng số tiền hàng bán chịu =
Nợ còn phải thu cuối nămTổng số tiền hàng bán chịuChỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ nợ còn phải thu cuối kỳ tính trên tổng
số tiền hàng bán chịu càng cao và do vậy, doanh nghiệp càng bị chiếm dụngtiền hàng Tuy nhiên, mối quan hệ giữa doanh thu và nợ phải thu cần xem xétchỉ tiêu thời gian khi đánh giá nợ phải thu
- Thời gian thu tiền (thời gian quay vòng các khoản phải thu)
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian bình quân thu hồi tiền hàng bán ra Chỉtiêu này được tính như sau (1.34):
Thời gian thu tiền = Tổng số tiền hàng bán chịuThời gian của kỳ phân tích
Hay:
Thời gian thu tiền = Mức tiền bán hang chịu bình quân 1 ngàySố dư bình quân các khoản phải thuThời gian thu tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càngnhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn và ngược lại Tuy nhiên, nếu thờigian thu tiền hàng quá ngắn sẽ gây khó khăn cho người mua, không khuyếnkhích được người mua nên sẽ ảnh hưởng đế doanh số bán hàng
Khi phân tích ra và so sánh với thời gian bán chịu quy định cho kháchhàng Nếu thời gian thu tiền lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho kháchhàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm; ngược lại, số ngày quy địnhbán chịu cho khách hàng lớn hơn thời gian thu hồi tiền hàng bán ra, chứng tỏviệc thu hồi nợ đạt kế hoạch đề ra
- Số vòng quay các khoản phải trả: Phản ánh trong kỳ kinh doanh, cáckhoản phải trả quay được bao nhiêu vòng
Chỉ tiêu này được tính như sau (1.35):
Số vòng quay với các khoản
Tổng số tiền hàng mua chịu
Số dư bình quân các khoản phải trảHay:
Thời gian thu tiền = Tổng số nợ phải trả đầu kỳ và cuối kỳ2
Trang 28Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải trả và hiệuquả của việc thanh toán nợ Số vòng quay này càng cao chứng tỏ doanhnghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn Tuy nhiên, nếu sốvòng quay quá cao có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong kỳ dodoanh nghiệp phải huy động mọi nguồn vốn để trả nợ:
- Hệ số giữa nợ phải trả so với tổng số tiền hàng mua chịu: Cho biết
cứ một đồng tiền hàng mua chịu trong kỳ thì cuối kỳ còn phải trả bao nhiêu.Chỉ tiêu này được tính như sau (1.36):
Hệ số giữa nợ phải trả so với tổng
số tiền hàng mua chịu =
Nợ còn phải trả cuối nămTổng số tiền hàng mua chịuTrị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ nợ còn phải trả cuối kỳ tínhtrên tổng số tiền hàng mua chịu càng cao, nghĩa là doanh nghiệp chiếm dụngtiền hàng càng nhiều
- Thời gian thanh toán tiền hàng (Thời gian quay vòng các khoản phải trả):Phản ánh thời gian bình quân mà doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng chongười bán trong kỳ
Chỉ tiêu này được tính như sau (1.37):
Thời gian thanh toán tiền hàng = Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải trả
Thời gian thanh toán tiền hàng = Số dư bình quân tiền hàng mua chịuMức tiền hàng mua chịu bình quân Thời gian thanh toán tiền hàng càng ngắn chứng tỏ tốc độ thanh toántiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn và ngược lại
Khi phân tích, cần tính ra và so sánh với thời gian mua chịu được ngườibán quy định cho doanh nghiệp Nếu thời gian thanh toán tiền hàng lớn hơnthời gian mua chịu được quy định thì việc thanh toán tiền hàng là chậm trễ vàngược lại, số ngày quy định mua chịu lớn hơn thời gian thanh toán tiền hàng,chứng tỏ việc thanh toán nợ đạt được kế hoạch về thời gian
Trang 29Ngoài việc tính ra và so sánh các chỉ tiêu trên, để nắm được tình hìnhthanh toán các khoản nợ phải thu và các khoản nợ phải trả trong kỳ của doanhnghiệp, các nhà phân tích tiến hành so sánh các khoản nợ phải thu, nợ phải trảgiữa cuối kỳ với đầu kỳ về mặt tổng số cũng như với từng khoản nợ phải thu,phải trả và số tiền nợ quá hạn cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉtiêu và dựa vào sự biến động cụ thể của từng chỉ tiêu để rút ra nhận xét Số nợcòn phải thu được thu thập dựa vào Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báocáo tài chính Riêng số nợ phải thu quá hạn, các nhà phân tích phải dựa vào sổchi tiết các đối tượng liên quan Số nợ còn phải trả cũng được thu nhập dựavào Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính.
Ngoài các tài liệu trên, để có nhận xét , đánh giá đúng đắn về tình hìnhthanh toán các khoản nợ phải thu, phải trả của doanh nghiệp, khi phân tíchcòn phải sử dụng các tài liệu hạch toán hàng ngày để xác định tính chất, thờigian và nguyên nhân các khoản phải thu, phải trả xem xét các biện pháp màđơn vị áp dụng để thu hồi nợ hoặc thanh toán nợ; phân tích các nguyên nhândẫn đến các khoản tranh chấp nợ phải trả, phải thu…
b Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Cho biết năng lựctài chính trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp Từ đó người quản lý đánhgiá được sức mạnh tài chính hiện tại, cũng như dự đoán được tiềm lực thanhtoán và an ninh tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
Tuy nhiên để đánh giá đầy đủ, toàn diện hơn về khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp, nhà phân tích còn sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành : Phản ánh khả năng thanh toántổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này được tính như sau(1.38):
Hệ số khả năng thanh toán hiện
Tổng số tài sảnTổng số nợChỉ tiêu này có thể được tính cho cả thời kỳ hoặc cho từng giai đoạn
Hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1: Doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán
và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Khi chỉ tiêu này càng lớn
Trang 30hơn 1 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng dồi dào và an ninh tàichính càng vững chắc.
Hệ số này nhỏ hơn 1: Doanh nghiệp không có khả năng thanh toán Hệ
số này càng nhỏ bao nhiêu thì doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanhtoán bấy nhiêu Khi nó gần bằng 0, thì doanh nghiệp bị phá sản, không còn khảnăng thanh toán nữa
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn : Phản ánh khả năng thanh toán tạmthời các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo: Công thứctính như sau:
Hệ số khả năng thanh toán nợ
Tổng giá trị thuần của tài sản
ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn Nếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 0.05 thì các khoản thanh toán nợ ngắnhạn của doanh nghiệp được đảm bảo và ngược lại
- Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn : Phản ánh khả năng thanh toán cáckhoản nợ dài hạn bằng nguồn vốn khấu hao tài sản cố định mua sắm bằngnguồn vốn vay dài hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo: Công thức tínhnhư sau:
Hệ số thanh toán nợ dài hạn =
Giá trị còn lại của tài sản cố địnhhình thành nguồn vốn vay Tổng số nợ dài hạn
1.2.2.4.Phân tích hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có được luôn gắn liền các yếu tố laođộng, tư liệu lao động, đối tượng lao động nên doanh nghiệp chỉ có thể đạtđược hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh cóhiệu quả Ngoài các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh giống như nhàphân tích bên ngoài, những người bên trong doanh nghiệp còn phân tích cácnội dung sau
a Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng TSCĐ được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu nhưng phổbiến là các chỉ tiêu sau:
Trang 31- Sức sản xuất của tài sản cố định: Phản ánh một đơn vị nguyên giá bình quâncủa TSCĐ đem lại bao nhiêu đơn vị tổng giá trị sản xuất Chỉ tiêu này được tính nhưsau (1.39):
Sức sản xuất của TSCĐ = Nguyên giá bình quân của TSCĐTổng giá trị sản xuấtSức sản xuất của TSCĐ càng lớn hiệu quả sử dụng TSCĐ càng tăng vàsức sản xuất của TSCĐ càng nhỏ, hiệu quả sử dụng TSCĐ càng giảm
- Sức sinh lời của tài sản cố định: Phản ánh một đơn vị nguyên giá bìnhquân của TSCĐ đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế Chỉtiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao và ngược lại.Công thức tính như sau (1.40)
Sức sinh lời của TSCĐ = Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuếNguyên giá bình quân của TSCĐ
- Sức hao phí của tài sản cố định: Để có một đơn vị tổng giá trị sản xuấtthì cần phải có bao nhiêu đơn vị nguyên giá bình quân của TSCĐ Chỉ tiêunày càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng lớn và ngược lại
Công thức tính như sau (1.41)
Sức hao phí của TSCĐ = Nguyên giá bình quân của TSCĐTổng giá trị sản xuất
b Phân tích hiệu quả sử dụng của tài sản ngắn hạn
Tốc độ luân chuyển của TSNH là một trong những chỉ tiêu phản ánhhiệu quả sử dụng TSNH Nếu tốc độ luân chuyển của TSNH tăng thì hiệu quả
ử dụng TSNH cao và ngược lại Để xác định tốc độ luân chuyển của TSNH,khi phân tích, thường sử dụng các chỉ tiêu sau
- Số vòng quay của tài sản ngắn hạn : Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳkinh doanh, TSNH quay được mấy vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệuquả sử dụng TSNH càng cao và ngược lại
Chỉ tiêu này được tính như sau (1.42):
Số vòng quay của tài sản
Chỉ tiêu này được tính như sau (1.43):
= Thời gian của kỳ phân tích
Trang 32Thời gian của một
vòng quay Số vòng quay của tài sản ngắn hạn trong kỳ
1.2.2.5.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp cho nhà quản lý biếtđược tiền tệ của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào mục đích gì Từ
đó, dự đoán lượng tiền trong tương lại của doanh nghiệp, nắm được năng lựcthanh toán hiện tại cũng như biết được sự biến động của từng chỉ tiêu, từngkhoản mục trên báo cáo này Đồng thời, người sử dụng thông tin cũng thấyđược quan hệ giữa lãi (lỗ) ròng với luồng tiền tệ hay quan hệ các hoạt độngkinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính ảnh hưởng tới dòng tiềnnhư thế nào.Việc phân tích thường được tiến hành bằng cách tính và so sánhcác chỉ tiêu sau (1.44):
Tỷ trọng tiền tạo ra từ hoạt
động kinh doanh so với tổng
lượng tiền lưu chuyển trong kỳ
=
Tổng số tiền thuần lưu chuyển từ hoạt
động kinh doanhTổng số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ
Tỷ trọng tiền tạo ra từ hoạt
động đầu tư so với tổng lượng
tiền lưu chuyển trong kỳ
=
Tổng số tiền thuần lưu chuyển từ hoạt
động đầu tưTổng số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ
Tỷ trọng tiền tạo ra từ hoạt động
tài chính so với tổng lượng tiền
lưu chuyển trong kỳ
=
Tổng số tiền thuần lưu chuyển từ hoạt
động tài chínhTổng số tiền thuần lưu chuyển trong kỳCác chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo ra tiền từ mỗi hoạt động đóng góp baonhiêu phần trăm vào tổng số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ của cả doanh nghiệp
và cho biết tiền được tạo ra từ hoạt động nào chủ yếu trong ba hoạt động đó
Ngoài ra khi phân tích cần xem xét tình hình biến động của từng mục,từng khoản mục trong từng hoạt động ảnh hưởng đến sự biến động của cảdòng tiền thuần lưu chuyển trong kỳ Trên cơ sở đó, đưa ra các nhận xét vàkiến nghị thích hợp để thúc đẩy lượng tiền lưu chuyển trong từng hoạt độngcũng như cho cả dòng tiền thuần lưu chuyển trong doanh nghiệp
1.3 TỔ CHỨC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH.
Qua nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích, có thể thấy hệthống phân tích bao gồm các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Nhiệm vụcủa tổ chức phân tích là tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố này trong từng nội
Trang 33dung phân tích cụ thể để đánh giá đúng đắn tình hình kinh doanh của doanhnghiệp và những tiềm năng có thể khai thác trong kỳ kinh doanh tới Như vậy,
tổ chức phân tích chính là sự vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích
để đánh giá đúng kết quả, chỉ rõ những sai lầm và tìm biện pháp sửa chữathiếu sót trong kinh doanh Trên cơ sở người phân tích hiểu biết về nội dung,phương pháp cần phân tích, sẽ sưu tầm và kiểm tra tài liệu theo nội dung ấnđịnh, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn hệ thống phương pháp phân tíchthích hợp.Vì vậy, tổ chức phân tích có thể được hiểu thông qua các bước sau:
1.3.1.Bước chuẩn bị phân tích:
Nhà phân tích cần lập kế hoạch phân tích bao gồm việc xác định trướcnội dung, phạm vi, thời gian và cách thức phân tích Nội dung phân tích xácđịnh rõ các vấn đề cần được phân tích, có thể toàn bộ hoạt động kinh doanh hoặcchỉ một số vấn đề cụ thể Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị hoặc một vàiđơn vị được chọn làm điểm để phân tích Tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý màxác định nội dung và phạm vi phân tích phù hợp Thời gian ấn định trong kếhoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị và thời gian tiến hành phân tích.Chuẩn bị phân tích có thể quy về những loại công việc chủ yếu sau:
+ Lập kế hoạch phân tích
+ Thu thập và kiểm tra tài liệu
Công việc này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng thông tincủa việc phân tích Nguồn tài liệu chính như báo cáo tài chính, các tài liệu kếhoạch, định mức, dự đoán; các tài liệu phi tài chính như các biên bản hội nghị,nghị quyết, chỉ thị trong đơn vị hay các cơ quan quản lý cấp trên…
Các tài liệu này cần được kiểm tra trên nhiều mặt như: tính hợp pháp củatài liệu, nội dung và phương pháp tính của các chỉ tiêu và sự chính xác củaviệc tính và ghi các con số, cách đánh giá đối với các chỉ tiêu giá trị
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứphân tích mà cả ở những tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc.+ Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích
Tùy nội dung phân tích, tài liệu thu thập được, loại hình phân tích và nhucầu thông tin của chủ thể phân tích mà xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích
và phương pháp phân tích phù hợp
1.3.2 Tiến hành phân tích
Trang 34Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công việc đã ghi trong kếhoạch, thực chất đây là sự kết hợp hài hòa giữa con người, phương pháp phântích, tài liệu sử dụng để đạt được các thông tin theo mục tiêu đề ra Tiến hànhphân tích có thể quy về những loại công việc chủ yếu sau:
+ Đánh giá khái quát tình hình biến động của chỉ tiêu phân tích
+ Xác định nhân tố ảnh hưởng, xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
+ Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêuphân tích, rút ra nhận xét, kết luận và đánh giá sự biến động của chỉ tiêunghiên cứu
1.3.3 Kết thúc phân tích :
Đây là giai đoạn sau cùng của việc phân tích Báo cáo tài chính là bảntổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệu chọn lọc để minh họanhững kết luận rút ra từ quá trình phân tích Thông qua báo cáo phải nêu rõthực trạng hoạt động của doanh nghiệp Báo cáo cũng cần đưa ra các kiếnnghị, đề xuất các giải pháp về những vấn đề đã phân tích Những kiến nghị đềxuất phải rõ ràng, thiết thực, cụ thể và kèm theo các điều kiện thực thi
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HOÀ BÌNH 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HOÀ BÌNH
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tiền thân của Hòa Bình là Văn phòng xây dựng Hòa Bình thuộc Công tyXây dựng Dân dụng & Công nghiệp Từ năm 1987 đến nay, song song vớicông cuộc đổi mới của đất Nước, Hòa Bình đã không ngừng phát triển.Những nhân tố góp phần vào sự phát triển này trước hết phải kể đến là sựgiúp đỡ nhiệt tình của bè bạn, sự ủng hộ, khích lệ của khách hàng và sau cùng
là nỗ lực phấn đấu không ngừng của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ Côngnhân viên trong việc thực hiện những sứ mệnh, mục tiêu và chính sách đã xácđịnh Năm 1987- 1993: Xây dựng lực lượng - xác định phương hướng, Năm1997- 2000: Tăng cường tiềm lực - Nâng cao chất lượng và Năm 2000- 2005:Hoàn thiện tổ chức - Mở rộng thị trường
Sau những bước chuẩn bị chu đáo, với sự chấp nhận của Ban Giám đốcCông ty Xây dựng Dân dụng & Công nghiệp, ngày 01/12/2000 trên cơ sở kếthừa toàn bộ lực lượng của Văn phòng Xây dựng Hòa Bình, Công ty Cổ phầnXây dựng & Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình được thành lập với giấy phép do
Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp
Cuối năm 2000, trong niềm vui chung của nhân loại đón chào thiên niên
kỷ mới, Cán bộ Công nhân viên của Công ty Cổ phần Hòa Bình đã thực hiệnmột chương trình văn nghệ mang tên “Thành Phố Mùa Xuân”, được ĐàiTruyền hình Thành phố Hồ Chí Minh ghi hình và phát sóng trong dịp tết Tân
Tỵ 2001 Năm 2001, Hệ thống Quản lý Chất lượng về lĩnh vực thi công xâydựng của Hòa Bình đã đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 được tổ chứcquốc tế QMS cấp giấy chứng nhận
Sau khi mua lại biệt thự song lập 235 Võ Thị Sáu, Quận 3 và cải tạo thànhmột văn phòng đầy đủ tiện nghi, trụ sở Công ty Cổ phần Hòa Bình đã đượcchuyển từ 52A Trương Định, Quận 3 sang ngôi nhà này vào tháng 4 năm
Trang 362001 Năm 2002 Công ty mở rộng thị trường sang khu đô thị mới Phú MỹHưng Tháng 9 năm 2002, Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập với những thành quả
đã đạt được là cả một quá trình chiến đấu bền bỉ bằng niềm tin và trí lực củatập thể cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cùng lực lượng nhân công trên mỗicông trình họ đi qua
Các công ty thành viên như Công ty Mộc Hòa Bình, Sơn Hòa Bình liêntiếp đạt các giải thưởng và bằng khen của Bộ Xây Dựng tại Hội chợ VietBuild
2002, 2003, 2004, 2005, 2006; Công ty Cửa Sư Tử đạt danh hiệu “Top TenThương hiệu Việt 2004”; Công ty Sơn Hòa Bình với danh hiệu “Thương hiệuViệt yêu thích” và Hòa Bình cũng đã khẳng định mình trong lĩnh vực thi côngxây dựng với danh hiệu “Thương hiệu mạnh ngành xây dựng địa ốc 2004,
2005, 2006” Năm 2004, sau 3 năm áp dụng và cải tiến không ngừng, hệthống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 của Hòa Bình đã được tổ chức Quốc
tế QMS cấp giấy chứng nhận lần 2 vào tháng 9 với sự mở rộng sang lĩnh vựcThi công Điện nước và Trang trí Nội thất
Năm 2004 là một năm có nhiều sự kiện Bên cạnh việc Công ty đạt đượcnhững thành tích rất cao về các giải thưởng trong nước và quốc tế, kinhnghiệm thi công của Hòa Bình cũng đã có một số tiến bộ trong việc tiếp cậncông nghệ cao trong ngành xây dựng thông qua công tác thi công một số côngtrình phức tạp
Năm 2005 là năm có ý nghĩa phát triển khá lớn của Hòa Bình Hòa Bình
đã có một số tiến bộ trong việc tiếp cận công nghệ cao trong ngành xây dựngthông qua công tác thi công một số công trình có quy mô và yêu cầu kỹ - mỹthuật cao Năm 2005 - nay: Tăng cường hợp tác – chinh phục đỉnh cao
Ngày 27/12/2006, Cổ phiếu Hòa Bình (HBC) đã chính thức niêm yết trênsàn giao dịch chứng khoán TP HCM giúp Công ty kịp thời nắm bắt những cơhội tốt và tạo động lực phát triển mạnh mẽ hơn Hòa Bình là doanh nghiệpxây dựng đầu tiên tham gia thị trường chứng khoán
Hòa Bình chuyển sang chuyên nhận thầu những công trình lớn với phươngthức thi công trọn gói Cuối năm 2006 và đầu năm 2007, Hòa Bình đã trúngthầu một loạt các dự án lớn.Có thể nói, năm 2006 là mốc son trong lịch sử pháttriển của Hòa Bình khi mô hình doanh nghiệp đã được hình thành rất rõ nét và
Trang 37một đường băng vững chắc đã được tạo dựng cho con tàu Hòa Bình cất cánh baycao và bay xa hơn nữa
Những giải thưởng và danh hiệu đã đạt được:
Giải thưởng ngành xây dựng lần thứ 16 “New Millenium Award” doTrade Leaders’ Club (Câu lạc bộ lãnh đạo doanh nghiệp với hơn 7.000 hộiviên ở 25 Quốc gia trên thế giới) trao tặng tại Madrid, Tây Ban Nha: HòaBình là công ty Việt Nam duy nhất được trao giải thưởng này cùng 39 công tyxây dựng khác ở 25 nước trên thế giới
Giải thưởng “Diamond Eye” về chất lượng tuyệt hảo, cam kết chấtlượng và “Chương trình tín nhiệm TQCS” (tiêu chuẩn làm khách hàng hàilòng) được trao tại Berlin, Đức
Giải thưởng “Platinium Technology” dành cho các đơn vị đạt tiêuchuẩn về sản phẩm chất lượng cao và thương hiệu tuyệt hảo, được trao tạiParis, Pháp
Giải thưởng “CENTURY INTERNATIONAL QUALITY ERAAWARD in the Gold category” do tổ chứcB.I.D Business Initiative Directionstrao tặng tại Thụy Sĩ
Giải thưởng “Top ten Thương hiệu Việt” cho “ Thương hiệu uy tín chấtlượng hàng đầu ” ba năm 2004, 2005 và 2006 do bạn đọc mạngthuonghieuviet.com bình chọn
Huy chương vàng “Quản Lý Chất Lượng Toàn Cầu” do tổ chức quốc
tế Câu Lạc bộ Doanh Nhân dành cho cá nhân Tổng Giám Đốc Công ty
Danh hiệu “Doanh Nhân Sài Gòn Tiêu Biểu” hai năm liền 2005, 2006
do Chủ tịch UBND TP.HCM trao tặng
Giải thưởng trong nước như: Huy Chương Vàng Hội Chợ Địa ốc –VLXD & Sản phẩm gia dụng lần 2; Huy Chương vàng Thương hiệu Hội chợVietbuild 4 năm liên tục từ năm 2003 đến 2006; Huy Chương Bạc Hội chợhàng Công Nghiệp Việt Nam; Thương hiệu Việt ưa thích ngành xây dựng dobạn đọc báo Doanh Nhân Sài Gòn bình chọn
Bằng khen của Nhà nước, các bộ ngành như: Bộ Xây Dựng, Bộ ThuỷSản, UBND TP Hồ Chí Minh
Trang 38 Thư khen, thư giới thiệu của các đối tác trong và ngoài nước như:DANAO International Holdings Ltd, TECASIN Business Center,RIVERSIDE Co., WESTMOUNT Co., Ltd, FISHERIES ENGINEERINGCo., Ltd, TRANSFIELD, TOA Corporation, FUJITA Corporation, Khách sạnTân Sơn Nhất, Clubhouse Sông Bé Golf PALM, DELTA JUICE CompanyVietnam Ltd, POSEC – Posco Engineering & Construction Co.,Ltd,HUHTAMAKI (Vietnam) Ltd., ARTIFORT Co., HBP Co., Tổng Công TyXây Dựng Hà Nội, Tổng Công Ty Xây Dựng Sài Gòn, Công ty IndochinaResort, Graham Taylor, Học viện Phật giáo Việt nam tại Tp.HCM, Đại họcRMIT Việt Nam, v.v.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty hiện nay là:
a Xây dựng dân dụng và công nghiệp đã thành công trong vai trò thầu
chính của nhiều công trình khá lớn và nổi tiếng của thành phố HồChí Minh Ngoài ra, còn làm rất tốt vai trò thầu phụ cho nhiều côngtrình đầu tư nước ngoài có qui mô lớn, yêu cầu tiến độ kỹ - mỹthuật cao từ công tác bê tông cốt thép cho đến công tác hoàn thiện,trang trí nội thất và điện nước
b Sản xuất, thi công và kinh doanh sơn Hodastone Lĩnh vực này do
công ty Sơn Hòa Bình (HBP) đảm nhận với thương hiệu sơn đáHodastone , một loại vật liệu hoàn thiện tuyệt mỹ và siêu bền được
sử dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến trên thế giới, đã được ngườitiêu dùng biết đến và ưa chuộng Sản phẩm đã được công bố chấtlượng tại Trung tâm Kỹ Thuật Tiêu chuẩn Đo Lường Chất Lượng(QUATEST-3 ) theo tiêu chuẩn JIS của Nhật Bản, đã đoạt các giảithưởng: Huy chương vàng Hội chợ địa ốc - VLXD & Sản phẩm giadụng lần 2, Huy Chương Vàng Thương Hiệu Hội Chợ VIETBUILD
4 năm liền 2003 đến 2006, Huy chương bạc hội chợ hàng Côngnghiệp Việt Nam, Thương hiệu Việt yêu thích ngành Xây Dựng dobạn đọc báo Doanh nhân SÀI GÒN bình chọn, Thương hiệu Việt
Uy tín Chất lượng
c Sản xuất, thi công và kinh doanh thành phẩm mộc và trang trí nội
thất Lĩnh vực này do công ty Mộc Hòa Bình (MHB) đảm nhận,
Trang 39MHB thành lập từ việc sát nhập HBD (Hoa Binh Decor) và HBF(Hoa Binh Furniture), MHB chuyên thiết kế, thi công và trang trínội thất các công trình Sản phẩm của MHB đã được xuất khẩu sangĐài Loan, Mỹ Tại Hội chợ Triển lãm Vietbuild 2002, 2003, 2004,
2005, 2006, Mộc Hòa Bình liên tiếp được Bộ Xây Dựng trao Cúpvàng Thương hiệu ngành Xây dựng Việt Nam và Huy chương vàngchất lượng sản phẩm cho cửa gỗ do MHB sản xuất với đánh giá là:
“Sản phẩm mới có chất lượng cao”
d Sản xuất, thi công lắp đặt và kinh doanh nhôm kính Lĩnh vực nhôm
kính hiện đang được công ty Anh Huy (AHA) đảm nhận, chuyênsản xuất và lắp đặt cửa nhôm, vách kính cho công trình có quy môlớn theo công nghệ hiện đại Tư vấn xây dựng, thiết kế kiến trúc vàkết cấu công trình.Lĩnh vực này do công ty tư vấn thiết kế Hòa Bình(HBA) đảm nhận Với đội ngũ kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệpđược đào tạo chính quy lại có cơ hội chủ trì thiết kế nhiều côngtrình hoặc phối hợp với các Công ty Tư vấn Thiết kế nước ngoàinên đã tích lũy được nhiều kinh nghiệp quí báu
e Kinh doanh mua bán vật liệu xây dựng Lĩnh vực này hiện do công
ty thương mại Hòa Bình (HBT) đảm nhiệm, chuyên làm dịch vụcung cấp cho khách hàng nhiều loại sản phẩm xây dựng và trang trínội thất khác nhau với sự tiện ích tối đa và giá cả hợp lý Với kinhnghiệm của mình, HBT sẵn sàng tư vấn cho khách hàng trong việcchọn lựa vật liệu thích hợp cho từng hạng mục công trình với nhữngmục đích sử dụng khác nhau HBT cũng là nhà đại lý độc quyềnphân phối các sản phẩm của Công ty cổ phần Hòa Bình: sơn đáHodastone, nhôm kính, đồ mộc và cửa gỗ
h Thi công xây dựng các công trình cầu đường và cơ sở hạ tầng
Lĩnh vực này hiện do bộ phận HBCE (Hoa Binh Civil Engineering)đảm nhiệm, chuyên thi công xây dựng các công trình cầu đường và
cơ sở hạ tầng Đây là một bộ phận đầy triển vọng, bởi vì, ngoài việcđảm nhận thi công cơ giới cho Hòa Bình, HBCE còn có một thịtrường rất lớn về xây dựng cầu đường và cơ sở hạ tầng của một đấtnước đang phát triển
Trang 40i Thi công điện nước Lĩnh vực này hiện do bộ phận HBE (Hoa Binh
Engineering) đảm nhiệm, HBE chuyên thi công điện nước bao gồmtoàn bộ hệ thống phân phối điện và hệ thống cấp thoát nước cho cáccông trình công nghiệp và dân dụng
J Kinh doanh địa ốc và khác: Lĩnh vục này do công ty HBH đảm
nhiệm đang triển khai các dự án
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Công tác hạch toán kế toán tại công ty được tổ chức theo hình thức kế toántập trung Mọi nghiệp vụ phát sinh đều được xử lý tại phòng kế toán tài vụ Đứng đầu bộ máy kế toán tại công ty là Giám đốc tài chính, đây là ngườitrực tiếp thực hiện chức năng quản lý tài chính, tổ chức thực hiện các chỉ tiêu
về tài chính – kế toán, tổ chức phổ biến và hướng dẫn các đơn vị trực thuộcthi hành kịp thời các qui định về tài chính – kế toán của Nhà nước và cấp trên.Quan hệ với ngân hàng, cơ quan thuế và các cơ quan hữu quan để thực hiệncông tác tài chính – kế toán theo qui định của pháp luật
Trưởng phòng kế toán tài vụ Chịu trách nhiệm chung về hiệu suất làm việccủa Phòng và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật về hệ thống tài chính –
kế toán tại Công ty
Phó phòng kế toán tài vụ là người Quản lý tài sản, tiền vốn, hàng hóa,kinh phí và các quỹ, tổng kết thu – chi tài chính, báo cáo quyết toán, kiểm trathường xuyên hoạt động kế toán của các bộ phận, nắm bắt tình hình hình kinhdoanh của Công ty từ đó lập kế hoạch tài chính và cung cấp thông tin cho các
bộ phận trong và ngoài Công ty Thực hiện phân phối lợi nhuận theo đúng quiđịnh của Nhà nước Là người tổ chức thanh toán mua bán hàng hóa nhanhchóng và thu hồi công nợ, tăng nhanh vòng quay vốn, tránh tình trạng vốn bịchiếm dụng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty Tổ chức bảoquản, lưu trữ các tài liệu kế toán, bảo mật các số liệu
Ngoài ra, bộ máy kế toán tại công ty còn chia các phần hành: Kế toánthanh toán, Kế toán tiền lương, Kế toán thuế tài sản cố định, thống kê chứngkhoán, Kế toán vật tư công nợ phải trả, Kế toán tiêu thụ công nợ phải thu Kếtoán vật tư công nợ phải trả Mỗi phần hành được giao cho một kế toán viênphụ trách các kế toán viên có trách nhiệm ghi chép đầy đủ, kịp thời cácnghiệp vụ kinh tế pháp sinh liên quan đến phần hành của mình phụ trách