Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại hàng hóaASEAN ATIGA, các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàntoàn hàng rào thuế quan đối với các nước ASEAN 6
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các nước thành viênASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều là những thực thể đa quốc gia
và quốc gia có vị trí, vai trò ngày càng lớn hơn trong sự phát triển chung củaĐông Nam Á và cả thế giới Chính do vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế
và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nên trong hơn thập niên vừa qua ASEAN
đã được thế giới đặc biệt quan tâm trong các chính sách hợp tác phát triển kinh
tế Thành tựu của quá trình hội nhập kinh tế của các nước Đông Nam Á(ASEAN) trong thời gian vừa qua đã được cả thế giới công nhận
Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại hàng hóaASEAN (ATIGA), các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàntoàn hàng rào thuế quan đối với các nước ASEAN 6 (năm nước sáng lập và Bru-nây), 99,2% số dòng thuế đã được xóa bỏ, trong khi 90,9% số dòng thuế của cácnước gia nhập sau là Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam (các nướcCLMV) đã được xóa bỏ tính tới năm 2017 Dự kiến, tới hết năm 2018, tỷ lệ xóa
bỏ thuế quan trong toàn ASEAN sẽ đạt 98,67% Ngoài tự do hóa thuế quan, cácnước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt độngthương mại của các doanh nghiệp (DN) như dự án thí điểm cơ chế tự chứng nhậnxuất xứ, cơ chế hải quan một cửa ; các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) vềtiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao-su, thực phẩm chế biến sẵn, dượcphẩm và thiết bị y tế
Về thương mại dịch vụ, tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những
ưu tiên quan trọng trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN Quá trình tự do hóa thươngmại dịch vụ giữa các nước ASEAN được thực hiện trong khuôn khổ của Hiệpđịnh khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), ký kết vào năm 1995 và tiếp tục đượcđàm phán nhằm tự do hóa dần dần thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN
Trang 2Về hợp tác ngoại khối, ASEAN đã ký kết và thực hiện sáu hiệp định thươngmại tự do (FTA) bao gồm: nội khối ASEAN (AFTA); và 5 FTA giữa ASEANvới các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Ấn Ðộ, Úc và Niu Di-lân.
Trong tương lai, nếu như ASEAN ngày càng phát triển trở thành một cộngđồng kinh tế lớn mạnh thì không thể không kể đến Việt Nam cùng với nhữngthách thức và cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế với các nước Đông Nam Á.Trong bối cảnh chung đó, dưới đây, chúng ta sẽ xem xét riêng vị thế của ViệtNam trong tiến trình hội nhập với các nước Đông Nam Á cùng những chi phí vàlợi ích đối với nước ta trong tiến trình đó
2 Mục đích của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, nêuthực trạng hội nhập kinh tế Đông Nam Á hiện nay, sau đó đưa ra các đánh giá vềlợi ích và chi phí của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế ASEAN, cuốicùng đề ra giải pháp cần thiết để cải thiện thực trạng này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việt Nam và các nước Đông Nam Á
- Phạm vi nghiên cứu: Hội nhập kinh tế Việt Nam và Đông Nam Á
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá chi phí – lợi ích,…
5 Kết cấu của đề tài
Trang 3CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ ĐÔNG NAM Á HIỆN
NAY
1 Các thỏa thuận, hiệp định kinh tế khu vực Đông Nam Á:
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào cuối năm 2015 cùngcác thoả thuận kinh tế khác được đánh giá là một bước ngoặt đánh dấu sự hòanhập toàn diện của các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á
1.1 Thương mại hàng hóa:
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) đóng vai trò quan trọngtrong các quyết định liên quan đến lĩnh vực thương mại hàng hóa của các nướcĐông Nam Á Hiệp định được ký kết ngày 26/02/2009, chính thức có hiệu lực từngày 17/5/2010 khi Thái Lan, nước thành viên cuối cùng của ASEAN nộp vănkiện phê chuẩn Hiệp định ATIGA cho ban Thư ký ASEAN
ATIGA điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xâydựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTAcùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan Nguyên tắc xây dựng cam kếttrong ATIGA là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đươnghoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuậnthương mại tự do (FTA) mà ASEAN là một bên của thỏa thuận Hiệp định baogồm các nội dung chính như:
Xóa bỏ hàng rào thuế quan:
Đối với hiệp định AFIGA, đến năm 2015, cơ bản các mặt hàng sẽ được xóa bỏthuế quan trong khuôn khổ này và 7% tổng số dòng thuế được linh hoạt đến năm
2018 Cụ thể, đối với ASEAN 6 (gồm Bru-nei, In-đô-nê-si-a, Ma-lai-si-a, Philipine,Sin-ga-po và Thái Lan) vào năm 2010, với các nước CLMV (Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma, Việt Nam) vào năm 2015 và một số linh hoạt đến 2018 (khoảng 7% tổng số
Trang 4của Việt Nam như mía đường… được phép duy trì mức thuế suất 5% sau giai đoạn 2018.
Xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch…:
Về các biện pháp phi thuế quan, được quy định tại Chương 4, theo đó cácnước còn áp dụng hạn ngạch thuế quan sẽ dỡ bỏ TRQ (hạn ngạch thuế quan) theo
ba gói thống nhất với Chương trình làm việc về xoá bỏ hàng rào phi thuế quan.Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ hàng rào phi thuế quan theo ba gói vớithời gian quy định cụ thể tại Điều 42 của Hiệp định: Brunei, Indonesia, Malaysia,Singapore, Thái lan sẽ xoá bỏ lần lượt vào các năm 2008, 2009 và 2010;Philippines xoá bỏ lần lượt vào các năm 2010, 2011, 2012; các nước CLMV xoá
bỏ lần lượt vào các năm 2013, 2014, 2015, có linh hoạt tới năm 2018
Về quy tắc xuất xứ, ATIGA kế thừa toàn bộ Bộ quy tắc xuất xứ đã được sửađổi và quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Hiệp địnhCEPT/AFTA, ngoài tiêu chí xuất xứ thuần tuý, cộng gộp với 40% hàm lượng khuvực đã được quy định như trước đây, các quy định về chuyển đổi mã số thuế, quytắc xuất xứ cụ thể (PSR) được quy định linh hoạt hơn nhằm bảo đảm thực hiệnnguyên tắc cam kết nội khối phải tương đương hoặc thuận lợi hơn so với cam kếtdành cho các nước đối tác trong các khu vực mậu dịch tự do ASEAN cộng
Xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN trongbối cảnh xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
ATIGA còn là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộthương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp cáccam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư
có liên quan Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEANphải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dànhcho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà ASEAN
là một bên của thỏa thuận
Trang 5Hiệp định ATIGA là thành tựu to lớn, góp phần thiết lập thị trường và cơ sởsản xuất đồng nhất để xây dựng AEC vào năm 2015 cũng như góp phần thúc đẩythương mại nội khối thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục, giảm bớt thời gian
và chi phí kinh doanh, từ đó làm tăng lợi nhuận cho khối doanh nghiệp và đôngđảo người tiêu dùng Tuy nhiên viêc gỡ bỏ hàng rào thuế quan càng đến gần,hàng rào kỹ thuật càng trở nên đa dạng, phức tạp hơn đối với các doanh nghiệp vàhàng xuất khẩu Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nước cần có sự chuẩn bịchu đáo nhằm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu có mức giá ngày càng giảm
1.2 Thương mại dịch vụ:
Tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên quan trọng trongcộng đồng kinh tế ASEAN Quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ giữa cácnước ASEAN được thực hiện trong khuôn khổ của Hiệp định khung ASEAN vềdịch vụ (AFAS), ký kết vào năm 1995 và tiếp tục được đàm phán nhằm tự do hóadần dần thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN Mục đích của Hiệp định làthúc đẩy hợp tác trong nội bộ khu vực ASEAN, hướng tới các mục tiêu:
Xóa bỏ rào cản thương mại
Đẩy mạnh hợp tác đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ
Đến nay, các nước ASEAN đã ký gần 10 gói cam kết về thương mại dịch vụ.Các cam kết về tự do hóa thương mại bao gồm nhiều lĩnh vực như: xây dựng, môitrường, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, phân phối hàng hóa, giáo dục,vận tải biển, viễn thông và du lịch Các cam kết trong AFAS đều có phạm vi rộng vàmức độ tự do hóa sâu hơn so với cam kết trong khuôn khổ WTO Nhằm mục đíchthúc đẩy hợp tác dịch vụ giữa các nước thành viên ASEAN, nâng cao hiệu quảvà sứccạnh tranh của khối, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) đã và đang đượcthực thi với cam kết mở cửa hoàn toàn đối với 128 phân ngành
1.3 Đầu tư:
Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area – gọi tắt là AIA) đượchiểu là khu vực đầu tư giữa các nước ASEAN, mà tại đó các quốc gia thành viên
Trang 6thu hút đầu tư trong và ngoài khối, tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triểnnăng động của ASEAN.
Đến năm 1996, thêm một văn bản nữa của ASEAN đã được kí kết nhằm tạo
đà cho những bước khởi sự của quá trình tự do hóa đầu tư nước ngoài là Côngước về Khu vực đầu tư ASEAN nhằm tăng cường niềm tin đầu tư vào khu vựcASEAN của các nhà đầu tư Trong tuyên bố chung cuộc họp Thượng đỉnh khôngchính thức của ASEAN về tình hình tài chính ngày 15/12/1997, các nhà lãnh đạocác nước thành viên ASEAN đã khẳng định cam kết tiếp tục duy trì việc mở cửathương mại và môi trường đầu tư trong ASEAN, kể cả việc đẩy nhanh tiến độthực hiện AFTA, AIA và Cơ chế hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
Khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ký kết và triển khai thực hiện nhiều vănbản quan trọng về đầu tư với nội dung mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà đầu
tư nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, thực hiện các biện pháp tự dohóa và thuận lợi hóa đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tiến tới dành cho cácnhà đầu tư nước ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia Cụ thể một số văn kiện cũng nhưchương trình mà nước ta đã tham gia tích cực trong thời gian khác như:
Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) và 10 danh mục các biện pháp hạn chế đầu tư của các nước thành viên ASEAN
Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN
Hiệp định ASEAN năm 1987 về khuyến khích và bảo hộ đầu tư và Nghị định thư năm 1996 bổ sung Hiêp định này
Hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và việc thựchiện Chương trình Hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
Hiệp định đầu tư ASEAN – Trung Quốc
Hiệp định đầu tư ASEAN – Hàn Quốc
Mô hình cắt giảm/ xóa bỏ các hạn chế đầu tư trong ASEAN
Khu vực đầu tư ASEAN (AIA)
Ngoài ra nước ta còn thực hiện một số cam kết có liên quan đến hoạt động đầu tư như: Cam kết về sở hữu trí tuệ dựa trên Hiêp định TRIPS và các công ước
Trang 7của WIPO, theo đó ta sẽ phải tôn trọng và thực hiện bảo hộ các quyền vè bảnquyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, thiết kế, kiểu dáng côngnghiệp, giống vật nuôi, cây trồng; Cam kết về công khai hóa với nội dung nước taphải công khai hóa các chính sách, luật lê, quy định về chế độ thương mại, thủtục hành chính có liên quan và bảo đảm cho mọi người có thể tiếp cận thuận lợi
và rõ rang các thông tin đó
2 Cơ hội, thách thức đối với Việt Nam trong hội nhập Đông Nam Á:
ASEAN cũng là sân chơi đầu tiên để Việt Nam nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, tạo chuyển biến tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, luật lệ và thủ tục trong nước cho phù hợp hơn với tiêu chuẩn quốc tế Có thể nói,
nếu không có thành công từ Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA) và cáchiệp định Thương mại tự do giữa ASEAN với các Đối tác, thì rất khó có thể cómột Việt Nam chủ động, tự tin tham gia các sân chơi lớn hơn như TPP, RCEP vàmột loạt các FTA lớn với EU, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu… Qua đó,chúng ta đã mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ,kinh nghiệm quản lý hiện đại phục vụ cho phát triển đất nước Điều đáng chú ý làsuốt 20 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN
Trang 8và Việt Nam luôn ổn định và cao hơn tốc độ trung bình của thế thế giới khoảng 2điểm phần trăm, kể cả trong những giai đoạn khủng hoảng.
Bên cạnh đó, tham gia ASEAN cũng giúp Việt Nam nâng cao khả năng xử lý các vấn đề xuyên quốc gia như môi trường, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu; đào tạo và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ ngoại giao đa phương ở những diễn đàn toàn cầu Nếu không có chặng đường “mài giũa” kinh nghiệm trong
ASEAN, Việt Nam sẽ khó có thể đạt những thành công trên cương vị thành viênkhông thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009), nướcchủ nhà của các Hội nghị Cấp cao ASEM-5 năm 2004, Hội nghị Cấp cao APEC
2006, Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 132 (2015)…
Đặc biệt, vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong ASEAN là chất xúc tác góp phần nâng cao giá trị chiến lược của Việt Nam, tăng cường quan hệ
song phương của chúng ta với các đối tác ngoài ASEAN, nhất là các nước lớn.Chặng đường 20 năm gia nhập ASEAN cũng song hành với những thành côngtrong việc thể chế hóa khuôn khổ quan hệ với các nước lớn và các nước chủ chốt
ở khu vực Đến nay, chúng ta đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng quan hệ Đốitác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn, nhất là 5 nước thànhviên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Chúng ta đã định vị vai trò củaViệt Nam trong Cộng đồng ASEAN
2.2 Thách thức:
Những thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập Đông Nam Áđược thể hiện rõ rệt Việt Nam vẫn còn phải thay đổi tiến bộ nhiều hơn nếu muốnquá trình hội nhập đạt được kết quả tốt nhất
Trước hết, ta cần nâng cao nhận thức về Cộng đồng ASEAN và tầm quan trọng chiến lược của việc Việt Nam tham gia hợp tác ASEAN là yêu cầu bắt buộc Thực trạng có đến 70% doanh nghiệp Việt Nam được khảo sát vẫn rất “mù mờ” về Cộng
đồng Kinh tế ASEAN là điều đáng quan ngại Do đó, tăng cường công tác thông tintuyên truyền, phổ biến kiến thức về những cơ hội và thách thức từ việc tham giaCộng đồng ASEAN không chỉ là việc riêng của các cơ quan Nhà
Trang 9nước, mà cũng là nghĩa vụ và lợi ích sát sườn của mỗi doanh nghiệp, thậm chímỗi người dân Sức nóng của việc hình thành Cộng đồng ASEAN nói riêng vàthực thi các cam kết quốc tế nói chung đòi hỏi tất cả các Bộ, ban ngành Trungương, các địa phương cũng như doanh nghiệp và người dân cùng nhau vào cuộc.
Hai là, trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện, Việt Nam chưa thể chủ động phát huy vai trò nòng cốt, đi đầu trong ASEAN trong các lĩnh vực ta có lợi ích và thế mạnh, bằng việc chủ động đề xuất các sáng kiến, dự án hợp tác cụ thể.
Để làm được điều đó, chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược vềnhững vấn đề liên quan đến ASEAN cũng như đội ngũ cán bộ đối ngoại đaphương và chuyên gia về ASEAN cần được đầu tư nhiều hơn nữa
Ba là, ASEAN và Việt Nam đang đứng trước yêu cầu thích ứng, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới Bên cạnh việc kiên trì các nguyên tắc đã làm nên
nền tảng và bản sắc của Hiệp hội, sự linh hoạt về biện pháp, cách làm sẽ giúp làmtăng điểm đồng, hạn chế và thu hẹp sự khác biệt giữa các nước thành viên cũngnhư giữa ASEAN và các đối tác
Cuối cùng, thành bại của việc tham gia ASEAN nói riêng cũng như hội nhậpquốc tế nói chung nằm ở chỗ có chiến lược, lộ trình và bước đi bài bản 20 nămqua, việc tham gia ASEAN đã tạo đà để con tàu Việt Nam tiến ra biển lớn Trongthời gian tới, với kim chỉ nam là Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhậpquốc tế và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ban, ngành, địa phương cả nước cũngnhư sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tụcphát huy vai trò tích cực của mình, tiếp tục đồng hành cùng ASEAN vì mục tiêuxây dựng một Cộng đồng ASEAN gắn kết và có vai trò quan trọng đối với hòabình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới
Trang 10CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
ĐÔNG NAM Á ĐẾN VIỆT NAM
1 Thương mại:
1.1 Hoạt động xuất khẩu:
1.1.1 Thực trạng việc xuất khẩu của Việt Nam sau gia nhập AFTA: 1.1.1.1 Tác động đến kim ngạch xuất khẩu:
Trước khi gia nhập AFTA
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu từ năm 1991 – 1995
Xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng (%)
Data from database: World Development Indicators
Sau khi gia nhập AFTA
Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu từ năm 1996 – 2011
Xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng (%)
Trang 11cả nước Tốc độ tăng xuất khẩu ngày càng cao, nhất là vào năm 1994: 35.8%.Sau khi gia nhập AFTA: Xuất khẩu thực sự khởi sắc biểu hiện: Kim ngạchxuất khẩu ngày càng tăng và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế củađất nước: đạt 72236.7 triệu USD, 77.9% GDP vào năm 2010 Tuy nhiên, tốc độtăng xuất khẩu biến động với biên độ lớn qua các năm và không đạt được con sốcao như giai đoạn trước Tốc độ tăng cao nhất là vào năm 2011, đạt 34.1% thấphơn năm con số 35.8% năm 1994 Tốc độ tăng bị giảm đột biến vào các năm
1998, 2001 và đặc biệt âm vào năm 2009
Nguyên nhân:
Việc Việt Nam tham gia vào AFTA đã làm tăng sức cạnh tranh của hànghóa Việt Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và các hàng rào phithuế quan, gián tiếp làm tăng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường ngoàiASEAN do nhập khẩu được đầu vào cho sản xuất xuất khẩu với giá rẻ hơn từ cácnước ASEAN Do đó, kim ngạch xuất khẩu tăng
Khi gia nhập AFTA đồng nghĩa với việc thị trường Việt Nam ngày càng gắnkết chặt chẽ và phụ thuộc hơn vào thị trường nước ngoài, dẫn đến những biếnđộng của tình hình kinh tế khu vực và trên thế giới đã có tác động lớn đến kinh tếnói chung và hoạt động động xuất nói riêng của Việt Nam
Trang 121.1.1.2 Tác động đến xuất khẩu trong và ngoài khối AFTA:
Trước khi gia nhập AFTA
Bảng 3 Kim ngạch xuất khẩu trong và ngoài khối AFTA năm 1995
Nguồn: Tổng cục thống kê
Sau khi gia nhập AFTA
Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu trong và ngoài khối AFTA 1996 – 2011
Trong khối AFTA
Trước khi gia nhập
12
Trang 13Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN trong tổng kimngạch xuất khẩu vẫn còn khiêm tốn với 13.7% vào năm 1995 Việt Nam xuấtkhẩu phần lớn là sang Singapore: thị trường này chiếm 66.4% giá trị xuất khẩusang ASEAN giai đoạn 1991 – 1995 Đây là thị trường tạm nhập tái xuất, do đókhi nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế, buôn bán quatrung gian sẽ giảm, khi đó giá trị xuất khẩu sang Singapore sẽ giảm và ảnh hưởngtới kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN.
Các mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN giai đoạn này còn đơn điệu, chủ yếu
là nguyên liệu thô và nông sản
Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN giai đoạn 1991 – 1995 đãtăng trưởng lớn trong điều kiện hàng rào thương mại vẫn chưa được bãi bỏ
Sau khi gia nhập
Về kim ngạch xuất khẩu: Tỷ trọng xuất khẩu sang khối AFTA tăng lên trongvài năm đầu, sau đó biến động không nhiều nhưng có xu hướng giảm dần trongnhững năm gần đây, từ 22.8% năm 1996 xuống còn 14.0% năm 2011 Tuy nhiênkhối AFTA vẫn luôn giữ vị trí top đầu trong bảng xếp hạng quan hệ thương mạivới Việt Nam => Tốc độ tăng trưởng bấp bênh cho thấy một nền tảng khôngchắc chắn trong quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN
Về cơ cấu xuất khẩu: Hàng xuất khẩu sang ASEAN chủ yếu là hàng thô haymới sơ chế, hàng đã tinh chế chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 1/3 giá trị xuất khẩu.Bảng 5 Cơ cấu xuất khẩu Việt Nam vào ASEAN theo chuẩn SITC(%)
Hàng đã chế biến hay tinh chế 32.4 33.7 33.5
Nguồn: Vụ kế hoạch, Bộ Công thương
Về cơ cấu xuất khẩu theo thị trường có sự biến đổi lớn: tỷ trọng kim ngạchxuất khẩu với Singapore đã giảm mạnh từ 26% năm 1995 xuống còn 13.7% năm
2012, thay vào đó là một số thị trường mới nổi như: Malaysia (26.3%), Campuchia(16.6%), Thái Lan (15.3%),…
Trang 14Thái LanHình 1 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN 1995
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 2 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ASEAN 2012 Nguồn:
Tổng cục Hải quan
Nguyên nhân
Trước đó mức thuế suất nhập khẩu của Singapore gần như đã bằng 0%;trong khi thuế suất nhập khẩu của các thành viên khác lại được cắt giảm theo camkết CEPT dẫn đến việc tăng tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường cácnước này và giảm tỷ trọng xuất khẩu sang Singapore
Việt Nam xuất khẩu dầu mỏ rất lớn sang Singapore và mặt hàng này đã bịgiảm sản lượng xuất khẩu do hạn ngạch xuất khẩu dầu mỏ Các mặt hàng linhkiện, điện từ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu và Malaysia lại
là đất nước tiềm năng về mặt hàng này
Ngoài khối AFTA
Trước khi gia nhập
Trang 15Bảng 6 Tỷ trọng xuất khẩu sang một số thị trường chủ yếu 1995 (%)
Sau khi gia nhập
Bảng 7 Tỷ trọng xuất khẩu sang một số thị trường chủ yếu 2010 (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhận xét: Cơ cấu xuất khẩu theo thị trường đã có sự thay đổi khá lớn:
EU vẫn là một trong những thị trường quan trọng hàng đầu của Việt Nam,biến động tăng giảm kim ngạch xuất khẩu qua các năm là không đáng kể
Xuất khẩu sang Mỹ có xu hướng tăng, đặc biệt là trong những năm gầnđây, trở thành thị trường dẫn đầu trong xuất khẩu của Việt Nam
Xuất khẩu sang Nhật dù vẫn chiếm tỷ trọng cao nhưng mất vị trí dẫn đầu Xuất khẩu sang Trung Quốc có xu hướng tăng dần, Trung Quốc ngày càngtrở thành đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam
Vì sao AFTA chưa ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam? Thứ nhất: cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và phần lớn các
nước ASEAN tương đối giống nhau, mặt hàng kém đa dạng, trùng lặp, bao gồmhàng dệt may, dầu thô, gạo, giày dép, thủy sản, cà phê, gỗ, gạo, cao su…,vì vậy
có thể gây ra sự cạnh tranh nội bộ khu vực trong việc tìm kiếm thị trường và côngnghệ cũng như thu hút đầu tư ở những mức độ khác nhau Duy có Singapore vớitrình độ phát triển kinh tế vượt trội, có cơ cấu kinh tế bổ sung cho Việt Nam; tuynhiên, thị trường này lại quá nhỏ hẹp cho các mặt hàng có lợi thế so sánh của ViệtNam là nông – lâm – thủy sản và công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động như dệtmay, da giầy,
Trang 16Thứ hai: bất lợi thế cho xuất khẩu Việt Nam đã nảy sinh ngay trong các quyđịnh mặt hàng giảm thuế theo CEPT Các mặt hàng Việt Nam đã và đang xuấtkhẩu nhiều sang các nước ASEAN bao gồm dầu thô, gạo, cao su, thủy sản, gỗ,than, da thuộc,…,rất nhiều được xếp vào hàng nhạy cảm và nhạy cảm cao để làmchậm quá trình giảm thuế Do đó trong ngắn hạn, tác động của cắt giảm thuế ởASEAN theo CEPT đối với xuất khẩu của Việt Nam là không lớn.
Thứ ba: xét về bạn hàng, hơn 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam vớiASEAN được thực hiện với Singapore nhưng ở nước này, hệ thống thuế xuất nhậpkhẩu trước AFTA vốn gần như bằng 0% Do vậy khi thực hiện CEPT trên toàn khốiASEAN, 1/3 kim ngạch xuất nhập khẩu còn lại của Việt Nam với các nước ASEANkhác sẽ chưa làm thay đổi nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam Hơn nữa, Singapore làcảng trung chuyển tự do với hệ thống thuế xuất nhập khẩu thấp
Tóm lại: CEPT chưa làm thay đổi cục diện xuất khẩu của Việt Nam sangASEAN Chỉ khi nào Việt Nam tạo được sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuấtkhẩu theo hướng tạo ra được nhiều chủng loại hàng hóa có sức cạnh tranh và nằmtrong danh mục cắt giảm của CEPT, các doanh nghiệp Việt Nam mới có thêmthuận lợi về yếu tố giá cả khi muốn xuất khẩu sang ASEAN
1.1.2 Đánh giá tác động của việc gia nhập AFTA tới xuất khẩu:
1.1.2.1 Tích cực:
- Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh
- Cơ cấu thị trường xuất khẩu mở rộng, giảm bớt sự lệ thuộc vào châu Á
- Cơ cấu xuất khẩu có những chuyển biến tích cực
1.1.2.2 Tiêu cực:
- Hoạt động xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế các nước nhậpkhẩu nói riêng và thế giới nói chung nên biến động tăng giảm thất thường,tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững
- Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với các nước trong AFTA trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ
1.2 Hoạt động nhập khẩu:
Trang 171.2.1 Thực trạng việc nhập khẩu của Việt Nam sau gia nhập AFTA: 1.2.1.1 Về kim ngạch nhập khẩu:
Trước khi gia nhập AFTA
Bảng 8 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1990 – 1995
Kim ngạch nhập khẩu (%GDP) 36.0 38.8 37.5 43.5 41.9Kim ngạch nhập khẩu (triệu USD) 2338.1 2540.7 3294.0 5825.8 8155.4
Data from database: World Development Indicators
Sau khi gia nhập AFTA
Bảng 9 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2010
Năm Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa
và dịch vụ (theo %GDP) và dịch vụ (triệu USD)