1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận phân tích chi phí lợi ích ngành công nghiệp việt nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4 0

40 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 99,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử vàInternet, tạo nên một thế giới kết nối.. Trên lĩnh vực

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Theo vòng quay của thời gian và lịch sử, con người từng bước tiến

từ xã hội nguyên thủy, qua chiếm hữu nô lệ, đến phong kiến, rồi tư bảnchủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Dù trong thời đại nào, việc phát triển kinh

tế vẫn luôn luôn là vấn đề để giữ cho xã hội ấy được phát triển Tuy nhiên,chỉ đến khi cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên diễn ra, thế giới mới bắtđầu cảm thấy những bước chuyển mình đầy mạnh mẽ , đánh dấu bướcngoặt kinh tế lớn chưa từng có, thay đổi những thứ cũ kĩ, lạc hậu, tiếpnhận và phát triển những công nghệ mới Mỗi một cuộc cách mạng côngnghiệp, đều mang đến nhũng thay đổi cho ngành công nghiệp toàn thế giớinói chung và Việt Nam nói riêng

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng không ngoại lệ Là một cơhội cho ngành công nghiệp Việt Nam có thể vươn mình, nhưng đồng thờicũng mang lại những thách thức không hề nhỏ

Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự độnghóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Nó bao gồm các hệ thốngkhông gian mạng thực-ảo (cyber-physical system), Internet Vạn Vật vàđiện toán đám mây và điện toán nhận thức (cognitive computing)

Công nghiệp 4.0 tạo ra nhà máy thông minh (smart factory) Trong các nhàmáy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám sát cácquy trình thực tế, tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra cácquyết định phân tán Qua Internet Vạn Vật, các hệ thống thực-ảo giao tiếp

và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực, và với sự hỗ trợcủa Internet Dịch vụ, dịch vụ nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được cungcấp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sử dụng

Trang 2

Có thể không mới, có thể ai cũng đã từng nghe về nó, nhưng thực tế

nó ra sao? Giá trị của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này, đối với ngànhcông nghiệp Việt Nam như thế nào? Trên cơ sở đó chúng em đã chọn đềtài “Ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng côngnghiệp 4.0 ” để làm tiểu luận cho môn học Phân tích chi phí lợi ích Trongquá trình thực hiện bài tiểu luận này do thời gian và nguồn tư liệu khôngnhiều nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế Chúng em rất mongnhận được những góp ý của cô giáo để bài tiểu luận hoàn thiện hơn!

Trang 3

Chương 1 Cơ sở lý luận

1.1 Sơ lược về cách mạng công nghiệp 4.0

Để đánh giá được sự ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 tâcđộng tới ngành công nghiệp như thế nào, chắc chắn ta cần tìm hiểu sơ qua

về cách mạng công nghiệp và cách mạng công nghiệp 4.0

Nói đến cách mạng công nghiệp là nói đến sự thay đổi lớn lao mà nómang lại trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, và xã hội Nhìn lại lịch sử,con người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn Mỗicuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và

sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ

Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới được bắt đầu ởnước Anh vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, mở đầu với sự cơ giới hóangành dệt may Sau đó là sự phát triển của ngành luyện kim, giao thôngvận tải, bắt nguồn từ động cơ hơi nước

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai lại được khởi xướng từ cuối thế

kỷ 19, kéo dài đến đầu thế kỷ 20 Một trong những đặc điểm đáng lưu ýtrong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụngnguyên lý quản trị của F.W.Taylor Tiếp theo đó là hàng loạt các phátminh về tự động hóa, và cuộc tìm kiếm những nguồn năng lượng mới thaythế

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với

sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử vàInternet, tạo nên một thế giới kết nối Có thể nói rất nhiều phát minh ra đời

từ cuộc cách mạng công nghiệp này đã mang lại thế giới hiện nay

Vậy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có gì?

Theo Gartner, Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Côngnghiệp lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáocủa chính phủ Đức năm 2013 "Industrie 4.0" kết nối các hệ thống nhúng

Trang 4

và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Côngnghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong.

Nếu định nghĩa từ Gartner còn khó hiểu, Klaus Schwab, người sánglập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới mang đến cái nhìnđơn giản hơn về Cách mạng Công nghiệp 4.0 như sau:

"Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơinước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụngđiện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử vàcông nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Bây giờ, cuộc Cách mạngCông nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp cáccông nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinhhọc"

Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của Cách mạng Côngnghiệp 4.0 hiện "không có tiền lệ lịch sử" Khi so sánh với các cuộc cáchmạng công nghiệp trước đây, 4.0 đang tiến triển theo một hàm số mũ chứkhông phải là tốc độ tuyến tính Hơn nữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngànhcông nghiệp ở mọi quốc gia Và chiều rộng và chiều sâu của những thayđổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý vàquản trị

Nối tiếp từ định nghĩa của Klaus Schwab, Cách mạng Công nghiệp4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số

và Vật lý

Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệnhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (BigData)

Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tậptrung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp,Thủy sản, Y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng táitạo, hóa học và vật liệu

Trang 5

Cuối cùng là lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tựlái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ trênnhiều lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo mang lại nhiềuứng dụng trong xã hội Nhờ công nghệ AI, người máy làm việc càng thôngminh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả năng đó ở conngười càng già càng yếu đi

Trong lĩnh vực Giao thông, thế hệ xe không người lái sẽ phát triểnnhờ đảm bảo an toàn cao gấp nhiều lần vì không có tình trạng say rượu bia,vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu

Hồi tháng 8/2016, người đàn ông Mỹ đang sử dụng xe tự lái củaTesla thì có triệu chứng đau tức ngực Ông đã kịp thời liên hệ với vợ để gọitới bệnh viện báo cho bác sĩ chờ đón sẵn rồi ra lệnh cho xe di chuyển tớibệnh viện Các bác sĩ đã cấp cứu kịp thời, cứu sống người đàn ông này

Trong lĩnh vực Y tế, cỗ máy IBM Watson có biệt danh “Bác sĩ biếttuốt” có thể lướt duyệt cùng lúc hàng triệu hồ sơ bệnh án để cung cấp chocác bác sĩ những lựa chọn điều trị dựa trên bằng chứng chỉ trong vòng vàigiây nhờ khả năng tổng hợp dữ liệu khổng lồ và tốc độ xử lý mạnh mẽ

“Bác sĩ biết tuốt” này còn cho phép con người tra thông tin về tình hình sứckhỏe của mình Các bác sĩ chỉ cần nhập dữ liệu người bệnh để được phântích, so sánh với kho dữ liệu khổng lồ có sẵn và đưa ra gợi ý hướng điều trịchính xác

Trong lĩnh vực Giáo dục, công nghệ thực tế ảo sẽ thay đổi cách dạy

và học Sinh viên có thể đeo kính VR và có cảm giác như đang ngồi tronglớp nghe bài giảng, hay nhập vai để chứng kiến những trận đánh giả lập,ngắm nhìn di tích, mang lại cảm xúc và sự ghi nhớ sâu sắc, giúp bài họcthấm thía hơn Hoặc khi đào tạo nghề phi công, học viên đeo kính và thấyphía trước là cabin và học lái máy bay như thật để thực hành giúp giảm

Trang 6

thiểu rủi ro trong quá trình bay thật Trong tương lai, số lượng giáo viên ảo

có thể nhiều hơn giáo viên thực rất nhiều

1.2 Tổng quan về tình hình ngành công nghiệp Việt Nam

1.2.1 Ngành công nghiệp Việt Nam trước khi ứng dụng cách mạng

công nghiệp 4.0

Trong mười năm 2001-2010, nhất là trong những năm 2008-2010,sản xuất công nghiệp nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảngtài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thu hẹp đáng kể thị trường xuấtkhẩu hàng công nghiệp; sau đó là sự tăng giá của hầu hết các loại nguyênvật liệu của ngành công nghiệp mà nước ta phải nhập khẩu khối lượngtương đối lớn như sắt thép, hóa chất cơ bản, bông sợi và phụ liệu dệt may làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp chế biến

Mặc dù gặp khó khăn, thách thức nhưng sản xuất công nghiệp vẫnduy trì được tốc độ tăng trưởng khá với tốc độ tăng hàng năm 2 chữ số (trừnăm 2009 tăng 7,6%) Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994)năm 2010 ước tính đạt 795,1 nghìn tỷ đồng, gấp 4,0 lần năm 2000 Tính ra,trong mười năm 2001-2010 bình quân mỗi năm tăng 14,9%, trong đó khuvực Nhà nước gấp 2,1 lần, bình quân mỗi năm tăng 7,8%; khu vực ngoàiNhà nước gấp 6,5 lần, bình quân mỗi năm tăng 20,5%; khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài gấp 4,7 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,7% So với mườinăm 1991-2000 thì tốc độ tăng của ngành công nghiệp mười năm 2001-

2010 đã cao hơn 1,1 điểm phần trăm

Nếu xem xét động thái và thực trạng sản xuất công nghiệp mười năm2001-2010 theo 3 ngành cấp I: Công nghiệp khai khoáng; Công nghiệp chếbiến, chế tạo; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước thìdiễn biến tình hình của từng ngành như sau:

Công nghiệp khai khoáng bao gồm 4 ngành: khai thác than; khai thácdầu thô và khí tự nhiên; khai thác quặng kim loại; khai thác đá và khai thác

Trang 7

mỏ khác Khai thác dầu thô, chiếm tỷ trọng lớn, nhưng trong 10 năm vừaqua lượng khai thác chỉ tăng trong những năm đầu, sau đó giảm dần dođiều kiện khai thác ngày càng khó khăn, do chủ trương của Nhà nước hạnchế dần khai thác tài nguyên thiên nhiên cho mục tiêu phát triển bền vững.Sản lượng dầu thô khai thác năm 2001 và năm 2002 mỗi năm 16,8 triệutấn, tăng lên 17,7 triệu tấn năm 2003; 20,0 triệu tấn năm 2004; sau đó giảmxuống 18,5 triệu tấn năm 2005; 16,8 triệu tấn năm 2006; 15,9 triệu tấn năm2007; 14,9 triệu tấn năm 2008; 16,3 triệu tấn năm 2009 và chỉ còn 14,9triệu tấn năm 2010 Tuy nhiên, do khai thác than, khai thác khí tự nhiên vàkhai thác các loại khoáng sản khác tương đối ổn định nên tỷ trọng giá trịsản xuất công nghiệp khai khoáng chiếm trong giá trị tổng sản lượng toànngành công nghiệp theo giá thực tế giảm không nhiều, từ tỷ trọng 13,2%năm 2001 xuống 11,2% năm 2005 và 9,2% năm 2010 Giá trị sản xuất theogiá so sánh năm 1994 của công nghiệp khai khoáng năm 2010 vẫn tăng42,3% so với năm 2000, bình quân mỗi năm trong mười năm 2001-2010tăng 3,6%.

Công nghiệp chế biến, chế tạo, bao gồm 24 ngành cấp II, nhưng sảnxuất chế biến thực phẩm và sản xuất đồ uống chiếm tỷ trọng cao nhất vớitrên 20% giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến, chế tạo Một số ngànhtương đối lớn khác, mỗi ngành chiếm tỷ trọng trên dưới 5% là sản xuất hóachất và các sản phẩm hóa chất, sản xuất sản phẩm bằng kim loại (trừ máymóc thiết bị), sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, sản xuất sảnphẩm dệt may, sản xuất và sửa chữa phương tiện vận tải Trong mười năm2001-2010 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển tương đối caovới tốc độ bình quân mỗi 47 năm tăng 16,2% Giá trị sản xuất công nghiệpchế biến, chế tạo năm 2010 theo giá so sánh 1994 đã gấp 4,5 lần năm 2000

và tỷ trọng chiếm trong giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp theo

Trang 8

giá thực tế tăng từ 81,2% năm 2001 lên 83,2% năm 2005 và 85,7% năm

2009

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, bao gồm 2ngành cấp II là sản xuất và phân phối điện, ga; sản xuất và phân phối nướcvới sản phẩm chủ yếu là điện và nước máy Đây là những sản phẩm có nhucầu lớn và ưu tiên đầu tư nên trong những năm vừa qua duy trì được tốc độphát triển tương đối ổn định Sản lượng điện phát ra đã tăng từ 26,7 tỷ kwhnăm 2000 lên 52,1 tỷ kwh năm 2005 và 91,6 tỷ kwh năm 2010 Sản lượngnước máy cũng tăng từ 780,2 triệu m3 năm 2000 lên 1180,4 triệu m3 năm

2005 và 1812,4 triệu m3 năm 2010 Tính chung, giá trị sản xuất côngnghiệp theo giá so sánh năm 1994 của ngành công nghiệp sản xuất và phânphối điện, khí đốt và nước năm 2010 gấp trên 3,4 lần năm 2000, bình quânmỗi năm trong mười năm 2001-2010 tăng 13,1% Do tăng trưởng ổn địnhnên tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp này trong tổng giá trịsản xuất của toàn ngành công nghiệp theo giá thực tế những năm vừa quavẫn chiếm trên dưới 5% (năm 2001 chiếm 5,7%; 2005 chiếm 5,6%; 2010chiếm 6,6%)

Ngoài những thành tựu đạt được nêu trên, Ngành công nghiệp ViệtNam lúc đó vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế:

Sản xuất công nghiệp nhìn chung vẫn phân tán, quá trình tích tụtrong sản xuất diễn biến chậm chạp Chủ trương xây dựng một số tập đoàncông nghiệp nhưng định hướng hoạt động không rõ ràng, đầu tư dàn trảisang cả những lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bấtđộng sản ngoài khả năng về vốn, công nghệ và trình độ quản trị nên mức

độ thành công không cao Việc hình thành các khu công nghiệp kết quảcũng hạn chế Tại thời điểm 1/7/2007 cả nước có 550 khu công nghiệp vớitổng diện tích đất quy hoạch 88,1 nghìn ha nhưng hệ số lấp đầy mới đạt32,5 %

Trang 9

Sản xuất công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêngchủ yếu vẫn sử dụng công nghệ thấp Tỷ trọng công nghệ cao mới chiếm19,2%; công nghệ trung bình 26,8%; công nghệ thấp chiếm tới 54,0%.Công nghiệp phụ trợ chưa được quan tâm đầu tư thích đáng nên phát triểnrất chậm Một số sản phẩm cơ khí, dệt may, giầy da, đồ điện dân dụng tỷ lệnội địa hóa thấp, chủ yếu là tham gia khâu chế tạo phần vỏ và khâu hoànthiện cuối cùng nên vẫn mang nặng tính chất gia công và lắp ráp linh kiện,

vì vậy, giá trị gia tăng thấp Đồng thời bị tác động mạnh từ giá thế giới dophần lớn phải nhập khẩu nguyên, nhiên liệu và phụ kiện Công nghiệp chếbiến nông sản, thực phẩm mới đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu chếbiến nông sản hàng hóa xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng trong nước, chủyếu là sơ chế

Trong những năm vừa qua ngoại trừ dầu thô, ngành công nghiệp đãtập trung khai thác tài nguyên khoáng sản với mức độ cao Ngoài số giấyphép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp thì các địa phương cũng đã cấp

4 nghìn giấy phép khai thác khoáng sản trên địa bàn Đó là chưa kể hàngnghìn hoạt động khai thác khoáng sản tự phát, không có giấy phép Việccấp giấy phép dễ dãi và sơ hở, quản lý khai thác bị buông lỏng và trình độcông nghệ khai thác, tuyển chọn, chế biến thấp đã làm tài nguyên tổn thấtlớn và suy giảm nhanh 51 Theo Báo cáo của Viện Tư vấn phát triển(CODE), Bộ Tài nguyên và Môi trường do nhiều đơn vị được cấp giấyphép không đủ năng lực về tài chính và công nghệ nên khi khai thác chủyếu mới lấy được phần quặng giàu nhất và dễ khai thác nhất, bỏ đi phầnnghèo hơn và các khoáng sản khác đi cùng, dẫn tới tổn thất than trong khaithác hầm lò lên tới 46-60%; khai thác apatit tổn thất 26-43%; quặng kimloại 15-30%; vật liệu xây dựng 15-20%; khai thác vàng 60-70% Tình trạngtrên khiến nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và quốc tế cảnh báonước ta về “bẫy tài nguyên” hay “lời nguyền tài nguyên”, tức là cảnh báo

Trang 10

hiện tượng có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, nhưng chủ quankhông tăng cường khâu quản trị khai thác không có quy hoạch dài hạn nênphát triển kém các quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản và gây nguy cơ cạnkiệt tài nguyên

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước lẽ ra là phải đi trướcmột bước, nhưng trong mười năm 2001-2010 ngành công nghiệp này chỉtăng bình quân mỗi năm 13,2%, thấp hơn tốc độ tăng bình quân 14,9%/nămcủa toàn ngành công nghiệp Mặt khác, tốc độ tăng lại có xu hướng giảm,

từ tốc độ tăng bình quân mỗi năm 14,2% trong những năm 2001-2005,giảm xuống chỉ còn tăng 12,2% trong những năm 2006-2010 Do vậy, cácsản phẩm điện, nước không đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh

tế và nhu cầu tiêu dùng của dân cư Một số dự án phát triển điện, nước triểnkhai chậm, không hoàn thành đúng tiến độ đề ra; một số khác hoàn thànhđưa vào sử dụng nhưng vận hành không ổn định nên tình trạng thiếu điện,khan hiếm nước sạch trở thành vấn đề thời sự ngày càng nóng bỏng Sảnlượng điện bình quân đầu người của nước ta năm 2010 mới đạt 1053,7kwh, trong khi chỉ tiêu này năm 2008 của Thái Lan đã đạt 2187,2 kwh; Ma-lai-xi-a 3835,7 kwh; Xin-ga-po 86197,7 kwh Một bộ phận dân cư đô thịđến nay vẫn chưa được cung cấp nước máy; nhiều vùng nông thôn vẫn phải

sử dụng nước hồ, ao, sông, suối không hợp vệ sinh Mục tiêu đến năm 2010

“Cung cấp đủ nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp và 90% dân cư khuvực nông thôn” đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ2001-2010 đã không thực hiện được

Tỷ lệ chi phí trung gian chiếm trong giá trị sản xuất của khu vựccông nghiệp và xây dựng năm 2000 là 0,69% và năm 2007 là 0,7% Tỷ lệnày có xu hướng tăng lên qua các năm là hệ quả tất yếu của quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa do mức độ chuyên môn hóa ngày càng cao trongsản xuất công nghiệp Đồng thời, sự gia tăng của chi phí trung gian thể hiện

Trang 11

sử dụng lãng phí vật tư sản xuất Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nhiều tàinguyên không thể tái tạo được, việc tiết kiệm nguyên liệu không có khảnăng tái tạo là điều vô cùng quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển bềnvững trong tương lai.

1.2.2 Ngành công nghiệp Việt Nam trong khi ứng dụng cách mạng công

nghiệp 4.0

Trong thời gian qua, với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựatrên đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, giảm sự phụ thuộc vào tàinguyên thiên nhiên và nguồn nhân công giá rẻ, nền công nghiệp Việt Nam

đã có bước phát triển ấn tượng

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, GDP cả năm 2018 tăng 7,08%

so so với năm 2017, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 tới nay.Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; trong đó, ngành công nghiệp duy trìmức tăng trưởng 8,79%, chiếm 28,44% trong GDP Dấu ấn của ngành côngnghiệp trong năm 2018 được thể hiện qua những khía cạnh cụ thể sau:

Ngành công nghiệp đạt được mức tăng trưởng cao, đóng góp đáng kểvào tăng trưởng GDP cả nước

Năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục đà tăng trưởng cao

và ổn định (tăng 10,2%, cao hơn mục tiêu Chính phủ giao là 9%) Trong

đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy mứctăng trưởng chung của ngành công nghiệp Cụ thể, ngành công nghiệp chếbiến, chế tạo tăng trưởng 12,98%, tuy thấp hơn so với mức tăng của năm

2017, nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm từ 2012 đến 2016

Đây là kết quả của việc thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạomôi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh trong thời gianqua của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, là kết quả của việc

Trang 12

vận dụng hiệu quả cơ hội của các hiệp định thương mại tự do (FTA) songphương và đa phương đã ký kết, góp phần mở rộng thị trường, gia tăng đầu

tư để mở rộng sản xuất trong nước, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu củaViệt Nam

Bên cạnh đó, tình hình tiêu thụ một số mặt hàng công nghiệp diễn rathuận lợi, tồn kho toàn ngành công nghiệp ở mức thấp nhất trong nhiềunăm qua[2] Sản xuất trong nước đã đáp ứng hầu hết nhu cầu một số mặthàng công nghiệp thiết yếu, như: xi măng, thép xây dựng, phân đạm, phânNPK, đáp ứng đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng dân cư Sản xuất liên tụcđược mở rộng (chỉ số nhà quản trị mua hàng - PMI các tháng trong năm

2018 luôn cao hơn 50 điểm) với sự đóng góp tích cực của các ngành, như:điện tử, dệt, thép, ô tô

Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp đang đi đúng hướng, phùhợp với Đề án Tái cơ cấu ngành công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt

Cụ thể là, tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo tăng và tỷ trọngngành khai khoáng giảm Tỷ trọng GDP của nhóm ngành công nghiệp chếbiến, chế tạo tăng dần theo các năm (16,2% năm 2016; 17,4% năm 2017 vàước 18,3% năm 2018), trong khi tỷ trọng của nhóm ngành khai khoánggiảm từ 8,8% bình quân giai đoạn 2011-2015 xuống 7,6% năm 2016, 6,6%năm 2017 và 6% ước cho năm 2018

Năng lực sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp đã được tănglên đáng kể

Trong ngành thép, Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh tăng công suấtsản xuất với việc đưa lò cao số 2 (công suất 4 triệu tấn/năm) đi vào sảnxuất trong 6 tháng cuối năm 2018, giúp nâng tổng công suất của Fomosalên 7,5 triệu tấn/năm; Tập đoàn Hòa Phát đưa vào hoạt động dự án thép cán

Trang 13

600 nghìn tấn trong tháng 08/2018 ở Quảng Ngãi; Tập đoàn Hoa Sen đưathiết bị dây chuyền cán nguội, mạ kẽm/lạnh, mạ màu vào hoạt động vớicông suất 350 nghìn tấn.

Trong ngành dầu khí, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đi vào hoạtđộng đã sản xuất và cung ứng ra thị trường khoảng 3-3,2 triệu tấn xăng dầucác loại năm 2018

Còn trong ngành điện, theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam,năm 2018, công suất nguồn điện tăng thêm khoảng 3.150MW; đường dây500-220kV tăng thêm khoảng 1.092km; đường dây 110kV tăng thêmkhoảng 1.267km

Các nhà đầu tư đặt niềm tin vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, nên đã đổvốn mạnh vào ngành công nghiệp, đặc biệt là chế tạo, lắp ráp ô tô, như: Tổhợp sản xuất ô tô Vinfast (tổng vốn đầu tư 35.000 tỷ đồng, công suất500.000 xe/năm), Nhà máy sản xuất ô tô Thaco Mazda (tổng vốn đầu tư12.000 tỷ đồng, công suất 100.000 xe/năm), Nhà máy sản xuất ô tôHuyndai Thành Công (tổng vốn đầu tư 1.320 tỷ đồng, công suất 40.000 xe/năm)

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2018, ngành công nghiệpchế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốnđăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt khoảng 9,067 tỷ USD, chiếm50,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt5,216 tỷ USD, chiếm 29%; các ngành còn lại đạt 3,691 tỷ USD, chiếm20,5%

Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp tăng mạnh: Tổng kim ngạch xuấtkhẩu ước đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, hoàn thành vượtmức chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ đặt ra (chỉ tiêu Quốc hội giao là7%-8%; chỉ tiêu Chính phủ giao là 8%-10%) Nhập khẩu được kiểm soát

Trang 14

tốt, cán cân thương mại duy trì thặng dư năm thứ 3 liên tiếp Kim ngạchnhập khẩu năm 2018 ước đạt 237,5 tỷ USD, tăng 11,5%; thặng dư thươngmại đạt khoảng 7,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay Con số xuất siêucủa Việt Nam trong năm nay đã gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tíchcực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sảnphẩm công nghiệp Quy mô các mặt hàng xuất khẩu tiếp tục được mở rộng.Năm 2018, có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng xuấtkhẩu trên 10 tỷ USD

Công tác chỉ đạo xử lý tồn tại, yếu kém ở các dự án, doanh nghiệpngành công thương bước đầu đã có những hiệu quả nhất định

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, đến nay đã có 2 dự án hoạt độngsản xuất, kinh doanh bước đầu có lãi (Nhà máy sản xuất phân bón DAP số

1 - Hải Phòng; Nhà máy Thép Việt – Trung); 2 dự án đã vận hành sản xuấttrở lại (Nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ; Nhà máy sản xuất nhiên liệusinh học Quảng Ngãi); 1 dự án sẵn sàng khởi động để vận hành thương mại(Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Bình Phước) ngay khi thị trườngthuận lợi Các dự án còn lại đang được tích cực xử lý để bảo đảm hoànthành đúng theo phương án, lộ trình đề ra

Chương 2 Đánh giá ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 lên ngành công nghiệp Việt Nam

2.1 Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy tăng trưởng GDP

Ông Đặng Quang Vinh, Phó Trưởng ban, Ban Môi trường kinhdoanh và Năng lực cạnh tranh, CIEM cho biết, các ngành công nghiệp mớicủa cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là động lực tăng trưởng chính của ViệtNam; đồng thời, hỗ trợ các ngành khác nâng cao năng lực cạnh tranh, tăngdoanh thu và phát triển các dịch vụ mới Theo đó, các ngành hưởng lợi

Trang 15

nhiều nhất là chế biến, chế tạo, thương mại, bán lẻ, nông nghiệp, tài chính,ngân hàng, bảo hiểm…

TS Đặng Quang Vinh – Phó trưởng Ban môi trường kinh doanh vànăng lực cạnh tranh (CIEM) cho biết, theo phương pháp ước lượng tácđộng của CMCN 4.0 trên nền dự báo kinh tế Việt Nam, đến năm 2030, sovới kịch bản cải cách kinh tế không thực hiện CMCN 4.0, CMCN 4.0 cóthể thúc đẩy GDP Việt Nam tăng thêm 28,5-62,1 tỷ USD, tương đươngmức tăng GDP 7-16% tùy theo từng kịch bản (cao, trung bình, thấp); GDPbình quân đầu người sẽ tăng thêm 315-640 USD/người vào năm 2030 nhờtăng năng suất và tăng việc làm; Tăng trưởng sản xuất nhờ CMCN 4.0 tạo

ra việc làm mới với mức tăng thuần ước tính 1,3 triệu – 3,1 triệu việc làm

2.2 Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động

CMCN 4.0 được cho là cuộc cách mạng thần kỳ về kỹ thuật Nó hỗtrợ con người, giảm sức lao động, tạo ra hàng loạt chuyển biến tích cực về

kỹ thuật và công nghệ Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ đến thịtrường lao động Việt Nam, nếu người lao động không thích ứng kịp vớinhững yêu cầu từ cuộc cách mạng, sẽ dễ rơi vào tình trạng thất nghiệp, mấtviệc làm và nhiều hệ quả xã hội khác

CMCN 4.0 đã và đang dẫn đến nhiều thay đổi việc làm trong mọi lĩnhvực, tiêu biểu như: ngân hàng; thương mại, dịch vụ, giải trí; viễn thông;giao thông công cộng; y tế; giáo dục; nông nghiệp; ngành dệt may, da giày,điện tử

Nhiều việc làm có thể được tự động hóa và mất đi Thay vào đó là cácloại việc làm mới ra đời, bao gồm: việc làm thiết kế các hệ thống tự độnghóa (tạo ra robot + trí tuệ nhân tạo, tạo ra hệ thống kết nối tự động, tạo racác bộ cảm ứng và phản ứng lại môi trường, nâng cấp và cải tiến các hệ

Trang 16

thống này…); việc làm thiết kế và vận hành in 3D; việc làm kết nối (nềnkinh tế chia sẻ); việc làm đòi hỏi tình yêu thương thực sự của con người(các chuyên gia tư vấn tâm lý, bác sĩ tâm lý, trông trẻ sơ sinh); việc làm đòihỏi sự cảm thông (hòa giải viên, thẩm phán); việc làm đòi hỏi sự sáng tạo(nghĩ ra cái mới thực sự); việc làm đòi hỏi tư duy phản biện (không chấpnhận kiến thức như nó vốn có); việc làm của các chuyên gia trong các lĩnhvực phân tích rủi ro, phân tích dữ liệu lớn, lựa chọn giải pháp

Số liệu thống kê cho thấy, số lao động giản đơn hàng năm của nước tagần như không giảm (ở các năm 2015-2017) hoặc giảm còn rất chậm, giảmkhông đáng kể trong giai đoạn 2012-2017 Đây thực sự là báo động “đỏ”với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh CMCN 4.0 Cụ thể, lựclượng lao động của nước ta năm 2017 đã tăng thêm 2,9 triệu người so vớinăm 2012, trong khi lao động giản đơn chỉ giảm được 0,5 triệu người năm

2017 so với năm 2012

Đây là một nút thắt lớn trong trục phát triển kinh tế - xã hội của nước

ta và được cho là không dễ khai thông trong “một sớm một chiều” bởi mộtlực lượng lao động giản đơn vẫn còn quá đông và chưa có dấu hiệu giảmnhanh trong suốt hàng thập kỷ qua

Hiện nay, để tăng NSLĐ, việc cấp bách là phải giảm nhanh số laođộng giản đơn theo hướng tinh gọn lại để gia tăng nhanh lao động có trình

độ, tay nghề phù hợp với nhu cầu xã hội Đây là yêu cầu khách quan, cũng

là cơ hội tốt để nước ta giảm nguồn cung lao động lớn về lượng, thấp vềchất bằng cách đào tạo, bồi dưỡng có chọn lọc nguồn nhân lực này

2.3 Ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 đến tỷ lệ thất nghiệp

Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra đều dẫn tới thay đổi mạnh

mẽ về cơ cấu nguồn nhân lực, việc làm Và cũng giống như ba cuộc CMCNtrước đó, CMCN 4.0 có tiềm năng đem lại nhiều lợi ích cho người lao động

Trang 17

thông qua việc tăng năng suất lao động dẫn tới tăng thu nhập, nhiều sảnphẩm, dịch vụ mới được ra đời giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, và đặcbiệt là việc mở cửa thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới

CMCN 4.0 với sự xuất hiện của công nghệ cao, máy móc thôngminh, robot có trí tuệ nhân tạo sẽ tác động làm thay đổi lớn đến thịtrường lao động và việc làm trên nhiều góc độ khác nhau Cung - cầu laođộng, cơ cấu lao động, và bản chất việc làm đều sẽ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng Đối với nền công nghiệp, những lĩnh vực dựa vào lao động thủ công,những ngành nghề gắn với quá trình tự động hóa sẽ bị ảnh hưởng Đặc biệt,những lĩnh vực như dệt may, da giày, điện tử hay những lĩnh vực mà chúng

ta sử dụng nhiều lao động sẽ là những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất.Chẳng hạn, đối với Cổng thông tin kinh tế Việt Nam – VNEP Chuyên đề

Số 10/2018 11 ngành dệt may, các thao tác như cắt, may thì máy móc đều

có thể thay thế được Công nghệ 4.0 có thể làm việc liên tục 24/24h, robot

có thể thay thế đối với ngành lắp ráp điện tử, tư vấn, chăm sóc khách hàng

sẽ được trả lời bằng robot tự động Như vậy, tác động của CMCN 4.0 đốivới việc làm sẽ là sự dịch chuyển từ sản xuất thâm dụng lao động sangthâm dụng tri thức và thâm dụng công nghệ

Báo cáo của Bộ KH-CN đã chỉ rõ 2 chiều hướng tác động củaCMCN4.0 đến lao động, việc làm

Thứ nhất, CMCN4.0 có thể phá vỡ cấu trúc lực lượng lao động, dẫntới lao động dư thừa do sự thay thế lao động bằng các robot Khi đó, NLĐchủ yếu đảm nhiệm việc quản lý hệ thống máy móc, thay vì tham gia trựctiếp vào quá trình sản xuất Điều này đồng nghĩa với nhu cầu về lao động

có trình độ cao, có kỹ năng sáng tạo, chuyên môn kỹ thuật sẽ tăng lên.Trong khi đó, lao động không có kỹ năng, đảm nhiệm các công việc giảnđơn hoặc các công việc có tính chất lặp đi lặp lại sẽ phải đối mặt với nguy

cơ cao bị thay thế

Trang 18

Thứ hai, CMCN4.0 có thể tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bịmất đi Mặc dù có sự suy giảm về số lượng việc làm trong một số ngành sửdụng nhiều lao động có kỹ năng thấp, CMCN4.0 sẽ giúp các ngành có hàmlượng sáng tạo cao phát triển và tạo ra nhiều việc làm mới với tính chấtcông việc khác biệt so với trước đây Bên cạnh đó, NLĐ có điều kiện tiếpcận với kiến thức và kỹ năng mới Từ đó, tạo cơ hội cho những NLĐ đãmất việc có thể quay trở lại lực lượng lao động với vai trò mới; cũng nhưgiúp những người đang làm việc mở rộng sự nghiệp của mình.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), công nghệ số khôngchỉ thúc đẩy việc làm trong các ngành CNTT mà còn thúc đẩy việc làmtrong các ngành có sử dụng CNTT- khi số lượng các DN và NLĐ tự do ápdụng công nghệ mới tăng lên Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới(WB) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng chỉ ra, tỉ lệ lao động ở cácnước đang phát triển sẽ có nguy cơ bị thay thế cao, vì đa phần các nướcđang phát triển (trong đó có Việt Nam) đều có nền công nghiệp sử dụngcác lao động chủ yếu không có kỹ năng, dễ bị thay thế bởi tự động hóa vàrobot Do đó, ILO dự báo, 74% trong tổng số lao động ngành chế biến, chếtạo của Việt Nam có mức độ rủi ro cao do tự động hóa Con số này cao hơn

so với các quốc gia trong khu vực như: Phillipines (54%), Thái Lan (58%)

và Indonesia (67%) Theo dự báo của Liên hợp quốc, sẽ có khoảng 75% laođộng trên thế giới có thể bị mất việc làm trong vài thập niên tới Còn mộtnghiên cứu khác của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khoảng 56% số laođộng tại 5 quốc gia Đông Nam Á đứng trước nguy cơ mất việc vì robot.Trong đó, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từCMCN 4.0 Cũng theo dự báo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong tươnglai, một số ngành nghề ở Việt Nam sẽ biến mất do tác động của cuộcCMCN 4.0 Tuy nhiên, ở chiều hướng khác, tích cực hơn, CMCN 4.0 sẽtạo thêm ngành nghề, việc làm mới mà người máy hay robot không thể đáp

Trang 19

ứng được, điều đó đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng, trình độ caomới có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Theo dự báo, tới năm 2025,

có tới 80% công việc sẽ là những công việc mới mà chưa từng có ở thờiđiểm hiện nay

2.4 Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển

Trong những năm qua, nền công nghiệp của Việt Nam có nhữngbước chuyển dịch tích cực: Tỉ trọng công nghiệp khai khoáng giảm; tỉ trọngcông nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2017 có mức tăng trưởng ấntượng 12,8%- đây là mức tăng cao nhất của ngành này trong nhiều nămqua, đóng góp 9 điểm phần trăm vào mức tăng chung của ngành côngnghiệp

Theo đánh giá của Bộ KH-ĐT, tốc độ tăng trưởng cao của côngnghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng chung của toàn ngànhcông nghiệp, phù hợp với định hướng tái cơ cấu mô hình tăng trưởng vàhạn chế phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên Đây là nhómngành mà Việt Nam sẽ phải chịu tác động mạnh nhất vì ba lý do: Thứ nhất,tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến nhóm ngành nàyrất mạnh Thứ hai, cơ chế lan truyền tác động của công nghệ trong kinh tếtoàn cầu rất nhanh thông qua kênh xuất nhập khẩu do bản chất thương mạiquốc tế cao của nhóm ngành này Thứ ba, những đột phá về công nghệ, đặcbiệt là những tiến bộ vượt bậc trong tự động hóa và công nghệ in 3D đanglàm đảo ngược dòng thương mại theo hướng bất lợi cho các nước như ViệtNam do làm giảm mạnh lợi thế lao động giá rẻ tại đây Cụ thể, những tiến

bộ vượt bậc trong quá trình tự động hóa và số hóa đã và đang giúp giảmmạnh chi phí chế tạo và vận hành người máy, và do vậy làm tăng khả năngcông nghiệp chế tạo quay trở lại các nước phát triển để gần hơn với thị

Trang 20

trường tiêu thụ lớn và các trung tâm R&D ở các nước này Tác động đếnmột số phân ngành cụ thể như sau:

Ngành giệt may, giày dép:

Có một số đột phá công nghệ quan trọng đang vẽ lại bức tranh củangành này trên phạm vi toàn cầu: (i) công nghệ chế tạo đắp dần, máy chụpthân thể, thiết kế bằng máy tính giúp có thể sản xuất các sản phẩm hàngloạt các sản phẩm phù hợp với những thông số đơn lẻ của từng khách hàng;(ii) công nghệ nano giúp các sản phẩm dệt may, giày dép có thể tích hợpcác chức năng theo dõi sức khỏe (đo nhịp tim, lượng calo giải phóng liêntục v.v…); (iii) tự động hóa khâu cắt và khâu may (sử dụng robots, trongkhâu may còn được gọi là sewbots) Điều này được kỳ vọng là sẽ làm thayđổi toàn bộ ngành dệt may, da giày, đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội thuhút đầu tư quay trở về Mỹ, trong một khoảng thời gian ngắn có thể chỉ là 5năm tới

Ở Việt Nam, ngành dệt may đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩucao, một phần lớn nhờ đơn hàng chuyển dịch ra khỏi Trung Quốc theochiến lược “Trung Quốc + 1” của các tập đoàn đa quốc gia do chi phí laođộng ở quốc gia này tăng mạnh Tuy nhiên, tình hình đang thay đổi nhanhchóng với đơn hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Namgiảm mạnh, và khách hàng yêu cầu giảm giá đáng kể Công nhân trong cácdoanh nghiệp dệt may của Việt Nam đang bị kẹt ở giữa trong cuộc cạnhtranh khốc liệt trên toàn cầu, với một bên là nhân công rẻ hơn từ các nướcCampuchia, Bangladesh, Myanmar v.v…, và bên kia là người máy đangđược ứng dụng ngày một rộng rãi ở các nước phát triển và cả ở TrungQuốc, dẫn đến sự chuyển dịch của sản xuất trong phân khúc có giá trị caohơn trở lại các nước phát triển và trở lại Trung Quốc để gần hơn với thịtrường tiêu thụ lớn, các trung tâm R&D và các trung tâm cung cấp nguyên

Ngày đăng: 10/08/2020, 21:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình hàm hồi quy mẫu (SRF) có dạng: - tiểu luận phân tích chi phí lợi ích ngành công nghiệp việt nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4 0
h ình hàm hồi quy mẫu (SRF) có dạng: (Trang 26)
Hình 2. Dự báo lượng GDP ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp vào tổng GDP của Việt Nam năm 2019 (Đơn vị: Tỷ VNĐ) - tiểu luận phân tích chi phí lợi ích ngành công nghiệp việt nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4 0
Hình 2. Dự báo lượng GDP ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp vào tổng GDP của Việt Nam năm 2019 (Đơn vị: Tỷ VNĐ) (Trang 28)
2019Q1 2019Q2 2019Q3 2019Q4100000 - tiểu luận phân tích chi phí lợi ích ngành công nghiệp việt nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4 0
2019 Q1 2019Q2 2019Q3 2019Q4100000 (Trang 28)
Bảng 3-2. Dự báo lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam năm 2019 - tiểu luận phân tích chi phí lợi ích ngành công nghiệp việt nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4 0
Bảng 3 2. Dự báo lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam năm 2019 (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w