1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An toàn giao thông cho hệ thống đường giao thông nông thôn nghiên cứu trường hợp ở huyện vân canh, tỉnh bình định

67 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm ra được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ATGT trên tuyến GTNT.. PHÂN LOẠI VÀ TỔNG HỢP CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TAI NẠN GIAO THÔNG TRÊN 2 TUYẾN ĐƯỜNG THUỘC ĐỊA BÀN HUYỆN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP.HCM

- oOo -

LÊ NHƯ KHƯ

AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP Ở HUYỆN VÂN CANH,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ

MÃ SỐ: 1481092044

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN QUỐC HIỂN

TP HCM 5- 2018

Trang 2

TÓM TẮT

Trong những năm qua Kinh tế của tỉnh Bình Định phát triển nhanh, xe cộ tăng nhu cầu đi lại tăng, từ đó lưu lượng tăng trên từ quốc lộ đến hương lộ nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, phát triển kinh tế xã hội góp phần nâng cao đời sống kinh tế tại địa phương Việc phát triển không đồng bộ giữa phương tiện tham gia giao thông và

hạ tầng cơ sở đã tạo ra rất nhiều hệ lụy liên quan đến vấn đề giao thông mà một trong

những vấn đề đó là vấn đề ATGT

Trên địa bàn huyện Vân Canh có Quốc lộ 19C đi qua Quốc lộ 19C có tổng chiều dài 151,4 km, điểm đầu giao với Quốc lộ 1A tại km 1220+00 thuộc địa phận thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, điểm cuối giáp với Quốc lộ 26 thuộc huyện M’Đrắk tỉnh Đắk Lắk Trong đó, đoạn qua tỉnh Bình Định dài 39,38 km Việc tận dụng trên làm cho lưu lượng phương tiện lưu thông trên tuyến đường này ngày càng lớn, trong khi đường hẹp, xuống cấp Cộng với việc hạ tầng không được quan tâm đúng mức

từ đó việc tổ chức giao thông chưa tốt nên nhiều xe máy, xe thô sơ, xe container cùng tham gia trên mặt cắt ngang đường không có dải phân cách tạo nên một dòng xe hỗn hợp Song song 2 vấn đề trên thì đô thị hóa dọc theo liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa đang phát triển mạnh trong những năm gần đây dẫn đến đấu nối từ khu dân cư

ra quốc lộ không hợp lý Tình hình này góp phần làm cho liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa suy giảm chức năng, nhiễu loạn giao thông và kém an toàn Công tác tuyên truyền, giáo dục ATGT tại các vùng nông thôn còn hạn chế, ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông còn kém vì vậy số vụ tai nạn vẫn theo chiều hướng gia tăng

Trước tình hình ATGT trên, đề tài "An toàn giao thông cho hệ thống đường giao thông nông thôn - nghiên cứu trường hợp ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định" là rất cần

thiết

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề chính như sau:

- Trên cơ sở phân tích, thống kê những vụ TNGT trong các báo cáo hằng năm và các va chạm giao thông được ghi chép ở các xã, thị trấn Đề tài đưa ra các nguyên nhân gây ra TNGT tại tuyến đường trên các phương diện: Hình học, tổ chức giao thông, các

Trang 3

yếu tố không gian và thời gian ảnh hưởng đến TNGT từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu đảm bảo ATGT trên tuyến đường này

Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về ATGT và TNGT kết hợp với khảo sát nghiên cứu thực nghiệm để từ đó tìm ra được các giải pháp ATGT

- Thu thập các số liệu thống kê về tình hình tai nạn giao thông đường bộ

- Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của tai nạn giao thông

Đối chiếu với nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra, luận văn đã đạt được một số kết quả chính sau: Chỉ ra được quan niệm về ATGT và TNGT của các nước và ở Việt Nam,

phân tích được cơ chế hình thành TNGT Phân tích được ảnh hưởng của các yếu tố con người, yếu tố điều kiện đường / môi trường và yếu tố phương tiện trong ATGT Điều tra

và phân tích 166 vụ tai nạn và va chạm giao thông từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2017 trên 2 tuyến đường liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa Tìm ra được nguyên nhân

và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ATGT trên tuyến GTNT Xác định được sự phân bố các vụ tai nạn theo thời gian, theo vị trí Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu tai nạn trên tuyến GTNT Thực hiện ví dụ thiết kế cải tạo từ đoạn tuyến trên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, các số liệu và kết quả đo đạc trong luận văn là trung thực, các số liệu cịn lại được thu thập từ Ban An tồn giao thơng tỉnh Bình Định, Cơng an huyện Vân Canh tỉnh Bình Định, Cơng ty cổ

phần thiết kế giao thơng tỉnh Bình Định

Học viên

Lê Như Khư

LỜI CẢM ƠN

Trang 5

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy TS NGUYỄN QUỐC HIỂN, người đã tận tâm, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong

suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa công trình giao thông đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em có thêm kiến thức mới, những hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực xây dựng công trình giao thông, em hứa sẽ luôn cố gắng học hỏi và trau dồi kiến thức để phục vụ tốt cho công việc sau này với mong muốn rằng sẽ góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước

Xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học trường Đại học Giao thông Vân tải thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, Lãnh đạo và tập thể Ban QLDA ĐT & XD

huyện Vân Canh, người thân, bạn bè và tất cả mọi người đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên em khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong được sự quan tâm và chỉ bảo của quý Thầy, Cô để luận văn của em hoàn thiện tốt hơn, cũng như trong quá trình công tác sau này

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và gởi đến quý Thầy, Cô những lời cầu chúc tốt đẹp nhất./

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 05 năm 2018

Trang 6

MỤC LỤC 5

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU 8

DANH MỤC HÌNH VẼ 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ATGT VÀ TÌNH HÌNH TNGT CÁC TUYẾN GTNT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN CANH 13

1.1 TỔNG QUAN VỀ ATGT 13

1.1.1 Quan điểm về ATGT và TNGT: 13

1.1.2 Phân loại TNGT 14

1.1.3 Các quan điểm về điểm đen trong giao thông: 14

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TUYẾN ĐƯỜNG Ở HUYỆN VÂN CANH 15

1.2.1 Hiện trạng về kinh tế xã hội 15

1.2.2 Dân số lao động và việc làm 17

1.2.3 Hạ tầng giao thông

1.2.4 Đặc điểm dòng xe trên các tuyến GTNT huyện Vân Canh

1.3.TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRÊN TUYẾN 15

1.3.1 Tình hình TNGT trên tuyến : 18

1.3.2 Một số đặc điểm chung của các TNGT đã xảy ra trên tuyến 19

1.4 Các giải pháp đã từng được áp dụng 19

1.4.1.Các giải pháp đã từng được áp dụng 19

1.4.2 Đánh giá hiệu quả của các giải pháp và các vấn đề còn tồn tại : 20

1.5.Kết luận chương 1: 20

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TÓ ẢNH HƯỞNG ĐÉN ATGT ĐƯỜNG BỘ VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT, PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 22

2.1 CÁC YẾU TÓ ẢNH HƯỞNG ĐÉN ATGT ĐƯỜNG BỘ 22

2.1.1 PHÂN TÍCH CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TNGT 22

2.1.2 NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG ATGT 23

2.1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN ĐƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG ATGT25 2.1.3.1.Ảnh hưởng của điều kiện đường 25

2.1.4 NHÂN TÓ PHƯƠNG TIỆN TRONG ATGT: 31

Trang 7

2.2 KỂT QUẢ THU THẬP SỐ LIỆU KHẢO SÁT TAI NẠN, PHÂN TÍCH ĐẶC

ĐIỂM CÁC VỤ TAI NẠN 31

2.1.1 PHÂN LOẠI VÀ TỔNG HỢP CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TAI NẠN GIAO THÔNG TRÊN 2 TUYẾN ĐƯỜNG THUỘC ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN CANH: 32

2.2.2 THỐNG KÊ CÁC VỤ TAI NẠN THEO THỜI GIAN 34

2.2.3 THỐNG K Ê CÁC VỤ TAI NẠN THEO VỊ TRÍ: 35

2.2.4 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN MẤT ATGT TRONG MỘT SỐ VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG NGHIÊM TRỌNG 36

2.2.5 PHỎNG VẤN NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO ATGTG 2 TUYẾN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN CANH 42

3.1 CÁC CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42

3.1.1 Cơ sở lý thuyết 42

3.1.2 Ý tưởng về giải pháp kỹ thuật 42

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP KỸ THUẬT: 44

3.2.1 Giải pháp giải quyết giao thông hỗn hợp 44

3.2.2 Giải pháp đối với hệ thống mặt đường và hệ thống thoát nước 46

3.3 VÍ DỤ THIÉT KẾ CẢI TẠO TỪ KM6 – KM7(QL19C) 57

3.3.1 Đặc điểm của đoạn tuyến 62

3.3.2 Các giải pháp giảm thiểu TNGT trên đoạn tuyến 62

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

Từ viết tắt Tên tiếng nước ngoài Tên tiếng việt

HSM Highway Safety Manual Hướng dẫn an toàn đường cao tốc

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 9

Số hiệu Tên bảng Trang

Bảng 1-1 Bảng so sánh mức độ TNGT các nước Đông Nam Á

Bảng 1-2 Lưu lượng và thành phần dòng xe trên tuyến Liên xã từ xã Canh Vinh

đến xã Canh Hòa

Bảng 1-3 Lưu lượng và thành phần dòng xe trên tuyến Tuyến nhánh từ thị trấn

Vân Canh – làng KaTe xã Canh Liên

Bảng 1-4 Số vụ TNGT trên 2 tuyến đường từ năm 2014 đến năm 2016

Bảng 2.1 Ma trận Haddon

Bảng 3-1 Bảng tổng hợp TNGT trên đường GTNT huyện Vân Canh

Bảng 3- 2 Bảng tống hợp các nguyên nhân gây TNGT theo nhóm

Bảng 3- 3 Bảng tổng hợp số vụ TNGT theo giờ

Bảng 3- 4 Bảng tông hợp sô vụ TNGT theo tháng

Bảng 3- 5 Các khu vực xảy ra nhiều TNGT

Bảng 3- 6 Các điểm đen và điểm cận đen trên 2 tuyến GTNT

Bảng 3- 7 Phân tích nguyên nhân mất ATGT trong một số vụ TNGT nghiêm

trọng Bảng 4-1 Mối quan hệ rủi ro khỉ đâm nhau giữa tốc độ và rủi ro chết người

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang 10

Số hiệu Tên hình Trang

Hình 1-1 Chính sách 4E trong ATGT của chính phủ Nhật

Hình 1-2 Biểu tượng điểm đen trên đường Piggott, Onkaparinga Hills, Nam

Australia

Hình 1-3 Biểu tượng chương trình xóa điểm đen ở Australia

Hình 1-4 Sơ đồ biều diễn các tiêu chí và điều kiện hình thành điểm đen TNGT

đường bộ (Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ GTVT, 10/2007)

Hình 1-5 Mối quan hệ giữa lưu lượng (q), mật độ (k) và tốc độ (v)

Hình 1-6 TNGT trên QL19C từ năm 2014 đến năm 2016

Hình 1-7 TNGT trên trên tuyến nhánh từ thị trấn Vân Canh – làng KaTe xã

Canh Liên từ năm 2014 đến năm 2016 Hình 1-8 Tỷ lệ TNGT theo giới tính

Hình 2-1 Ảnh hưởng của các yếu tố trong TNGT (nguồn Treat – 1980)

Hình 2-2 Những nguyên nhân xảy ra TNGT do người lái xe

Hình 2-3 Đoạn đường thẳng dài trên tuyến Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã

Canh Hòa Hình 2-4 Đoạn đường cong trên tuyến thị trấn Vân Canh – làng Kà Te

Hình 2-5 Tầm nhìn bị che khuất bởi đỉnh dốc trên tuyến Liên xã từ xã Canh

Vinh đến xã Canh Hòa Hình 2- 6 Mặt cắt ngang nguy hiểm trên tuyến Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã

Canh Hòa Hình 2-7 Mặt căt ngang nguy hiêm trên tuyên tuyến thị trấn Vân Canh – làng

Kà Te Hình 2- 8 Mặt đường hư hỏng cục bộ tạo nhiều ổ gà trên tuyến Liên xã từ xã

Canh Vinh đến xã Canh Hòa Hình 2- 9 Độ nhám mặt đường không đảm bảo trên tuyến Liên xã từ xã Canh

Vinh đến xã Canh Hòa Hình 2-10 Biển báo nhiếu gây quá tải về mặt thông tin

Trang 11

Hình 2-11 Sơn kẻ đường bị xóa hoàn toàn (Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã

Canh Hòa) Hình 2-12 Sơn kẻ đường mờ (Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa)

MỞ ĐẦU

Trang 12

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua Kinh tế của tỉnh Bình Định phát triển nhanh, xe cộ tăng nhu cầu đi lại tăng, từ đó lưu lượng tăng trên từ quốc lộ đến hương lộ nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, phát triển kinh tế xã hội góp phần nâng cao đời sống kinh tế tại địa phương Việc phát triển không đồng bộ giữa phương tiện tham gia giao thông và

hạ tầng cơ sở đã tạo ra rất nhiều hệ lụy liên quan đến vấn đề giao thông mà một trong

những vấn đề đó là vấn đề ATGT

Trên địa bàn huyện Vân Canh có Quốc lộ 19C đi qua Quốc lộ 19C có tổng chiều dài 151,4 km, điểm đầu giao với Quốc lộ 1A tại km 1220+00 thuộc địa phận thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, điểm cuối giáp với Quốc lộ 26 thuộc huyện M’Đrắk tỉnh Đắk Lắk Trong đó, đoạn qua tỉnh Bình Định dài 39,38 km

Quốc lộ 19C được thành lập trên đường tỉnh lộ ĐT638 tại Quyết định số 3302/QĐ-BGTVT ngày 28/08/2014 của Bộ GTVT Điều đáng nói là kể từ khi mang tên Quốc lộ 19C nguyên là tuyến đường liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa, lưu lượng phương tiện liên tỉnh lưu thông trên tuyến đường này ngày càng lớn, trong khi đường hẹp, xuống cấp Cộng với việc hạ tầng không được quan tâm đúng mức thì việc tổ chức giao thông chưa tốt nên nhiều xe máy, xe thô sơ, xe container cùng tham gia trên mặt cắt ngang đường không có dải phân cách tạo nên một dòng xe hỗn hợp

Song song vấn đề trên thì đô thị hóa dọc theo tuyến đường liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa đang phát triển mạnh trong những năm gần đây dẫn đến đấu nối

từ khu dân cư ra quốc lộ không hợp lý Tình hình này góp phần làm cho tuyến đường liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa suy giảm chức năng, nhiễu loạn giao thông và kém an toàn Công tác tuyên truyền, giáo dục ATGT tại các vùng nông thôn còn hạn chế,

ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông còn kém vì vậy số vụ tai nạn vẫn theo chiều hướng gia tăng

Trước tình hình trên, đề tài "An toàn giao thông cho hệ thống đường giao thông nông thôn - nghiên cứu trường hợp ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định" là rất cần

thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

Trên cơ sở phân tích, thống kê những vụ TNGT trong các báo cáo hằng năm và các va chạm giao thông được ghi chép ở các xã, thị trấn Đề tài đưa ra các nguyên nhân gây ra TNGT tại tuyến đường trên các phương diện: Hình học, tổ chức giao thông, sự phân bố các điểm đen, các yếu tố không gian và thời gian ảnh hưởng đến TNGT từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu đảm bảo ATGT trên tuyến đường này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Tuyến đường liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa: Đoạn từ ngã ba Diêu Trì – Mục Thịnh xã Canh Hòa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về ATGT và TNGT kết hợp với khảo sát nghiên cứu thực nghiệm để từ đó tìm ra được các giải pháp ATGT

- Thu thập các số liệu thống kê về tình hình tai nạn giao thông đường bộ

- Điều tra thực tế một số điểm đen thường xảy ra tai nạn giao thông

- Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của tai nạn giao thông

5 Nội dung thực hiện

- Thu thập số liệu về TNGT

- Phân tích những khác biệt của ATGT GTNT

- Phân tích các vụ TNGT từ Ban ATGT và công an huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định

6 Đề xuất các giải pháp

- Phân tích được cơ chế hình thành TNGT Phân tích được ảnh hưởng của các yếu

tố con người, yếu tố điều kiện đường môi trường và yếu tố phương tiện trong ATGT

- Tìm ra được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ATGT trên 2 tuyến GTNT

- Xác định dược sự phân bố các vụ tai nạn theo thời gian, theo vị trí

- Bố sung quan niệm về điếm cận đen Xác định được các điếm đen và điểm cận đen trên tuyến đường nghiên cứu

- Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu tai nạn trên tuyến Thực hiện

ví dụ thiết kế cải tạo từ đoạn Km6 – Km7 thuộc QL19C

Trang 14

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ MẠNG LƯỚI ĐƯỜNG VÀ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN CANH TỈNH BÌNH ĐỊNH 1.1 Tổng quan về mạng lưới đường

Vân Canh là huyện miền núi duy nhất của tỉnh có cả hai loại hình giao thông là đường bộ và đường sắt như thể hiện ở bản đồ Hình 1.1

Hình 1.1: Bản đồ giao thông khu vực huyện Vân Canh

a Hiện trạng

- Đường sắt: Đường sắt Bắc Nam qua địa bàn huyện 40 km, tuyến đường này đã

được nâng cấp để chạy tàu 32 giờ Có 2 Ga Vân Canh và Tân Vinh đã được xây dựng, khôi phục đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân Tuy nhiên tàu thống nhất không dừng lại ga này, mà chủ yếu là tàu chợ Nhưng trong những năm vừa qua do sản phẩm hàng hóa của huyện chưa nhiều nên việc phát huy vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt chưa đáng kể

- Đường bộ: Bao gồm tuyến tỉnh lộ, huyện lộ và mạng lưới GTNT với 100% số xã

có đường ô tô đến trung tâm xã đảm bảo giao lưu đối nội và đối ngoại

+ Chuyển một số đoạn tuyến trên địa phận các tỉnh Bình Định, Phú Yên thuộc tuyến đường liên Tỉnh nối các tỉnh Bình Định - Phú Yên - Đắk Lắk thành liên xã từ xã

Trang 15

Canh Vinh đến xã Canh Hòa với tổng chiều dài khoảng 151,48km, Quốc lộ19C còn có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội an ninh quốc phòng của cả tỉnh Bình Định, Phú Yên và Đắk Lắk Tuyến được xây dựng bằng bê tông nhựa, cầu cống được xây dựng bằng bê tông cốt thép, nhưng nền đường còn hẹp, mặt đường hay xuống cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân trong vùng Để đáp ứng

sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện nói riêng và trên địa bàn tỉnh Bình Định nói chung thì cần phải mở rộng, nâng cấp các tuyến đường này

+ Đường huyện lộ gồm các tuyến: Canh Thuận - Canh Liên dài 25,3 km, xuất phát từ Km 28 Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa theo hướng Tây Tây Bắc đến làng Hà Giao xã Canh Liên Tuyến có vị trí quan trọng phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của xã Canh Liên và phía Tây Nam của tỉnh Tuyến này được mở từ năm 1980 mặt nền chủ yếu là rải đá cấp phối, mấy năm gần đây đang được đầu tư nâng cấp, hiện nay đã đầu tư xây dựng xong

+ Đường GTNT: gồm 84 tuyến chính với tổng chiều dài 238 km trong đó: đường xã dài 155 km, và 83 km đường xóm Từ những năm 2000 thực hiện chủ trương bê tông hoá đường xã, đường xóm toàn huyện đã bê tông hoá được 78 km đường

Các tuyến đường xã, thôn, xóm xây dựng trên nền đường vốn có, nền đường rộng

từ 3,5-4 m, mặt đường rộng từ 2-3 m, không có lớp móng, chưa có rãnh thoát nước Các phương tiện như xe công nông, ô tô qua lại không tránh nhau được gây ra lún ở hai vệt bánh xe, làm hỏng đường

Mặc dù đạt được những kết quả đáng mừng trên nhiều mặt, song nhìn chung giao thông vận tải vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, đa số là đường đất qua nhiều ngầm sông suối, nên thường hư hỏng sau mùa mưa, phương tiện vận tải chỉ đi lại vào được mùa nắng Do địa hình phức tạp chia cắt nhiều, hàng năm mưa lũ tàn phá hư hỏng nặng Một số đoạn đường được đầu tư từ các chương trình của trung ương nhưng còn chắp vá chưa đồng bộ, chưa có nguồn vốn để đầu tư nâng cấp Trong những năm tới phát triển GTNT không chỉ giúp cuộc sống của người dân nông thôn, miền núi, bớt khó khăn hơn, mà cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, nhờ đó góp phần hạn chế sự chênh lệch, giảm bớt

hố sâu ngăn cách giàu - nghèo trong xã hội

Trang 16

b Đặc điểm dòng xe trên các tuyến GTNT huyện Vân Canh:

Đoạn tuyến này là ngã ba Diêu Trì thuộc huyên Tuy Phước và trục đường vận chuyển các sản phẩm lâm nghiệp nên có nhiều xe khách, xe vận chuyển đi qua Các xe này thường chạy với tốc độ khá cao Tuyến xe buýt Quy Nhơn – Vân Canh cũng đi qua đoạn tuyến này với tần suất 15 phút/chuyến Ngoài ra, hai bên tuyến đường có nhiều địa điểm công cộng như : trường học, chợ, bưu điện, ngân hàng, các công ty và tất nhiên là các cụm dân cư Vì vậy, ngoài xe khách, xe buýt, trên đoạn tuyến còn xuất hiện một lưu lượng lớn xe địa phương như : xe ôtô, xe tải, xe máy, xe đạp Có thể nhận thấy dòng xe trên tuyến là dòng xe hỗn hợp với sự tham gia của rất nhiều thành phần với tốc độ lưu thông rất khác nhau Phiếu tổng hợp đếm xe ở Phụ lục 19C Kết quả tổng hợp đếm xe tháng 5/2017 trên đoạn tuyến như sau:

Tải nhẹ

Tải trung

2 trục

kéo/

Công nông

Xe máy /Xe lam

Xe đạp /Xích

Tổng Cộng

xe Ôto

Hướng đếm

3 Trục

Bảng 1-2: Lưu lượng và thành phần dòng xe trên tuyến đường liên xã từ xã Canh

Vinh đến xã Canh Hòa

1.2 Hiện trạng kinh tế xã hội dân số lao động và việc làm

Hiện trạng về kinh tế xã hội, hạ tầng giao thông dọc theo tuyến QL19C đoạn

đi qua địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định

1.2.1 Hiện trạng về kinh tế xã hội

Vân Canh là huyện miền núi nằm về phía Tây Nam của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 35 km về hướng Tây Nam, diện tích tự nhiên 80.020,84 ha

là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh, vị trí của huyện nằm ở tạo độ địa lý từ

13030’ đến 13050’ vĩ độ Bắc và từ 108050’ đến 109005’ kinh độ Đông Địa giới hành chính của huyện như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Tây Sơn và thị xã An Nhơn;

+ Phía Nam giáp huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên;

Trang 17

+ Phía Đông giáp huyện Tuy Phước & thành phố Quy Nhơn;

+ Phía Tây giáp huyện Kông choro, tỉnh Gia Lai

Huyện Vân Canh nằm trong vùng ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Định gồm: Quy Nhơn - An Nhơn - Tuy Phước, cách khu kinh tế Nhơn Hội khoảng 50

km, cách thị xã Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên khoảng 80 km Có đường sắt Bắc - Nam và đường Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa chạy qua, nối liền trung tâm huyện với thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và thị trấn La Hai huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; trong tương lai gần sẽ nối liền với tỉnh ĐắkLắc tạo thành tuyến hành lang Đông - Tây, đó là điều kiện thuận lợi cho huyện Vân Canh mở rộng mối giao lưu, phát triển kinh tế với các địa phương khác trong tỉnh, trong vùng

a Thực trạng phát triển các ngành kinh tế - xã hội

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưu tiên phát triển vùng này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao Tình hình trên

có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do Vân Canh là huyện miền núi, địa hình chia cắt, diện tích tự nhiên rộng, nhưng diện tích đất canh tác ít; điều kiện thời tiết không thuận lợi, đồng bào dân tộc thiểu số sống phân tán, trình độ sản xuất còn lạc hậu; cơ sở

hạ tầng vừa thiếu, vừa kém Các nguồn hỗ trợ của Nhà nước còn phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp, chưa hỗ trợ đúng mức cho phát triển sản xuất; đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu và thiếu cán bộ khoa học, kỹ thuật; chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận cán bộ và dân cư còn nặng, nên đã hạn chế phát huy nội lực và

sự nỗ lực vươn lên

Xuất phát từ thực tế trên, ngày ngày 27/12/ 2008 Chính phủ đã có Nghị quyết số: 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo trên cả nước với mục tiêu tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của

Trang 18

từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng

b Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong trong những năm qua được sự hỗ trợ từ các cấp (nhiều nhất là nguồn vốn 30a của Chính phủ, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo chặt chẽ của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp đã từng bước đưa nền kinh tế của huyện nhà bước đầu đi vào ổn định, năng suất, sản lượng tiếp tục tăng trưởng và phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển Kết cấu cơ sở hạ tầng các địa phương được chú trọng và tăng cường, nhiều công trình trọng điểm về giao thông – thủy lợi trên địa bàn huyện đã

và đang đầu tư xây dựng; cơ sở hạ tầng các ngành y tế, giáo dục tiếp tục xây dựng nâng cấp, sửa chữa Vì vậy đời sống nhân dân cơ bản ổn định và được cải thiện đáng kể, an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

1.2.2 Dân số lao động và việc làm

a Dân số:

Qua 10 năm từ năm 1996 đến 2006, dân số huyện Vân Canh có sự phát triển khá nhanh, tăng 1,2 lần và tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,88% (bình quân cả tỉnh chỉ 1,17%) Tuy nhiên, trong thời gian từ sau năm 2000, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình được đẩy mạnh nên có những kết quả khá tích cực: Nếu thời kỳ 2000 tốc độ tăng dân số là 1,45% thì đến những năm cuối giai đoạn tốc độ tăng dân số chỉ còn 1,3% Dân

số trên địa bàn huyện năm 2014 là 26.716 người; mật độ dân số 31 người/km2, quá thấp

so với mật độ bình quân của cả tỉnh

Về cơ cấu dân số theo độ tuổi: Số người ở độ tuổi dưới 20 giảm nhiều do tỷ lệ sinh giảm (từ 53,2% năm 1995 giảm còn 50,3% năm 2000 và 46,8% năm 2005) Mặc dù

cơ cấu tuổi có thay đổi nhưng nhìn chung, dân số toàn huyện vẫn tiếp tục là dân số trẻ Khoảng 35,5% dân số ở độ tuổi dưới 15 và chỉ có 6,8% từ 65 tuổi trở lên Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn cao và giai đoạn trong 5-10 năm tới sẽ đạt mức cực đại và sẽ giảm dần

Trang 19

* Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị và nông thôn:

Dân số thành thị năm 2014 là 5.801 người, chiếm 23% tổng dân số, đây là chiều hướng phù hợp với quá trình đô thị hoá đang phát triển; dân số khu vực nông thôn là 18.915 người

- Phân bố dân cư theo lãnh thổ:

Số dân thành thị và nông thôn đều tăng nhưng tốc độ tăng của số dân thành thị cao hơn nông thôn do quá trình đô thị hoá, sự phát triển và hình thành thị trấn Vân Canh trên phạm vi toàn huyện, mật độ dân số trên một km2 tăng không đáng kể qua các năm Nếu năm 1995 có 25 người, đến năm 2000 tăng lên 27 người đến năm 2006 là 32 người

và năm 2014 là 31 người Như vậy, tính theo mật độ dân số thì Vân Canh là huyện thưa dân nhất tỉnh Trên địa bàn huyện, mật độ dân cư phân bố không đều giữa các xã, thị trấn Có 4 xã có mật độ thấp hơn 33 người là Canh Liên, Canh Hiệp, Canh Hòa, Canh Thuận; 2 xã từ 69 người đến 80 người là Canh Hiển, Canh Vinh; thị trấn Vân Canh có mật độ đông nhất là 287 người/Km2 Tuy nhiên về cơ cấu dân số thành thị của huyện vẫn còn thấp so với tỉnh và cả nước (tỉnh 24,7%, cả nước 24,5%), biểu hiện mức độ phát triển công nghiệp, dịch vụ của huyện còn nhiều hạn chế

1.3 Tình hình an toàn giao thông trên địa bàn huyện

1.3.1 Tình hình ATGT trên tuyến :

Tuyến đường đề tài chọn nghiên cứu nằm trong danh sách « Các tuyến đường hay xảy ra TNGT » theo thống kê của ban ATGT tỉnh Tình hình ATGT trên các tuyến đường gia tăng có tính chất đột biến, nhiều lúc gần như không thể kiểm soát Hoạt động giao thông trở thành một hoạt động nguy hiểm nhất trong các hoạt động bình thường của đời sống xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Theo kết quả thống

kê, nạn nhân hầu hết là nam giới tuổi từ 20-50, là lao động chính nuôi sống cả gia đình

Vì vậy, dù chỉ có duy nhất một thành viên trong gia đình liên quan trực tiếp tới vụ tai nạn, hậu quả mà nó gây ra lại ảnh hưởng tới toàn bộ gia đình của nạn nhân, trung bình khoảng 4 người ATGT tạo ra gánh nặng tài chính gấp đôi đối với các hộ nghèo Cùng một thời điểm, họ phải chịu chi phí thuốc men, nếu không thì là chi phí tang lễ và họ còn mất đi nguồn thu nhập hàng tháng từ chính nạn nhân ATGT

Theo số liệu từ ban ATGT tỉnh, số vụ TNGT trên tuyến đường từ năm 2014 đến

Trang 20

năm 2016 như sau:

Bảng 1-3: Bảng số liệu về tai nạn và số người chết và bị thương

1.3.2 Một số đặc điểm chung của các TNGT đã xảy ra trên tuyến

- Theo số liệu thống kê, nạn nhân trong các vụ TNGT hầu hết là nam giới, độ tuổi

từ 20-50

- Hầu hết các vụ tai nạn đều có liên quan đến ít nhất một môtô

- Theo hồ sơ tai nạn, nguyên nhân của hầu hết các vụ tai nạn được xác định là : không chú ý quan sát, hoặc chạy quá tốc độ quy định

1.4 Các giải pháp từng được ứng dụng và các vấn đề còn tồn tại

1.4.1 Các giải pháp đã từng được áp dụng

Trước tình hình TNGT nghiêm trọng như trên, Ban ATGT tỉnh đã phối hợp với các sở, ban, ngành áp dụng nhiều biện pháp để giảm thiểu tai nạn trên toàn tỉnh nói chung và các tuyến GTNT nói riêng Các biện pháp này bao gồm :

Về tuyên truyền, giáo dục :

- Tổ chức các đợt tuyên truyền trực quan, treo phướn, băng rôn trên các tuyến đường chính

- Triển khai tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn ATGT bằng loa phát thanh về nội dung tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ đến người tham gia giao thông tại các nút giao thông phức tạp vào giờ cao điểm

- Ban ATGT tỉnh phối hợp với UBND huyện thường xuyên tổ chức tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô, treo panô, phướn tuyên truyền trực quan về trật tự ATGT trên các tuyến đường và khu đông dân cư; phối hợp với các trường đại học, cao đẳng tổ chức cho học sinh, sinh viên ký cam kết không vi phạm pháp luật về trật tự ATGT (TTATGT)

- Phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TTATGT; Tổ chức tuyên truyền lưu động tại khu vực các trường học, bến xe,

TUYẾN QUỐC LỘ 19C ĐOẠN DIÊU TRÌ – MỤC THỊNH

Trang 21

Về kỹ thuật :

- Rà soát, loại bỏ một số biển thông tin không còn phù hợp

- Thảm lại một số đoạn hư hỏng KCAĐ

- Mở rộng đường cong

1.4.2 Đánh giá hiệu quả của các giải pháp và các vấn đề còn tồn tại :

Rõ ràng, đây là những cố gắng rất lớn của toàn tỉnh Không thể phủ nhận kết quả của những nỗ lực này, tình hình tai nạn trên một số tuyến đường đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, sự cải thiện này được đánh giá là không bền vững vì các lý do sau đây :

- Tính chất thảm khốc trong các vụ TNGT vẫn không giảm, nghĩa là hầu hết các

vụ tai nạn đều có người bị thương nặng hoặc chết

- Số lượng các phương tiện lưu thông trên đường ngày một gia tăng, nhất là xe mô

- Ban ATGT tỉnh Bình Định đã phối hợp với các sở ban ngành áp dụng nhiều biện

Trang 22

pháp trong các lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục, cưỡng chế Điều kiện đường, nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành các vụ tai nạn vẫn chưa được xem xét đúng mức

Việc lật lại các vụ tai nạn và xem xét đánh giá lại một cách khách quan nhằm xác định nguyên nhân của các vụ tai nạn là cần thiết Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế tai nạn, góp phần tăng cường ATGT cho các tuyến đường trên địa bàn huyện

Trang 23

CHƯƠNG 2

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN ATGT ĐƯỜNG BỘ VÀ KẾT QUẢ KHẢO

SÁT, PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đén ATGT đường bộ

2.1.1 Phân tích cơ chế hình thành TNGT

Giao thông được tạo nên bởi ba yếu tố tổng hợp: Con người, có nhu cầu đi lại và thực hiện đi lại, con đường là môi trường đi lại và xe cộ là phương tiện đi lại Ba yếu tố này hoạt động và tác động với nhau, tạo ra một kết quả, thỏa mãn nhu cầu đi lại của con người Nếu sự hoạt động và tác động lẫn nhau của các yếu tố trên là đúng và êm thuận thì sẽ có giao thông an toàn, thuận lợi Trái lại nếu một trong các yếu tố đó hoạt động không bình thường hoặc tác động không đúng với các yếu tố khác thì sẽ xuất hiện nguy

cơ xảy ra tai nạn Như vậy, TNGT xảy ra với sự góp phần của ba yếu tố:

Nhân tố con người: Bao gồm cả tuổi tác, khả năng đánh giá, kỹ năng lái xe, kinh nghiệm, sự chú ý, sức khỏe và sự tỉnh táo

Phương tiện: Bao gồm thiết kế, sản xuất và bảo dưỡng

Điều kiện đường, tổ chức giao thông và môi trường - bao gồm liên kết hình học, mặt cắt, các thiết bị điều khiển giao thông, ma sát bề mặt, kết cấu, biển báo, thời tiết, khả năng hiển thị

Highway Safety Manual (HSM) đã đưa ra nghiên cứu của Treat được tiến hành vào năm 1980 cho biết ảnh hưởng của các yếu tố trong các vụ tai nạn thể hiện trong sơ

đồ sau:

Hình 2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố trong TNGT ( Nguồn: Treat -1980)

Trang 24

Để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến một vụ tai nạn, HSM đã đưa ra mô hình ma trận Haddon Đây là ma trận được sử dụng phố biến hiện nay trên thế giới trong lĩnh vực phòng, chống tai nạn Ma trận này được phát triển bởi William Haddon vào năm 1970, xem xét các yếu tố liên quan đến con người, xe cộ và điều kiện đường trước, trong và sau khi bị thương hoặc tử vong, như sau:

Bảng 2.1: Ma trận Haddon

trường

Trước khi xảy ra tai nạn:

Các yếu tố góp phần gia tăng

nguy cơ xảy ra tai nạn

Trong khi xảy ra tai nạn:

Các yếu tố góp phần làm vụ

tai nạn trở nên nghiêm trọng

- Những đối tượng dễ bị tổn thương

Thiết kế tựa đầu Túi khí hoạt động

Ma sát vỉa hè Môi trường bên lề đường

Sau khi xảy ra tai nạn:

Các yếu tố góp phần tạo ra kết

quả của vụ tai nạn

Tuổi tác Giới tính

Dễ dàng di chuyển các hành khách bị thương

Thời gian và chất lượng của các ứng phó khẩn cấp, các điều trị y tế tiếp theo

Xem xét tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố tạo ra tai nạn và thời điếm xảy ra tai nạn để tìm ra được các biện pháp giảm thiểu tai nạn

2.1.2 Nhân tố con người trong ATGT

Con người là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến ATGT, là nguyên nhân của 93% các vụ TNGT (theo nghiên cứu của Treat — 1980)

Trang 25

Người lái xe có nhiều nhiệm vụ và phải thực hiện các nhiệm vụ này trong cùng một lúc, trong đó có ba nhiệm vụ chủ yếu là:

Lái xe: Lập hành trình đi và định ra con đường tiếp sau

Dẫn hướng: Đi theo con đường đã định và duy trì một hướng đi an toàn trong khi

đáp ứng các địều kiện cụ thể từng lúc của giao thông trên đường

Quản lý: lái hướng đi và quản lý tốc độ xe chạy có nhiều vấn đề cố hữu trong tiến

trình thực hiện các nhiệm vụ này, nấy sinh từ cả hai phương diện: khả năng của người lái

xe và những cái chung giữa con người với hợp phần khác của hệ thống giao thông đường

- Khi các lái xe làm việc quá mệt, họ bỏ qua một phần nhu cầu thông tin đầu vào

mà đôi khi chúng lại quan trọng để xử lý các tình huống nguy hiểm

- Bị căng thẳng, khuấy động, thiếu kinh nghiệm, tất cả có thể dẫn tới những sai lầm và những phán xét không đúng

Tóm lại, những người điều khiển phương tiện là những con người cụ thể không hoàn hảo, họ có thể mắc lỗi Trong khi đi đường gặp phải các tình huống nguy hiểm người lái xe phải xử lý nhanh chóng bằng việc quyết định thực hiện các động tác Tuy nhiên, vì người điều khiển phương tiện không hoàn hảo nên họ có thể mắc lỗi khi phải quyết định động tác nhanh chóng trước sự cố xảy ra Nếu những quyết định đó không đúng, chậm hơn hoặc nhầm lẫn thì dễ mất an toàn

Mặc dù khi soạn thảo các tài liệu tiêu chuẩn thiết kế, người ta đã tiến hành theo dõi kỹ chế độ chạy xe và xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học nhưng cho dù lấy ở bất kỳ tỷ lệ xác suất đảm bảo nào đi nữa thì vẫn có một bộ phận người điều khiển phương tiện mà nhu cầu của họ không được thoả mãn theo các tiêu chuẩn hiện hành

Người điều khiển phương tiện là chủ thể trực tiếp liên quan đến TNGT nhưng có thể có lỗi hoặc không có lỗi, có thể vi phạm hoặc không vi phạm luật giao thông Nghĩa

Trang 26

là khi xét nguyên nhân gây TNGT thi người điều khiển phương tiện là đối tượng được đề cập đầu tiên nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân chính, nguyên nhân chủ yếu

Có thể tống quát những nguyên nhân do người điều khiến phương tiện gây ra TNGT thành sơ đồ sau:

Hình 2.2 Những nguyên nhân xảy ra TNGT do người lái xe

2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện đường và môi trường trong ATGT

Điều kiện đường và môi trường là nguyên nhân gây ra 34% các vụ TNGT trên thế giới (theo nghiên cứu của Treat - 1980)

2.1.3.1.Ảnh hưởng của điều kiện đường

Đường ô tô là một công trình lớn, có thời gian tồn tại lâu dài và được xã hội sử dụng Vì vậy, đường không chỉ là không gian đủ đế thông xe mà nó là môi trường lao động của người lái xe Đường ảnh hưởng đến các điều kiện chạy xe qua các yếu tố tuyển của nó và qua chất lượng mặt đường Trong chừng mực nào đó đường có thể "dẫn dắt" ô

tô, làm cho xe dễ dàng chạy vào những con đường cong có độ dốc siêu cao chọn đúng

Trang 27

hoặc như gián tiếp gợí cho người điều khiển phương tiện thấy hướng chuyển động tiếp theo ngoài phạm vi tầm nhìn trực tiếp

Điều kiện đường tập hợp gồm rất nhiều nhân tố có liên quan đến TNGT, nhưng

có thể xét tổng thể ở 3 nhóm yếu tố như sau:

- Các yếu tố hình học của đường;

- Các đặc trưng của mặt đường;

- Công trĩnh kỹ thuật phụ trợ: biển báo, vạch sơn

a Các đặc trưng hình học của tuyến:

Các đặc trưng hình học cơ bản của tuyến bao gồm: Bình đồ, trắc dọc, trắc ngang

và sự phối hợp các yếu tố tuyến này

Bình đồ:

Trên bình đồ tuyến gồm có các đoạn thẳng được nối tiếp với nhau bằng những đoạn cong tròn

Đổi với các đoạn tuyến thẳng:

Mặc dù tuyến đường thẳng có ưu điểm về điều kiện xe chạy nhưng nếu lái xe trên đoạn đường thẳng quá dài sẽ gây bất lợi về mặt ATGT TNGT xảy ra nhiều trên các đoạn đường thắng là do:

Khi xe chạy trên đường thẳng dài, lái xe thường mất chủ quan, ít kiểm tra tốc độ

và thường cho xe chạy với tốc độ cao, dẫn đến không kịp xử lý khi gặp các sự cố bất thường

Đoạn tuyến dài với phong cảnh đơn điệu, thiếu các tác nhân kích thích sự chú ý của lái xe khiến lái xe dễ buồn ngủ

Đường cong trên bình đồ:

Thống kê của nước ngoài cho thấy số TNGT xảy ra trên các đường cong thường chiếm 10 - 12% tổng số TNGT với nguyên nhân là điều kiện đường sá Theo số liệu nghiên cứu thống kê ở nhiều nước trên thế giới đã xác nhận một quy luật chung là: tuyến đường được thiết kế với bán kính cong nằm càng nhỏ thì TNGT càng tăng Khi chạy trong đường cong xe phải chịu nhiều điều kiện bất lợi so với khi chạy trong đường thẳng Những điều kiện bất lợi đó là:

Xe phải chịu thêm lực li tâm Lực này nằm ngang trên mặt phẳng thẳng góc với

Trang 28

trục chuyển động, hướng ra ngoài đường cong Lực li tâm có tác dụng xấu, có thể gây lật

đổ xe, gây trượt ngang làm cho việc điều khiển xe trở nên khó khăn Lực li tâm càng lớn khi tốc độ xe chạy càng nhanh và bản kính cong càng nhỏ

Khi xe chạy trên đường cong, trục sau cố định luôn luôn hướng tâm, còn bánh trước hợp với trục xe một góc nên yêu cầu có bề rộng phần xe chạy lớn hơn trên đường thẳng thì xe mới chạy được bình thường

Dễ bị cản trở tầm nhìn, nhất là khi bán kính đường cong nhỏ ở đoạn đường đào

- Khi lên dốc do tầm nhìn bị che khuất bởi đỉnh dốc

- Xe xuống dốc vòng tránh, vượt các xe tải có tốc độ thấp hơn

- Nhìn chung xe xuống dốc nguy hiểm hơn xe lên dốc bới một phàn do chênh lệch tốc độ giữa các xe chạy nhanh chậm khác nhau khi xuống dốc, một phần do độ dốc dọc lớn làm tăng chiều dài hãm xe cần thiết để đảm bảo an toàn khi phải hãm phanh gấp

Trắc ngang:

Các bộ phận trên mặt cắt ngang bao gồm: phần xe chạy, lề đường, dải phân cách, phần trồng cây, các làn xe phụ Mỗi bộ phận trên mặt cắt ngang đều có ảnh hưởng đến an toàn xe chạy

Phần xe chạy: Bề rộng phần xe chạy có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của

dòng xe, tốc độ chạy xe, khả năng thông hành Theo Nguyễn Quang Phúc - Chuyên đề

đường — TNGT và ảnh hưởng của các yếu tổ hình học đường đến ATGT, Trường Đại

học GTVT, 2007 đề xuất: Bề rộng làn nhỏ hon 3m làm tăng tỉ lệ tai nạn Bề rộng làn xe lớn lại dẫn đến các hành vi mất an toàn do lái xe hay do dự - “trôi” sang hai bên của làn

và xảy ra khả năng vượt xe trong cùng một làn xe Bề rộng tối ưu là 3,4 - 3,7m

Trang 29

Lề đường: Trạng thái và bề rộng của lề đường cũng như cấu tạo của lề đường là

những thông số ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn xe chạy Lề đường có bề rộng hẹp thường làm tăng TNGT là do các nguyên nhân sau đây:

- Khi xe đang chạy trên đường gặp các sự cố thường phải lao ra lề đường với tốc

độ cao, nhưng vì lề quá hẹp nên đã không thể dừng lại trong phạm vi của nền đường

- Các xe đỗ trên lề có bề rộng hẹp làm giảm hiệu quả sử dụng bề rộng phần xe chạy khiến lái xe có xu hướng lấn sang làn bên cạnh hay làn xe chạy ngược chiều tạo nên tình huống gây tai nạn

Lề đất (lề không được gia cố) cũng làm tăng nguy cơ xảy ra tai nạn Khi xe đi

lệch ra lề đường, bánh xe bị lún vào nền đất Chênh lệch về sức cản và hệ số bám giữa mặt đường và lề đường quá lớn khiến xe bị trượt ngang Mặt khác, khi chỉ có lề đất thì tâm lý của người lái xe thường cho xe chạy xa mép lề đường để đẩm bảo an toàn, do vậy không tận dụng được hết phần xe chạy của làn xe cạnh mép Điều này làm giảm hiệu quả của phần mặt đường, giảm khả năng thông hành và còn dễ gây mất an toàn khi gặp phải

xe đi ngược chiều

Bó vỉa: Phần xe chạy được tách biệt với vỉa hè và dải phân cách bằng bó vỉa

Hàng bó vỉa ngăn cách này sẽ làm cho lái xe có xu hướng đưa quỹ đạo chuyển động của

xe về phía tim đường để đề phòng va quệt vào vỉa hè hoặc dải phân cách, đồng thời làm giảm tốc độ xe chạy khi vượt so với đường không có bó vỉa Ở các dải phân cách xây dựng có bó vỉa cao thường gây nguy hiểm cho các xe vượt do bánh xe va vào bó vỉa Theo nghiên cứu của nước ngoài thì đây là nguyên nhân của 12% TNGT

b Các đặc trưng khai thác của mặt đường

Hiện trạng mặt đường là một yếu tố quan trọng đối với an toàn Ổ gà, mép đường

hỏng và lề đường không đảm bảo chất lượng là những nguyên nhân gây nguy hiểm

Ổ gà: Mặt đường hư hỏng cục bộ tạo nhiều ổ gà Không có con số thống kê tai

nạn do ổ gà, nhưng đây là nguyên nhân chính gây ra tai nạn nếu đi với tốc nộ cao, đặc biệt là đối với xe hai bánh Một phần nào đó thì ổ gà rất nguy hiểm vì có thể chúng là nguyên nhân gây ra đâm nhau khi người lái xe cố gắng điều khiển để không đâm phải ổ

Độ nhám:

Trang 30

Độ nhám mặt đường không đảm bảo Mặt đường tron ở nhiều đoạn đường đặc biệt xảy ra vào những ngày mưa và khi có bùn trên đường

c Các công trình kỹ thuật phụ trợ:

Biển báo: Biển báo nhiều nơi lắp đặt không đúng vị trí gây cản trở tầm nhìn cho

người tham gia giao thông và đôi khi trở thành vật cản trên đường, khi lắp đặt nhiều biển báo tại cùng một vị trí sẽ làm cho người tham gia giao thông bị quá tải thông tin trong khi anh ta cũng phải nhận tất cả các thông tin khác về tình hình giao thông Và một điều rất dễ nhận thấy nữa trên các tuyến đường nước ta là biển báo thường bị cây cối che

khuất

Sơn kẻ đường:

Tuổi thọ của sơn kẽ đường rất ngắn vì vậy chúng mờ dần rất nhanh và mất hẳn ở nhiều chỗ Và ta thường thấy ở một số nơi sơn kẽ đường mới và cũ chồng chéo lên nhau

sẽ làm cho người lái xe mất phương hướng trong một số trường hợp

d Khiếm khuyết tại các nút giao thông:

Việc thiết kế các nút giao hầu hết là chưa đạt yêu cầu và nguy hiểm dưới góc độ ATGT Đoạn nối giữa đường cũ với đường mới bằng các đường chuyển tiếp xuất hiện khá phổ biến, tạo ra một hình ba góc quá rộng và thường được thiết kế nút chữ Y, nút chữ Y quá lớn lại không có hướng dẫn rõ ràng cho người tham gia giao thông, người đi

bộ và người lái xe Điều này rất nguy hiểm và không biết xe nào được quyền ưu tiên

Nhiều nơi việc thiết kế nút giao thường bị lãng quên Và trường hợp khác là khó

phát hiện nút giao mới trên đường vì chúng nằm ở ngay sau khúc cua hoặc đỉnh dốc

e Đường nhánh:

“Đường nhánh” là nhập và tách khỏi (vào và ra) khỏi làn đường chính, chẳng hạn như các nút giao, đoạn dốc nối, đường vào các khu dân cư, nơi đậu xe (thậm chí là các điểm đỗ xe bên đường), điểm dừng xe buýt Khi phương tiện đi với tốc độ trên 30 km/h thi rất nguy hiểm nếu đứng trên góc độ an toàn đường bộ Trên các tuyến quốc lộ hiện nay việc không kiểm soát được đường nhánh là một vấn đề lớn Đặc biệt là ở khu vực

GTNT huyện Vân Canh có

nhiều nhà dân sống dọc hai bên đường và nhiều đường nhánh nhỏ dọc trên các tuyến đường để đi vào nhà dân

Trang 31

2.1.3.2.Ảnh hưởng của môi trường trong ATGT:

Môi trường ảnh hưởng đến ATGT bao gồm 2 loại, mỗi loại bao gồm nhiều nhân

tố khác nhau:

- Môi trường tự nhiên như : Điều kiện của địa hình, địa vật (đồi núi, nhà cửa, cây

xanh hai bên đường ); điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn (gió, mưa, nhiệt độ, độ ẩm,

sương mù )

- Môi trường xã hội như : Ý thức, hành vi của con người; trình độ dân trí; mức độ hiểu biết và chấp hành luật pháp; lấn chiếm hành lang an toàn đường bộ, lấn chiếm lòng

đường, vỉa hè, bán hàng rong, chợ cóc,

Nghiên cứu tác động của môi trường đến an toàn xe chạy chính là xem xét mối quan hệ giữa môi trường với lái xe, môi trường với đường và môi trường với phương

tiện giao thông

Sự thay đổi của điều kiện khí hậu, thời tiết như mưa, gió, bão sương mù, nhiệt độ

môi trường ảnh hưởng đến chất lượng khai thác của đường cũng như chế độ chạy xe

trên đường Những hiện tượng tự nhiên này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng điều khiến phương tiện của lái xe, khả năng ổn định của các phương tiện xe cộ và là những nguyên nhân gây ra sự nguy hiểm trên đường và làm mất ATGT Ví dụ khi trời mưa, mặt đường ẩm ướt làm suy giảm hệ số bám của mặt đường sẽ gây trơn trượt, đồng thời làm mờ kính xe khiến cho người điều khiến phương tiện khó quan sát phía trước và

kết quả là làm tăng mức độ nguy hiếm

Thông thường việc cải tạo môi trường tự nhiên là rất khó vì vậy để làm giảm ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, khi thiết kế đường và thiết kế phương tiện người ta sẽ lựa chọn những phương án mà ảnh hưởng xấu của môi trường đến an toàn chạy xe là nhỏ nhất Ví dụ thiết kế tuyến tránh đi qua những vùng có địa hình khó khăn hay những nơi tập trung đông dân cư; trang bị đèn pha vàng có khả năng chiếu sáng trong điều kiện thời tiết có sương mù cho phương tiện Để cải tạo môi trường xã hội, người ta thường dùng các biện pháp giáo dục, tuyên truyền và xử phạt đế nâng cao ý thức của người tham gia

giao thông cũng như của những người sinh sống, làm việc hai bên đường

Trang 32

2.1.4 Nhân tố phương tiện trong ATGT:

Nhân tố phương tiện là nguyên nhân gây ra 13% các vụ TNGT trên thế giới (theo nghiên cứu của Treat — 1980)

Mức độ ATGT đối với phương tiện phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: độ ổn định của

xe, hệ thống điềụ khiển, hệ thống hãm xe Hệ thống hãm xe động lực bao gồm: các bộ phận hãm phanh, các bánh xe, bộ phận phanh lái và khối lượng của ô tô Hiện tượng mất

an toàn của ô tô và TNGT gây ra do nguyên nhân ở hệ thống hãm phanh thường xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

- Loại xe được trang bị hệ thống phanh hơi thì buồng hơi không kín làm hơi nén bị tổn thất, mất mát

- Bộ guốc của má phanh bị mài mòn

- Hệ thống điều tiết các lực hãm phanh không nhanh nhạy

- Lốp xe bị bào mòn quá nhiều

- Các chi tiết của tay lái bị mòn đơ không liên kết chặt chẽ với nhau Ngoài những nguyên nhân trên thì lượng hàng chất quá tải làm tăng lực quán tính khi hãm xe cũng là một nguyên nhân gây mất an toàn xe chạy

2.2 Các kết quả khảo sát, phân tích thực nghiệm

2.2.1 Kết quả thu thập số liệu khảo sát tai nạn, phân tích đặc điểm các vụ tai nạn

Đề tài đã tập hợp những ghi chép về các vụ va chạm và tai nạn trên các tuyến Liên

xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa; Thị trấn Vân Canh đến làng KaTe từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2016 Qua đây, đề tài phân tích nguyên nhân gây ra TNGT trên 02 tuyến đường nghiên cứu theo các yếu tố nhóm để từ đó nắm rõ được tỉ lệ % nguyên nhân gây ra Đặc biệt là chỉ tiêu và yếu tố hình học của đường để từ đó phân rõ ra từng nhóm

cơ lý, xác định điếm đen giao thông

Số liệu khảo sát tai nạn, phân tích đặc điểm các vụ tai nạn trên tuyến Liên xã từ xã Canh Vinh đến xã Canh Hòa từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2016: (Phụ lục 1)

Số liệu khảo sát tai nạn, phân tích đặc điếm các vụ tai nạn trên tuyến thị trấn Vân Canh – làng KàTe từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2016: (Phụ lục 2)

Trang 33

2.1.1 Phân loại và tổng hợp các nguyên nhân gây tai nạn giao thông trên tuyến đường thuộc địa bàn huyện Vân Canh:

Bảng 3-1: Bảng tổng hợp TNGT trên tuyến đường GTNT huyện Vân Canh

Theo kết quả phân tích từ số liệu điều tra, khảo sát thực tế và hình ảnh tai nạn có đuợc, đề tài đã phân loại các nguyên nhân gây ra TNGT trên các tuyến GTNT theo các nhóm cụ thế như sau:

Nhóm

nguyên

nhân

Nguyên nhân cụ

Ngày đăng: 10/08/2020, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Viện KH và Công Nghệ GTVT, Giảo trình đào tạo thẳm tra viên ATGT đường bộ [2] Washington D.C, Highway Safety Manual - Volume 1&2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện KH và Công Nghệ GTVT, Giảo trình đào tạo thẳm tra viên ATGT đường bộ "[2]
[8] Phòng thẩm định và QLCL Sở GTVT tỉnh Bình Định, Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng khai thác đường.Nguyễn Quang Phúc — Chuyên đề đường - TNGT và ảnh hưởng của các yếu tổ hình học đường đến ATGT, Trường Đại học GTVT, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng thẩm định và QLCL Sở GTVT tỉnh Bình Định, Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng khai thác đường
[5] Phan Cao Thọ, Nghiên cứu giải pháp nâng cao ATGT và chống ùn tắc ở một sổ đô thị lớn Việt Nam, đề tài KHCN cấp Bộ B2009-TDA01-02 Khác
[6] Ủy ban ATGT tỉnh tỉnh Bình Định, Hồ sơ TNGT Tỉnh Bình Định, Sở Giao thông Vận tải Bình Định Khác
[7] Hồ sơ Tai nạn, Va chạm huyện Vân Canh và tỉnh Bình Định từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2016, Phòng Cảnh Sát Giao Thông công an tỉnh Bình Định Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w