Chính vì vậy, hạch toán được chi phí sản xuất và tính giá thành chính xác mới chỉ là điều kiệncần, nhưng để đủ thì song song với điều đó là cần quan tâm làm thế nào để có thể cung cấpthô
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Chúng ta đang trong giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ đã cónhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực: khoa học, công nghệ, thông tin, sinh học…đặcbiệt là lĩnh vực công nghệ thông tin Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thôngtin trên thế giới đã làm thúc đẩy sự phát triển của nhiều hoạt động khác, đặc biệt làhoạt động sản xuất kinh doanh Diệt vong hay tồn tại, thắng lợi hay thất bại, điều đótrong giai đoạn hiện nay có thể nói là phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thông tin Vìvậy, các công ty, các doanh nghiệp thuộc mọi ngành, mọi thành phần kinh tế luônphải suy nghĩ, tìm giải pháp làm thế nào để có thể thu được thông tin một cáchnhanh nhất, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong bối cảnh quốc tế như vậy, Việt Nam sau gần 20 năm đổi mới cũng đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn, trở thành một nước có nền kinh tế đang phát triển khá ổn định, lànơi tập trung khá nhiều đầu tư của các nước Châu á và trên thế giới Trước tình hình thếgiới và trong nước như vậy, các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế củaViệt Nam đã chú trọng, quan tâm rất nhiều đến yếu tố thông tin để có thể giành được vị trítrong nền kinh tế
Ngành sản xuất công nghiệp là một ngành luôn được Nhà nước ta quan tâm và đặtvào vị trí quan trọng trong nền kinh tế, tuy vậy, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp củanước ta trong những năm qua còn gặp khá nhiều khó khăn do cơ sở vật chất kỹ thuật yếukém, công nghệ lạc hậu, chậm phát triển rất nhiều so với nhiều quốc gia trên thế giới Đếnnay, mặc dù đã có sự đi lên của một số doanh nghiệp, song lợi nhuận của các doanh nghiệpthuộc ngành sản xuất công nghiệp vẫn còn khá khiêm tốn Để có thể thu được lợi nhuậncao đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Tuynhiên, các doanh nghiệp mới chỉ quan tâm đến khía cạnh này thì chưa đủ trong giai đoạnhiện nay, khi mà thông tin trở nên rất cần thiết cho các quyết định của doanh nghiệp Chính
vì vậy, hạch toán được chi phí sản xuất và tính giá thành chính xác mới chỉ là điều kiệncần, nhưng để đủ thì song song với điều đó là cần quan tâm làm thế nào để có thể cung cấpthông tin hữu ích nhất cho các nhà quản trị doanh nghiệp để có thể hoạch định nên cácchiến lược, chính sách, quyết sách của doanh nghiệp
Trang 2Với ý nghĩa này, tác giả đã đi đến lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp”
ty Máy và Thiết bị công nghiệp
- Kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí, tính giá thành sảnphẩm với việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp thuộcTổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận, tình hình thực tế hạch toán chi phí tínhgiá thành sản phẩm, thực tế hệ thống thông tin kế toán quản trị của các doanh nghiệp thuộcTổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Máy vàThiết bị công nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với tư duy khoa học lôgíc để nghiên cứu
- Ngoài ra để nghiên cứu luận văn còn sử dụng các phương pháp khảo sát, phân tích,tổng hợp, đối chiếu, quy nạp, diễn giải để đưa ra những nhận xét, kiến nghị
5 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, chữ viết tắt,tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm với việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệpsản xuất công nghiệp
Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việcxây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Máy
và Thiết bị công nghiệp
Trang 3Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm với việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệpthuộc Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp
Chương 1Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 1.1 Lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
1.1.1 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
về tư liệu lao động như chi phí khấu hao TSCĐ, công cụ dụng cụ và chi phí về đốitượng lao động như các loại nguyên vật liệu Các chi phí này phát sinh thườngxuyên gắn liền với quá trình sản xuất được gọi là chi phí sản xuất Hao phí về tưliệu lao động và đối tượng lao động được gọi chung là hao phí về lao động vật hoá
Vì vậy về mặt chất:
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và laođộng vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trongmột thời kỳ nhất định
Về mặt lượng, chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố:
Trang 4- Lượng hao phí lao động và hao phí tư liệu sản xuất trong kỳ.
- Giá cả của một đơn vị lao động đã hao phí và giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao.CPSX phát sinh bao gồm rất nhiều loại do đó cần phải phân loại CPSX nhằm quản lýtốt chi phí, tạo ra các thông tin hữu ích cho việc ra quyết định tăng thêm, giảm bớt, cắtbỏ…chi phí thích hợp và không thích hợp cho sản xuất Có các cách phân loại CPSX nhưsau:
* Phân loại CPSX theo yếu tố chi phí:
Đây là cách phân loại dựa vào nội dung kinh tế của chi phí Về thực chất chỉ có 3 yếu
tố chi phí là chi phí về lao động, chi phí về tư liệu lao động và chi phí về đối tượng laođộng Tuy nhiên để có thể cung cấp thông tin một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việcxây dựng, phân tích định mức vốn lưu động, lập kiểm tra, phân tích dự toán chi phí nên cácyếu tố chi phí trên được chi tiết theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng Theo cách phânloại này thì chi phí sản xuất bao gồm 7 yếu tố:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ …sử dụng vào sản xuất (loại trừ giá trị dùngkhông hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực)
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất trong kỳ
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương và cáckhoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương vàphụ cấp lương phải trả công nhân viên chức
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ củatất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùngcho sản xuất trong kỳ
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phảnánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ
Tác dụng trực tiếp của cách phân loại này là để tập hợp chi phí theo nội dungkinh tế ban đầu đồng nhất của chi phí mà không xét đến công dụng, địa điểm phátsinh của chi phí Ngoài ra cách phân loại này còn có ý nghĩa rất lớn trong quản lýCPSX, nó cho biết tỷ trọng từng yếu tố CPSX qua đó đánh giá, phân tích tình hìnhthực hiện dự toán CPSX, cung cấp tài liệu cho việc lập dự toán CPSX Tuy nhiên
Trang 5cách phân loại này có nhược điểm là không tính được giá thành cho từng đơn vị sảnphẩm do không phân biệt chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí
* Phân loại CPSX theo khoản mục chi phí trong GTSP.
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong GTSP và để thuận tiện cho việc tính giá thành,CPSX được phân loại theo khoản mục Hiện nay, CPSX bao gồm các khoản mục sau:
- Chi phí NVLTT: bao gồm giá trị của nguyên liệu, vật liệu dùng trực tiếp cho sảnxuất sản phẩm của doanh nghiệp
- Chi phí NCTT: Bao gồm toàn bộ tiền lương và các khoản trích theo lương: BHXH,BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
- Chi phí SXC: là những khoản chi phí phát sinh ở dưới phân xưởng, bộ phận sảnxuất còn lại ngoài CPNVLTT và CPNCTT
Cách phân loại này dựa vào mục đích, công dụng của chi phí mà không phân biệt chiphí đó có nội dung kinh tế như thế nào Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị doanhnghiệp dự toán được các khoản mục chi phí trọng yếu trong CPSX sản phẩm, cung cấp sốliệu cho việc xây dựng định mức giá thành và quản lý giá thành theo khoản mục, tính toánnhanh giá thành thành phẩm và bán thành phẩm trong quá trình quản lý chi phí, phân tíchtình hình thực hiện giá thành theo khoản mục chi phí Từ đó xác định nguyên nhân, đề racác giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ GTSP, nâng cao hiệu quả kinh doanh
* Phân loại CPSX theo mối quan hệ với đối tượng tập hợp chi phí.
- Chi phí trực tiếp: Là CPSX có liên quan trực tiếp đến sản xuất từng loại sản phẩm,đơn hàng Vì vậy có thể tập hợp trực tiếp cho từng loại sản phẩm, đơn hàng đó Thuộc loạichi phí này có CPNVLTT, CPNCTT
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến sản xuất nhiều loại sảnphẩm, đơn hàng khác nhau Loại chi phí này phải tập hợp chung rồi tiến hành phân
bổ cho các đối tượng, sản phẩm, đơn hàng theo một tiêu thức phù hợp Thuộc loạichi phí này có CPSXC
Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định phương pháp tập hợp vàphân bổ CPSXC cho các đối tượng, sản phẩm có liên quan một cách chính xác, hợplý
Các cách phân loại chi phí nêu trên là cần thiết cho công tác quản lý chi phí vàtính GTSP Tuy nhiên không sử dụng được cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và raquyết định kinh doanh được Do đó để cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch,
Trang 6kiểm tra và ra quyết định kinh doanh, CPSX được phân loại theo mối quan hệ vớikhối lượng sản phẩm hoàn thành.
* Phân loại CPSX theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Theo cách phân loại này, CPSX được chia thành biến phí và định phí
- Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng sảnphẩm sản xuất trong kỳ, chẳng hạn CPNVLTT, CPNCTT…Biến phí tính trên mộtđơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định
- Định phí: Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng sản phẩmsản xuất trong kỳ, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng,phương tiện kinh doanh v.v…Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thìlại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và yếu tố địnhphí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ ở mộtkhối lượng sản phẩm sản xuất nhất định thì chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm củađịnh phí Vượt trên khối lượng đó thì chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của biếnphí
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất của 2 mặt: mặt hao phí sản xuất vàmặt kết quả sản xuất CPSX là chỉ tiêu được dùng để phản ánh hao phí sản xuất, cònkết quả sản xuất được thể hiện bằng chỉ tiêu GTSP
1.1.1.2 Giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao độngsống và lao động vật hóa có liên quan đến một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định.GTSP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng vật tư, tài sản, tiềnvốn và lao động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời phản ánhkết quả của các giải pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật cũng như công nghệ mà doanhnghiệp đã sử dụng Do đó giá thành là căn cứ đánh giá chất lượng và hiệu quả củadoanh nghiệp
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa, GTSP được xemxét dưới nhiều góc độ khác nhau
Trang 7* Theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành được chia làm 3loại:
- Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giáthành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch
- Giá thành định mức: Giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắtđầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên
cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch,giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tạitừng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giáthành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạtđược trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành
- Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sảnphẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm
* Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia làm 2 loại:
- Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh liên quanđến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất
- Giá thành toàn bộ: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinhliên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Cả CPSX và GTSP đều là các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh quá trình sảnxuất Mỗi chỉ tiêu có bản chất kinh tế và cách tính riêng song giữa chúng có mốiquan hệ gắn bó mật thiết với nhau Để hiểu rõ cần nghiên cứu mối quan hệ giữaCPSX và GTSP
1.1.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
CPSX và GTSP đều là các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hai mặt thốngnhất của quá trình sản xuất CPSX phản ánh mặt hao phí sản xuất còn GTSP phảnánh mặt kết quả của sản xuất Do đó xét về bản chất cả CPSX và GTSP đều là biểuhiện bằng tiền của hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã bỏ ra trong quá trình sản xuất
CPSX và GTSP có mối quan hệ mật thiết với nhau CPSX là tiền đề, là cơ sở
để tính GTSP Không tính được CPSX thì không tính được GTSP và ngược lại,không có GTSP thì không thể biết được lượng chi phí tạo ra giá trị sản phẩm là bao
Trang 8nhiêu, có hợp lý, hiệu quả không Mặt khác, khi doanh nghiệp tiết kiệm được CPSXcũng có nghĩa là hạ thấp được GTSP Vì vậy CPSX, GTSP không chỉ có mối quan
hệ biện chứng trong lĩnh vực tính toán mà còn có sự gắn bó mật thiết với nhau tronglĩnh vực quản lý kinh tế Tuy nhiên, giữa CPSX và GTSP có những điểm khác biệtquan trọng:
- Về phạm vi thời gian: CPSX luôn gắn liền với một thời kỳ nhất định, cònGTSP lại gắn với khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định có thể vừa liên quanđến kỳ này, vừa liên quan đến kỳ trước
- Về phạm vi tính toán: CPSX trong kỳ bao gồm những chi phí phát sinh thực
tế trong kỳ không phân biệt chi phí đó phải trả cho kỳ trước hoặc trả cho kỳ sau.Trong khi đó GTSP bao gồm phần lớn CPSX kỳ này và một phần CPSX đã chi ra
kỳ trước (tồn tại dưới dạng chi phí SPDD đầu kỳ) nhưng cho sản phẩm trong kỳnày
- Trong quá trình sản xuất, CPSX kỳ trước chuyển sang kỳ này thường khôngkhớp với chi phí sản xuất kỳ này chuyển sang kỳ sau nên tổng CPSX trong một kỳthường không trùng với tổng GTSP hoàn thành kỳ đó
Mối quan hệ CPSX và GTSP được thể hiện qua sơ đồ sau:
CPSX dở dang đầu kỳ
A
CPSX phát sinh trong kỳ
B C D
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa CPSX và GTSP.
Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD - CD hay:
Khi AB = CD thì AC = BD hay khi giá trị SPDD đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhauhoặc trong các ngành sản xuất không có SPDD thì tổng GTSP bằng tổng CPSX phátsinh trong kỳ
1.1.3 Vai trò của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Trang 9-Với bản chất của CPSX và GTSP nêu trên thì hạch toán CPSX và tính GTSP
có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ với các doanh nghiệp ở tầm vi mô mà cả vớitầm quản lý vĩ mô là Nhà nước
* Vai trò của hạch toán CPSX và tính GTSP đối với doanh nghiệp.
Hạch toán đúng, đủ chi phí sản xuất, tính đúng giá thành sản phẩm giúp chodoanh nghiệp nắm được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, qua đó xác định được kết quả của những chi phí đã bỏ ra, từ đó có biệnpháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, là điều kiện để nâng cao khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Mặt khác, thông qua hạch toán chi phísản xuất, tính giá thành sản phẩm cũng giúp doanh nghiệp tìm được những khâu,những bộ phận yếu kém, không hiệu quả để mà hạn chế và có biện pháp xử lý kịpthời, phát hiện được những khả năng tiềm ẩn để phát huy nâng cao hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp
* Vai trò của hạch toán CPSX và tính GTSP đối với Nhà nước.
Thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp là cơ
sở số liệu cho Nhà nước tổng hợp đánh giá kết quả chung của toàn bộ nền kinh tế,đồng thời qua đó Nhà nước nắm được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp từ đó hoạch định các chính sách, chế độ quản lý vĩ mô nền kinh tế.Mặt khác, còn giúp cho Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kiểm tra kinh tế tài chính củadoanh nghiệp, góp phần làm lành mạnh hoá nền tài chính của doanh nghiệp cũngnhư của toàn đất nước
1.1.4 Nội dung hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
1.1.4.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành.
Để hạch toán CPSX và tính GTSP được chính xác, kịp thời đòi hỏi công việcđầu tiên nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng hạch toán CPSX và đối tượngtính GTSP Việc xác định đối tượng hạch toán CPSX chính là việc xác định giớihạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịuchi phí Còn xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm,bán thành phẩm, công việc nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị Đối
Trang 10tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dâychuyền sản xuất tùy theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để xác định đối tượng hạch toán CPSX và đối tượng tính GTSP cần dựa vào các căn
cứ sau đây:
* Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp.
Với sản xuất giản đơn, đối tượng hạch toán CPSX có thể là sản phẩm hay làtoàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sảnphẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm trong cùng một quá trình lao động) Cònđối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng
Với sản xuất phức tạp, đối tượng hạch toán CPSX có thể là bộ phận, chi tiết sảnphẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm… Cònđối tượng tính giá thành là thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ởtừng bước chế tạo
* Căn cứ vào loại hình sản xuất: đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn.
Với sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt nhỏ: đối tượng hạch toán CPSX là cácđơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn
Đối với sản xuất hàng loạt khối lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công nghệ sảnxuất (giản đơn hay phức tạp) mà đối tượng hạch toán CPSX có thể là sản phẩm, nhóm sảnphẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ… và đối tượng tính giá thành có thể làsản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm như đã nêu trên
* Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh:
Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng hạch toán CPSX và tính GTSP ở các góc
độ khác nhau, ngược lại với trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại
Đối tượng hạch toán CPSX và đối tượng tính giá thành là hai khái niệm khácnhau nhưng có mối quan hệ mật thiết Việc xác định hợp lý đối tượng hạch toánCPSX là điều kiện để tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành trong doanhnghiệp Trong thực tế, một đối tượng hạch toán CPSX có thể trùng với một đốitượng tính giá thành Trong nhiều trường hợp khác, một đối tượng hạch toán CPSXlại bao gồm nhiều đối tượng tính GTSP Ngược lại, một đối tượng tính giá thànhcũng có thể bao gồm nhiều đối tượng hạch toán CPSX Mối quan hệ giữa đối tượng
Trang 11hạch toán CPSX và đối tượng tính giá thành sẽ quyết định việc lựa chọn phươngpháp tính giá thành và kỹ thuật tính giá thành ở doanh nghiệp.
1.1.4.2 Hạch toán chi phí sản xuất.
Sau khi đã xác định được đối tượng tập hợp CPSX thì hàng kỳ căn cứ vào chứng từ
kế toán chi phí tiến hành tập hợp CPSX theo từng đối tượng hạch toán CPSX
* Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
CPNVLTT là chi phí có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng hạch toán chi phí Vìvậy hàng ngày căn cứ vào các chứng từ xuất kho vật liệu trực tiếp cho sản xuất sản phẩm
để tập hợp CPNVLTT cho từng đối tượng
Tài khoản sử dụng: TK 621
Nội dung kết cấu tài khoản này như sau:
Bên nợ: Tập hợp CPNVLTT thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có: Kết chuyển CPNVLTT cho các đối tượng liên quan
Sau khi kết chuyển tài khoản này không có số dư
TK 621 được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán CPSX: phân xưởng, bộ phậnsản xuất, sản phẩm …
* Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
CPNCTT cũng là chi phí thường liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí,
vì vậy căn cứ vào bảng thanh toán lương để hạch toán cho từng đối tượng Trường hợpCPNCTT liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì cần phân bổ cho từng đối tượngtheo tiêu thức phù hợp Thường sử dụng tiêu thức số giờ lao động trực tiếp, sản lượng sảnphẩm sản xuất, chi phí định mức…
Tài khoản sử dụng: TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp
Nội dung kết cấu:
Bên nợ: Tập hợp CPNCTT thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có: Kết chuyển hoặc phân bổ CPNCTT
Sau khi kết chuyển, phân bổ TK 622 không có số dư
* Hạch toán chi phí sản xuất chung.
CPSXC là những khoản chi phí phát sinh ở dưới phân xưởng, bộ phận sản xuất cònlại ngoài CPNVLTT và CPNCTT Để hạch toán chính xác, đầy đủ CPSXC thì cần phảiphân loại CPSXC:
- Theo nội dung kinh tế của chi phí: CPSXC bao gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng
Trang 12+ Chi phí vật liệu.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí bằng tiền khác
- Theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất ra, CPSXC được phânloại thành:
+ Chi phí SXC cố định
+ Chi phí SXC biến đổi
Kết cấu tài khoản 627- Chi phí sản xuất chung như sau:
Bên nợ: - Tập hợp CPSXC thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có: - Các khoản ghi giảm CPSXC
- Kết chuyển hoặc phân bổ CPSXC
TK 627 cuối kỳ không có số dư và được hạch toán chi tiết cho từng phân xưởng, bộphận sản xuất …
Trong các doanh nghiệp sản xuất thì đối với khoản mục CPSXC trước hếtdoanh nghiệp tập hợp CPSXC theo nội dung kinh tế của chi phí kết hợp với việc chitiết chi phí đó là CPSXC cố định hay CPSXC biến đổi Cuối kỳ mới tiến hành phân
bổ CPSXC cho các đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phù hợp
Nợ TK 154: Phần CPSXC cố định theo mức công suất bình thường
Nợ TK 632: Phần CPSXC cố định không phân bổ
Trang 13Có TK 627: Chi tiết CPSXC cố định.
- Đối với CPSXC biến đổi: CPSXC biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biếnsản phẩm theo số thực tế phát sinh
Nợ TK 154
Có 627- Chi tiết CPSXC biến đổi
Do đặc điểm CPSXC là chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng vì vậy phảiphân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp
Tiêu thức thường được sử dụng ở đây là: tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất, sốgiờ làm việc của công nhân trực tiếp sản xuất…
* Tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp.
Để đánh giá SPDD và tính GTSP thì các chi phí NVLTT, CPNCTT, CPSXC sau khitập hợp được đến cuối kỳ cần kết chuyển sang tài khoản tổng hợp chi phí theo từng đốitượng chịu chi phí
- Với phương pháp kê khai thường xuyên: kế toán sử dụng tài khoản 154 –chi phí sảnxuất kinh doanh dở dang để tổng hợp chi phí sản xuất
Nội dung kết cấu TK 154 như sau:
- Với phương pháp kiểm kê định kỳ:
Kế toán sử dụng TK 631- Giá thành sản xuất để tổng hợp chi phí sản xuất
Nội dung kết cấu TK 631 như sau:
c a t ng ủa từng ừng đối tượng
i đối tượng
t ượng ng
T ng CPSXC (c ổng GTSP ối tượng định hay nh hay
bi n ến đổi) cần phân bổ đổng GTSP i) c n phân b ần phân bổ ổng GTSP
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các
đối tượng
Trang 14x Qi x H i
Tổng giá thành sản xuất các loại sản phẩm
QH
Zi =
- Kết chuyển chi phí dở dang cuối kỳ
Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể
mở TK 631 chi tiết theo các đối tượng tập hợp chi phí như đối với TK 154
1.1.4.3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính GTSP là một phương pháp hoặc một hệ thống phương pháp được
sử dụng để tính GTSP và đơn vị sản phẩm Để tính được GTSP các doanh nghiệp phải căn
cứ vào đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp mình, vàođặc điểm sản phẩm, yêu cầu của quản lý, của hạch toán để có phương pháp tính giá thànhphù hợp Có các phương pháp tính giá thành sau:
- Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn)
Công thức tính: Zsp hoàn thành = Dđk + C - Dck
Phạm vi áp dụng: áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuấtgiản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất kinhdoanh ngắn như nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác quặng, than, gỗ…
Trang 15Tỷ lệ chi phí =
T ng giá th nh s n xu t th c ổng GTSP àn thành ản xuất thực ất thực ực
t c a các lo i s n ph m ến đổi) cần phân bổ ủa từng ại sản phẩm ản xuất thực ẩm
Tổng giá thành sản xuất kế hoạch (hoặc định
mức) của các loại sản phẩm
thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng được
cho từng sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho quá trình sản xuất
- Phương pháp tỷ lệ:
Công thức tính:
Phạm vi áp dụng: áp dụng trong các doanh nghiệp mà trong cùng một quy
trình công nghệ, cùng các yếu tố đầu vào, sản xuất ra nhóm sản phẩm cùng loại
nhưng có quy cách, phẩm chất, kích cỡ khác nhau
- Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ:
Công thức tính:
Phạm vi áp dụng: áp dụng đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá
trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những
sản phẩm phụ Để tính được GTSP chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ
khỏi tổng CPSX sản phẩm Giá trị sản phẩm phụ có thể xác định theo nhiều phương
pháp như giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban
đầu…
- Phương pháp liên hợp:
Là phương pháp áp dụng trong các doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất
quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải
kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hóa chất, dệt kim,
đóng giầy, may mặc…Kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực tiếp với tổng
cộng chi phí, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ
* Vận dụng phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình
doanh nghiệp chủ yếu.
= Giá th nh k ho ch àn thành ến đổi) cần phân bổ ại sản phẩm (ho c ặc định mức) đơn định hay nh m c) ức CPSXC đơn n
v s n ph m t ng lo i ịnh hay ản xuất thực ẩm ừng đối tượng ại sản phẩm
x T ỷ
l ệ chi phí
xu t ất thực phát sinh trong kỳ
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m ph ẩm ụ thu h i ồi
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m chính ẩm
d dang cu i ở dang đầu ối tượng kỳ
Trang 16Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng.
Trong các doanh nghiệp này, đối tượng hạch toán CPSX là từng đơn đặt hàng,
còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn Đối với các chi phí trực tiếp
(NVLTT, NCTT) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì
hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc, đối với CPSXC, sau
khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ công sản
xuất, CPNCTT) Phương pháp tính giá thành tùy theo tính chất và số lượng sản
phẩm của từng đơn để áp dụng phương pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp,
phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp v.v…
- Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức.
Công thức tính:
Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán
về chi phí sản xuất, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm
Đồng thời hạch toán riêng những chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so
với định mức Từ đó tiến hành tính giá thành thực tế theo công thức trên
- Doanh nghiệp sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục.
Các doanh nghiệp này có thể sử dụng một trong 2 phương pháp sau:
+ Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán có bán thành phẩm
Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch
toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm ở các bước có thể dùng để bán ra
ngoài Trình tự hạch toán CPSX và tính GTSP theo phương pháp này được phản
ánh qua Sơ đồ 1.2
+ Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán không có bán thành
phẩm áp dụng ở những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không
cao hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài
Cách tính giá thành thể hiện qua Sơ đồ 1.3
Giá thành thực tế
sản phẩm Giá thành định mức sản phẩm
Chênh lệch do thay đổi định mức Chênh lệch so với định mức
++
Chi phí NVL chính phát sinh trong k ỳ
b ước 1 c 1
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m ẩm d ở dang đầu dang cu i ối tượng
k b ỳ ước 1 c 1
Giá th nh àn thành bán th nh àn thành
ph m ẩm
b ước 1 c 1
Trang 17Sơ đồ 1.2: Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo
phương án phân bước có bán thành phẩm
Sơ đồ 1.3: Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo
phương án phân bước không có bán thành phẩm
1.2 Hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp.
1.2.1 Bản chất của hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp.
Quản trị là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị
nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Thuật ngữ quản trị tiếng Anh là
management, vừa có nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa là quản trị, nhưng được dùng
chủ yếu với nghĩa quản trị Ngoài ra tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ nữa là
administration với nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền Tiếng Pháp
cũng có hai từ ngữ tương đương: gestion ( tương đương management của tiếng
Anh) là quản trị kinh doanh còn administration (tương đương administration trong
tiếng Anh) được dùng với nghĩa là quản lý các hoạt động hành chính, chính quyền
NVL chính
tính cho
th nh ph m àn thành ẩm
Chi phí ch ến đổi) cần phân bổ
bi n b ến đổi) cần phân bổ ước 1 c 1 tính cho
th nh ph m àn thành ẩm
Chi phí ch ến đổi) cần phân bổ
bi n b ến đổi) cần phân bổ ước 1 c 2 tính cho
th nh ph m àn thành ẩm
Chi phí ch ến đổi) cần phân bổ
bi n b ến đổi) cần phân bổ ước 1 c n tính cho
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m ẩm d ở dang đầu dang cu i ối tượng
k b ỳ ước 1 c 2
Giá th nh àn thành bán th nh àn thành
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m ẩm d ở dang đầu
dang đần phân bổ u
k b ỳ ước 1 c n
Chi phí chế biến phát sinh trong kỳ bước n
Giá tr s n ịnh hay ản xuất thực
ph m ẩm d ở dang đầu dang cu i ối tượng
k b ỳ ước 1 c n
Giá th nh àn thành
th nh àn thành
ph m ẩm
Trang 18Như vậy có thể thấy rằng quản lý là thuật ngữ được dùng với các cơ quan Nhànước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng còn quản trị làthuật ngữ được dùng đối với cấp cơ sở trong đó có các tổ chức – doanh nghiệp.Một doanh nghiệp cần được quản trị Quản trị này gọi là quản trị doanhnghiệp Quản trị doanh nghiệp là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướngđích của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sửdụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theođúng luật định và thông lệ xã hội.
Để quản trị doanh nghiệp có hiệu quả, các nhà quản trị cần nắm vững tình hìnhmột cách chính xác, kịp thời bằng những con số cụ thể Muốn vậy phải có thông tin.Thông tin trở thành khâu đầu tiên, có tính cơ bản của quản trị kinh doanh
Thông tin quản trị doanh nghiệp là những tin tức mới, được thu nhận, đượccảm thụ và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định hoặc giải quyết mộtnhiệm vụ nào đó trong quản trị kinh doanh
Hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp được quan niệm là tập hợp cácphương tiện, các phương pháp và các cơ quan có liên hệ chặt chẽ với nhau nhằmđảm bảo cho việc thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, xử lý và cung cấp những thông tin cầnthiết cho quản trị kinh doanh
Hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp thường gồm 3 phân hệ cơ bản:
- Hệ thống thông tin khoa học công nghệ
- Hệ thống thông tin thị trường
- Hệ thống thông tin kế toán thống kê
trong đó hệ thống thông tin kế toán thống kê có tầm quan trọng đặc biệt, phản ánhtrạng thái của đối tượng quản trị mà thiếu nó thì hệ thống quản trị không thể tácđộng một cách chính xác với hiệu quả cao lên đối tượng quản trị kinh doanh
Như vậy hệ thống thông tin kế toán là một bộ phận của hệ thống thông tinquản trị doanh nghiệp Chức năng của kế toán là cung cấp và truyền đạt các thôngtin kinh tế về một tổ chức cho các đối tượng sử dụng khác nhau Vì vậy, thông tin
kế toán phục vụ cả trong và ngoài doanh nghiệp Để phục vụ được 2 loại đối tượngnày, kế toán được chia làm 2 nhánh: nhánh kế toán cung cấp thông tin cho quản lý,
Trang 19điều hành hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp được gọi là kế toán quản trị, nhánh
kế toán cung cấp thông tin cho những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp được gọi là
kế toán tài chính
Kế toán tài chính liên quan đến quá trình báo cáo hoạt động của một tổ chức,doanh nghiệp cho các thành phần bên ngoài qua các hình thức: bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệv.v… Đó làcác báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các mặt hoạt động của toàn doanh nghiệp.Như vậy, thông tin mà kế toán tài chính cung cấp là các tài liệu phản ánh các nghiệp
vụ phát sinh trong kỳ đã qua, cho nên số liệu có tính lịch sử, không đủ đáp ứng nhucầu quản lý của nhà quản trị ở trong doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện kinh tếthị trường ở nước ta hiện nay
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị cung cấp thông tin nhằm thoả mãnnhu cầu của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp Việc ra quyết định của họ cótác động đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Như vậy nếu thông tinkhông đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý điều hành doanhnghiệp Nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị có thể đưa ra các quyếtđịnh sai lầm, ảnh hưởng đến quá trình sinh lợi của doanh nghiệp; nếu thông tinkhông đáp ứng kịp thời thì các vấn đề tồn tại không được giải quyết và có thể mất
cơ hội trong kinh doanh Kế toán quản trị đã tạo ra phần lớn các thông tin nhằmgiúp các nhà quản trị ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh ở doanhnghiệp
Như vậy hệ thống thông tin kế toán bao gồm 2 phân hệ:
- Hệ thống thông tin kế toán tài chính
- Hệ thống thông tin kế toán quản trị
Để hiểu rõ hơn về hệ thống thông tin kế toán quản trị, cách tốt nhất là so sánh
hệ thống thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị Những điểm khác biệt cơbản giữa hai hệ thống thông tin này thể hiện trên bảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1: Phân bi t h th ng thông tin k toán qu n tr v h th ng thông tin kệt hệ thống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ệt hệ thống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ản trị và hệ thống thông tin kế ị và hệ thống thông tin kế à hệ thống thông tin kế ệt hệ thống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ế toán quản trị và hệ thống thông tin kếtoán t i chính.à hệ thống thông tin kế
Tiêu thức Hệ thống thông tin
Trang 20dụng trong nội bộ doanh nghiệp doanh nghiệp.
Đặc điểm thông
tin
Linh hoạt thích hợp hướng
về tương lai, biểu hiện bằng giá trị và hiện vật
Phản ánh quá khứ, biểu hiệnbằng giá trị
Nguyên tắc cung
cấp thông tin
Do người quản lý quyết định,hữu ích cho quản lý, không cónguyên tắc chung
Tuân theo chuẩn mực, nguyêntắc kế toán
Phạm vi thông
tin
Từng bộ phận, từng khâu côngviệc
Toàn doanh nghiệp
Kỳ báo cáo Thường xuyên, tuỳ yêu cầu
1.2.2 Vai trò hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp.
Trách nhiệm của nhà quản lý trong doanh nghiệp là điều hành và quản lý cácmặt hoạt động của doanh nghiệp Như vậy, để làm tốt các chức năng quản lý, nhàquản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn Kế toánquản trị là nguồn chủ yếu, dù không phải là nguồn duy nhất, cung cấp nhu cầuthông tin đó Vai trò của hệ thống thông tin kế toán quản trị thể hiện trong các khâucủa quá trình quản lý như sau:
* Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán.
Trang 21Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu cần phải đạt và vạch ra các bước thựchiện để đạt được các mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn hayngắn hạn.
Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cáchhuy động, sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu đề ra
Để chức năng lập kế hoạch và dự toán được thực hiện tốt, để các kế hoạch, dựtoán được lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải dựa trên thôngtin đầy đủ, thích hợp và có cơ sở Các thông tin này chủ yếu do kế toán quản trịcung cấp Chẳng hạn, khi xây dựng chỉ tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp phải xác địnhcách làm cụ thể để đạt mục tiêu đó Kế toán viên của bộ phận kế toán quản trị sẽcung cấp cho các nhà quản trị các thông tin, số liệu có cơ sở để nhà quản trị lựachọn phương án tối ưu nhất, như chọn được sản phẩm sinh lợi cao nhất, huy độngcác nguồn lực hợp lý và có hiệu quả cao nhất, định giá bán hợp lý và có tính cạnhtranh cao nhất…
* Trong giai đoạn tổ chức thực hiện.
Trong khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhấtcác yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoạch được thực hiện ởmức cao nhất và hiệu quả nhất Để thực hiện tốt các chức năng này, nhà quản trịphải có nhu cầu thông tin rất lớn về các thông tin kế toán quản trị Chẳng hạn, nhàquản trị cần được kế toán cung cấp thông tin để ra quyết định kinh doanh đúng đắntron quá trình điều hành, chỉ đạo thực hiện các quyết định hàng ngày – các quyếtđịnh ngắn hạn Ngoài ra, các quyết định dài hạn trong quá trình thực hiện các quyếtđịnh đầu tư dài hạn cũng cần phải có các thông tin cần thiết và đầy đủ
* Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá.
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kếhoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Phương pháp thườngdùng là so sánh giữa số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch và dự toán, xác địnhnhững sai biệt giữa kết quả đạt được và mục tiêu đã đề ra Do đó, nhà quản trị cầnđược các kế toán viên quản trị cung cấp các báo cáo thực hiện để nhận diện nhữngvấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý
* Trong khâu ra quyết định.
Trang 22Phần lớn các thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quảntrị ra quyết định Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trịdoanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá.Các quyết định của nhà quản trị có thể là các quyết định đầu tư dài hạn, có thể
là các quyết định ngắn hạn cho một khoảng thời gian trước mắt, cũng có thể là cácquyết định mang tính tác nghiệp, điều hành hàng ngày, được vận dụng liên tục trongsuốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Để các các quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị phải có các thôngtin đầy đủ, đáng tin cậy và thích hợp, nếu không thì không thể ra được các quyếtđịnh quản lý hiệu quả Nếu có quá nhiều thông tin nhiễu loạn cũng khó có thể raquyết định quản lý Nhưng các thông tin thích hợp để ra quyết định thường không
có sẵn Kế toán quản trị thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn, chọn lọcnhững thông tin cần thiết, rồi tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểunhất và giải thích quá trình phân tích đó cho các nhà quản trị
Kế toán quản trị giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉbằng cung cấp thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phântích vào những tình huống khác nhau, từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết địnhthích hợp nhất
Như vậy thông tin kế toán quản trị rất đa dạng, phong phú, xuyên suốt cáckhâu của quá trình quản lý Vì vậy, để cung cấp thông tin có hệ thống cho nhà quảntrị cần thiết phải phân loại thông tin kế toán quản trị
1.2.3 Phân loại hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp.
* Căn cứ vào mối quan hệ với các chức năng quản lý Thông tin kế toán quản trị bao gồm:
- Các chỉ tiêu kinh tế được chính thức hoá từ các mục tiêu của doanh nghiệp
- Các dự toán chung và các dự toán chi tiết
- Thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu
- Các báo cáo kế toán quản trị
Tác dụng của cách phân loại này là nhằm cung cấp thông tin cho các giai đoạnkhác nhau của quá trình quản lý Tuy nhiên nhược điểm của cách phân loại này là
Trang 23chưa cho biết cụ thể thông tin đó phục vụ cho quản trị phần hành kế toán nào Vìvậy cần căn cứ vào nội dung của thông tin để phân loại hệ thống thông tin kế toánquản trị như sau:
* Căn cứ vào nội dung của thông tin, hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm:
- Thông tin kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh: hàng tồn kho,TSCĐ, lao động và tiền lương
- Thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành
- Thông tin kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị các hoạt động đầu tư tài chính
- Thông tin kế toán quản trị các hoạt động khác
trong đó thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành được xem là bộ phận cơbản, quan trọng nhất
1.2.4 Nội dung hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành.
Về bản chất, thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành là thông tin về CPSX,GTSP phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp của nhà quản trị
Hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành bao gồm các mảng thôngtin sau:
- Thông tin về các loại chi phí sản xuất
- Thông tin về giá thành sản phẩm
- Thông tin về dự toán chi phí sản xuất
1.2.4.1 Thông tin về các loại chi phí sản xuất.
Nhằm phục vụ cho việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của nhà quảntrị thì các khoản chi phí chi ra cần được các kế toán viên quản trị phân loại, tập hợp
để cung cấp thông tin chi phí cần thiết cho nhà quản trị Những thông tin về các loạiCPSX mà nhà quản trị cần đó là:
* Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
- Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩmtrong một thời kỳ nhất định Chi phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục: chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Trang 24- Chi phí ngoài sản xuất bao gồm hai loại: Chi phí bán hàng và tiếp thị, chi phíquản lý.
Để có thông tin về các loại chi phí này kế toán quản trị cần phải phân loại chiphí theo chức năng hoạt động của chi phí, nghĩa là xem xét vai trò của chi phí đốivới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Việc nắm được hai loại chi phí này sẽ cho phép nhà quản trị doanh nghiệp
biết được tương quan của các chi phí này trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, từ đó có biện pháp để khống chế các chi phí này ở mức hợp lý
* Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuấtsản phẩm Chi phí sản phẩm bao gồm: CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC Chi phí sảnphẩm chỉ tính ở kỳ mà sản phẩm tiêu thụ Khi sản phẩm chưa được tiêu thụ thì chiphí sản phẩm được chuyển vào giá trị của hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán,còn khi sản phẩm được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm được chuyển vào chỉ tiêu giávốn hàng bán trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí thời kỳ: Là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán Chiphí thời kỳ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà chi phí này phát sinh.Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Chi phíthời kỳ phát sinh kỳ nào được tính ngay vào chi phí kỳ đó Các chi phí thời kỳ đượcchuyển vào chỉ tiêu chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trên báo cáokết quả kinh doanh Nhà quản trị rất khó kiểm soát chi phí thời kỳ nếu để những chiphí này phát sinh quá mức cần thiết
* Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí có thể tách biệt, phát sinh một cách riêng biệtcho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp như một sản phẩm, một phân xưởng sảnxuất, một đại lý Xét về bản chất thì chi phí trực tiếp là chi phí mà tự bản thân nóhiển nhiên được chuyển vào đơn vị sản phẩm hoặc một đơn vị của tổ chức, cơ quan
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí chung hay chi phí kết hợp, không có liênquan đến hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng lúc tới nhiều hoạt động Do vậy
để xác định chi phí gián tiếp của một hoạt động cụ thể phải áp dụng phương phápphân bổ
Trang 25Trên góc độ quản trị doanh nghiệp thì chi phí trực tiếp thường mang tính chất
có thể tránh được, nghĩa là phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi củahoạt động cụ thể Chi phí gián tiếp, trái lại mang tính không thể tránh được vàchúng phát sinh để phục vụ cho ít nhất hai hoạt động trở lên cho nên chúng vẫn sẽtồn tại khi một hoặc một vài hoạt động mà chúng phục vụ bị đình chỉ
Để ra quyết định kinh doanh trong từng tình huống cụ thể, nhà quản trị cầnthông tin về các loại chi phí sau:
* Định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp.
Đây là những thông tin về chi phí phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra vàchủ động điều tiết chi phí của nhà quản trị Nghĩa là căn cứ vào thông tin về các loạichi phí này do kế toán quản trị cung cấp, các nhà quản trị sẽ thấy được sự biến độngcủa chi phí có phù hợp với sự biến động của mức độ hoạt động hay không và từ đó
có các biện pháp hữu hiệu nhằm quản lý tốt các chi phí Những thông tin chi phí này
có được nhờ cách phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
- Định phí: Là những khoản chi phí không biến đổi trong một phạm vi phù hợpcủa mức độ hoạt động Định phí có đặc điểm là: Tổng định phí không thay đổi trongphạm vi phù hợp của mức độ hoạt động Định phí tính cho một đơn vị hoạt độngcăn cứ thì thay đổi Nhằm phục vụ cho mục tiêu lập kế hoạch thì định phí đượcphân ra thành 2 loại:
+ Định phí tùy ý: Là định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng hànhđộng của nhà quản trị Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí nàytrong các quyết định hàng năm
+ Định phí bắt buộc: Là định phí không thể được thay đổi một cách nhanhchóng vì chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc cơ bản của doanhnghiệp
- Biến phí: Là những khoản chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với biến động về mức
độ hoạt động Biến phí có đặc điểm là: Biến phí tính cho một đơn vị hoạt động thìkhông thay đổi Biến phí khi không có hoạt động thì bằng 0 Biến phí được chia làm
2 loại: Biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Trang 26+ Biến phí tỷ lệ: Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp vớibiến động của mức độ hoạt động căn cứ, thuộc về biến phí tỷ lệ có chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, hoa hồng bán hàng, …
+ Biến phí cấp bậc: Là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt độngthay đổi nhiều và rõ ràng, không đổi khi mức độ hoạt động thay đổi ít Thuộc vềbiến phí cấp bậc thường bao gồm chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì…
Nhà quản trị muốn ứng phó với biến phí cấp bậc phải nắm được khả năngcung ứng của từng bậc để tránh huy động quá nhiều hoặc huy động quá ít so vớinhu cầu
Khi xác định một loại chi phí nào đó có phải là biến phí hay không, kế toánquản trị phải dựa vào tính chất về lượng tiêu hao của nó, bởi vì biến phí được cấuthành từ hai yếu tố cơ bản là lượng tiêu hao và mức giá đầu vào Về mặt giá trị thìbiến phí có thể không hoàn toàn tỷ lệ thuận với sự biến đổi của sản lượng một mặthàng nào đó Chẳng hạn bộ phận sản xuất tăng sản lượng sản phẩm thì mức tiêu haonguyên vật liệu sẽ tỷ lệ thuận với sản lượng, nhưng do khối lượng nguyên vật liệumua vào nhiều nên giá mua của nguyên vật liệu có thể giảm xuống do được hưởngchiết khấu, giảm giá,…Vì vậy chi phí NVLTT có thể không tăng tỷ lệ thuận với sảnlượng sản phẩm sản xuất
Ngoài ra khi phân định một yếu tố chi phí cho sản xuất có phải là định phí haybiến phí còn phụ thuộc vào cách thức tính toán các khoản chi phí đó Chẳng hạn khidoanh nghiệp trả lương cho người lao động theo thời gian làm việc thì chi phí nhâncông là định phí, nhưng khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động theo sảnphẩm thì chi phí nhân công là biến phí
- Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí bao gồm cả 2 yếu tố biến phí vàđịnh phí Phần bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn bản tốithiểu để duy trì phục vụ và để giữ dịch vụ đó luôn ở trạng thái sẵn sàng phục vụ.Còn phần chi phí khả biến trong chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí thực tế sửdụng hoặc sử dụng quá định mức
Nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động kinh doanh và chủ độngtrong quản lý chi phí, kế toán viên quản trị cần phải ghi chép chi phí hỗn hợp khichúng phát sinh và tách chúng thành hai yếu tố là chi phí khả biến và chi phí bất
Trang 27biến Có hai phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp thành chi phí khả biến và chiphí bất biến, đó là: - Phương pháp cực đại, cực tiểu
- Phương pháp bình phương bénhất
+ Phương pháp cực đại cực tiểu: Nội dung của phương pháp này thể hiện qua
Bước 2: Chọn 2 điểm: Điểm có mức độ hoạt động thấp nhất x tn, ytn
Điểm có mức độ hoạt động cao nhất xcn, ycn
Bước 3: Xác định biến phí đơn vị:
Bước 4: Định phí: b = ytn - a xtn
+ Phương pháp bình phương bé nhất:
Theo phương pháp này có các bước sau:
Bước 1: Khảo sát chi phí hỗn hợp ở các mức độ khác nhau
Bước 2: Biến phí đơn vị a, định phí b được xác định qua hệ phương trình sau:
Chênh lệch chi phí cao nhất với thấp nhất
Chênh lệch mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất
Trang 28* Chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội và chi phí chìm.
Thông tin về các loại chi phí này nhằm phục vụ cho việc ra quyết định về lựachọn phương án của nhà quản trị
- Chi phí chênh lệch: Việc tính toán chi phí chênh lệch được thực hiện bằngcách so sánh chi phí của các phương án khác nhau Những chi phí có ở phương ánnày nhưng không có hoặc có một phần ở phương án khác được gọi là chi phí chênhlệch Chi phí chênh lệch là căn cứ để ra quyết định về việc lựa chọn phương án đầu
tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh
- Chi phí cơ hội: Là phần lợi nhuận bị mất đi do lựa chọn hành động này thay
vì hành động khác, phương án khác Chi phí cơ hội không có trên sổ sách kế toánnhưng chi phí này phải được nhà quản trị xem xét một cách rõ ràng, dứt khoát trongmọi quyết định quản lý
- Chi phí chìm: Là loại chi phí phát sinh trong quá khứ mà doanh nghiệp phảichịu và sẽ vẫn phải chịu dù doanh nghiệp chọn phương án hành động nào Chi phíchìm không thích hợp với việc ra các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
Các chi phí này có ý nghĩa trong việc quản trị chi phí của các nhà quản trị cáccấp của doanh nghiệp đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích kết quảcủa từng bộ phận thông qua báo cáo bộ phận của doanh nghiệp
- Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà nhà quản lýcấp đó xác định được chính xác sự phát sinh của nó đồng thời có thẩm quyền raquyết định đối với sự phát sinh của khoản chi phí đó
- Chi phí không kiểm soát được đối với một cấp quản lý nào đó là những chiphí cấp đó không có quyền quyết định đối với chi phí đó
1.2.4.2 Thông tin về giá thành sản phẩm.
Để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc định giá bán sản phẩm,định giá hàng tồn kho cuối kỳ và ra các quyết định tình huống hàng ngày đòi hỏiphải tổng hợp được chi phí có liên quan đến sản xuất sản phẩm Trong kế toán quảntrị thông tin về chi phí đơn vị (giá thành sản phẩm) được tính toán và ghi chép theonhững cách khác nhau trên cơ sở các phương pháp xác định chi phí Có 2 phươngpháp xác định chi phí là:
Trang 29- Phương pháp xác định chi phí theo công việc.
- Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Phương pháp xác định chi phí theo công việc.
* Điều kiện áp dụng: Phương pháp này sử dụng trong các doanh nghiệp sản
xuất theo đơn đặt hàng hoặc các doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàngloạt nhỏ
* Đặc điểm sản phẩm sản xuất: Sản phẩm của các doanh nghiệp này thường
có tính tách biệt, không đồng nhất, có giá trị cao và thường được đặt mua trước khibắt đầu sản xuất
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Theo phương pháp này, CPSX được tập hợp theo từng đơn đặt hàng Đối vớicác chi phí về vật liệu xuất dùng, chi phí nhân công sản xuất liên quan đến đơn đặthàng nào thì căn cứ vào chứng từ liên quan để hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng
đó Đối với chi phí sản xuất chung, nếu liên quan đến nhiều đơn đặt hàng thì tiếnhành phân bổ cho từng đơn đặt hàng theo tiêu thức phù hợp
* Chứng từ sử dụng để hạch toán bao gồm:
- Đơn đặt hàng của khách hàng: Các khách hàng của doanh nghiệp đến doanhnghiệp đặt hàng và thể hiện yêu cầu của mình bằng đơn đặt hàng giao cho doanhnghiệp
- Lệnh sản xuất: Khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng, giám đốc doanhnghiệp phải phát lệnh sản xuất và chuyển cho phòng kế toán và bộ phận sản xuất
- Phiếu xuất kho vật tư: Đây là căn cứ để hạch toán vật tư xuất dùng cho đơnđặt hàng, là căn cứ để xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Phiếu theo dõi lao động: Là bảng thanh toán lương dùng làm căn cứ xác địnhchi phí nhân công trực tiếp của từng đơn đặt hàng
- Bảng phân bổ ước tính chi phí sản xuất chung: là căn cứ xác định chi phí sảnxuất chung của từng đơn đặt hàng
Trình tự luân chuyển chứng từ của phương pháp xác định chi phí theo côngviệc như sau: (Sơ đồ 1.4)
Phiếu tính giá thành theo công việc
Trang 30Sơ đồ 1.4: Trình tự luân chuyển chứng từ theo phương pháp xác định chi phí theo
công việc.
* Tài khoản sử dụng:
Kế toán cần sử dụng các tài khoản sau:
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
TK 627: Chi phí sản xuất chung
TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
1 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
3 Chi phí sản xuất chung phân bổ ước tính
4 Giá thành thành phẩm hoàn thành nhập kho
5 Giá vốn đơn đặt hàng (công việc)
Trang 31Sơ đồ 1.5: Trình tự kế toán chi phí theo công việc.
* Sổ sách sử dụng:
Mỗi một đơn đặt hàng được mở một phiếu chi phí công việc, phiếu này là mộtloại sổ chi tiết dùng để tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phítheo công việc Phiếu chi phí công việc được lập khi phòng kế toán nhận đượcthông báo và lệnh sản xuất đã được phát ra cho công việc đó Mỗi đơn đặt hàngđược lập một phiếu chi phí công việc không quan tâm đến số lượng của đơn đặthàng đó nhiều hay ít, phiếu này có tác dụng như một sổ phụ phản ánh chi phí sảnxuất đã phát sinh trong quá trình sản xuất và có tác dụng như một báo cáo về sảnphẩm sản xuất dở dang, khi sản phẩm hoàn thành thì phiếu chi phí công việc đượcchuyển từ khâu sản xuất sang tập hồ sơ theo dõi đơn đặt hàng đã kết thúc
Kết cấu của phiếu chi phí công việc thể hiện trên Phụ lục số 01
Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất.
* Điều kiện áp dụng: Phương pháp này thường được sử dụng ở các doanh
nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm phức tạp kiểu liên tục hoặc kiểusong song, sản phẩm của giai đoạn trước là đối tượng chế biến của giai đoạn tiếpsau
* Đặc điểm sản phẩm: Sản phẩm thường mang tính đồng nhất, có giá trị nhỏ,
được sản xuất đại trà hàng loạt lớn, đặt mua sau khi sản xuất
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
CPSX được tập hợp theo từng giai đoạn công nghệ Mỗi phân xưởng sản xuấtthực hiện một giai đoạn công nghệ, giai đoạn đầu chi phí bỏ vào sản xuất thường
Trang 32gồm vật liệu chính, chi phí chế biến, giai đoạn sau là vật liệu phụ, chi phí chế biếnhoặc chỉ bỏ thêm chi phí chế biến.
* Chứng từ sử dụng: - Quyết định sản xuất
- Lệnh sản xuất:
- Phiếu xuất kho vật tư
- Phiếu theo dõi lao động trực tiếp
- Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung ước tính (hoặc thực tế)
Trình tự luân chuyển chứng theo phương pháp này thể hiện trên Sơ đồ 1.6
Sơ đồ 1.6: Trình tự luân chuyển chứng từ theo phương pháp xác định chi phí theo
quá trình sản xuất.
* Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng các tài khoản sau:
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
TK 627: Chi phí sản xuất chung
TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
TK 155: thành phẩm
TK 632: Giá vốn hàng bán
TK 154 được mở chi tiết cho từng giai đoạn sản xuất hoặc từng phân xưởng
Trình tự kế toán chi phí theo quá trình sản xuất được thể hiện trên sơ đồ 1.7
Báo cáo sản xuất phân
Trang 331 Kết chuyển chi phí sản xuất phân xưởng 1.
2 Kết chuyển chi phí sản xuất phân xưởng 2
3 Kết chuyển chi phí sản xuất phân xưởng n
4 Giá trị bán thành phẩm phân xưởng 1 chuyển sang phân xưởng 2
5 Kết chuyển giá trị bán thành phẩm phân xưởng n-1 chuyển sang
Nội dung của mỗi báo cáo sản xuất gồm 3 phần:
Phần I: Kê khai khối lượng sản xuất và khối lượng sản phẩm tương đương
Phần II: Tổng hợp chi phí và xác định chi phí đơn vị
Trang 34Kh i l ối tượng ượng ng SPDD cu i k ối tượng ỳ
Phần III: Cân đối chi phí
Để xác định khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương cuối kỳ cần tiếnhành tổ chức kiểm kê nhằm xác định số lượng sản phẩm hoàn thành, số lượng sảnphẩm dở dang và mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang ở tất cả các giai đoạncủa quá trình sản xuất Có 2 phương pháp cơ bản để xác định số lượng sản phẩmhoàn thành tương đương:
+ Phương pháp bình quân:
+ Phương pháp nhập trước xuất trước:
Mẫu báo cáo sản xuất theo 2 phương pháp thể hiện trên phụ lục số 2a và 2b
1.2.4.3 Thông tin về dự toán ngân sách.
Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, trong tình trạng tài chính chủ động vàlành mạnh, các doanh nghiệp phải dự tính được toàn bộ ngân sách sản xuất kinhdoanh Như vậy, ngân sách là một bản kế hoạch thu, chi dưới dạng tiền tệ của mộtdoanh nghiệp, tổ chức trong một niên độ tài chính Việc lập kế hoạch thu chi hoạtđộng sản xuất kinh doanh, mô tả quan hệ tài chính sẽ xảy ra trong mục tiêu kinhdoanh đã định được gọi là dự toán ngân sách
ích lợi của việc lập dự toán ngân sách xuất phát từ sự cần thiết của nó đối vớicông tác điều hành và quản lý doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có đối sách để khaithác tối đa nguồn thu, thực hiện có hiệu quả chính sách chi tiêu theo thứ tự trọngyếu của mục đích chi Ngân sách được lập sẽ là công cụ tài chính quan trọng để chủdoanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh doanh đã định trong thế chủ động về tàichính ích lợi của lập dự toán ngân sách cụ thể như sau:
- Lập dự toán ngân sách là tìm kiếm cho doanh nghiệp khả năng khai thácnguồn thu để thoả mãn chi tiêu đem lại lợi nhuận
- Lập dự toán ngân sách là cách thức để kế hoạch hoá và chính thức hoá các kếhoạch đó về kết quả tài chính sẽ thu trong kỳ kinh doanh
S n l ản xuất thực ượng ng
t ươn ng đươn ng
Kh i lống thông tin kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế ượng sản phẩm ng s n ph m ản trị và hệ thống thông tin kế ẩm
ho n th nh trong kà hệ thống thông tin kế à hệ thống thông tin kế ỳ + Khối lượng SPDD cuối kỳ tương đương
=
Trang 35- Kế hoạch thu chi trong dự toán ngân sách là mục tiêu và mục đích cho hoạtđộng, là căn cứ điều hành, kiểm tra, đánh giá các hoạt động.
- Lập dự toán ngân sách sẽ giúp doanh nghiệp khám phá khâu sản xuất đangtiềm ẩn, khả năng để nâng cao hiệu quả
- Kế hoạch ngân sách là một kế hoạch tổng thể vạch phương thức, mục tiêuhoạt động của các bộ phận khác nhau, vì vậy nó đồng thời tạo điều kiện liên kết các
bộ phận khác nhau vì mục tiêu chung của doanh nghiệp
Hệ thống dự toán ngân sách bao gồm nhiều loại dự toán khác nhau Trongphạm vi luận văn chỉ giới hạn ở việc trình bày về dự toán sản xuất
- Thứ nhất: đảm bảo lượng hàng bán theo dự kiến trong năm
- Thứ hai: đảm bảo mức độ dự trữ thành phẩm cuối kỳ ở mức thường xuyên,
an toàn và hợp lý qua dự kiến tồn kho
Công thức xác định khối lượng sản phẩm sản xuất dự kiến như sau:
* Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Dự toán CPNVLTT xuất phát từ dự toán sản xuất Để xác định CPNVLTTước tính cần dựa vào 3 yếu tố:
ki n trong k ến đổi) cần phân bổ ỳ
+ Kh i ối tượng l ượng ng
x Định hay nh m c ức CPSXC
l ượng ng NVLTT cho m t ột đơn vị đơn n v ịnh hay
s n ph m ản xuất thực ẩm
x Đơn n giá 1
đơn ịnh hay nguyên v t ật
li u ệ
Trang 36* Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp.
Dự toán CPNCTT cũng phải xuất phát từ dự toán sản xuất Để xác địnhCPNCTT ước tính cần dựa vào 3 yếu tố:
- Số lượng sản phẩm cần sản xuất
- Lượng lao động trực tiếp cần để sản xuất một đơn vị sản phẩm Do có nhiềuloại lao động gắn với quá trình sản xuất nên lượng lao động trực tiếp được biểu hiệnbằng thời gian lao động trực tiếp
- Giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp
Dự toán CPNCTT được xác định theo công thức sau:
* Lập dự toán chi phí sản xuất chung.
Dự toán CPSXC cần phải dự toán chi tiết các CPSXC cố định và CPSXC biếnđổi
- Đối với CPSXC biến đổi: Doanh nghiệp có thể dự toán CPSXC biến đổi theo
1 trong 3 cách sau:
Cách 1: Căn cứ vào tổng thời gian lao động trực tiếp và đơn giá chi phí sản xuất
chung thì biến phí SXC được xác định theo công thức:
Cách 2: Căn cứ vào định mức CPSXC biến đổi và khối lượng sản phẩm sản xuất(xác định phần dự toán sản xuất)
Cách 3: Xác định tỷ lệ chiếm của biến phí SXC so với tổng biến phí trực tiếp (gồmCPNVLTT và CPNCTT) bằng phương pháp thống kê kinh nghiệm số liệu của các
Trang 37- Đối với CPSXC cố định:
Định phí sản xuất chung thường không thay đổi so với kỳ thực tế, vì vậy cóthể căn cứ vào chi phí thực tế phát sinh kỳ trước làm cơ sở ước tính cho kỳ kếhoạch
1.3 Mối quan hệ giữa hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp.
Như phần trên đã trình bày, hệ thống thông tin kế toán quản trị bao gồm rấtnhiều thông tin về các phần hành kế toán khác nhau trong đó có thể nói rằng thôngtin kế toán quản trị chi phí giá thành là thông tin cơ bản, quan trọng nhất
Mối quan hệ giữa hạch toán CPSX và tính GTSP với hệ thống thông tin kếtoán quản trị thể hiện ở một số điểm như sau:
- Tổ chức tốt công tác hạch toán CPSX và tính GTSP là tiền đề cho việc xâydựng hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí giá thành của doanh nghiệp
- Công tác hạch toán CPSX và tính GTSP muốn được đầy đủ, chính xác thì lạicần có sự hỗ trợ của thông tin kế toán quản trị các yếu tố sản xuất như hàng tồn kho,TSCĐ, lao động tiền lương
- Do yêu cầu của thông tin kế toán quản trị là tính kịp thời, linh hoạt nên đòihỏi trong hạch toán CPSX, tính GTSP một mặt phải đảm bảo tính chính xác của kếtoán tài chính mặt khác phải đảm bảo tính kịp thời, linh hoạt nhằm cung cấp kịp thờithông tin cho kế toán quản trị chi phí giá thành
1.4 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong việc gắn liền hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với mục đích quản trị doanh nghiệp.
1.4.1 Hạch toán CPSX và tính GTSP với mục đích quản trị doanh nghiệp của
Trang 38- Trên cơ sở xác định giá phí như vậy, chi phí được phân ra làm 2 loại: Chi phí
cố định và chi phí biến đổi Chi phí cố định là những khoản chi có tính chất độc lập,không phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất Chi phí biến đổi là nhữngkhoản chi biến đổi trực tiếp theo sản lượng sản xuất và tiêu thụ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ một sản lượng trong kỳ được xác định:
Tổng chi phí trong kỳ = Tổng định phí trong kỳ + Tổng biến phí trong kỳ
Tổng chi phí theo cách xác định này cũng chính là tổng giá thành sản phẩmđược sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
- Giá thành được chia làm 2 loại: GTSP (giá phí sản xuất) là các giá phí liên hệđến quá trình sản xuất sản phẩm Giá thành chung cho kỳ là giá phí liên hệ đến hoạtđộng bán hàng và các hoạt động chung của kỳ kế toán GTSP cũng không ảnhhưởng đến lợi nhuận cho đến khi sản phẩm đó được bán ra, còn các giá phí đượcđưa vào giá thành chung cho kỳ là phần của chi phí hoạt động chung trong kỳ mà nóphải gánh chịu
- GTSP hoàn thành sau quá trình sản xuất cũng gồm 3 yếu tố:
+ Giá phí nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản phẩm
+ Giá phí lao động trực tiếp
+ CPSXC: là các giá phí gắn liền với quá trình quản lý và phục vụ sản xuất
Ba yếu tố này được tổng hợp lại để xác định tổng GTSP hoàn thành Số giá trịnày được phản ánh trong hàng tồn kho cho tới khi sản phẩm được bán ra
Quy trình hạch toán chi phí, tính giá thành của Mỹ được mô tả tổng quát qua
sơ đồ 1.8 (trang bên)
1.4.2 Hạch toán CPSX và tính GTSP với mục đích quản trị doanh nghiệp của
- Để xác định những hao phí vật chất mà doanh nghiệp phải đầu tư để thựchiện các giai đoạn khác nhau trong quá trình tái sản xuất, kế toán Pháp cũng sử
Trang 39dụng các khái niệm giá phí Tương ứng 3 giai đoạn: cung cấp, sản xuất, tiêu thụ có
ba loại giá phí: giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất, giá phí phân phối GTSP được xácđịnh bao gồm giá phí sản xuất và giá phí phân phối
Giá thành = Giá phí sản xuất + Giá phí phân phối
Sơ đồ 1.8 : Trình tự hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm của
Kế toán Mỹ
- Để phục vụ cho công tác tính GTSP, chi phí được phân biệt thành 3 hìnhthức khác nhau: Chi phí có thể đưa thẳng vào sản phẩm chế tạo như NVL và NCTTcho mỗi loại sản phẩm Chi phí có thể đưa thẳng vào mỗi bộ phận hoạt động nhưCPNCTT và gián tiếp cho mỗi bộ phận, chi phí động lực, chi phí sửa chữa, khấuhao Các chi phí gián tiếp có tính cách chung cần phân chia trước khi đưa vào chiphí của các bộ phận như tiền thuê nhà xưởng…
- Chi phí được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
+ Phân loại chi phí theo chức năng gồm: chi phí của chức năng quản trị hànhchính, chức năng của tài chính, chức năng tiếp liệu, chức năng sản xuất, chức năngphân phối, chức năng quản lý dụng cụ Các loại chi phí được tập hợp theo chứcnăng cụ thể và tổng hợp các chi phí này chính là giá phí của trung tâm
+ Phân loại chi phí thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: Các khoản chiphí trực tiếp có thể nhận biết ngay thuộc loại giá phí nào nên được hạch toán trực
Giá phí vậtliệu trực tiếp Sản phẩm chế tạo Thành phẩm tồn kho
Giá thành sản xuất
Các kho n trích theo ản xuất thực
l ươn ng CNTTSX
Trích tr ước 1 c l ươn ng ngh phép CNTTSX ỉ phép CNTTSX
Tiền lương CNTTSX
Giá phí lao động trực tiếp
Giá phí sản xuất chung
Giá phí chungcủa kỳ
Giá vốn
Giá thành hàng bán
Trang 40tiếp vào loại giá phí đó Các chi phí gián tiếp là loại chi phí không liên quan trựctiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc có khi cũng liên quan nhưng không phânbiệt được ngay thuộc loại giá phí nào, mức độ tiêu hao cụ thể cho từng đối tượngchịu chi phí bao nhiêu nên cần phải trải qua một giai đoạn phân chia để cuối cùngsung dương vào các loại giá phí có liên quan.
+ Phân loại chi phí thành chi phí không phân bổ và chi phí bổ sung
Chi phí không phân bổ là các chi phí như khấu hao chi phí thành lập doanhnghiệp, khấu hao chi phí tăng vốn…được ghi trong kế toán đại cương nhưng khôngđược phân bổ vào giá phí và giá thành Chi phí phân bổ là các khoản chi mà kế toánđại cương không được kể như chi phí tiền lãi tính trên vốn của doanh nghiệp …nhưng lại được tính vào trong kế toán phân tích
+ Phân loại thành chi phí cố định và chi phí biến đổi: Chi phí cố định là chi phíkhông thay đổi theo mức độ tăng giảm của phạm vi hoạt động Chi phí biến đổi làcác chi phí thay đổi theo mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Hình thành các trung tâm phân tích
Mỗi bộ phận chức năng của doanh nghiệp được tổ chức thành một trung tâmphân tích Trong một doanh nghiệp thì trung tâm phân tích được chia thành trungtâm chính và trung tâm phụ Trung tâm chính bao gồm các trung tâm hoạt độngchuyên nghiệp như: trung tâm tiếp liệu, trung tâm chế tạo, trung tâm phân phối.Trung tâm phụ bao gồm các trung tâm mà chức năng hoạt động của nó nhằm cungcấp lao vụ cho các trung tâm chính như: trung tâm hành chính quản trị, trung tâmquản lý nhân viên, trung tâm quản lý dụng cụ, trung tâm tài chính
Việc hạch toán chi phí vào các trung tâm được thực hiện theo trình tự:
Các loại chi phí trực tiếp được đưa thẳng vào các loại giá phí hoặc có thể đưathẳng một phần vào giá thành
Các loại chi phí gián tiếp được phân chia đợt 1 cho tất cả trung tâm chính vàtrung tâm phụ Sau đó phân chia đợt 2 từ các trung tâm phụ vào các trung tâmchính Cuối cùng tiến hành sung dương chi phí của các trung tâm vào các loại giáphí
Phân chia đợt 1
H ch ại sản phẩm toán
tr c ti p ực ến đổi) cần phân bổ
SungdươngPhân chia đợt 2
Chi phí được phân bổ
Các trung tâm chínhCác trung tâm phụ
Chi phí gián tiếpChi phí trực tiếp
Các giá phí và giá thành