1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lưu Hiệp bàn về một số thủ pháp sáng tác thơ trong “Văn tâm điêu long”

10 433 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 425,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tìm hiểu tinh thần kế thừa và cách tân của Lưu Hiệp trong việc xác định các thủ pháp nghệ thuật căn cơ nhất trong sáng tạo nghệ thuật từ công đoạn hình thành ý tứ, thủ pháp tạo nhạc tính, thủ pháp tạo biện pháp tu từ, thủ pháp gọt giũa ngôn từ.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

LƯU HIỆP BÀN VỀ MỘT SỐ THỦ PHÁP SÁNG TÁC

THƠ TRONG “VĂN TÂM ĐIÊU LONG”

Luu Hiep’s discussions on some poetic techniques in “Van tam dieu long”

ThS.NCS Trần Thanh Bình

Trường Trung học Thực hành Sài Gòn, Đại học Sài Gòn

TÓM TẮT

Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp là một tác phẩm có giá trị Những bàn luận trong Tác phẩm bao quát

nhiều vấn đề từ lý thuyết đến hoạt động sáng tác Tác giả vừa đề cao tinh thần “trưng thánh”, “tôn kinh” vừa chú trọng vai trò và tác dụng của hình thức tác phẩm nghệ thuật Xưa nay, người ta quan tâm đến những tư tưởng lý luận của ông hơn là đi vào khám phá những luận bàn của tác giả về thủ pháp nghệ thuật Bài viết tìm hiểu tinh thần kế thừa và cách tân của Lưu Hiệp trong việc xác định các thủ pháp nghệ thuật căn cơ nhất trong sáng tạo nghệ thuật từ công đoạn hình thành ý tứ, thủ pháp tạo nhạc tính, thủ pháp tạo biện pháp tu từ, thủ pháp gọt giũa ngôn từ

Từ khóa: Lưu Hiệp, thủ pháp, Văn tâm điêu long

ABSTRACT

Luu Hiep's Van tam dieu long is a valuable work Discussions in the work cover many issues from

theory to writing activities The author has not only emphasized the spirit of “sacred” or “respected scriptures”, but also focused on the role and effect of art forms From the past until now, people have been more interested in his theoretical ideas than discovering the author's discussions on art tactics This paper explores Luu Hiep's inheritance and renewal in determining the most basic art tactics in artistic creation from thought formation, music creation techniques, rhetoric measures, language editing techniques

Keywords: Luu Hiep, tactics, Van tam dieu long

1 Đặt vấn đề

Đời sống văn học bắt đầu từ hoạt động

sáng tác của tác giả và kéo dài đến suốt

quá trình tiếp nhận không giới hạn không -

thời gian của độc giả Trên tinh thần tiếp

thu tinh hoa tư tưởng nhân loại, đến nay,

diện mạo nền lý luận văn học nước ta đã

tương đối hoàn chỉnh nhưng vẫn không

ngừng hoàn thiện trong mục đích nghiên

cứu một cách toàn diện và sâu sát nhất

những khía cạnh của văn học Riêng bàn

về kỹ thuật sáng tác, không thể phủ nhận

tầm ảnh hưởng của Văn tâm điêu long của

Lưu Hiệp đối với lý luận Việt Nam Giá trị khai sáng của nó được xem là kho báu chốn văn uyển, nên những “kẻ sĩ muốn trau chuốt văn chương, chưa ai có thể xa rời nó mà đi tìm lối dẫn dắt khác để đến đích được” (Phương Lựu, 2005, tr 51) Bên cạnh nhiều vấn đề bao quát từ lý

Trang 2

thuyết văn học đến hoạt động sáng tác văn

chương, Lưu Hiệp đã chú tâm dành một

phần lớn (gần 20 thiên) bàn về những công

đoạn quan trọng để tạo nên những tác

phẩm nghệ thuật đặc sắc

Vì vậy, sau khi tổng thuật bao quát các

giá trị của Văn tâm điêu long, Đoàn Lê

Giang đã khẳng định: “Có một vài thiên

chuyên bàn về cấu tứ, tu dưỡng trong sáng

tác và kỹ xảo viết văn Đó là điều rất đáng

chú ý” (Đoàn Lê Giang, 2001, tr.48) Phải

chăng đánh giá này của ông chính là sự gặp

gỡ tiền nhân trong mối quan tâm đến công

việc sáng tác của người cầm bút? Đương

thời, những kiến giải về thủ pháp nghệ

thuật của Lưu Hiệp đã soi rõ cho giới văn

sĩ; và về sau, những ý kiến đó đã định

hướng cho giới nghiên cứu, phê bình trong

nước và trên thế giới trong việc thẩm định

tài năng của tác giả và giá trị của tác phẩm

Do vậy, chuyện “cấu tứ, tu dưỡng trong

sáng tác và kỹ xảo viết văn” trong Văn tâm

điêu long là một vốn kiến thức và kinh

nghiệm quý giá cần được tiếp cận kỹ hơn

2 Nội dung

2.1 Tiền đề sáng tạo – tố chất của

người cầm bút

Để có thể cho ra đời một kiệt tác, nhà

văn phải trải qua một quá trình lao động

nghệ thuật nghiêm túc Điều đó đòi hỏi bản

thân người sáng tác phải hội tụ những tố

chất đặc biệt cần có của người sáng tạo

nghệ thuật Trong tác phẩm đồ sộ bao quát

mọi kiến văn về văn học nghệ thuật, Lưu

Hiệp dành mối quan tâm sâu sắc về những

vấn đề có liên quan đến tác giả Thiên

Minh thi khẳng định khởi nguồn thơ là ở

con người, “tại tâm vi chí, phát ngôn vi

thi”; “chữ thi (thơ) đồng âm với chữ trì

(giữ), nên “thơ gìn giữ tính tình con người”

(Lưu Hiệp, 2007, tr.92) Vậy nên, chính chí

và tình của người góp phần không nhỏ để thành thơ Tiếp theo, thiên Thể tính khẳng

định phong cách văn chương được quyết định bởi bốn yếu tố: tài, khí, (khí chất) và học, tập (tập tính)

Nếu tài, đức, học vấn là yêu cầu chung cho con người, thì ở người sáng tác văn chương lại càng phải đặc sắc Vì các yếu tố này tạo nên nét độc đáo trong cá tính sáng tạo của nhà văn Vốn “thiên bẩm” (còn gọi

là “tiên thiên”) chính là tài và khí chất là

yếu tố quan trọng, tiên quyết, tạo nên nét độc đáo trong bút lực Hai yếu tố bẩm sinh này hình thành và hiện hữu từ trong máu thịt, biểu hiện trong từng suy nghĩ, cảm nhận và cách sáng tác của nhà văn Vì vậy, Lưu Hiệp nhắc nhở nhà văn phải biết dưỡng khí để sáng tác “Sáng tạo văn chương cốt phải điều hòa, phải làm cho cái tâm yên bình trong sáng, cái khí thông thuận tự nhiên, phiền lụy phải gạt bỏ, không để ứ tắc trong lòng, ý tứ đến phải cầm bút viết ngay, ý tứ tiềm phục không ra, thì ném bút nghỉ ngơi khỏi nghĩ tiếp” (Lưu Hiệp, 2007, tr.467) Thi nhân phải trọng sự

tu dưỡng này, vì “lúc thư nhàn bồi dưỡng tài năng” thì “lúc sáng tác phải dư tinh lực” Trạng thái tinh thần của thi nhân thông suốt hay ngưng trệ đều có ảnh hưởng đến việc sáng tác và chính tâm tình, khí chất của người viết thật sự góp phần tạo nên phần hồn của thi ca

Để thành công, thi nhân phải qua quá trình đào luyện là học tập (còn gọi là “hậu thiên”) Vì thơ khởi phát từ trong lòng mà

ra, nên khi nhà thơ phải thật sự có rung cảm mãnh liệt thì tác phẩm mới tượng hình Tiền đề đó tạo nên nguồn cảm hứng

để thi nhân cầm bút cho ngôn ngữ đơm hoa kết trái, kiến tạo nên hồn của tác phẩm Ngược lại, nếu sự học cạn, bút không

Trang 3

thông, văn không thành hình hoặc dĩ nếu

có thì sẽ thành sáo ngữ, ý nông, thiếu dư

vị Lưu Hiệp rất đề cao việc học: “văn

chương do học, năng tại thiên tư” Sự rèn

luyện, học tập để nâng cao hiểu biết, bồi

dưỡng năng lực của người viết rất quan

trọng, là việc “nhân bản tính mà rèn luyện

tài năng” (nhân tính dĩ luyện tài) Ông lý

giải rằng việc học tập của thi nhân sẽ đem

đến cho họ kiến văn rộng rãi về mọi lĩnh

vực, làm cho kỹ năng, kỹ xảo về nghề văn

của họ thuần thạo hơn Khi có “học”, thi

nhân có thể tổng hợp học vấn để bao quát

tầm nhìn, có thể giản ước sự việc để gọt

luyện cho tinh Tào Phi trong Điển văn -

Luận văn từng bàn về mối quan hệ giữa tác

gia và phong cách tác phẩm: “Khí của tác

gia là yếu tố quyết định cái đặc sắc trong

phong cách tác phẩm” (Lưu Hiệp, 2007,

tr.467) Nhận định này tôn tài khí của

người sáng tác lên hàng đầu, trở thành yếu

tố tiên quyết cho giá trị độc đáo của tác

phẩm So với quan niệm của Tào Phi, quan

niệm của Lưu Hiệp rõ ràng là toàn diện

hơn khi ông không chỉ “nhấn mạnh tác

dụng của tài, khí” mà còn đề cao việc “học

tập” của thi nhân “Tài phát ra từ trong, học

thu được từ ngoài” (“tài tự nội phát, học dĩ

ngoại thành”), công việc sáng tác đòi hỏi

thi nhân phải “làm sao cho học vấn bên

ngoài và tài năng bên trong đều có thể phát

huy” (Lưu Hiệp, 2007, tr.467)

Như vậy, “tiên thiên” là điều kiện

cần, “hậu thiên” là điều kiện đủ để hình

thành năng lực sáng tạo Những tố chất đó

khi đủ điều kiện hội tụ và nhu cầu sáng tác

phát khởi, nhà thơ sẽ làm nên tác phẩm

văn chương Quan niệm này rất sâu sắc và

đúng đắn, nhất là nó ra đời trong sự và

tiếp thu, kế thừa tư tưởng của Nho giáo, đi

đến khẳng định tính hiện thực và giá trị

thẩm mỹ của một tác phẩm văn học Vì vậy, nó vẫn còn giá trị bền vững trong thời hiện đại

2.2 Quá trình sáng tác của thi nhân

2.2.1 Hình thành ý tứ

Khâu quan trọng trong sáng tác là có hứng khởi Lối đi không rõ, văn viết không thông, đường đi không định, văn sẽ lúng túng Hoạt động này được Lưu Hiệp đề cập

đến trong chương Thần tứ Tìm cấu tứ cho

tác phẩm có ý nghĩa quyết định đến hành trình sáng tác sau đó Chỉ cần “văn tứ đến nhanh thì thành công chóng vánh; hoài nghi, nghiền ngẫm thì thành tựu đến lâu”

Thứ nhất, tìm cấu tứ cho tác phẩm đòi hỏi

người viết phải bắt đầu từ tâm Người viết phải để tâm hư và tĩnh Trạng thái hư và

tĩnh là trong suốt, trống rỗng nhưng lại có

thể tinh thông ứng chứa mọi vận hành của càn khôn (hư năng dung vật, tĩnh năng quan vật) Lưu Hiệp gọi đó là “ngưng thần” để nảy ra thi hứng, tứ thơ Khi đó, thi nhân “lặng lẽ tập trung suy nghĩ, dòng tư duy có thể tiếp xúc tận ngàn năm, khi đổi thay nét mặt ngắm nhìn, thì ánh mắt như thấy được vạn dặm Ngâm vịnh lên, âm thanh như nhả ngọc phun châu, tưởng tượng nhìn trước mắt như sắc màu mây gió” – (“Cố tịch nhiên ngưng lự, tư tiếp thiên tải Tiễu yên động dung, thị thông vạn lý, ngâm vịnh chi gian, thổ nạp châu ngọc chi thanh; mi tiệp chi tiền, quyển thư phong vân chi sắc”) Chuỗi hoạt động phức tạp và vi diệu đó chính là yêu cầu đầu tiên

để tìm tứ cho thơ Thao tác tìm tứ cho thơ, theo Lưu Hiệp thì dù có đề cao tính tưởng tượng, “dòng tư duy có thể tiếp xúc tận ngàn năm” nhưng cơ sở để tìm tứ không thoát ra khỏi “vật” Vật là ngoại cảnh Ngoại cảnh tác động đến cảm hứng của thi nhân, khiến thi nhân tập trung vào việc tìm

Trang 4

ý tứ cho thơ Bởi vậy, khi cấu tứ khéo là

tinh thần và ngoại vật đều giao du (thần dữ

vật du) Ngoại vật đến từ tai mắt, tình ý

khởi từ bên trong tâm hồn, nhưng ngôn từ

mới là nơi diễn đạt Như vậy, Lưu Hiệp

quan tâm tới ba yếu tố “thần – vật – ngôn”

trong quá trình tạo dựng văn tứ Quan niệm

thần tứ trong Văn tâm điêu long còn cho

thấy sự ảnh hưởng tích cực của Lưu Hiệp

từ Phật giáo và Đạo giáo Trạng thái

“ngưng thần”, “hư”, “tĩnh” trong hoạt động

tìm tứ của ông rất gần với trạng thái vô vi

của Lão Trang hay trạng thái “chánh niệm”

của Phật giáo

Tuy nhiên, không phải cứ đạt đến độ

“ngưng ư thần” là có tứ Tìm cấu tứ cũng

đòi hỏi lực học tinh thông của người sáng

tác Học cạn, tài sơ sẽ uổng phí công sức

mà không thể tạo nên tác phẩm có giá trị

Vốn học rộng sẽ giúp người viết có khả

năng nghiền ngẫm để tìm văn tứ; vốn học

nông khiến việc tìm tứ trở nên khó khăn,

suy tư tắc ý, ngôn từ tạp loạn Khi tìm tứ là

khi thi nhân trải nghiệm, quan sát kỹ càng

sự vật, chuồi theo suy tư, vận dụng ngôn từ

bày ra thành chữ viết Khi đó, cái hồn cái

tình đã thấu đã sâu sẽ tìm được thanh luật

mà thành thơ Như vậy, tứ thơ không tự

nhiên mà có, tứ thơ tượng hình từ trong

chính vốn sống của nhà thơ, từ những

chiêm nghiệm về cuộc đời và từ những học

vấn uyên thâm trong sách vở thánh hiền

Đó là yêu cầu thứ hai trong hành trình đi

tìm cấu tứ cho thơ

Kế thừa tinh thần của Lục Cơ trong

Văn phú quan hệ giữa ba yếu tố: “thần” -

“vật” - “ngôn”, Lưu Hiệp phát triển nó lên

tầng sâu sắc mới mẻ hơn, để nó không còn

thần bí bó hẹp mang tính chủ quan như Lục

Cơ và Trang Tử, mà khá trùng khớp với tư

duy lý tính - duy vật của nhà triết học lỗi

lạc Aristote trong Nghệ thuật thơ ca Đặt

cấu tứ trong mối quan hệ với tài năng, cảm xúc và học vấn của nhà thơ, Lưu Hiệp đề cao và kết hợp năng lực tư duy lý tính với năng lực tưởng tượng của nhà thơ Chính điều này khiến quan niệm về tứ của Lưu Hiệp trở nên đầy đủ và hấp dẫn

Nếu tứ được hình thành trong tâm

tưởng nhà thơ thì kết cấu là bước chuyển

từ ý tưởng trừu tượng sang khối hình hài tác phẩm cụ thể Sau khi cấu tứ đã thành, trước khi dạo bút, người viết thường phải

dựng kết cấu Trong Dung tài, Lưu Hiệp

cho rằng thao tác cơ bản khi bắt đầu dạo bút là Lý đoan, Cử chính, Quy dư Trong

đó, Lý đoan là thao tác xác lập kết cấu, tạo khung, chọn thể cho tác phẩm Kết cấu là cái khung của tác phẩm nên vai trò của việc xác lập kết cấu rất quan trọng Khi đó, người viết cần “căn cứ tình ý để xác lập thể chế” Các tầng bậc của tác phẩm từ thể loại, chương, thiên, đoạn, cú,… phải được xây dựng trên một khung liên kết vững chắc, trở thành nền tảng của tác phẩm Khi viết văn thì phải tình ý đúng nơi, ngôn từ đúng chỗ; sắp đặt ý tình thành các chương, tạo lập ngôn từ thành câu cú Sự rõ ràng, khúc chiết, hanh thông tình ý của tác phẩm phụ thuộc nhiều vào thao tác này Lưu Hiệp không yêu cầu phải cứng nhắc rập khuôn mà ông đề cao tính linh hoạt, sáng tạo của người viết: “Khi sáng tác văn, bút, từng thiên có lớn có nhỏ, chương cú có phân có hợp, thanh điệu có chậm có nhanh, đều phải tùy theo biến hóa, không

có quy củ nhất định” (Lưu Hiệp, 2007, tr.460) Mặc dù không đi sâu vào phân tích từng kết cấu loại thể trong thao tác thiết lập kết cấu và dừng lại ở yêu cầu kết cấu chung nhưng ông đề cao tính thiết yếu của việc xây dựng kết cấu Vai trò của kết cấu

Trang 5

được Aristote đề cập đến trong nghệ thuật

kịch; riêng về thơ, do đặc trưng thể loại,

ông chú trọng đến ngôn ngữ nhiều hơn Về

sau, đời Đường đã đẩy mạnh tầm quan

trọng của kết cấu trong thi luật với kết cấu

luận đề theo bố cục khuôn mẫu: đề - thực -

luận - kết

2.2.2 Các thủ pháp nghệ thuật trong

sáng tác

Theo Lưu Hiệp, giai đoạn thảo bút

phức tạp và luân phiên giữa các thao tác:

tạo nhạc tính, sử dụng biện pháp tu từ, và

cuối cùng là gọt giũa ngôn từ

2.2.2.1 Thủ pháp phối âm tạo nhạc

tính cho thơ

Thơ là tiếng lòng, là “tâm thanh” của

người nghệ sĩ Khi “tâm thanh” hòa với

thanh điệu của ngôn ngữ thành một khối,

hình thành nên sự biến hóa diệu kỳ của

thanh luật trong thi ca Từ xưa, khi bàn về

thơ ca, đã có nhiều ý kiến về âm luật

Poetics của Aristote ở Hy Lạp và

Natyasastra của Bharata ở Ấn Độ - hai tác

phẩm nổi tiếng của nền thi pháp học cổ

điển đã có sự gặp gỡ thú vị khi cùng đề

cao vai trò của âm thanh trong ngôn ngữ

thơ ca Trong Poetics, Aristote đã bàn kỹ

về cách sử dụng các yếu tố ngữ âm (âm cơ

bản, vần, liên từ) để tạo nên độ ngắn dài,

bổng trầm cho thơ Aristote đã triển khai

từng phần, phân tích đặc điểm của chúng

và cách tổ chức chúng trong tác phẩm

Trong Natyasastra, Bharata đưa ra 10

phẩm chất (guna) và 10 khuyết điểm

(dosa) của thơ ca Trong đó, khuyết điểm

sai nhịp (vsama) hoặc các phẩm chất êm ái

(samata), ngọt ngào (madhurya), mạnh mẽ

(ojas) (Phan Thu Hiền, 2006, tr.37) là

những yếu tố thuộc về âm luật trong thơ

Sau Bharata, Bhamaha và cả Dandin,

Vamana, Udbhata - những người kế thừa

sau đó của thi pháp học Ấn Độ cổ điển tuy

có nhiều quan niệm khác nhau trong thi pháp nhưng họ cùng đề cao nhạc tính trong thơ

Trong thiên Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp dành trọn một thiên Thanh luật để

bàn về âm luật, điều này cho thấy ông rất

đề cao vai trò của âm thanh trong tác phẩm Trong chương này, Lưu Hiệp khẳng định, nguồn gốc của âm luật là trong khí huyết, trong tình cảm của con người Vì vậy, nhạc khí mô tả âm thanh của người chứ không phải người học theo nhạc khí

Từ việc dẫn bàn âm luật trong âm nhạc, Lưu Hiệp khẳng định sự tất yếu của âm luật trong văn chương: “Âm luật bắt đầu hình thành, vốn từ âm thanh do con người phát ra Âm thanh đó phù hợp cung thương, gốc gác do từ khí huyết, tiên vương xưa nhân đó mà chế thành nhạc ca” (“Phù âm luật sở thủy, bản ư nhân thanh giả dã Thanh hợp cung thương, triệu tự huyết khí, tiên vương nhân chi, dĩ chế nhạc ca”) Âm luật còn là thước đo để đánh giá tác phẩm: văn chương hay dở, thể hiện ngay trong ngâm vịnh “Thanh luật của văn chương như mơ muối nêm vào thức ăn cho đậm vị, như dầu béo phết thêm bên ngoài cho mỡ màng” Vì vậy, phàm là người làm thơ, khi sáng tác, nhất thiết phải dụng công tạo nhạc cho thơ

Thủ pháp tạo nhạc tính cho thơ được Lưu Hiệp đề đặt và phân tích kỹ hai thể thức của âm hưởng để viết nên một bài thơ

có tính hài hòa, đó là song thanh và điệt

vận Khi viết, người viết cần hiểu rõ “hai

song thanh bị một chữ thì gián cách; hai điệt vận bị xen một câu thì không xuôi; âm trầm phát ra rồi đứt; âm cao vút lên khó trở

về, phối hợp với nhau như sóng nước xoay tròn, như vảy rồng xếp lớp” Để thực hiện

Trang 6

quy tắc phối hợp chặt chẽ khít khao này,

người sáng tác cần nắm vững để tạo nên

chuỗi thanh điệu êm tai nối nhau như ngọc

xâu chuỗi, lanh canh như tiếng ngọc vang,

thơ văn vì vậy mà thấm vào lòng người

Như vậy, nhất thiết, người làm thơ cần có

hiểu biết sâu sắc về âm vận để tạo nên độ

phối hợp hợp lý, cân đối, hài hòa Thao tác

làm cho hay đó gọi là hòa vận “Vần điệu

hay lộ rõ trong cách đặt câu, khí lực đưa

hết vào chỗ hòa vận Dị âm theo nhau gọi

là hòa, đồng thanh ứng nhau gọi là vận”

(Thị dĩ thanh họa nghiên xi, ký tại ngâm

vịnh, tư vị lưu ư hạ cú, khí lực cùng ư hòa

vận Dị âm tương tòng vị chi hòa, đồng

thanh tương ứng vị chi vận”) Thủ pháp tạo

nhạc bằng cách chú trọng hòa vận, theo

Lưu Hiệp, không phải là điều khó học, khó

luyện, nhưng để đạt đến độ tinh diệu thì

không dễ Ông đã tỏ ra rất tinh thông âm

luật Hán ngữ khi chỉ rõ quy luật hài thanh

hiệp vần Mặt khác, tuy bàn về âm thanh –

cái vỏ ngôn ngữ, một yếu tố thuộc về hình

thức, nhưng quan niệm của Lưu Hiệp vẫn

không tách biệt hình thức với nội dung

Như đã nói, nhạc luật trong sáng tác, là

“âm thanh với tâm tư”, nghĩa là tiếng của

lòng người” Chính vì vậy, tâm thanh

không thể nào vọng ra thơ bằng độ vang

của chữ một cách dễ dãi để mê hoặc những

kẻ hám lạ Lưu Hiệp phê phán những

người viết ham quái dị, ham lạ Với ông,

nhạc thơ, phải là tiếng lòng tha thiết của

con người

Mặc dù trên thực tế, thi luật và nhạc

tính trong thơ luôn vận động nhưng việc

tạo nhạc cho thơ luôn được nhiều người

chú trọng Nói như Lưu Hiệp,“làm văn

chương phải hợp với âm luật, há lại coi

thường được sao!” Từ Aristote, Bharata

đến Lưu Hiệp, chúng ta cùng thấy chung

một quan điểm khẳng định vai trò của nhạc

và kỹ thuật hòa âm trong thơ Bởi đặc điểm cấu âm của ba ngôn ngữ trên vốn khác biệt nên âm luật được họ bàn đến cũng khác biệt nhưng xét về đại thể, nó có ý nghĩa định hướng sâu sắc và chính xác cho công việc sáng tác văn chương thời bấy giờ và còn có giá trị về sau

2.2.2.2 Thủ pháp phối hợp các biện pháp tu từ

Ngôn ngữ văn chương bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống Vì vậy, khi sáng tác, nhà thơ phải “cố công chăm chút chữ nghĩa, sắp đặt tốt từ ngữ trên mặt giấy” để chúng sáng đẹp lên Bằng tài trí của người sáng tác, ngôn ngữ đời thường được chắt lọc gọt giũa, sắp đặt trở nên lung linh tinh xảo giàu ý nghĩa thẩm mỹ Kỹ thuật dụng công trên từng con chữ để tạo nên những quy luật sáng tác, nâng tầm ngôn ngữ thường nhật lên tầm ngôn ngữ nghệ thuật, phải kinh qua các biện pháp nghệ thuật tu

từ Tu từ là một thao tác bản lề của hai lãnh địa ngôn ngữ nêu trên

Trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp

dụng công bàn sâu về các biện pháp nghệ

thuật Trong mỗi thiên Lệ từ, Tỷ hứng,

Khoa sức đều chứa những kiến giải thuyết

phục về một biện pháp nghệ thuật cốt sao cho văn chương trở nên đẹp đẽ và thu phục

được lòng người

Đối ngẫu trong văn chương cổ là một

thủ pháp thông dụng, có nguồn gốc từ quan niệm “sự bất cô lập” Quan niệm về hiện tượng song đôi trong càn khôn vũ trụ đã hình thành nên nếp tư duy đối ngẫu trong sáng tác văn chương Thao tác lựa chọn đẽo gọt ngôn từ trong lúc viết của các thi nhân xưa đã bao gồm chủ ý tạo đối ngẫu

“Người ta chú ý nhiều đến đẽo gọt văn từ, loại câu đối ngẫu và văn thái tươi đẹp cùng

Trang 7

được lưu hành rộng rãi, ý tứ đối nhau và

vần điệu bay bổng cùng được quan tâm

phát triển” Trong thiên Lệ từ, Lưu Hiệp

chỉ ra bốn thể thức đối: ngôn đối, sự đối,

phản đối và chính đối Chọn từng cặp từ

ngữ đối nhau, gọi là ngôn đối Chọn từng

cặp sự việc có ý nghĩa đối nhau, là sự đối

Phản đối là sự lý trái nhau song có sự phù

hợp; chính đối là những việc khác nhau

nhưng lại có ý nghĩa tương đồng Trên cơ

sở đó, cần phải làm cho ngôn đối thật tinh

xảo, sự đối phải đích đáng, trái nâng phải

đỡ, thì mới tỏ rõ cái vi diệu của thơ ca Lưu

Hiệp khẳng định: “nhất định phải làm sao

cho cho lý tình đầy đủ, ( ) lựa câu đối

ngẫu cho hay, điều hòa thêm bằng nhiều

bội ngọc, như vậy mới là tác phẩm quý

Suy xét kỹ về loại đối ngẫu này, nên sử

dụng ra sao, lý lẽ tự nhiên sẽ rõ” (“Tất sử

lý viên sự mật, liên bích kỳ chương, điệt

dụng kỳ ngẫu, tiết dĩ tạp bội, nãi kỳ quý

nhĩ Loại thử nhi tư, lý tự kiến dã”) Tầm

quan trọng của phép đối ngẫu thể hiện qua

việc nó luôn có mặt trong các tác phẩm,

các lời bàn về thi pháp học từ thời cổ đại

Bên cạnh đó, phép làm thơ còn kinh

qua việc sử dụng “tỷ” và “hứng”, thi học

hiện đại gọi là so sánh Văn tâm điêu long

phân rõ hai cách so sánh là “tỷ” và “hứng”

Nhà thơ còn dùng những sự vật tương

tự khác để đệm thêm vào, tạo nên tính

thuyết phục hơn cho sự lý đang diễn đạt

Đó là cơ sở của việc dùng tỷ Trong thơ

xưa, phép dùng tỷ thường xảy ra khi các thi

nhân chất chứa phẫn nộ nên so sánh cốt để

chê trách Cho nên, dùng tỷ, có khi là để

nói quá lên để giải rõ sự tình Cách dùng tỷ

mà Lưu Hiệp đề ra có nội hàm khá rộng: có

khi dùng âm thanh, có khi dùng hình mạo,

có khi ví tình cảm, có khi ví sự việc Mặt

khác, cách dùng tỷ còn biến hóa linh hoạt,

khi ẩn khi lộ, rất gần với so sánh và so sánh

ẩn dụ ngày nay Bàn về cách dùng tỷ, Lưu

Hiệp nhấn mạnh: “dùng cho đích đáng mới hay, nếu vẽ thiên nga mà lại thành con vịt thì chẳng còn ra thể thống gì nữa” Bên

cạnh tỷ là hứng, hứng là khởi dậy (dựa vào

sự việc mà khơi dậy tình cảm và hứng thú

làm thơ) Dùng hứng là nhờ sự vật mà nói

rõ ý, sự vật được dùng thường là nhỏ nhưng lại ngầm chỉ ý nghĩa lớn Vì vậy, so

về thái độ thi nhân khi dùng tỷ thì hứng

thường được dùng khi tác giả muốn uyển chuyển lựa lời gửi gấm, khuyên răn, uốn

nắn So về nghĩa biểu đạt, hứng dùng trong

ý nghĩa dùng nhỏ ngụ bàn sự việc lớn; cho nên, đôi khi lời thì rõ mà ý thì không rõ buộc người viết phải thêm phần chú thích

Vì những đặc tính đó, theo tâm ý sáng tạo của thi nhân và xu thế của xã hội, việc

dùng hứng ngày càng hạn hẹp, thưa thớt trong khi việc dùng tỷ ngày càng phát triển,

phong phú và đa dạng, biến hóa vô cùng

Thao tác dùng tỷ giúp thi nhân tỏ rõ

cái chí, thuật rõ cái tình, tô điểm cho văn thái của mình, khiến văn chương “dạt dào như sông nước” Vì vậy, trong các biện pháp tu từ trong sáng tác, phép dùng “tỷ” được đề cao Ở Ấn Độ đương thời, Bharata đưa phép so sánh (upama) lên vị trí đầu tiên trong bốn thủ pháp tu từ trọng yếu; ngoài so sánh, Bharata còn bàn về ẩn dụ (rupaka) Tác giả này cũng dùng một

chương trong công trình Natyasatra để bàn

về so sánh, ẩn dụ và các biện pháp tu từ ngữ nghĩa lẫn tu từ âm thanh Có thể thấy, tác dụng của phép so sánh trong sáng tác thơ được khẳng định trong thực tế sáng tác

và trong các công trình lý luận và thi pháp của các lý thuyết gia

Thiên Khoa sức trong Văn tâm điêu

long bàn về nghệ thuật “khoa trương tu

Trang 8

sức” mà thi học hiện đại hiểu là biện pháp

phóng đại Theo Lưu Hiệp, thủ pháp khoa

trương được hình thành ngay từ “khai thiên

lập địa”, như một cái lý tự nhiên Ngôn từ

rõ ràng dùng để tả tinh xác sự vật Để hình

mạo vật đẹp và âm thanh vật hay thì phải

khoa trương trau chuốt văn từ Mặc dù có

khi, văn từ dùng có phần quá đáng, nhưng

ý nghĩa cũng vô hại Lưu Hiệp dẫn theo

người trước: ví như tả núi cao thì nói “núi

cao sát trời xanh”, tả nước lớn tràn thì nói

“ngập cả bầu trời” và khẳng định, cách nói

phóng đại trong thơ là nhằm để ca ngợi; thi

nhân cố công trau chuốt nó thành ra biện

pháp khoa trương tu sức Tuy nhiên, bàn về

khoa sức, tác giả Văn tâm điêu long còn

dẫn ra nhiều hiện tượng khoa trương trong

các tác phẩm trước đó, và kết luận: “nếu

khoa trương mà “vượt quá lẽ thường, thì lại

là danh phản lại thực” (“khoa quá kỳ lý, tắc

danh thực lưỡng quai”); còn bằng nếu khoa

trương mà “tả được cái chính yếu của sự

vật”, thì thành tựu viên mãn Dẫn Thi, đưa

Thư ra làm thước đo, Lưu Hiệp yêu cầu

người viết, cần khéo léo sao cho khoa

trương có mức độ, tu sức mà không giả,

mới là văn chương tốt đẹp Như vậy, khoa

trương tu sức là biện pháp tu từ có cả hai

mặt đóng góp và hạn chế Qua cách bàn về

kỹ thuật khoa trương, ta thấy trước sau Lưu

Hiệp luôn coi trọng tính chân thực trong

sáng tác Ông nhiều lần nhấn mạnh, dù văn

hay nhưng mất đi cái gốc của sự thật thì

dụng công cũng vô ích

2.2.2.3 Thủ pháp gọt giũa, trau chuốt

ngôn từ

Trau chuốt gọt giũa ngôn từ là công

việc được thi nhân thực hiện xuyên suốt

quá trình sáng tác, cũng là khâu kết thúc

sau cùng Nếu kể đến ba công đoạn sáng

tác mà Văn tâm điêu long đề cập là lập cấu

tứ, xác định “tam chuẩn” và nghiền ngẫm

câu chữ thì thiên Dung tài bàn rất rõ về hai

thao tác sau Tác giả giải thích, “dung tài

là “luyện ý gọt từ”, uốn nắn lại ý tình, tu

sức cho văn thái Dung là thể chế đúng quy phạm, ý tứ phù hợp cương nhu; tài là

cắt gọt từ ngữ phù phiếm dư thừa” Đây là thao tác quan trọng trong việc khuôn mẫu hóa, chính xác hóa, mỹ từ hóa ngôn từ, làm cho văn thái mực thước, sáng rõ, mạch lạc Có hai thao tác cơ bản nhất mà thi

nhân cần vững vàng khi sáng tác Thứ

nhất, khi “luồng suy nghĩ mới khởi phát”

trong dạng thức thô sơ, ngôn từ còn phồn tạp, người sáng tác cần nhanh chóng định

ba chuẩn mực cho tác phẩm (lý đoan, cử chính, quy dư) Ba chuẩn mực này trở thành cái khung chắc chắn để người viết

đổ tuôn ý tình và ngôn ngữ vào tác phẩm Nếu như không định ba chuẩn mực đó, ý tưởng sẽ bay bổng lạ lùng, ngôn từ sẽ tùy thích phóng túng, “dư thừa sẽ không biết bao nhiêu” Bởi vậy, Lưu Hiệp nhấn mạnh, người nào “muốn sáng tác được văn chương hay, trước tiên phải định ba chuẩn

mực” đó Thứ hai, khi sẵn có ba chuẩn

mực, cần chú tâm nghiền ngẫm câu chữ

“Câu có chỗ phải gọt bớt, chứng tỏ văn từ còn thô sơ Chữ không thể tăng thêm, chứng tỏ văn chương viết chặt chẽ” (“Cú hữu khả tước, túc kiến kỳ sơ; tự bất đắc giảm, nãi tri kỳ mật”) Người viết tùy theo tính khí mà hình thành văn phong hoặc tinh tế gọn gàng hoặc phô bày rộng rãi Bàn về việc luyện ý gọt từ, ông lập luận rất thuyết phục: “Ý tứ phong phú thì dễ dàng

mở rộng Tài năng lão luyện thì dễ dàng giản hóa Giỏi giản hóa thì giảm bớt chữ

mà để lại ý; giỏi trình bày thì từ dùng lạ

mà ý nổi bật Bớt chữ mà thiểu ý thì bài văn nghèo nàn không hay Mở rộng mà

Trang 9

ngôn ngữ trùng lặp thì văn rườm rà chứ

không phải phong phú” Cùng với Lưu

Hiệp, Bhamaha trong Kavyalankara đã đề

ra 36 hình thức tu từ Với Bhamaha, điều

quan trọng là lựa chọn, trau chuốt hình

thức ngôn từ để phô diễn tư tưởng, tình

cảm một cách đẹp (caruta) Đẹp ở đây bao

gồm từ yêu cầu dễ hiểu, chân xác đến tao

nhã và cả tính hình tượng, yếu tố mới mẻ,

bất ngờ, gây ngạc nhiên, thú vị

Hoạt động tu sửa ngôn từ được Lưu

Hiệp bàn rải rác trong các thiên: Phong cốt

(“Dùng từ xác đáng, khó lòng thay đổi, âm

thanh hài hòa mà không máy móc”), Tình

thái (“khi tâm ý xác định rồi mới phối hợp

âm luật, ý tình đúng đắn rồi mới tu sức vẻ

đẹp bên ngoài, khiến cho văn không mất

chất” ( ), “mới có thể xem là gọt giũa văn

chương”), Chương cú (“nếu như văn từ

không có gì kết hợp thì khác nào người lữ

khách cô đơn không bạn”, “tạo cú rất kỵ sự

đảo ngược”, “đổi vần theo điệu là cốt để

điều tiết văn từ, để có từ khí”).v.v Có thể

thấy, Lưu Hiệp hiểu rõ sức mạnh của ngôn

ngữ, tuy không bàn về ngôn ngữ như một

chất liệu để khẳng định “văn học là nghệ

thuật ngôn từ” như cách nói của các nhà lý

luận về sau, nhưng ông đã khẳng định vai

trò của ngôn ngữ trong tác phẩm và lưu ý

nhắc nhở người cầm bút phải chú tâm

trong việc sử dụng và tinh luyện ngôn ngữ

Những vấn đề thuộc về kỹ thuật sáng tác

theo quan niệm của ông (những công đoạn

tìm tứ, lập kết cấu, và trau chuốt ngôn từ)

đã bao quát được những thủ pháp nghệ thuật cơ bản nhất trong sáng tác

Chịu ảnh hưởng của thuyết Văn – Bút

nên trong Văn tâm điêu long Lưu Hiệp đã

chia sáng tác thành hai loại: văn vần (Văn)

và văn không vần (Bút) Trong 20 thiên bàn về thể loại, phần cuối của mỗi thiên ông dành để bàn về cách viết của từng thể loại; nhưng, nền tảng chủ đạo trong tư duy của ông vẫn hướng về thơ phú Qua khảo sát, trong các thiên bàn riêng về sáng tác thì phần lớn ông dành bàn về các thủ pháp

trong thơ

3 Kết luận

Trên tinh thần kế thừa và cách tân, khuôn thước mà sáng tạo, Lưu Hiệp đã hệ thống khá đầy đủ các thủ pháp quan trọng nhất trong sáng tác Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Lưu Hiệp nhấn mạnh tính thuần chính về nội dung và tính cô đúc về hình thức Xuyên sốt trong các phần sau của

Văn tâm điêu long, ông cũng đã căn cứ

vào hai tiêu chí cơ bản này để bàn về cách viết Những khuôn mẫu sáng tác được viết với tinh thần “trưng thánh”, “tôn kinh” trong sáng tác của ông có phần bảo thủ, nhưng ở ý nghĩa khác, nó trở thành thước

đo, thành lề lối văn chương mang tinh thần giáo huấn của xã hội, vừa mang bản ngã riêng trong tài năng và phong thái của cá nhân Vấn đề đó rất đáng để người sau suy

nghĩ và học tập

Chú thích:

Tất cả các trích dẫn nguyên văn của văn bản “Văn tâm điêu long” được lấy từ trong quyển:

Lưu Hiệp (2007), Văn tâm điêu long, Trần Thanh Đạm và Phạm Thị Hảo dịch, NXB Văn

học, Hà Nội

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aristote (tái bản 2007) Nghệ thuật thơ ca NXB Lao động

Cao Thị Ngọc Hà (2015) “Quan điểm của Lưu Hiệp về tưởng tượng sáng tạo qua thiên thần tứ trong Văn tâm điêu long nguồn: http://www.sachhay.org/cao-thom/ ChiTiet/2937/quan-diem-cua-luu-hiep-ve-tuong-tuong-sang-tao-qua-thien-than-tu-trong-tac-pham-van-tam-dieu-long

Đoàn Lê Giang (2001) Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Trung Quốc – lịch sử và tư liệu

(lưu hành nội bộ) TP HCM

Lưu Hiệp (2007) Văn tâm điêu long.Trần Thanh Đạm và Phạm Thị Hảo dịch Hà Nội:

NXB Văn học

Phan Thu Hiền (2006) Thi pháp học cổ điển Ấn Độ Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Phương Lựu (2005) Tuyển tập, tập 1, Lý luận văn học cổ điển phương Đông Hà Nội:

NXB Giáo dục

Ngày nhận bài: 08/9/2019 Biên tập xong: 15/01/2020 Duyệt đăng: 20/01/2020

Ngày đăng: 09/08/2020, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w