1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hôn nhân gả bán – tiếng nói phê phán và khát vọng tình yêu trong truyện thơ Mường Thanh Hóa

9 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 382,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đi sâu tìm hiểu vấn đề hôn nhân gả bán trong truyện thơ Mường Thanh Hóa, qua đó khẳng định giá trị độc đáo của truyện thơ trong bức tranh chung của truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

HÔN NHÂN GẢ BÁN – TIẾNG NÓI PHÊ PHÁN VÀ KHÁT VỌNG TÌNH YÊU TRONG TRUYỆN THƠ MƯỜNG THANH HÓA

Forced marriage – A critical voice and a thirst for love in Mường ethnic’s narrative poems of Thanh Hóa

TS Lê Thị Hiền

Trường Đại học Hồng Đức

TÓM TẮT

Vấn đề hôn nhân gả bán là một trong những nội dung phổ biến trong truyện thơ Mường Thông qua một

số tác phẩm tiêu biểu, truyện thơ đã lên tiếng phê phán tập tục gả bán hôn nhân, ca ngợi khát vọng về tình yêu tự do và mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của các chàng trai, cô gái Mường Bài viết đi sâu tìm hiểu vấn đề hôn nhân gả bán trong truyện thơ Mường Thanh Hóa, qua đó khẳng định giá trị độc đáo của truyện thơ trong bức tranh chung của truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Từ khóa: hôn nhân gả bán, Thanh Hóa, truyện thơ Mường

ABSTRACT

The issue of forced marriage is one of the important contents of Mường ethnic’s narrative poems Through a number of typical works, the narrative poems have criticized the custom of forced marriage and praised a desire of freedom in love and happiness of Mường couples The article explores the issues

of forced marriage in Mường ethnic’s narrative poems of Thanh Hóa, thereby to confirm the unique values of the narrative poem in a general prospect of ethnic minorities’ poetry in Vietnam

Keywords: forced marriage, Thanh Hóa, Mường ethnic’s narrative poem

1 Đặt vấn đề

Trong bức tranh chung của truyện thơ

các dân tộc thiểu số Thanh Hóa, truyện

thơ của dân tộc Mường đóng vai trò quan

trọng Hiện nay, truyện thơ Mường lưu

truyền ở Thanh Hóa được sưu tầm và công

bố mới chỉ có 5 tác phẩm: Út Lót Hồ Liêu,

Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm chàng Bồng

Hương, Nàng con côi, Anh Loong

Choóng Trong đó, truyện thơ Út Lót Hồ

Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm chàng

Bồng Hương là những truyện thơ về đề tài

tình yêu hôn nhân Thông qua ba tác

phẩm: Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm chàng Bồng Hương, một

mặt, các tác giả dân gian lên tiếng phê phán tập tục gả bán hôn nhân, mặt khác,

ca ngợi khát vọng về tình yêu tự do và mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của các chàng trai, cô gái Mường Điều đó tạo nên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, khiến truyện thơ sống mãi trong đời sống văn hóa của dân tộc Mường nói riêng và đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung

Trang 2

2 Nội dung

2.1 Những cuộc hôn nhân gả bán (hôn

nhân cưỡng ép) trong truyện thơ Mường

Theo quan niệm của người Mường,

hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối

với cá nhân mà còn có ý nghĩa quan trọng

đối với gia đình, họ tộc Với người đàn

ông, hôn nhân là bước chuyển để người

đàn ông trở thành đức cả, tức là người có

tư cách đại diện cho một gia đình, một nóc

nhà tham gia vào các công việc của gia

đình, dòng họ, làng xóm Với người phụ

nữ, hôn nhân đánh dấu sự trưởng thành,

khẳng định người phụ nữ có khả năng quán

xuyến gia đình, sinh con đẻ cái để duy trì

nòi giống cho gia đình nhà chồng và nuôi

dưỡng chúng Đối với gia đình, họ tộc, đặc

biệt là nhà trai; hôn nhân của đôi vợ chồng

trẻ khẳng định vị thế của dòng họ đối với

xóm làng và cộng đồng

Việc dựng vợ gả chồng của người

Mường là do cha mẹ sắp đặt, phận làm con

không có quyền lựa chọn, nhất là con gái

Trong hôn nhân, vai trò của cha mẹ là tối

cao - “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” Họ có

thể bất chấp tất cả, thậm chí dồn con trẻ

vào bước đường cùng để đạt được mục

đích của mình Đây là một trong những đặc

điểm nổi bật nhất của xã hội Mường thời

phong kiến

Vấn đề hôn nhân, đặc biệt là hôn nhân

gả bán, được phản ánh chân thực, sinh

động trong các truyện thơ Mường, cụ thể

như cuộc hôn nhân giữa nàng Nga và nhà

vua Ao Ước (truyện thơ Nàng Nga Hai

Mối), cuộc hôn nhân giữa chàng Hồ Liêu

và người vợ do cha mẹ sắp đặt, cuộc hôn

nhân giữa nàng Út Lót và đạo mường Đẹ

(truyện thơ Út Lót Hồ Liêu)

Cuộc hôn nhân giữa nàng Nga và nhà

vua Ao Ước trong truyện thơ Nàng Nga

Hai Mối là cuộc hôn nhân tiêu biểu nhất

cho tục lệ gả bán hôn nhân Vua Ao Ước là nhà vua đầy quyền lực, giàu có ở đất nước Thượng Lào Mặc dù biết nàng Nga và Hai Mối yêu nhau và đã hẹn ước với nhau nhưng bố mẹ nàng Nga vẫn ngăn cấm và buộc nàng lấy nhà vua Ao Ước Trước quyết định của cha mẹ, nàng Nga chỉ đau

buồn, than thở với đạo Hai Mối: “Bố nhà

em tham bạc / Mẹ nhà em tham vàng / Chú bác, họ hàng tham ăn tham uống / Tham bình rượu mọng / Tham vò rượu siêu / Cho nên em bị ép đi làm bà / Nhà ông Vua Ao Ước / Nước vua Thượng Lào cao xa quạnh vắng” Nàng không cười, không nói và bỏ hẳn việc ăn uống: “Cơm không buồn nhá,

cá không buồn ăn / Vóc gầy da nhăn như bông hoa bông trăng héo nắng” Thậm chí,

khi nghe tin Hai Mối chết, nàng Nga đã sẵn sàng từ bỏ địa vị và quyền lực để sống trọn kiếp với người yêu Kết thúc cuộc hôn nhân đầy bi kịch này là cái chết của cả ba người: Hai Mối, nàng Nga và nhà vua Ao Ước Cái chết ấy như một tiếng thét căm phẫn lên án xã hội phong kiến – xã hội mà chính cha mẹ là nhân tố gây nên bi kịch cho con cái

Cũng giống như cuộc hôn nhân giữa nàng Nga và vua Ao Ước, cuộc hôn nhân giữa Hồ Liêu và người vợ trong truyện thơ

Út Lót Hồ Liêu là cuộc hôn nhân cưỡng ép

Cuộc hôn nhân này hoàn toàn do cha mẹ hai bên tự ý quyết định Vì là cuộc hôn nhân không tình yêu nên Hồ Liêu luôn lạnh lùng, vô cảm với người vợ của mình Sự lạnh lùng, vô cảm của Hồ Liêu khiến người

vợ buồn bã và có lúc đã chất vấn chàng:

“Anh chê em phục phịch / Chê em cục mịch / Hay chê em gô răng / Chê em khô chân gân mặt” Đáng thương hơn, người phụ nữ

này sẵn sàng chấp nhận làm vợ thứ nếu

Trang 3

chàng bằng lòng Trước sự níu kéo của vợ,

Hồ Liêu vẫn không chấp nhận và khẳng

định chỉ có một tình yêu duy nhất với nàng

Út Lót Thấy không thể thay đổi được Hồ

Liêu, người vợ đã đi tìm người khôn mồm,

khéo miệng để khuyên nhủ chàng: “Dẫu

mến bậu cũng không nên cửa / Dẫu mến họ

cũng không nên nhà” Nhưng tất cả đều

không thể lay chuyển được lòng dạ sắt đá

của chàng Chàng khuyên vợ nên trở về

bên cha mẹ, làm lại tình duyên mới và kiên

quyết: “Dù em có đợi anh / Chín tháng

mười hai năm / Chúng ta cũng không /

Đằm tình trai gái / Chúng ta cũng không /

Đậu ngãi bén duyên / Rồi ra chỉ nên trầu

cau khô héo” Mặc cho Hồ Liêu khuyên

nhủ thế nào, người vợ vẫn một mực làm

theo sự sắp đặt của cha mẹ Cuối cùng, Hồ

Liêu đã tìm đến cái chết Chỉ có chết,

chàng mới có thể thoát ra khỏi cuộc hôn

nhân đầy ngang trái

Ngoài việc phản ánh cuộc hôn nhân

của chàng Hồ Liêu, truyện thơ Út Lót Hồ

Liêu còn miêu tả cuộc hôn nhân gả bán

giữa nàng Út Lót và đạo mường Đẹ Mặc

dù đạo mường Đẹ vừa già vừa xấu, vừa

chột lại vừa bị què nhưng nàng Út Lót vẫn

chấp nhận lấy làm chồng Có hai nguyên

nhân khiến Út Lót đi đến quyết định táo

bạo ấy Thứ nhất, sau khi quá đau buồn về

cái chết của chàng Hồ Liêu, nàng lại bị cha

mẹ ép phải lấy chồng giàu, chồng sang:

“Bây giờ con phải / Đi làm bà, làm mái

cun quan / Cho vui lòng cha mẹ” Để giữ

tròn đạo hiếu với cha mẹ, nàng bắt buộc

phải đi lấy chồng Mà khi đã lấy chồng,

phải lấy một người mà nàng không yêu thì

với nàng, việc lấy ai không còn là điều

quan trọng Thứ hai, nếu nhận lời lấy đạo

mường Đẹ thì trên đường về nhà chồng,

nàng sẽ được gặp lại Hồ Liêu, bởi đi về

phía ấy có nơi an nghỉ của chàng Đám cưới của nàng Út Lót và đạo mường Đẹ được tổ chức khá linh đình, đông đúc, nhưng thật bất ngờ, khi đám rước dâu đi qua mộ Hồ Liêu, nàng đã xin phép hai họ vào thăm Hồ Liêu Như đã hẹn trước, khi nàng Út Lót vừa bước tới mộ, Hồ Liêu đã chống mộ cao cho Út Lót bước vào Săng đồng gộp lại, hai người biến thành hai hòn

đá trắng Chứng kiến cảnh đau buồn ấy, tê tái phiền lòng, đạo mường Đẹ đã biến thành con cày cun gầy nhom nằm ngủ suốt tháng Ba, tháng Tư Cái kết của cuộc hôn nhân là cái chết của cả hai người: nàng Út Lót và đạo mường Đẹ

Có thể thấy tự do yêu đương là đặc trưng của xã hội nguyên thủy – nhưng hôn nhân môn đăng hộ đối hoặc có sự can thiệp của tiền bạc – hôn nhân gả bán lại là hệ quả của xã hội phong kiến Trong hôn nhân gả bán luôn diễn ra xung đột giữa một bên là cha mẹ - đại diện cho chế độ gia trưởng phong kiến và trật tự luân lý phong kiến với một bên là đôi trai gái - đại diện cho lý tưởng hôn nhân tự do Xung đột này

“không ngừng được đẩy cao, xung đột không ngừng được đào sâu - để đưa đến những vòng xoáy cao trào mà đỉnh điểm là quyết tâm tự tận” (Bùi Thiên Thai, 2015,

tr 39)

Tục lệ gả bán hôn nhân không chỉ được phản ánh trong truyện thơ Mường mà còn được phản ánh khá chân thực trong truyện thơ các dân tộc thiểu số khác: truyện

thơ Tiễn dặn người yêu, Khun Lú nàng Ủa của dân tộc Thái; truyện thơ Nhàng Dợ Chà Tăng của dân tộc Mông; Tam Mậu Ngọ, Trần Chu của dân tộc Tày.v.v Tuy

nhiên, ở truyện thơ các dân tộc thiểu số khác, tác giả dân gian đã tìm được lối thoát tương đối thỏa đáng để giải quyết mâu

Trang 4

thuẫn, bế tắc trên con đường phấn đấu vượt

qua thành lũy của tục lệ gả bán phong kiến

để đi đến hạnh phúc trọn vẹn Đó là hoặc

cùng nhau bỏ trốn để xây dựng lại cuộc đời

êm ấm ở một nơi xa xôi (truyện thơ Nhàng

Dợ Chà Tăng); hoặc vui vầy tái hợp trong

mối tình chung thủy sau khi phải trải qua

rất nhiều lận đận, khổ đau, sóng gió dập

vùi của tục lệ gả bán lạc hậu trong xã hội

phong kiến (truyện thơ Tiễn dặn người

yêu).v.v

Truyện thơ Mường không giải quyết

mâu thuẫn trong hôn nhân gả bán theo

chiều hướng có hậu như vậy, mà “phần lớn

tìm đáp số trong cuộc đời ở thế giới bên

kia, ở thế giới của cõi chết” (Phan Đăng

Nhật, 1981, tr 428-429) Chẳng hạn, nàng

Nga đã quyết xuống mồ với người yêu cho

trọn nghĩa vẹn tình, nàng Út Lót kết thúc

cuộc đời đau khổ bằng cái chết, nàng Bồng

Hương tìm lên núi Làn Ai để ăn lá ngón tự

vẫn Các chàng trai và cô gái Mường đã

quyết liệt biểu thị thái độ chống đối của

mình với tục lệ gả bán hôn nhân, phản ứng

khá mạnh mẽ và dữ dội trước hành động ép

uổng của cha mẹ

2.2 Tiếng nói phê phán, tố cáo tập

tục gả bán (cưỡng ép) hôn nhân

Truyện thơ ra đời khi giai cấp trong xã

hội hình thành một cách rõ nét Mỗi truyện

thơ là bức tranh thu nhỏ về hiện thực xã

hội phong kiến với những luật lệ hà khắc,

với những mối mâu thuẫn không thể điều

hòa được Xã hội phong kiến đã bày ra

những trận đồ bát quái, nào là lệ thiêng luật

cả, nào là phép mẹ quyền cha, nào là cưới

mua gả bán, nào là trọng nam khinh nữ.v.v

Vạch ra bản chất xấu xa của xã hội phong

kiến với những tập tục ngang trái, truyện

thơ là tiếng kêu than cho số phận của con

người; là lời phê phán, tố cáo đanh thép cái

xã hội xấu xa, tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người

Ba truyện thơ Nàng Nga Hai Mối, Út Lót Hồ Liêu, Nàng Ờm chàng Bồng Hương

đều gặp nhau ở một chủ đề tư tưởng là cùng phê phán chế độ cưỡng ép hôn nhân trong xã hội Mường xưa Những bậc cha

mẹ trong các truyện thơ này đều là những người ham giàu, ham địa vị, đã ép duyên, cưỡng duyên; là những người trực tiếp gây

ra tai họa cho con cái Ta bắt gặp ở các truyện thơ hình ảnh cun Đủ đạo Dà, hình ảnh ông vua Ao ước, hình ảnh quan lang, lính tráng và cả bố mẹ nàng Ờm - những kẻ vua nhỏ, chúa đất, ỷ quyền gia trưởng Họ đại diện cho quyền lực và uy thế xã hội, đã dùng sức mạnh vô hình để bóp nghẹt tình yêu của nàng Nga và Hai Mối, tình yêu của nàng Ờm và chàng Bồng Hương, của nàng

Út Lót và chàng Hồ Liêu Họ còn là hiện thân cho những quan niệm, luật lệ cổ hủ, nặng nề trong xã hội

Trong truyện Nàng Nga Hai Mối, bố

mẹ nàng Nga vì ham giàu sang, địa vị mà nhận lời gả con gái cho nhà vua Ao Ước Tính cách, chân dung bố mẹ của nàng Nga được thể hiện cụ thể qua đoạn thơ khá dài khi ép duyên nàng Nga Đây là những lời

dụ dỗ ngon ngọt nhưng cay nghiệt của bố

mẹ nàng Nga:“Con gái bố mẹ ơi… / Con nghe lời bố mẹ / Nên con gái lành / Con nghe lời người tình / Nên con gái rồ gái dại / Nghe lời trai gái / Nên đứa hư thân”

Lời nói của bố mẹ Nàng Nga là sắt đá, là mệnh lệnh, không có gì có thể thay đổi được Theo một bản kể khác được sưu tầm

ở xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy thì truyện thơ còn có đoạn miêu tả bố mẹ nàng Nga đánh nàng một cách tàn nhẫn khi nàng từ chối cuộc gả bán nàng cho nhà vua Ao

Trang 5

Ước Chính vì không thể thoát ra khỏi cuộc

hôn nhân ép uổng đầy ngang trái ấy mà Hai

Mối, và sau đó là nàng Nga, đã phải đi đến

cái chết Cao Sơn Hải cho rằng: “Cái chết

của nàng Nga và đạo Hai Mối là cái chết bi

kịch làm cho ta thấy tiếc thương đôi trai

gái, tiếc cho mối tình đẹp của họ và càng

căm ghét chế độ hôn nhân nghiệt ngã

không đếm xỉa đến tình yêu hạnh phúc lứa

đôi Tác giả dân gian ở tác phẩm này đã có

cái nhìn hiện thực về cuộc sống xã hội

Mường xưa một cách sâu sắc đầy tính phê

phán, tố cáo và cảnh báo các bậc cha mẹ

khi không quan tâm đến tình yêu lứa đôi

của con cái” (Cao Sơn Hải, 2005, tr 30)

Không giống như bố mẹ nàng Nga, bố

mẹ Hồ Liêu trong truyện thơ Út Lót Hồ

Liêu lại tự ý sắp sẵn cuộc hôn nhân khi

chàng đi vắng, đưa chàng vào tình thế đã

rồi: “Lúc ấy bố mẹ Hồ Liêu / Đã giục con

ra chào khách / - Nhà ta có chiếng cậu đến

rong / Có chiếng mộng đến chơi / Con đến

chào qua / Ra lời với khách” Cha mẹ Hồ

Liêu đã bắt chàng làm theo sự sắp đặt của

họ, không hề quan tâm đến nguyện vọng,

tâm tư của chàng Bố mẹ nàng Út Lót cũng

đã làm như thế đối với con mình Mặc dù

biết nàng Út Lót đau khổ vì cái chết của

Hồ Liêu nhưng cha mẹ nàng vẫn bắt ép

nàng lấy chồng giàu sang: “Bây giờ con

phải / Đi làm bà, làm mái cun quan / Cho

vui lòng cha mẹ” Cha mẹ nàng Út Lót đã

nhờ người mai mối để tìm cho nàng một

người đẹp trai, giàu có Để vừa lòng cha

mẹ, nàng Út Lót đã chấp nhận cuộc hôn

nhân với đạo mường Đẹ Nếu như sự ép

duyên của bố mẹ Hồ Liêu là nguyên nhân

trực tiếp gây nên cái chết của Hồ Liêu, thì

sự ép duyên của bố mẹ nàng Út Lót chính

là nguyên nhân gây nên cái chết của nàng

sau này

Truyện thơ Nàng Ờm chàng Bồng Hương là lời tố cáo đanh thép tâm địa độc

ác của cha mẹ nàng Ờm Mở đầu truyện thơ là hình ảnh mẹ nàng Ờm bụng mang dạ chửa thèm quả chua Bà đã dùng lời lẽ tha thiết để nhờ một em bé mồ côi trèo lên cây

hái quả với lời hứa: “Nếu chị sinh được con gái / Chị cho mi / Được nên ngãi nên đôi / Nên duyên phải lứa” Lời hứa đấy khiến

cho đứa trẻ mồ côi, và sau này chính là chàng Bồng Hương, tưởng là sự thật Vì vậy, sau khi trưởng thành, chàng yêu người con gái mà bà mẹ khi trước đã có lời hứa

gả cho chàng Nhưng khi đối diện với sự thật, khi biết Bồng Hương và con gái của mình yêu nhau, bà mẹ đã lên tiếng từ bỏ lời hứa Bà đã so sánh gia cảnh côi cút, nghèo khó của Bồng Hương với cảnh giàu sang

của gia đình mình: “Nhà mi nhà nghèo / Thân neo côi cút”, với sự cao sang của con gái bà: “Còn nhà tao / Dưới sân lắm trâu nhiều bò/ Còn con gái tao / Ngón tay như búp măng đọt / Đôi gót trắng hồng ” Mẹ

nàng Ờm đã phũ phàng chối bỏ lời hứa

trước đây với Bồng Hương: “Mi đừng hòng / Chung tình đôi lứa / Làm sao / Có thể chung cửa chung nhà” Sự tàn nhẫn, độc ác

của bố mẹ nàng Ờm càng bộc lộ khi biết rằng nàng Ờm và chàng Bồng Hương yêu nhau say đắm, quấn quýt không rời Để ngăn cản tình yêu của hai người, bố mẹ nàng Ờm lấy hết vật nhớ vật thương của hai người bỏ đi Không dừng lại ở đó, họ

còn đánh nàng một cách tàn nhẫn: “Chín chục roi lảy bảy bố bó làm bảy / Ba mươi roi lèn en mẹ buộc làm ba / Giữ em trong nhà / Ra tay đánh đập” Mặc cho nàng Ờm

van xin, năn nỉ, bố mẹ nàng Ờm vẫn lạnh

lùng, tàn nhẫn: “Đánh tay em không biết mỏi / Đánh em máu chảy khắp người” Với

tấm thân đầy máu, nàng Ờm tiếp tục van

Trang 6

xin bố mẹ, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng

đến tàn nhẫn Và tàn ác hơn, bố mẹ nàng

Ờm đã quăng nàng ra ngoài cửa vóng Đến

máu mủ ruột thịt thuộc dòng dõi nhà lang

mà còn bị chính nhà lang chà đạp cho đến

chết thì những con người bình thường

trong xã hội liệu có được giá trị đích thực,

có được hạnh phúc chân chính hay không?

Cùng thể hiện chủ đề chống đối tục lệ

cưỡng ép, gả bán, bóp chết hạnh phúc lứa

đôi trong hôn nhân, nhưng có truyện thơ

lại thiên về phê phán tục cheo cưới dưới

uy lực của tiền của; có truyện thơ lại phê

phán uy quyền của chế độ gia trưởng độc

đoán, tàn bạo Đựợc thể hiện với nhiều

màu sắc khác nhau, nhưng tựu trung lại,

các truyện thơ Mường đều gặp nhau ở

điểm chung là cùng lên tiếng phê phán, tố

cáo tập tục gả bán hôn nhân của xã hội

Mường xưa Tập tục nặng nề đó đã vô tình

vùi dập khát vọng, ước mong của con

người về tình yêu tự do và hôn nhân hạnh

phúc Truyện thơ Mường là tiếng kêu

thương cho số phận của con người Có thể

nói, không ở đâu như truyện thơ Mường,

vấn đề tình yêu hôn nhân được đặt ra như

một yêu cầu bức thiết, đòi hỏi tác giả dân

gian lúc bấy giờ phải có cái nhìn sâu sắc,

biện chứng mới thấy hết được bộ mặt thật

của xã hội phong kiến, và đặc biệt hơn mới

thấy được khát vọng vươn lên của những

chàng trai cô gái Mường

3 Ca ngợi khát vọng về tình yêu tự

do và mưu cầu hạnh phúc lứa đôi

Khát vọng về tình yêu tự do và mưu

cầu hạnh phúc lứa đôi, không chịu sự ép

uổng là những đòi hỏi chính đáng của

những chàng trai, cô gái Mường Đó là nội

dung phổ biến của truyện thơ Mường nói

riêng và truyện thơ các dân tộc thiểu số ở

nước ta nói chung

Có thể nói, ba truyện thơ Mường: Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm chàng Bồng Hương: cho thấy khát vọng tự

do yêu đương là khát vọng thiêng liêng và cháy bỏng của các chàng trai cô gái Mường Nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt

từ đầu đến cuối mỗi tác phẩm Mỗi tác phẩm là khát vọng mãnh liệt về tình yêu, hạnh phúc của các chàng trai, cô gái Mường Họ khao khát yêu, được yêu một cách tự do và ước muốn được ở bên nhau mãi mãi

Trong truyện Nàng Nga Hai Mối, nghe

đồn dưới chợ Cẩm Thủy, Quan Hoàng có

nàng Nga là “Người đẹp hiền hòa / Có một không hai” thì Hai Mối đã chủ động xin

phép cha mẹ được xuống chợ Cẩm Thủy, Quan Hoàng để được gặp người con gái ấy Riêng nàng Nga cũng chủ động xin cha mẹ một mình ra chợ chơi để tìm bạn tình Hai con người ấy đã gặp nhau tại nơi đất chợ Nàng Nga đã chủ động mời Hai Mối về thăm cửa thăm nhà Cái khôn, cái khéo của nàng Nga là nàng muốn cha mẹ chấp nhận ngay từ đầu người mà nàng đã chọn Hai người cùng nhau hẹn ước ở sông Ngang,

bến Đuộng: “Hẹn ngày nên cửa nên nhà / Đôi bên mẹ cha đẹp đàng đi xá lại” Với truyện Út Lót Hồ Liêu, nàng Út Lót khi đã

thầm yêu trộm nhớ chàng Hồ Liêu đã chủ

động viết thư về dặn cha mẹ: “Con đã sắp trong ý / Con đã nghĩ trong lòng / Ngày chầu vua xong / Con chọn chàng Hồ Liêu

về thưa cùng bố mẹ” Và đặc biệt hơn, sau

một thời gian dài giấu kín, đến khi hết hạn chầu vua, trên đường trở về quê, Út Lót đã chủ động cởi bỏ lốt cải trang trở lại thành một cô gái dịu dàng xinh đẹp, nàng đã thổ

lộ tình cảm của mình Hai người thề

nguyền vàng đá với nhau: “Anh ơi quả cau này / Rìu sắt bổ không chuyển / Dao bạc

Trang 7

tiện không ra / Răng đen ta cắn làm ba /

Chia về hai ta mỗi người một miếng / Còn

một miếng / Đặt lên đá ta nguyện một lời”

Khác với truyện Nàng Nga Hai Mối

và Út Lót Hồ Liêu, trong truyện Nàng Ờm

chàng Bồng Hương, nàng Ờm và chàng

Bồng Hương lại quen nhau từ thời cùng

chơi trò sàng gạo bằng đất, bằng mo nang,

từng tập đan bằng tàu lá chuối, cùng chơi

bản trên, cùng xuôi bản dưới và đã cảm

mến nhau: “Anh đã mến, đã thương, đã yêu

cùng nhớ / Anh trộm phép mẹ đùm cơm vào

lá/ Anh trộm phép mẹ đùm cá vào bao /

Anh vượt mấy dốc cao / Anh lội bao suối

thẳm / Ăn đi cùng anh cho đỡ thương, đỡ

nhớ” Khi nàng Ờm đến tuổi trưởng thành

thì tình yêu của họ được dịp bùng lên mạnh

mẽ Hai người mong ước một cuộc sống

hạnh phúc: “Ăn cơm chung một gian /

Uống nước chung một máng / Xỉa răng

chung một ống / Chết hay sống cùng trọn

một đôi”

Điểm độc đáo ở truyện thơ Mường là

các chàng trai cô gái Mường luôn là người

chủ động đi tìm bạn tình, tìm hiểu bạn tình

Khi đã tìm được rồi, các chàng trai cô gái

Mường chủ động tạo cơ hội để cho hai

người hiểu nhau và yêu nhau Khi bị cha

mẹ ép buộc lấy vua Ao Ước, nàng Nga

(truyện Nàng Nga Hai Mối) chủ động viết

thư báo tin cho Hai Mối, rồi tìm mọi cách

gặp chàng Nàng khéo léo thuyết phục

chàng về quê chờ đợi: “Anh về trước, em

về sau / Đợi em ở rừng dâu gốc Đợi em ở

rộc dâu màng” Để gặp được nàng Nga ở

nơi đất khách quê người, Hai Mối cũng đã

sẵn sàng từ bỏ địa vị lang đạo, sự giàu có,

quyền lực và cả những cuộc hôn nhân khác

để đi tìm gặp nàng Nga Còn chàng Hồ

Liêu (truyện Út Lót Hồ Liêu), khi bị cha

mẹ ép cưới vợ, chàng đã phản kháng đến

cùng Chàng khuyên người vợ đáng thương

đó nên trở về nhà cha mẹ Hồ Liêu đã nhờ chim chèo pheo giúp chàng mời hộ nàng

Út Lót đến cho Hồ Liêu được gặp Út Lót

đã nhờ chim chèo pheo gửi cho Hồ Liêu dải yếm, dải áo và tràng cườm thơm của nàng Những vật ấy đã giúp chàng Hồ Liêu tỉnh lại, nhưng từ đó, chàng rơi vào nỗi sầu

nhớ: “Vắng bạn tình, thấy cửa tình đỡ sầu một lẽ / Vắng bạn nghĩa, thấy dấu bạn đỡ

tẻ một đường / Uống nước kêu vía bạn cho

nó đỡ thương / Ăn cơm gọi hồn nàng cho

nó đỡ nhớ”

Nàng Ờm và chàng Bồng Hương trong

truyện Nàng Ờm chàng Bồng Hương cũng

vậy Khi bố mẹ nàng Ờm tìm mọi cách chia cắt hai người thì tình yêu của nàng

Ờm và chàng Bồng Hương lại càng tha thiết Chàng Bồng Hương quyết tâm:

“Đường mấy dốc anh cũng trèo / Gặp mấy sông anh cũng lội” Chứng kiến nàng Ờm quăng mình xuống “sâm”, chàng Bồng

Hương đã đỡ lấy thân và ôm nàng Ờm chạy vào rừng sâu Chính trong giấy phút

ấy, tình yêu của họ lại càng sâu nặng Chàng Bồng Hương nói với nàng Ờm:

“Anh biết vì sao mà em phải khổ / Vì anh đi trâu cùng em bên ngõ / Vì anh đi bò cùng

em trên nương / Cho bố mẹ chẳng thương / Nên em phải chịu đường roi vọt, roi thon /

Em phải chịu điều giận tiếng hờn của cha mẹ” Nàng Ờm nói: “Em muốn cùng anh nên cửa / Nhưng bố không cho nên cửa /

Em muốn cùng anh nên nhà / Nhưng mẹ chẳng cho nên nhà / Ta cùng về bên ma cho khỏi bận / Ta đi ăn lá ngón cho nó hại thân / Ta đi thắt cổ cho nó hại người / Cửa nhà không nên là vì bố mẹ” Cuộc đối thoại

giữa hai người là một cuộc đối thoại đẫm nước mắt Đó là tiếng lòng của hai con người cất lên trong đau khổ Thế giới này

Trang 8

không có chỗ cho hạnh phúc của hai người,

chỉ còn cách là chết thì hai người mới được

ở bên nhau

Từ khát vọng về một tình yêu tự do,

các chàng trai, cô gái trong truyện thơ

Mường đã hướng đến một khát vọng lớn

lao hơn, đó là khát vọng về một gia đình

hạnh phúc Để đạt được khát vọng ấy, họ

phải đánh đổi những gì thiêng liêng nhất,

thậm chí là cả mạng sống của mình Nàng

Út Lót sẵn sàng bỏ lại đám cưới sang trọng,

linh đình, bỏ mặc chàng rể mới lang cun và

hai họ bơ vơ như đàn bướm lạc, bước vào

chiếc săng cùng người yêu đi về thế giới

bên ma với hy vọng sẽ được ở cùng với

nhau đến trọn kiếp Nàng Nga sẵn sàng bỏ

nhà vua Ao Ước, bỏ gia đình, mường bản

để tái hợp với đạo Hai Mối ở thế giới bên

kia Nàng Ờm và chàng Bồng Hương thì rủ

nhau lên đỉnh núi Làn Ai chết Nàng Ờm,

chàng Bồng Hương đã tìm đến lá ngón để

kết liễu cuộc đời của mình với hy vọng ở

thế giới bên kia họ sẽ có cuộc sống lứa đôi

mà họ từng mơ ước Họ chết nhưng tình

yêu của họ còn sống mãi Nỗi đau của họ

tăng lên bao nhiêu thì sự gắn bó của mối

tình ấy lại càng quyết liệt bấy nhiêu Cái

chết của họ không gây cảm giác rùng rợn

mà trái lại, cái chết đó tạo một mối xúc

động mạnh mẽ: “Con biến lên núi Làn Ai /

Câu chuyện của con kéo dài / Chín đời sau

cho bố mẹ làng còn nghe / Mười đời sau

cho truyện nên vè” Cái chết của họ đã thức

tỉnh bố mẹ nàng Họ muốn chuộc lỗi, gọi

hồn gọi vía nàng về nhưng nàng vẫn quyết

liệt và một lòng sắt son Nàng dặn dò bố

mẹ: “Trai gái yêu nhau bố mẹ đừng ngại /

Nước đang chảy không nên ngăn lại / Chớ

có lội qua hại đến thân / Đừng chém những

hàng roi dài / Chớ chặt những hàng roi

thon / Mà khổ số kiếp cho con / Các cô, các

mẹ ơi!” Niềm xót thương đồng cảm càng

trào dâng khi ta biết rằng những con người này không phải là những con người cùng đường, lấy cái chết liều lĩnh để hú họa người ta, mà chính họ là những con người bình thường, lạc quan, yêu đời, thiết tha yêu cuộc sống Họ quyết liệt dùng cái chết

để thoát khỏi vòng vây của tục lệ và uy quyền phong kiến Những khát vọng đơn giản đó một khi không được thoả mãn thì bùng lên sức mạnh đấu tranh mãnh liệt, vạch trần bản chất xấu xa của chế độ phong kiến Giá như trong xã hội lúc bấy giờ không có những tục lệ bất công, những giáo

lý nghiệt ngã thì nàng Nga, nàng Út Lót, nàng Ờm rồi đến chàng Hồ Liêu, chàng Hai Mối, chàng Bồng Hương có thể tự do đến với tình yêu của mình, sống một cuộc sống hạnh phúc Hình ảnh của họ tạo nên những bức tượng đài về khát vọng của con người

Họ ước mong xã hội mà họ đang sống sẽ không còn chế độ hôn nhân nghiệt ngã, những hủ tục ngang trái, bất công Đó là xã hội con người được tự do yêu và tự do đến với nhau, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc Nhưng điều đó chỉ là giấc mơ vì trong bối cảnh xã hội bấy giờ không có chỗ tồn tại cho những tâm hồn vị tha, nhân hậu

và lãng mạn với ý tưởng tốt đẹp như thế Thể hiện sâu sắc khát vọng về tình yêu hạnh phúc, mỗi truyện thơ Mường là một bài ca về chủ nghĩa nhân đạo Chính điều

đó đã tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm với muôn đời

4 Kết luận

Có thể khẳng định rằng, truyện thơ Mường phản ánh khá phong phú những vấn đề trong xã hội thời xưa, tiêu biểu là vấn đề tình yêu hôn nhân, số phận người

mồ côi, vấn đề đấu tranh bảo vệ bản mường.v.v Trong đó, vấn đề về hôn nhân

Trang 9

gả bán (hôn nhân cưỡng ép) là một trong

những nội dung quan trọng Qua tác phẩm

Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng

Ờm chàng Bồng Hương, truyện thơ Mường

đã xây dựng một cách cụ thể và chân thực

những cuộc hôn nhân oan trái từ sự ép

duyên của cha mẹ Tiếng nói phê phán, tố

cáo những quan niệm hà khắc, bất công

của xã hội phong kiến và khát vọng mãnh liệt về tình yêu tự do, hôn nhân hạnh phúc được cất lên từ chính những cuộc hôn nhân đầy bi kịch ấy Chính điều đó khiến cho những tác phẩm truyện thơ Mường luôn sống mãi trong đời sống tinh thần người Mường nói riêng và đồng bào các dân tộc

thiểu số nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cao Sơn Hải (2005) Nàng Nga – Đạo Hai Mối, Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội

Cao Sơn Hải (2013) Nàng Út Lót – Đạo Hồ Liêu (Tình ca dân tộc Mường – song ngữ),

Hà Nội: NXB Văn hóa dân tộc

Cao Sơn Hải (2015) Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương (Tình ca dân tộc Mường – song ngữ), Hà Nội: NXB Văn học

Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân (1986) Tuyển tập truyện thơ Mường Thanh Hóa, Tập 2,

Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội

Hoàng Anh Nhân, Trương Công Nhói (2017) Truyện thơ Mường: Nàng Ờm chàng Bồng Hương và Anh Loong Choóng, Hà Nội: NXB Hội Nhà văn

Phan Đăng Nhật (1981) Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám 1945), Hà Nội: NXB Văn hóa

Nhiều tác giả Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc ở Thanh Hoá (1990), Hà Nội: NXB

Văn học

Lê Trường Phát (1997) Đặc điểm truyện thơ các dân tộc thiểu số, Luận án TS Ngữ văn,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

Jeane Cuisinier (1995) Người Mường, địa lý nhân văn và xã hội học, NXB Lao động

Vũ Anh Tuấn (2004) Truyện thơ Tày nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại,

Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Bùi Thiên Thai (2015) “Kết cấu quan hệ nhân vật trong truyện thơ dân tộc thiểu số về bi kịch

tình yêu”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (1), tr.34-41

Bùi Thiện (1995) Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường, Hà Nội: NXB Văn hóa dân tộc

Ngày nhận bài: 10/10/2019 Biên tập xong: 15/02/2020 Duyệt đăng: 20/02/2020

Ngày đăng: 09/08/2020, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w