1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em việt nam

179 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 C hương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM .... Nhi ệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu

Trang 1

TR ẦN QUÝ LONG

LU ẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÃ H ỘI HỌC

HÀ N ỘI - 2020

Trang 2

TR ẦN QUÝ LONG

LU ẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÃ H ỘI HỌC

MÃ S Ố: 9 31 03 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 GS TS Nguyễn Hữu Minh

2 PGS TS Đặng Thị Ánh Tuyết

HÀ N ỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Trần Quý Long

Trang 4

M ỤC LỤC

Trang

M Ở ĐẦU 1

C hương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM 17

1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 17

1.2 Nghiên cứu của Việt Nam 32

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU TIẾP CẬNG IÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 55

2.1 Các khái niệm 55

2.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 62

2.3 Chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về giáo dục trung học phổ thông 69

C hương 3: NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM ĐI HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÚNG TUỔI 75

3.1 Đặc điểm và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em đi học trung học phổ thông đúng tuổi 75

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em đi học trung học phổ thông đúng tuổi 78

Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM TUỔI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHÔNG ĐI HỌC 100

4.1 Đặc điểm và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học 100

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học 109

Chương 5: ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG THEO HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM 126

5.1 Đặc điểm và thay đổi trong khả năng theo học trung học phổ thông của trẻ em 126

5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trẻ em theo học trung học phổ thôn128 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 144

1 Kết luận 144

2 Khuyến nghị 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PH Ụ LỤC 166

Trang 5

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTB&DHMT Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

DTTS Dân tộc thiểu số

EFA Education for All

Giáo dục cho mọi người

LĐ-TB-XH Lao động-Thương binh-Xã hội

MICS Multiple Indicator Cluster Survey

Điều tra đánh giá các mục tiêu về phụ nữ và trẻ em MNPB Miền núi phía Bắc

NHTG Ngân hàng Thế giới

SAVY The Survey and Assessment of Vietnamese Youth

Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh Việt Nam

THPT Trung học phổ thông

UNDP United Nations Development Program

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural

Trang 6

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi chia theo giới và dân tộc (%) 80

Bảng 3.2: Tỷ lệ đi học THPT đúng tuổi chia theo giới và vùng (%) 80Bảng 3.3: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi qua các năm chia theo dân tộc (%) 83Bảng 3.4: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi chia theo nghề bố mẹ và nơi cư trú (%) 88

Bảng 3.5: Mô hình hồi quy đa biến logistic về ảnh hưởng của các yếu tố đến xác suất trẻ em đi học THPT đúng tuổi 93Bảng 4.1: Trẻ em THPT không đi học đã làm việc chia theo học vấn bố mẹ (%) 107Bảng 4.2: Trẻ em THPT không đi học chia theo nghề bố mẹ (%) 114Bảng 4.3: Mô hình hồi quy quy đa biến logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em THPT không đi học 119Bảng 5.1: Xác suất tích lũy trẻ em đi học THPT theo tuổi chia theo giới 129Bảng 5.2: Xác suất tích lũy trẻ em đi học THPT theo tuổi theo học vấn bố mẹ 132Bảng 5.3: Xác suất tích lũy theo tuổi trẻ em đi học THPT chia theo học vấn bố và

mẹ 133Bảng 5.4: Xác suất tích lũy trẻ em THPT đi học theo tuổi chia theo nơi cư trú 135

Bảng 5.5: Mô hình hồi quy đa biến Cox về ảnh hưởng của các yếu tố đến xác suất tích lũy theo tuổi đi học THPT của trẻ em 140

Trang 7

DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 1: Khung phân tích 6

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ trẻ em Việt Nam đi học THPT đúng tuổi qua các năm (%) 76

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi của Việt Nam và các nhóm nước chia theo phân loại thu nhập (%) 77

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ trẻ em Việt Nam đi học THPT đúng tuổi ở 5 tỉnh cao nhất và thấp nhất (2016) 77

Biểu đồ 3.4: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi theo giới và năm khảo sát (%) 79

Biểu đồ 3.5: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi chia theo dân tộc (%) 84

Biểu đồ 3.6: Trẻ em di học THPT đúng tuổi chia theo học vấn bố mẹ (%) 86

Biểu đồ 3.7: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi theo khu vực và năm khảo sát (%) 89

Biểu đồ 3.8: Trẻ em đi học THPT đúng tuổi chia theo vùng (%) 91

Biểu đồ 4.1: Trẻ em tuổi THPT không đi học chia theo tuổi (%) 101

Biểu đồ 4.2: Trẻ em tuổi THPT không đi học đã làm việc chia theo vùng (%) 108

Biểu đồ 4.3: Trẻ em tuổi THPT không đi học chia theo học vấn bố mẹ (%) 113

Biểu đồ 4.4: Trẻ em tuổi THPT không đi học chia theo vùng (%) 117

Biểu đồ 4.5: Bất bình đẳng giữa các vùng trong tỷ lệ trẻ em tuổi THPT không đi học 118

Biểu đồ 5.1: Xác suất tích lũy trẻ em đi học THPT theo tuổi (%) 127

Biểu đồ 5.2: Xác suất tích lũy trẻ em đi học THPT theo tuổi chia theo dân tộc, 2016 130

Biểu đồ 5.3: Tỷ lệ tích lũy trẻ em đi học THPT ở tuổi 17 chia theo vùng (%) 137

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Giáo dục giúp cho cuộc sống cá nhân thay đổi bằng cách giảm nghèo, cải thiện sức khỏe, làm chủ được công nghệ và tăng cường sự gắn kết xã hội [168] Giáo dục khuyến khích sự phát triển, khả năng linh hoạt và thích ứng, giúp cho con người phát triển quyền năng hơn, thay đổi hành vi và tiếp cận những cơ hội to lớn trong cuộc sống Tầm quan trọng của giáo dục đối với cá nhân, cộng đồng và đối với sự phát triển của một quốc gia được phản ánh bằng cách thừa nhận nó như một quyền con người Điều 28 của Công ước Quyền trẻ em công nhận quyền được học tập là một quyền cơ bản và nhấn mạnh rằng việc thực quyền phải đảm bảo từng bước và trên cơ sở những cơ hội bình đẳng [84] Giáo dục không chỉ thỏa mãn nhu cầu nhận thức nhằm cải thiện đời sống tinh thần con người mà còn là phương tiện hữu ích nhằm thay đổi hoàn cảnh sống cả về vật chất và tinh thần, nhất là thay đổi

vị trí xã hội của họ trong thực tiễn chứ không chỉ trong thế giới biểu trưng [37]

Giáo dục trung học phổ thông (THPT) hoặc tương đương là một kênh quan trọng thông qua đó những người trẻ tuổi có được các kỹ năng cải thiện cơ hội việc làm tốt Giáo dục trung học chất lượng cao phục vụ cho các khả năng, sở thích và

nền tảng rộng lớn nhất là điều quan trọng không chỉ để đưa những người trẻ tuổi vào con đường đến với thế giới công việc, mà còn cung cấp cho các quốc gia lực lượng lao động có giáo dục mà họ cần để cạnh tranh trong thế giới công nghệ ngày nay [167] Trình độ học vấn đạt đến bậc trung học phổ thông có thể giúp cá nhân thay đổi cuộc sống bằng cách giảm nghèo, cải thiện kết quả sức khỏe, tiến bộ công nghệ và tăng sự gắn kết xã hội [170] Giáo dục trung học phổ thông đã được xem là rất quan trọng để có việc làm và thoát khỏi vòng nghèo đói Lợi ích cá nhân và xã hội của nó đã được nêu bật trong các diễn ngôn về giáo dục Điều đáng chú ý nhất của lợi ích cá nhân từ giáo dục trung học là trao quyền, đặc biệt là cho phụ nữ [127]

Giáo dục là nền tảng để phát triển các kỹ năng linh hoạt vốn rất cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao Những ai không có điều kiện tiếp cận giáo dục trung học có nguy cơ bị loại khỏi những cơ hội mới

Trang 9

[32] Những người trẻ tuổi chỉ có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông gặp phải sự hạn chế về cơ hội để phát huy tiềm năng và phát triển kỹ năng học tập Họ phải đối mặt với những bất lợi trong việc làm, có nguy cơ nghèo đói và bị loại trừ

xã hội cao hơn [166] Hậu quả của trình độ học vấn thấp thật là nghiệt ngã đối với

những người trẻ tuổi và quốc gia nơi họ sinh sống Nhiều thanh niên sẽ bị buộc phải nhận lương thấp, làm việc không an toàn và thường có rủi ro, và đất nước của họ sẽ

bị tước đi những loại kỹ năng có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đảm bảo tất cả

những người trẻ tuổi đạt được ít nhất trình độ giáo dục trung học tốt là rất quan trọng để cung cấp cho các quốc gia lực lượng lao động lành nghề mà họ cần để nhận được lợi tức nhân khẩu học cho phát triển [167]

Trẻ em cần phải học hết lớp cuối cùng của bậc trung học phổ thông bởi vì bậc học này có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển và an sinh của cá nhân Để có thể giải quyết thành công rất nhiều các nguy cơ đối với sự phát triển và các quyền của mình, trẻ em cần được trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng thiết yếu, trong đó có kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, tìm hiểu và đánh giá thông tin một cách tư duy và giao tiếp hiệu quả [173] Các cá nhân cần học hết lớp cuối cấp phổ thông trung học để có một mức kiến thức tốt, đủ để hiểu các vấn đề về công nghệ, xã hội và kinh tế đang diễn ra trong cuộc sống Tốt nghiệp trung học phổ thông cũng giúp cho việc áp dụng các kiến thức này vào cuộc sống hàng ngày [87] Đầu tư cho giáo dục trong thời kỳ thanh thiếu niên là rất cần thiết để tận dụng những thành quả của những đầu tư giáo dục thời kỳ thơ ấu [177] Có học vấn cao hơn sẽ giúp cho bước chuyển tiếp sang giai đoạn đi làm được thuận lợi hơn và dẫn đến nhiều thành công hơn trong cuộc sống, nếu thôi học sớm sẽ không giúp trẻ em Việt Nam làm được điều đó [71] Việc không tạo cơ hội cho mọi người được quyền tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng sẽ hạn chế những nỗ lực phấn đấu cải thiện sức khỏe và phúc lợi, tăng thêm những cơ hội vươn tới một cuộc sống hữu ích hơn

và thúc đẩy xã hội phát triển thành một xã hội đoàn kết, dân chủ, có những quyền công dân tối thiểu khác [47] Nếu cá nhân bị tước bỏ cơ hội đi học gây ra hậu quả xấu trực tiếp trước mắt và lâu dài đối với cuộc sống của họ Sự bất bình đẳng xã hội

Trang 10

trong tiếp cận giáo dục là nguyên nhân của những bất ổn định, mâu thuẫn, xung đột, nghèo nàn, chậm phát triển [23, 26]

Trong khi phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở là một trong những mục tiêu cốt lõi của các nước đang phát triển thì phổ cập giáo dục trung học

phổ thông lại là mục tiêu tiếp theo của các nước công nghiệp phát triển Giáo dục trung học phổ thông được xem là yếu tố rất quan trọng để các nước xây dựng và duy trì khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức toàn cầu Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông được coi là mức độ giáo dục tối thiểu cần thiết để gia nhập lực lượng lao động ở Hoa Kỳ [105] Tương tự, chính phủ Trung Quốc nhận ra rằng phổ cập giáo dục cơ bản (tiểu học và trung học cơ sở) chứng tỏ không còn đủ để duy trì

sự phát triển kinh tế và xã hội và đã hướng đến phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở các thành phố lớn và các khu vực phát triển kinh tế kể từ những năm 1990 [106] Mục tiêu của các quốc gia thuộc khối OECD về giáo dục dành cho người trẻ tuổi rất tham vọng bằng cách cung cấp các cơ hội học tập phong phú cho tất cả mọi người từ những năm đầu tiên và cho đến khi ít nhất là kết thúc giáo dục trung học phổ thông [140]

Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc cải thiện điều kiện sống trong những năm qua Ngoài sự tăng lên về thu nhập và tiêu dùng còn có sự tăng cường đáng kể mức độ tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Mức

độ tiếp cận với giáo dục ngày một tăng đồng nghĩa với việc các hộ gia đình và bản thân trẻ em đã nhận thức được giáo dục là một đầu tư có hiệu quả cũng như một phương thức để giảm nghèo đói [24] Tuy vậy, một trong những thách thức lớn nhất trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay của giáo dục Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực thấp Mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tạo ra các cơ hội tiếp cận giáo dục trung học phổ thông (bao gồm cả việc phân luồng học văn hóa bậc trung học phổ thông tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp) cho trẻ em nhưng sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục vẫn còn tồn tại Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức lớn về tình trạng trẻ em bỏ học đang gia tăng [164], nhiều trẻ em ở lứa tuổi vị thành niên không học trung học [84] Tỷ lệ đi học của thanh thiếu niên ở độ tuổi 15-19 tương ứng 54,6% cho thấy gần một nửa thanh niên ở độ tuổi này trong

Trang 11

Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 không học tiếp ở bậc cao hơn sau khi hoàn thành bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông [82] Còn trong Điều tra quốc gia Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ hai năm 2009 (SAVY 2) cho biết, khoảng một nửa trong nhóm dân số 14-25 đã thôi học, 24% trong số đó đã thôi học khi chưa đến 15 tuổi [61] Có nhận thức chung cho rằng sự bất bình đẳng trong giáo dục sẽ là một yếu tố làm trầm trọng thêm những khoảng cách xã hội ở Việt Nam Bất bình đẳng trong đăng ký nhập học và thành tựu học tập sẽ biến thành

những bất bình đẳng lớn hơn về thu nhập và các cơ hội nghề nghiệp trong xã hội

Trẻ em trong độ tuổi học trung học phổ thông (15-17 tuổi) cũng là trẻ em ở nhóm tuổi vị thành niên Đây là một nhóm xã hội đặc biệt, có sự thay đổi rất lớn về tâm sinh lý trong quá độ phát triển từ trẻ em lên người trưởng thành Một trong những thay đổi rõ nét của nhóm dân số tuổi vị thành niên là có nhu cầu độc lập với cha mẹ rất cao [72] Lứa tuổi trung học phổ thông cũng có mức độ trưởng thành đáng kể trong hoạt động học tập Các em có hứng thú tìm hiểu nội dung, kiến thức, khát vọng muốn tìm hiểu và làm một việc gì đó thực sự, đồng thời cũng muốn tự mình xây dựng kết hoạch cho tương lai Khác với giai đoạn nhỏ tuổi, trẻ em trong

độ tuổi trung học phổ thông có nhiều mối quan hệ xã hội hơn, sự giao tiếp xã hội cũng nhiều hơn Vì thế, việc tìm hiểu tiếp cận giáo dục trung học phổ thông trong giai đoạn tuổi vị thành niên của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết

Có nhiều yếu tố xã hội ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việc tìm hiểu các yếu tố xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và là nhiệm vụ chính của luận án Dựa trên những luận điểm đã phân tích, luận án lựa chọn vấn đề: “Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông c ủa trẻ em Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Thông qua cách tiếp cận xã

hội học, đặc biệt là tiếp cận xã hội học giáo dục, luận án mong muốn nhận diện đặc điểm, tính chất, các yếu tố ảnh hưởng, xu hướng biến đổi về tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam Qua đó góp phần cung cấp bằng chứng cho việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách về giáo dục trung học phổ thông cho trẻ em ở Việt Nam

Trang 12

2 M ục tiêu nghiên cứu

- Nhận diện thực trạng, đặc điểm, và những khác biệt trong tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

- Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu về tiếp cận giáo dục và làm rõ các khái niệm công cụ như: tiếp cận giáo dục, giáo dục trung học phổ thông, trẻ em và một

số khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án

- Tìm hiểu thực trạng, đặc điểm và những khác biệt về tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam

- Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

Trang 13

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Gi ả thuyết 1: Tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em có sự khác biệt theo

các yếu tố xã hội mang tính đặc trưng cá nhân và gia đình

Gi ả thuyết 2: Không có sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục trung học phổ

thông của trẻ em

Gi ả thuyết 3: Trẻ em ở những nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số, gia đình đông người,

cư trú ở khu vực nông thôn, vùng xa, miền núi) có khả năng tiếp cận giáo dục trung

học phổ thông thấp hơn so với trẻ em khác

Gi ả thuyết 4: Trẻ em có bố mẹ với học vấn cao hơn và làm nghề chuyên môn có

mức độ tiếp cận giáo dục trung học phổ thông cao hơn trẻ em có bố mẹ với học vấn thấp và làm nghề lao động giản đơn

5.3 Khung phân tích

Biểu đồ 1: Khung phân tích 5.4 Các nhóm biến số

5.4.1 Nhóm bi ến số phụ thuộc

Tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em được nghiên cứu qua 3

biến số phụ thuộc như sau:

- Không đi học

- Theo học THPT

Trang 14

1 Đi học trung học phổ thông đúng tuổi: Biến số này có hai giá trị: 1 = Trẻ em

đi học trung học phổ thông và các loại hình giáo dục tương đương đúng tuổi;

2 = Trẻ em không đi học trung học phổ thông và các loại hình giáo dục tương đương đúng tuổi

2 Trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học (ngoài nhà trường): Giá trị của biến số này bao gồm: 1 = Trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học bất

kỳ loại hình giáo dục nào; 2 = Trẻ em tuổi trung học phổ thông đi học ở tất

cả các loại hình giáo dục

3 Theo học trung học phổ thông: Biến số này được tính toán theo tỷ lệ tích lũy

đi học các loại hình giáo dục ở từng độ tuổi trong tổng số trẻ em tuổi trung học phổ thông

5.4.2 Nhóm bi ến số độc lập

Để phân tích sự khác biệt, mức độ chênh lệch trong các chỉ báo về tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em, các yếu tố được sắp xếp theo trật tự như sau:

- Số thành viên gia đình (sắp xếp từ đơn vị nhỏ nhất đến lớn nhất)

- Nơi cư trú: 1 = Nông thôn, 2 = Thành thị Biến số này cho phép xác định địa bàn nơi cư trú hiện tại của gia đình được khảo sát là nông thôn hay thành thị Nó có thể trực tiếp kiểm soát được ảnh hưởng của địa bàn nơi cư trú đến các hoạt động tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em trong mô hình thống kê

- Vùng: Khái niệm vùng được dùng để chỉ 6 vùng địa lý, kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, trong mỗi vùng đều bao gồm cả thành thị và nông thôn Biến số

Trang 15

vùng là một thước đo hữu hiệu để xem xét ảnh hưởng của điều kiện địa lý, kinh tế -

xã hội, phong tục tập quán đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam Các vùng được phân chia bao gồm: 1 = Đồng bằng sông Hồng, 2 = Trung du và miền núi phía Bắc, 3 = Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, 4

= Tây Nguyên, 5 = Đông Nam Bộ, 6 = Đồng bằng sông Cửu Long

6 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, số liệu

6.1 Phương pháp luận

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quan điểm của một số lý thuyết xã hội học trên thế giới và Việt Nam về tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trước khi phân tích số liệu thứ cấp, luận án sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm khảo cứu lại các nghiên cứu trước đây liên quan đến việc tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em; Các văn bản chính sách, các số liệu thống kê kinh tế - xã hội về giáo dục Kết quả của phương pháp này là xác định được tổng quan vấn đề cần nghiên cứu Đồng thời, phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu

những khía cạnh mà biến phụ thuộc đưa ra và khám phá tìm kiếm những khía cạnh nghiên cứu chưa được đề cập Qua việc áp dụng phương pháp phân tích tài liệu, luận án sẽ áp dụng được các phương pháp thu thập, kỹ thuật xử lý thông tin thích hợp để phân tích các nội dung cơ bản

Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm thu thập các thông tin để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về thực trạng tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Để thực hiện phương pháp này, các loại tài liệu cần thu thập gồm:

- Các văn kiện, đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề giáo dục cũng như xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục

vụ phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- Các văn bản pháp luật và chính sách như Luật Giáo dục, Luật trẻ em, Luật Bình đẳng giới; Những chiến lược về phát triển trẻ em,giáo dục và các văn bản

Trang 16

hướng dẫn thi hành khác;

- Các nghiên cứu, đề tài; các cuộc khảo sát, điều tra về giáo dục, trẻ em ở Việt Nam và ở nước ngoài

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Đây là phương pháp tập hợp các quy tắc, kỹ thuật hướng đến phân tích, xem xét khía cạnh lượng của các hiện tượng, quá trình và các mối quan hệ xã hội được nghiên cứu Nó tìm hiểu mức độ của các phản ứng, thái độ của con người đối với

một vấn đề nào đó trong những khung cảnh xã hội nhất định [56]

Phương pháp định lượng của luận án được tiến hành bằng cách sử dụng số liệu thứ cấp (secondary data) từ khảo sát mức sống (KSMS) dân cư năm 2016 và

2006 Việc phân tích số liệu từ khảo sát mức sống dân cư năm 2016 và 2006 cho phép luận án nhận biết mức độ tồn tại của đối tượng nghiên cứu thông qua các con

số phản ánh những đặc trưng cần nghiên cứu của tổng thể Các số liệu có sẵn cho phép luận án trình bày cái nhìn chung, bao quát về toàn bộ đối tượng nghiên cứu Mục tiêu hướng đến của phân tích định lượng trong luận án là phải giải thích được các đặc điểm, thực trạng của đối tượng nghiên cứu thông qua trả lời các câu hỏi

“như thế nào?”, “bao nhiêu?”

Vì đưa ra được các con số đo lường được các chỉ báo của đối tượng nghiên

cứu nên kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có tính khẳng định mang tính chất khách quan và cung cấp được các bằng chứng để khái quát các lý thuyết, chứng minh, kiểm nghiệm các giả thuyết

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp định tính được tiến hành nhằm tìm hiểu sâu về đặc tính, tính chất, bản chất của đối tượng nghiên cứu Trong nghiên cứu xã hội, nghiên cứu định tính thường nhằm tìm hiểu sâu các phản ứng từ bên trong các suy nghĩ, tình cảm của con người đã tạo ra những cách ứng xử khác nhau trong cuộc sống Về thực chất nghiên cứu định tính hướng đến việc xác định các khía cạnh, các nguyên nhân của thái độ hay phản ứng của người đó Việc thu thập thông tin định tính thường tập trung vào một số đại diện nhất định của tổng thể nghiên cứu chứ không bao hàm trên một mẫu lớn như nghiên cứu định lượng [56]

Trang 17

Việc tiến hành thu thập thông tin định tính cho phép luận án thực hiện một cách linh động cả về trình tự và cách đặt câu hỏi Các phương pháp định tính của luận án sẽ tập trung vào việc tìm hiểu các quá trình, các hành vi và điều kiện của khách thể nghiên cứu Vì được làm trên quy mô nhỏ nên luận án có thể tìm hiểu được một cách sâu sắc, kỹ càng về thân thế, vị thế và các nguyên nhân hành vi của khách thể nghiên cứu Bên cạnh đó, thu thập thông tin định tính của luận án được sử dụng như một phương tiện hữu ích để làm rõ nguyên nhân, những yếu tố sâu xa,

giải thích những vấn đề từ các kết quả thu được qua phân tích số liệu định lượng Phương pháp thu thập thông tin định tính được sử dụng trong luận án chủ yếu là phương pháp phỏng vấn sâu

Việc sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính trong luận án sẽ tạo ra sự kết hợp có giá trị và đạt được những kết quả nhất định Nghiên cứu định lượng cho phép có sự khái quát chung, hợp lệ về mặt thống kê về các chỉ báo tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam; Nghiên cứu định tính nhằm xác định những nguyên nhân sâu xa, lý giải hợp cụ thể về những hành vi, tác động của các yếu tố, góp phần cho kết quả nghiên cứu sinh động và có tính hợp

lý hơn Nếu phân biệt các phương pháp nghiên cứu thành hai nhóm lớn là phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính thì xã hội học giáo dục cần sử dụng cả hai

loại phương pháp này một cách phù hợp với đối tượng nghiên cứu của mình Xã hội học giáo dục hoàn toàn có khả năng và cần thiết phải tham khảo, lựa chọn và vận dụng những phương pháp thích hợp để thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định [26]

6.3 Phương pháp phân tích

6.3.1 Phân tích mô t ả

Trong nghiên cứu xã hội học, mô tả các số liệu thu thập được là phương pháp rất phổ biến, được thực hiện đầu tiên nhằm thể hiện tính tất yếu của quá trình nhận thức thực tế xã hội của một nghiên cứu Phân tích mô tả là tiền đề quan trọng cho các hình thức phân tích tiếp theo trong việc chỉ ra bản chất, quy luật của các hiện tượng, quá trình xã hội

Trang 18

Phân tích mô tả được sử dụng trong luận án nhằm cung cấp những thông tin chung, ban đầu về các khía cạnh của tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ

em Việt Nam như tỷ lệ đi học đúng tuổi, tỷ lệ không đi học, tỷ lệ bỏ học, xác suất tích lũy đi học theo tuổi

6.3.2 Phân tích hai bi ến (tương quan hai chiều)

Đây là phương pháp kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố đặc trưng cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân với các chỉ báo thành phần về tiếp cận giáo dục trung

học phổ thông của trẻ em Qua đó có thể xem xét, dự báo những yếu tố đó có mối quan hệ/ ảnh hưởng như thế nào với tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ

em Kỹ thuật này đo lường thực trạng các chỉ số về tiếp cận giáo dục của trẻ em Tỷ

lệ (đối với biến số phân loại) và trung bình hoặc trung vị (đối với biến số liên tục) được so sánh giữa các nhóm dân số khác nhau Phương pháp này cho chúng ta thấy

rõ được sự phân bố biến số cần nghiên cứu giữa các nhóm dân cư khác nhau Tùy theo biến số phụ thuộc, các kiểm định mối quan hệ giữa biến số phụ thuộc và biến

số độc lập được dùng bao gồm các phương pháp ước lượng Chi-square, Anova, và Log-rank

Đường cong bất bình đẳng: Đường cong bất bình đẳng được sử dụng để mô

tả mức độ bất bình đẳng, công bằng về các chỉ báo nghiên cứu Đường cong bất bình đẳng thể hiện mối liên quan giữa tỷ lệ tích lũy của một chỉ báo, đặc tính nghiên cứu nào đó với tỷ lệ tích lũy được sắp thếp theo tình trạng từ thấp đến cao ở một yếu tố/ đặc trưng nào đó trẻ em trong mẫu nghiên cứu Nếu tất cả trẻ em đều có đặc trưng (số lượng) đang nghiên cứu là như nhau (bình đẳng) thì đường cong sẽ trùng với đường chéo 45 độ, chạy từ góc trái phía dưới đến góc phải phía trên và được gọi

là đường bình đẳng Đường cong càng xa đường bình đẳng thì mức độ bất bình đẳng càng cao

6.3.3 Phân tích h ồi quy đa biến

Nhà xã hội học người Pháp, Emile Durkheim (1858-1917) là người đầu tiên phát hiện các sự kiện có thể áp dụng quy tắc chứng minh đa biến trong nghiên cứu

xã hội Trong công trình nghiên cứu Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Durkheim lập luận rằng, giữa hai sự kiện người ta không nhận thấy có một mối liên

Trang 19

hệ trực tiếp nào, nhất là nếu giả thiết về một liên hệ lại mâu thuẫn với các quy luật

đã được chứng minh, thì người ta sẽ đi tìm một hiện tượng thứ ba mà cả hai hiện tượng khác đều phụ thuộc vào, hay là nó có thể làm trung gian giữa hai hiện tượng

đó Ví dụ, người ta có thể xác lập một cách chắc chắn nhất rằng khuynh hướng đi

tới tự sát biến đổi cùng với khuynh hướng giáo dục nhưng không thể hiểu được như thế nào mà giáo dục lại có thể dẫn đến tự sát Nếu giáo dục chỉ quy hẹp ở các kiến thức sơ đẳng thì chỉ đạt tới các khu vực hời hợt nhất của ý thức mà thôi, trong khi

đó bản năng bảo tồn là một trong những xu hướng cơ bản của con người Durkheim cho rằng nguyên nhân chung là sự suy yếu của chủ nghĩa truyền thống tôn giáo, nó vừa tăng cường nhu cầu kiến thức lại vừa tăng cường khuynh hướng tự sát Tóm lại, nếu hai sự kiện có tương quan với nhau và một trong hai sự kiện đó được coi là nguyên nhân gây ra sự kiện kia nhưng đồng thời các sự kiện khác cũng có thể là nguyên nhân nhưng không thể loại trừ được mối tương quan giữa hai sự kiện này thì cách giải thích nhân quả như vậy có thể có là “đã được chứng minh” [18]

Kỹ thuật phân tích hai biến mặc dù thông dụng nhưng không cho phép lý giải chính xác phát hiện thu được và nhất là không loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố khác Chính vì vậy, rất nhiều khả năng giải thích hiện tượng xã hội đã bị bỏ qua, đặc biệt là giải thích sự biến đổi và các mối quan hệ giữa biến số độc lập và biến số

phụ thuộc [39] Phân tích đa biến bằng hồi quy sẽ cho thấy tác động của từng biến

số độc lập đầy đủ hơn đối với biến số phụ thuộc khi đã tính đến tác động của các biến số độc lập khác

Các mô hình hồi quy được thực hiện để đánh giá mối quan hệ giữa biến số kết quả và một số biến số giải thích cơ bản như tuổi, giới, dân tộc, học vấn và nghề nghiệp bố mẹ, và nơi cư trú Cần lưu ý rằng việc phân tích không hàm ý bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào và chỉ có thể nói rằng có sự khác biệt trong chỉ báo nghiên cứu (biến số phụ thuộc) giữa các yếu tố xã hội được phân tổ theo đặc trưng của cá nhân, gia đình và cộng đồng (biến số độc lập) Căn cứ vào biến số phụ thuộc của nghiên cứu là biến số nhị phân, hay biến số sự kiện lịch sử thời gian (time event), các mô hình phân tích hồi quy đa biến logistic, hồi quy nguy cơ xác suất Cox (Cox Proportional Hazard Model) sẽ được sử dụng

Trang 20

- H ồi quy Logistic: Mô hình hồi quy Logistic được áp dụng trong luận án

dành cho biến số phụ thuộc có tính chất nhị phân hay còn gọi là biến giả (dummy variabe) Biến số phụ thuộc sẽ được xây dựng thành một biến nhị phân với giá trị bằng 1 nếu xảy ra một sự kiện nào đó (ví dụ trẻ em trong độ tuổi 15-17 đi học đúng

tuổi vào thời điểm khảo sát) và ngược lại giá trị bằng 0 nếu không xảy ra sự kiện

đó

- H ồi quy nguy cơ xác suất: Mô hình nguy cơ xác suất Cox (Cox

Proportional Hazard Model) thường được sử dụng nhằm phân tích các loại số liệu

sự kiện phản ánh độ dài thời gian mà đối tượng nghiên cứu ở trong một trạng thái nào đó và chuyển hoá từ trạng thái này sang trạng thái khác (time to event) Mô hình hồi quy này được áp dụng trong luận án bằng cách phân tích xác suất tích lũy trẻ em học trung học phổ thông ở các độ tuổi của bậc trung học phổ thông

6.4 Ngu ồn số liệu, khả năng sử dụng

6.4.1 Ngu ồn số liệu định lượng

Luận án sử dụng số liệu Khảo sát mức sống (KSMS) dân cư Việt Nam năm

2016 và năm 2006 KSMS 2016 được triển khai trên phạm vi cả nước với quy mô mẫu 9.399 hộ ở 3.133 xã/phường, đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực thành thị nông thôn và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương [66] Tương tự, mẫu của KSMS

2006 được chọn đại diện cho cả nước ở thành thị và nông thôn, 8 vùng (trong đó có

cả thành thị/nông thôn) và tỉnh, thành phố với 9.189 hộ Mẫu này chọn từ mẫu chủ thiết kế cho các cuộc KSMS giai đoạn 2000-2010 gồm 3.063 xã/phường, mỗi xã/phường chọn 3 địa bàn của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999 [62]

KSMS năm 2016 và 2006 cung cấp những số liệu có chất lượng cao với một phạm vi rộng liên quan đến các chỉ báo về tiếp cận giáo dục của trẻ em Ngoài ra, số liệu KSMS năm 2016 và 2006 còn cung một số biến số xác định các đặc tính của nhóm trẻ em cần nghiên cứu như dân tộc, học vấn của chủ hộ, số thành viên gia đình, mức sống và nơi cư trú (thành thị/ nông thôn và vùng miền) ở cấp độ cá nhân

Để thu thập thông tin, hai cuộc khảo sát đã sử dụng “Phiếu phỏng vấn hộ gia đình” gồm hai loại: “Phiếu phỏng vấn thu nhập chi tiêu” bao gồm tất cả các thông tin của nội dung khảo sát và “Phiếu phỏng vấn thu nhập” gồm các thông tin của nội

Trang 21

dung khảo sát trừ các thông tin về chi tiêu và phần mở rộng của hộ Phiếu phỏng vấn được thiết kế chi tiết giúp điều tra viên ghi chép thuận lợi, đồng thời tránh bỏ sót các khoản mục và tăng tính thống nhất giữa các điều tra viên, từ đó tăng chất lượng số liệu khảo sát

KSMS 2016 và 2006 sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến hộ, gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vào “Phiếu phỏng vấn hộ gia đình” Cuộc khảo sát này không chấp

nhận phương pháp khảo sát gián tiếp hoặc sao chép các thông tin không kiểm tra thực tế vào phiếu phỏng vấn nhằm bảo đảm chất lượng thông tin thu thập được Người được phỏng vấn sẽ hồi tưởng theo các khoảng thời gian khác nhau tùy theo tần suất xuất hiện của các hiện tượng nghiên cứu Tất cả các phiếu khảo sát sau khi được các Cục thống kê tỉnh/thành phố nghiệm thu đạt yêu cầu (từng phiếu) mới được đưa vào nhập tin, làm sạch và tổng hợp kết quả

Ngoài các thông tin quản lý, các câu hỏi phỏng vấn cá nhân và hộ gia đình được chia thành 10 mục tương ứng các lĩnh vực mà cuộc khảo sát quan tâm Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ khai thác số liệu KSMS 2016 và 2006 ở các mục sau:

- Mục 1: Danh sách thành viên hộ gia đình

- Mục 2: Giáo dục, đào tạo và dạy nghề

- Mục 4A: Thu nhập - tình trạng việc làm

Mẫu phân tích của luận án là 1.487 và 1.047 trẻ em trong độ tuổi trung học phổ thông (15 đến 18 tuổi) ở KSMS năm 2016 và năm 2006 Để phù hợp với nghiên cứu và tương thích giữa các biến số, luận án chỉ phân tích những trường hợp trẻ em là con của chủ hộ, vì thế tỷ lệ của một số tương quan có thể thay đổi so với công bố của Tổng cục Thống kê

6.4.1 Ngu ồn số liệu định tính

Tác giả đã tiến hành thu thập thông tin định tính qua việc thực hiện các phỏng vấn sâu trong quá trình nghiên cứu luận án tại các địa điểm và thời gian như sau: Hải Phòng: 3 PVS bố mẹ, 1/2016; Đắc Lắc: 2 PVS bố mẹ, 2 PVS trẻ em, 3/2017; Ninh Thuận: 1 PVS bố, 1 PVS trẻ em, 04/2017; Nam Định: 2 PVS bố mẹ, 09/2019

Trang 22

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Các khuyến nghị của luận án có thể được vận dụng một cách khoa học, hiệu quả trong các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề giáo dục cho trẻ

em nói chung và trẻ em ở độ tuổi học trung học nói riêng

8 Đóng góp của luận án

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu và trực tiếp phân tích các kết quả khảo sát định lượng và định tính, luận án chỉ ra được những đặc điểm, tính chất, khác biệt trong vấn đề tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Nhận diện các yếu tố

xã hội mang đặc trưng nhân khẩu học - xã hội cá nhân, gia đình và cộng đồng có mối quan hệ như thế nào đến quá trình tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ

em Phân tích và xác định những yếu tố xã hội tác động đến quá trình tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em

Luận án đề xuất một số khuyến nghị trong việc tổ chức thực hiện chính sách giáo dục cho trẻ em nói chung, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục nhằm giúp trẻ em được tiếp cận với giáo dục trung học phổ thông ngày một nhiều hơn, có chất lượng và hiệu quả hơn

Trang 23

9 H ạn chế của Luận án

Nội dung của luận án được phân tích trên cơ sở số liệu giáo dục từ KSMS dân cư Việt Nam năm 2006 và 2016 Số liệu về giáo dục chỉ là một trong những mô-đun mà cuộc khảo sát thực hiện Vì thế, nó không có được những thông tin đầy

đủ về các chỉ báo liên quan đến tiếp cận giáo dục khác cũng như các yếu tố tác động mong muốn trong quá trình nghiên cứu như các yếu tố chính sách về giáo dục, giá trị xã hội về tinh thần hiếu học Trong một số trường hợp, thiếu thông tin về các yếu tố được giả định có mối quan hệ nhân quả liên quan đến biến số phụ thuộc

Mẫu phân tích của hai cuộc khảo sát quốc gia về mức sống dân cư chỉ bao gồm trẻ em đang sống trong các hộ gia đình, không bao gồm các nhóm trẻ em di cư, lang thang, đang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, lao động tự do…Vì số liệu của KSMS dân cư Việt Nam ở hai thời điểm chưa bao phủ hết các nhóm trẻ em

có những đặc điểm riêng biệt cho nên những phân tích trong luận án chưa phản ánh hết đặc trưng của trẻ em trong xã hội Ngoài ra, luận án chỉ tập trung phân tích các yếu tố xã hội tác động đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Các yếu tố mang tính chất vĩ mô, kinh tế, mức sống, sinh học sẽ không được đề cập đến

10 K ết cấu của luận án

PHẦN MỞ ĐẦU: gồm 10 mục

PHẦN NỘI DUNG:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về nghiên cứu tiếp cận giáo dục trung học phổ thông Chương 3: Những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc trẻ em đi học trung học phổ thông đúng tuổi

Chương 4: Những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc trẻ em không đi học trung học phổ thông

Chương 5: Ảnh hưởng của những yếu tố xã hội đến khả năng theo học trung học phổ thông của trẻ em

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 24

C hương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM

1.1 N GHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Y ếu tố giới

Một trong những yếu tố xã hội quan trọng mang đặc trưng cá nhân luôn được tìm hiểu trong các nghiên cứu về tiếp cận giáo dục nói chung và tiếp cận giáo dục trung học phổ thông nói riêng của trẻ em trên thế giới đó là giới Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có hai xu hướng trái ngược nhau trong mối liên hệ giữa việc trẻ em trai và trẻ em gái đi học ở bậc trung học phổ thông Nghiên cứu của một số nước nhận thấy trẻ em gái được đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai Ngược lại, ở một số nước khác thì tỷ lệ nhập học của trẻ em trai lại thấp hơn

Theo các nghiên cứu, trẻ em gái đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai là do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống “trọng nam khinh nữ” Một nghiên cứu nhận xét, trong bối cảnh Nam Á và Pakistan, sự hoàn thành giáo dục sau trung học cơ sở của phụ nữ thấp có thể được giải thích bởi thực tế phổ biến là họ thường

bỏ học để tiến hành hôn nhân và sinh con Cần nhấn mạnh rằng ở Nam Á, quyết định đi học hoặc bỏ học không phải là sự lựa chọn mà trẻ em đưa ra mà thay vào đó cha mẹ đóng vai trò chính trong quyết định này Áp lực văn hóa và xã hội mạnh mẽ cũng là nguyên nhân khiến cha mẹ không cho con gái đến tuổi đi học và phải kết hôn sớm Đây là một yếu tố quan trọng giải thích tại sao trình độ học của phụ nữ thường là thấp [94, 144, 150]

Đối với các quốc gia có tỷ lệ trẻ em gái đi học trung học phổ thông cao hơn, các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chuyển tiếp lên trường trung học phổ thông có thể phản ánh kết quả của hiệu ứng sàng lọc trong đó chỉ những trẻ em gái ngoan cường nhất đi học đến cuối cùng của bậc trung học cơ sở, được gia đình (giàu có) ủng hộ tạo điều kiện nên mang lại tỷ lệ chuyển tiếp cao hơn so với trẻ em trai Hiệu ứng sàng lọc của trẻ em gái giải thích rõ hơn mức GPI cao hơn trong việc chuyển tiếp lên trung học phổ thông là sự chuyển đổi xã hội lớn hơn bất kỳ sự chuyển đổi nào

Trang 25

trong xã hội Campuchia [136] Trong bối cảnh châu Á, cha mẹ khoan dung hơn với con trai, do đó trẻ em gái có xu hướng chú ý hơn vào việc học tập của mình trong khi các trẻ em trai thì được tự do hơn [114] Cần phải chỉ ra rằng sự khác biệt trong bức tranh giáo dục của Philippines về việc trẻ em gái vượt trội hơn trẻ em trai đã

diễn ra khá lâu Rõ ràng nhất là bình đẳng giới có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế bằng cách mở rộng nguồn vốn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất nông nghiệp và tăng nguồn vốn vật chất Bằng chứng thực nghiệm từ Philippines được đặt cạnh các biểu hiện xã hội khác nhau về sự thay đổi bình đẳng giới đưa ra những quan điểm mới mẻ về giả định này [132] Khu vực Caribê cũng nổi tiếng về học lực trội hơn của trẻ em gái so với trẻ em trai và xóa bỏ được khoảng cách về giới từ những năm 1990, đồng thời vẫn duy trì được lợi thế về mức nhập học của trẻ em gái trong suốt thập kỷ vừa qua Tại các quốc gia Caribê, trẻ em gái bắt đầu đi học sớm hơn, đi học đều đặn và ít bỏ học hơn, duy trì việc học tập lâu hơn và đạt được trình độ giáo dục cao hơn vào thời điểm cuối của quá trình học tập so với trẻ em trai [162] Có thể thấy, khi có cơ hội được giáo dục thì trẻ em gái sẽ tận dụng các cơ hội đó, học hành chăm chỉ và có kết quả học tập tốt Bằng chứng về trẻ em gái có học lực trội hơn trẻ em trai cho thấy một sự đảo ngược về tình trạng bất bình đẳng giới trong vấn đề đi học trung học phổ thông của trẻ em [162]

Đối với những quốc gia có tỷ lệ trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp hơn, các nghiên cứu cho rằng, một số trẻ em trai đăng ký nhưng không thể chuyển tiếp thành công vào môi trường học đường giáo dục trung học do học kém, điểm số thấp hoặc bỏ học với tỷ lệ cao [93] Sự tiến bộ yếu hơn của nam sinh ở trường trung học phổ thông có liên quan mật thiết đến việc nam sinh vào giáo dục trung học phổ thông với kỹ năng thấp hơn nữ sinh [159] Nam sinh trung học ở các nước OECD thường xuyên nghỉ học vì thành tích học tập kém trong suốt thời gian đi học [170] Anh và Pháp đều là những nước mà học lực trẻ em trai kém hơn một cách tương đối

so với trẻ em gái [162]

Sự khác biệt về giới trong lao động việc làm đóng một vai trò quan trọng trong nhu cầu giáo dục trung học phổ thông thấp của trẻ em trai Một mặt, thị

Trang 26

trường lao động có xu hướng tạo cơ hội làm việc cho lao động nam nhưng không phải lao động nữ ở một số quốc gia và điều kiện này khiến học sinh nam phải nghỉ học Mặt khác, trẻ em trai có cơ hội lớn hơn để gia nhập lực lượng lao động khi đã đến một độ tuổi nhất định và cha mẹ cố tình cho con trai đi làm nếu họ nghĩ rằng chi phí cơ hội đi học là cao [138] Những cậu bé từ các hộ gia đình nghèo hoặc các nhóm thiểu số thường có nguy cơ bỏ học cao hơn Các gia đình có thể đáp ứng với những cú sốc kinh tế bằng cách rút các cậu bé từ trường học về để đi làm [169]

Những trẻ em trai ở các khu vực thành thị ở Brazil và Jamaica có thu nhập thấp thường bỏ học để làm việc lao động chân tay, xây dựng hoặc các công việc bán chuyên môn mà không yêu cầu hoàn thành giáo dục trung học vì họ cho rằng giáo dục không đảm bảo việc làm trong tương lai [169] Tại Abu Dhabi, các cậu bé thiếu động lực để theo đuổi giáo dục trung học vì thực tế chúng được đảm bảo về sự nghiệp trong quân đội, cảnh sát hoặc kinh doanh gia đình [139]

Một nguyên nhân nữa khiến cho trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp trẻ em gái là do định kiến, kỳ vọng giới Nghiên cứu của Peg Tyre (2008) tập trung vào sự cô lập mà nhiều trẻ em trai Mỹ trải nghiệm Văn hóa nước Mỹ đã áp đặt cho trẻ em trai là nên “cứng rắn, độc lập, tự lập và kiên nhẫn”; ngược lại trẻ em gái được

kỳ vọng sẽ hình thành mối quan hệ bền chặt với bạn bè và chia sẻ cảm xúc với nhau Tác giả đưa ra một lượng dữ liệu định lượng ấn tượng để hỗ trợ cho giả thuyết của mình rằng trong thập kỷ hiện tại, các cậu bé đang trải qua những thách thức học tập ở mọi cấp độ giáo dục Chỉ có 65% nam sinh học xong trung học so với 72% nữ sinh và chỉ 44% học sinh học lớp nâng cao ở trường trung học là nam Tác giả giải thích rằng sự chênh lệch giữa học sinh nam và nữ vượt qua ranh giới chủng tộc và kinh tế - xã hội và có thể được tìm thấy ở những khu dân cư nghèo, trong những trường học ưu tú phục vụ những người rất giàu, và ở nhiều trường ngoại ô trung lưu Tác giả kết luận rằng ở mọi khía cạnh, các chàng trai ở Mỹ đều thất bại, họ ít thích đi học hơn, học kém hơn và bị đuổi học thường xuyên hơn các cô gái [143]

Định kiến giới và vấn nạn bạo lực cố thủ trong các trường học gây ra vấn đề bất bình đẳng cho trẻ em trai trong trường trung học phổ thông Các cậu bé thường được coi là bướng bỉnh và vô kỷ luật, và do đó có nhiều khả năng phải chịu hình

Trang 27

phạt về thể xác hơn các trẻ em gái Một nghiên cứu trường hợp gần đây ở Mông Cổ cho thấy khả năng bạo lực đối với nam sinh ở trường học cao hơn với khả năng tăng

bỏ học [114] Sức ép của nhóm đồng đẳng nam giới làm suy yếu tinh thần học tập của trẻ em ở nước Anh Những hành vi bồng bột, thái độ hiên ngang và ồn ào là

những thứ mà trẻ em trai ở nước Anh tìm kiếm để chứng tỏ nam tính của mình và đều có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc đi học Ngoài ra, trẻ em trai không có sự

nỗ lực để tránh thi trượt [162] Cuối cùng, mặc dù là cần thiết để đảm bảo rằng trẻ

em gái được đại diện như nhau ở tất cả các cấp giáo dục, nhưng bằng chứng từ Mỹ Latinh cho thấy rằng một trong những lý do khiến trẻ em trai ít tham gia vào giáo dục là xem trường học là nơi thiếu tự tin của nam giáo viên và ít hình mẫu trong trường học [95] Có sự chênh lệch trong giáo dục trung học ở Philippines và Thái Lan với tỷ lệ đi học của trẻ em trai thấp hơn Một phần là do các cơ chế và chính sách bình đẳng giới tập trung chủ yếu vào phụ nữ và trẻ em gái [114]

1.1.2 Y ếu tố dân tộc

Có sự khác biệt dân tộc trong tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ

em trên toàn thế giới Mặc dù phúc lợi xã hội trong lĩnh vực giáo dục đạt đến trình

độ phát triển cao ở Na Uy, nhưng yếu tố dân tộc vẫn có ảnh hưởng đến thành tựu giáo dục trung học phổ thông của quốc gia này Hình ảnh lãng mạn về sự thành công của nhà nước phúc lợi Na Uy đã trở nên mờ nhạt khi các yếu tố như giai cấp

và dân tộc có liên quan đến việc các nhóm trẻ em dân tộc khác có khả năng bỏ học trung học phổ thông cao nhất [129]

Các nhóm dân tộc thiểu số gặp phải một số bất lợi về giáo dục nghiêm trọng nhất có thể bắt nguồn từ các mô hình phân biệt đối xử và kỳ thị văn hóa lâu đời và thường xuyên hàng thế kỷ Thành tích giáo dục của nhóm dân tộc thiểu số thấp phản ánh độ bền của các mô hình phân biệt đối xử Tương tác với sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội đã duy trì sự loại trừ xã hội trong giáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số [166] Các thành viên của các dân tộc thiểu số thường phải đối mặt với những trở ngại cố thủ sâu sắc để có cơ hội bình đẳng Họ thường bị từ chối một cơ hội học tập bằng ngôn ngữ của chính mình và đối mặt với sự kỳ thị xã hội [166] Nhiều trẻ em được dạy và kiểm tra ngôn ngữ mà chúng không nói được ở nhà ở hầu

Trang 28

hết các quốc gia đa ngôn ngữ, vì thế, cản trở sự tiếp thu sớm việc đọc và viết thành thạo Cha mẹ có thể thiếu kỹ năng đọc viết hoặc làm quen với ngôn ngữ giảng dạy, củng cố khoảng cách cơ hội học tập giữa các nhóm ngôn ngữ Việc tiếp tục bỏ bê giáo dục đa ngôn ngữ dựa trên ngôn ngữ mẹ đẻ ở các quốc gia đa dạng về ngôn ngữ giúp giải thích sự chênh lệch lớn trong kết quả giáo dục [170] Một nghiên cứu khác cho thấy, trẻ em da đen thuộc mọi tầng lớp kinh tế - xã hội bị ám ảnh những định kiến vốn có về sự thấp kém Những khuôn mẫu đe dọa này cản trở hoạt động giáo

dục hàng ngày của trẻ em da đen ở trường học Trẻ em da đen còn làm cho khuôn mẫu trở nên hợp lý hơn khi tự mô tả bản thân trong mắt người khác và thậm chí có thể trong mắt của mình về khuôn mẫu của sự thấp kém, đặc biệt là trong các bài kiểm tra quan trọng [154] Một cách giải thích quan trọng về thành tích giáo dục của trẻ em là cấu trúc gia đình có thể khác biệt đáng kể giữa dân tộc này với dân tộc khác Sở thích sinh thêm con làm giảm số tiền chi cho giáo dục của mỗi đứa trẻ, điều này làm giảm khả năng thành công trong giáo dục [109]

Cuối cùng, việc kết hôn sớm ở trẻ em gái dân tộc thiểu số là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ đi học thấp hơn so với dân tộc đa số Việc tiếp cận giáo dục của trẻ em dân tộc thiểu số tại Romania có xu hướng bị hạn chế do thái độ truyền thống của cộng đồng đối với địa vị của người phụ nữ Trẻ em gái người Roma có xu hướng bỏ học sớm hơn trẻ em trai vì phải gánh vác nhiều trách nhiệm trong gia đình Những trẻ em này cũng có thể phải lấy chồng sớm hoặc phải sinh con trước tuổi 15 [162]

1.1.3 Y ếu tố học vấn bố mẹ

Hiệu quả từ giáo dục của bố mẹ đối với việc đi học của trẻ em luôn được tìm hiểu ở những nghiên cứu thực nghiệm trên toàn thế giới Một số nghiên cứu đã tìm thấy một mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa giữa giáo dục của cha mẹ và giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Sự tham gia của các bậc cha mẹ đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng nhu cầu tiếp cận giáo dục của trẻ em, trong việc tạo ra

áp lực nâng cao chất lượng giáo dục và trong việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ sở giáo dục Cha mẹ ảnh hưởng đến hành vi của trẻ em, do đó dễ dàng ảnh hưởng đến quyết định đi học, bằng cách tác động đến những ưu tiên cá nhân

Trang 29

đối với giáo dục thông qua môi trường gia đình, và bằng cách giúp phát triển các

kỹ năng hành vi của con cái họ [177] Những bà mẹ có học vấn có thể làm tăng nguồn vốn con người thông qua ảnh hưởng của họ đối với học vấn của con cái [172]

Conlisk (1969) là người rất sớm xác định giáo dục của cha mẹ là một yếu tố quan trọng quyết định việc đi học của trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em trong độ tuổi trung học phổ thông từ 16 đến 19 tuổi [121] Knight và Shi (1996) đã phân tích mẫu

khảo sát về mức sống hộ gia đình ở Trung Quốc và nhận thấy rằng trình độ học vấn của cha mẹ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến giáo dục trẻ em Họ cũng chỉ ra rằng học vấn của người cha là yếu tố quan trọng hơn học vấn của người mẹ [123] Theo phân tích của Jackline Wahba (2006), giáo dục của cha mẹ chắc chắn là một yếu tố cơ bản trong việc giải thích về việc được tiếp cận giáo dục của trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Cha mẹ có giáo dục rất có thể hiểu được tầm quan trọng của việc đạt được giáo dục và sẽ sẵn sàng cho con đi học hơn cha mẹ không có hoặc có ít học vấn Cha mẹ có học vấn có khả năng nhiều hơn trong việc đánh giá việc đầu tư vào nguồn vốn nhân lực sẽ làm tăng kỳ vọng tiền lương cho con cái họ Ngược lại, cha mẹ bắt đầu đi làm từ khi còn nhỏ và không có học vấn thì

có thể không xem giáo dục cho con cái là một khoản đầu tư quan trọng [115] Nghiên cứu ở nông thôn Campuchia đã chỉ ra rằng các bậc cha mẹ có học vấn có thái độ giác ngộ cao hơn đối với giáo dục và cung cấp cho con cái một môi trường giáo dục kích thích hơn so với cha mẹ học vấn thấp [97]

Sự quan tâm của cha mẹ có học vấn đồng thuận đối với thành tích học tập của con cái Ngược lại, thiếu sự quan tâm của cha mẹ đồng nghĩa với việc học hành của con cái không được coi trọng, đồng thời các chi phí cơ hội khi trẻ em có thể đóng góp làm tăng thu nhập cho gia đình thông qua lao động của mình Những

lý do này có thể làm gia tăng khả năng bỏ học của trẻ em, đặc biệt khi trẻ em đạt

độ tuổi mà sức lao động có giá trị kinh tế [92]

1.1.4 Y ếu tố nghề nghiệp bố mẹ

Công trình nghiên cứu xã hội học kinh điển của J Coleman đã chỉ ra rằng, mặc dù một số con em của tầng lớp lao động có trí tuệ và năng khiếu không thua

Trang 30

kém gì con em thuộc tầng lớp xã hội có địa vị cao nhưng lại rất khó khăn trong việc theo đuổi học tập để đạt được bằng cấp, học vị cao, nguyên nhân là do trẻ em ở những gia đình có địa vị kinh tế - xã hội thấp hơn [116] Phân tích của Tony Bilton

và cộng sự (1993) cho thấy, bất chấp sự loại bỏ học phí trong các trường nhà nước,

sự bất bình đẳng tiếp tục đóng một vai trò quan trọng khi quyết định ai thành công,

ai kém thành công trong hệ thống giáo dục Không những thế, trẻ em trong gia đình

có địa vị thấp có quá trình học tập phải chịu đựng những kết quả tai hại Chẳng hạn, nhà ở không thỏa đáng đã được chứng minh là có liên kết với thành tích thấp trong trường học và có một ảnh hưởng rõ rệt đối với con cái giai cấp công nhân hơn là con cái giai cấp trung lưu [68] Trẻ em là con cái của giai cấp công nhân có thể thất bại khi không có được một phạm vi giá trị làm nền cho sự tham gia hữu hiệu ở nhà trường Chúng có thể kém tham vọng, ít quan tâm đến sự ganh đua cá nhân, kém sẵn sàng chuẩn bị cho tương lai, hay kém tin tưởng vào giá trị của một sự giáo dục tốt Ngoài ra, gia đình công nhân có thể không cung cấp cho trẻ em những kinh nghiệm văn hóa (biết trò chuyện, biết nhiều hình thức giải trí, đọc sách báo) giúp nuôi dưỡng khả năng ngôn ngữ, kích thích sự tò mò và làm cơ sở cho khả năng học tập Về mặt kinh nghiệm và giá trị do văn hóa, trẻ em giai cấp công nhân được coi

là “bị tước đoạt về mặt văn hóa” [68] Một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy, người bố và người mẹ tự làm việc có tác động tiêu cực đến xác suất đi học ở cấp trung học phổ thông của trẻ em, đặc biệt là trẻ em trai Qua đó cho thấy làm việc tại trang trại hoặc sản xuất kinh doanh ở gia đình là một cách thay thế cho việc đi học của trẻ em và rõ ràng là con trai được mong đợi chuẩn bị tiếp quản công việc của người bố hơn Nó cũng phản ánh việc đào tạo trẻ em học nghề tại gia đình quan trọng hơn so với việc học chính thức tại trường học [94] Yếu tố nghề nghiệp mẹ và

bố có ảnh hưởng đến tình trạng đi học và giáo dục đạt được của trẻ em được một nghiên cứu ở Bangladesh phát hiện, trẻ em ở gia đình có bố mẹ với các nghề nghiệp yếu thế như làm nông nghiệp, chăn nuôi, nội trợ có khả năng đi học và giáo dục đạt được thấp hơn trẻ em có bố mẹ làm nghề chuyên môn [146]

1.1.5 Y ếu tố mức sống

Trang 31

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, điều kiện sống hộ gia đình đã được xác định là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đi học trung học phổ thông của trẻ em ở nhiều nơi trên thế giới.Schultz (1993) đã phát hiện rằng nguồn tài chính hạn chế có thể tác động tiêu cực đến các lựa chọn đi học cho trẻ em Tỷ lệ duy trì ở

bậc trung học thể hiện sự bất bình đẳng liên quan tới các yếu tố như thu nhập Học sinh từ những gia đình nghèo nhất ở hầu hết các quốc gia đang phát triển ít có khả năng hơn nhiều trong việc hoàn thành giáo dục trung học [165] Nhiều quốc gia tiếp

tục thu học phí ở trường trung học, đôi khi rất lớn và có thể là rào cản lớn đối với các hộ nghèo nhất Bãi bỏ phí có thể là một cách chính để cải thiện quyền truy cập cho trẻ em từ các nhóm thiệt thòi [167]

Trình độ học vấn của trẻ em liên quan mật thiết đến thu nhập ổn định của hộ gia đình cho thấy giáo dục là một loại hàng hóa và các hộ gia đình bị hạn chế về nguồn lực, trong đó thu nhập thấp hơn dẫn đến thành tích học tập của trẻ em thấp hơn [94] Đối với những gia đình nghèo, giáo dục (cũng như giải trí) có thể được coi là một ‘món hàng xa xỉ’ [115] Glewwe và Jacoby (2004) cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa sự biến thiên trong điều kiện sống và nhu cầu giáo dục Nghiên cứu này tuyên bố rằng ảnh hưởng của điều kiện sống vẫn giữ nguyên ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố cụ thể như sự thay đổi của lợi nhuận giáo dục, tính sẵn có, chất lượng và chi phí cơ hội liên quan [141] Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy, nghèo đói là một yếu tố quan trọng quyết định đến việc đi học của trẻ em trai và trẻ em gái Các hộ gia đình nghèo có thể được cho là không cho con cái đi học vì không đủ khả năng chi trả trực tiếp cho việc đi học như học phí, học phí, chi phí vận chuyển, v.v Các biện pháp ưu đãi đặc biệt nhằm vào các

hộ nghèo để khuyến khích họ gửi con đến trường là cần thiết để vượt qua rào cản này nhằm tham gia học tập [174]

Nghèo khổ là một trong những yếu tố góp phần làm cho trẻ em khó tiếp cận với giáo dục Các hộ gia đình nghèo có ít nguồn lực để đầu tư vào giáo dục, sức khỏe, và các tài sản khác cho con cái Nghèo đói cũng làm cho hộ gia đình dễ bị tổn thương Khi người nghèo bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế, hạn hán hoặc các vấn

đề sức khỏe, họ thường thiếu các nguồn lực để đối phó mà không cắt giảm chi tiêu

Trang 32

trong các lĩnh vực quan trọng, bao gồm cả giáo dục của trẻ em Giáo dục có thể đóng vai trò là chất xúc tác mạnh mẽ trong việc phá vỡ các vòng nghèo đói Nhưng chính nghèo đói là một hạn chế mạnh mẽ đối với các cơ hội giáo dục, thúc đẩy sự bất lợi qua các thế hệ [166]

Những hộ gia đình nghèo nhất không thể đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng hiện tại nếu không có nguồn thu nhập do lao động trẻ em mang lại, vì vậy học vấn của trẻ em và triển vọng thoát nghèo phải nhường chỗ cho sự tồn tại trước mắt [177] Nghiên cứu của Schultz (1993) hỗ trợ giải thích tại sao sự đóng góp kinh tế của trẻ em lại khuyến khích cha mẹ sinh thêm con và không khuyến khích đầu tư vào việc đi học Có lẽ điều này cũng giải thích tỷ lệ lao động trẻ em cao ở Pakistan

và Nam Á [155] Hoàn cảnh nghèo khó của gia đình có thể lôi kéo trẻ em vào công việc Do đó, lao động trẻ em gắn liền với những chậm trễ trong việc nhập học, giảm

tỷ lệ tham gia và bỏ học sớm [165] Nghiên cứu của Jackline Wahba (2006) nhận xét rằng, trình độ học vấn thấp ở các nước đang phát triển thường liên quan đến mức độ lao động trẻ em cao Những gia đình rất nghèo có con ở tuổi đi học không

đủ khả năng từ bỏ thu nhập mà những đứa trẻ này có thể mang về nhà [115] Giáo dục chịu chi phí cơ hội ở các gia đình nghèo, vì trẻ em đi học thay vì đóng góp vào thu nhập hộ gia đình Chi phí cơ hội này tăng lên khi trẻ lớn hơn và có thể kiếm được tiền lương cao hơn, do đó làm tăng áp lực cho những người trẻ này bỏ học [107] Một yếu tố giải thích cho tỷ lệ nhập học thấp là cha mẹ lao động nghèo khuyến khích con cái từ 10 tuổi trở lên được tuyển dụng trong một số loại lao động trẻ em ở cả thành thị và nông thôn Trẻ em từ 15 đến 18 tuổi có nhu cầu lao động nhiều nhất và đây là độ tuổi mà trẻ nên học trung học Thực tế này giải thích tại sao một số trẻ em từ các hộ nghèo không đi học trung học Vì vậy, lao động trẻ em là một yếu tố khác trong việc đi học thấp và tỷ lệ bỏ học cao ở Pakistan [150]

Ở một nước đang phát triển có thu nhập thấp như Pakistan, cha mẹ ảnh hưởng đến con cái không chỉ bằng lao động trẻ em để có thêm thu nhập mà họ còn tận dụng con cái của họ, đặc biệt là anh chị lớn hơn, trong các trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ em Thực tiễn này có tác động tiêu cực cả về đi học cũng như sự tiến bộ trong giáo dục của trẻ em [150] Nhiều trẻ em và thanh thiếu niên từ các hộ nghèo

Trang 33

không có lựa chọn nào khác giữa trường học hoặc giúp đỡ các công việc nhà và chăm sóc trẻ em để giải phóng cho cha mẹ đi làm Trong một số trường hợp, các hoạt động của gia đình đụng độ với lịch học và dẫn đến sự vắng mặt cao, thành tích học tập kém và (thường) bỏ học [111]

1.1.6 Y ếu tố quy mô hộ gia đình

Bên cạnh đặc điểm kinh tế - xã hội của cha mẹ, cấu trúc nhân khẩu học của

hộ gia đình cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận giáo dục của trẻ em Số lượng thành viên hộ gia đình có mối quan hệ với khả năng được đi học của trẻ em

đã được nghiên cứu và kiểm chứng trên toàn thế giới Một quan điểm rất có ảnh hưởng khi cho rằng trẻ em trong các gia đình lớn nhận được đầu tư ít hơn từ cha mẹ

so với trẻ em từ các gia đình nhỏ hơn Trong các hộ gia đình lớn hơn, cha mẹ đầu tư vào việc đi học của con cái ít hơn vì thu nhập trên đầu người có thể rất thấp do tỷ lệ phụ thuộc cao hơn [109] Các nghiên cứu đáng chú ý sau đó từ các nước phát triển kinh tế, đặc biệt là Hoa Kỳ đã kế thừa ý tưởng này và cho ra đời mô hình lý thuyết

‘sự pha loãng tài nguyên’ Khung lý thuyết ‘sự pha loãng tài nguyên’ đưa ra một lời giải thích đơn giản về những ảnh hưởng tiêu cực của số lượng thành viên gia đình đến hiệu suất giáo dục của trẻ em Khi số lượng trẻ em tăng lên, các nguồn lực gia đình có sẵn cho một đứa trẻ giảm Nguồn lực được định nghĩa rộng rãi bao gồm thời gian của cha mẹ, sự chú ý và đầu tư cảm xúc cũng như tài sản vật chất và tài chính Bắt đầu với giả định rằng nguồn lực tài nguyên của cha mẹ là hữu hạn nhưng khi số lượng trẻ em trong gia đình tăng lên, tỷ lệ tài nguyên tích lũy của cha mẹ sẽ giảm và

do đó trẻ em sẽ ít có cơ hội đi học hơn [126]

Các nghiên cứu khác nhau ở cả các nước phát triển và đang phát triển đã liên tục khẳng định mối quan hệ nghịch đảo giữa số anh chị em và giáo dục trẻ em Điều này có lẽ là do thực tế là những gia đình có nhiều trẻ em có thể dành ít thời gian và nguồn lực hơn cho mỗi cá nhân trẻ em [104] Kết quả khảo sát ở hai vùng nông thôn

ở Thái Lan cho thấy quy mô gia đình có tác động quan trọng đến giáo dục của trẻ

em Số trẻ em trong một gia đình và khả năng trẻ sẽ học vượt mức giáo dục bắt buộc có liên quan nghịch đảo ngay cả khi các yếu tố quyết định quan trọng khác được kiểm soát Kết quả khảo sát và dữ liệu định tính được thu thập thông qua các

Trang 34

thảo luận nhóm cho thấy trách nhiệm chính trong việc đầu tư cho giáo dục trẻ em ở Thái Lan phụ thuộc trực tiếp vào cha mẹ Do đó, nguồn lực của cha mẹ giảm khi có nhiều trẻ em và do đó trẻ em ít có cơ hội tiếp cận giáo dục hơn [124]

Tại Nam Á, gia đình đông con đã làm giảm khả năng đến lớp của cả trẻ em trai và trẻ em gái, nhưng mức độ ảnh hưởng lớn nhất là đối với những đứa con cả và con gái Đứa con cả thường phải làm việc để bổ sung thu nhập cho gia đình hoặc phải trông em, nhất là đối với những bé gái là chị cả trong gia đình [162] Nghiên

cứu ở Ấn Độ cho thấy, quy mô hộ gia đình có sự ảnh hưởng tiêu cực đến giáo dục của cả trẻ em trai và trẻ em gái Điều này khẳng định một tiên nghiệm rằng với sự gia tăng quy mô gia đình, có xu hướng những đứa trẻ được giữ ở nhà để làm những công việc nhà khác nhau Tác động cho thấy lớn hơn đối với việc đi học của trẻ em gái Trẻ em gái cần ở nhà để thực hiện các công việc gia đình khác nhau và chăm sóc anh chị em khi quy mô gia đình tăng lên [174] Một nghiên cứu ở khu vực đô thị Pakistan có kết luận rằng, khi thêm một thành viên trong gia đình lại làm giảm khả năng trẻ đi học (đối với trẻ em, trẻ em trai và trẻ em gái) Điều này khẳng định giả thuyết các hộ gia đình đầu tư ít hơn vào con cái do tỷ lệ phụ thuộc cao hơn trong gia đình và trẻ em được giữ ở nhà để chia sẻ các công việc gia đình đa dạng [160]

1.1.7 Y ếu tố thành thị - nông thôn

Bất bình đẳng trong giáo dục trung học phổ thông giữa nông thôn và thành thị diễn ra phổ biến trên toàn cầu Có sự khác biệt lớn giữa cơ hội tiếp cận và chất lượng giáo dục ở nông thôn so với đô thị Tất cả các nghiên cứu đều có điểm chung khi cho rằng, trẻ em trong độ tuổi trung học phổ thông ở khu vực nông thôn được tiếp cận với giáo dục ít hơn so với trẻ em ở khu vực thành thị Khu vực nông thôn ở nhiều nước có xu hướng nghèo đói cao hơn và rơi vào nhóm ngoài lề hơn trong giáo dục [166] Sackey (2007) phát hiện ra rằng có sự khác biệt theo địa phương trong việc đi học tại trường của trẻ em ở Ghana Trẻ em sống ở khu vực nông thôn, nổi tiếng với tỷ lệ nghèo đói tương đối cao, có nhiều khả năng không đến trường hơn những trẻ em sống ở thành thị [112]

Công việc nông nghiệp ở khu vực nông thôn thường theo mùa nên dễ bị trùng với thời khóa biểu học, dẫn đến việc rút trẻ em ra khỏi trường học Mặc dù

Trang 35

những lần huy động trẻ em tham gia vụ mùa là tạm thời, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy nó có thể dẫn đến việc rút trẻ em ra khỏi trường học lâu dài hơn [107, 151] Ngoài ra, cha mẹ nông thôn có xu hướng ít học hơn nên việc cho trẻ em đi học cũng

ít hơn [166]

Giữa nông thôn và thành thị có sự khác nhau trong việc cha mẹ kỳ vọng vào giáo dục của trẻ em Cha mẹ thành thị mong đợi trình độ học vấn cho con cái nhiều hơn cha mẹ nông thôn Trẻ em thành thị cũng nhận được sự quan tâm của cha mẹ về giáo dục nhiều hơn so với trẻ em nông thôn Hơn nữa, nhiều trẻ em thành thị mong muốn có được giáo dục cao hơn so với bạn bè nông thôn [179] Đối với những người nông dân, việc đi học được coi là không đáng vì họ nghi ngờ nó không liên quan đến triển vọng trong tương lai (thường là nông dân) của trẻ em [107] Các bậc cha mẹ nông dân thường không gửi con đến trường vì họ nghĩ rằng sẽ không có việc làm vào cuối chương trình học tập và vì thế, hạn chế lợi nhuận khoản đầu tư của họ [151]

Đối với trẻ em nông thôn, mối quan hệ lỏng lẻo trong gia đình chủ yếu do cha mẹ di cư lao động dẫn đến việc ít tương tác với cha mẹ và nhận thức kém tích cực về mối quan hệ với cha mẹ, do đó dẫn đến không có nguồn vốn xã hội dồi dào trong quá trình học tập Trong khi mối quan hệ với cha mẹ của trẻ em thành thị có

chất lượng cao hơn nhờ vốn xã hội cao hơn trong gia đình và do đó củng cố thêm lợi thế của họ trong giáo dục [179]

Thiếu các cơ sở giáo dục có tác động đến cả thời gian và năng lượng cần thiết của trẻ em để đến trường [166] Một nghiên cứu ở Campuchia nhận xét, các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ chuyển tiếp lên trung học phổ thông là khả năng tiếp cận của các cơ sở giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Các trường trung học phổ thông được đặt tại các trung tâm đô thị, thủ phủ của tỉnh và một số trung tâm huyện Trẻ em từ nông thôn và vùng sâu vùng xa thường phải sống xa nhà để được vào học trung học phổ thông [136] Sự bất bình đẳng liên quan đến địa điểm trường học trong các cơ hội giáo dục cũng có thể là hậu quả của mức độ nghèo của gia đình ở các địa phương khác nhau và các cơ hội học tập không đồng đều ở các trường khác nhau [149] Do sự thiếu hụt các trường trung học trong khu vực lân cận

Trang 36

nhà ở, tỷ lệ học sinh bỏ học rất cao sau khi học tiểu học, đặc biệt là ở các tiểu bang miền bắc Ấn Độ [127]

Chất lượng trường học có thể là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc đạt được giáo dục [118] Khi các trường nông thôn được đầu tư thấp và chi tiêu giáo

dục cho mỗi học sinh thấp, cơ sở vật chất trường học không có sẵn, trẻ em nông thôn sẽ phải vật lộn để cạnh tranh với các bạn ở thành thị trong các kỳ thi để vào trung học phổ thông [179]

Bố trí không công bằng các giáo viên giỏi có thể làm trầm trọng hơn sự bất bình đẳng giáo dục Điều đó được ghi nhận rằng các giáo viên có trình độ tốt, đặc biệt là giáo viên nữ, ít có khả năng chuyển đến và ở trong khu vực nông thôn hoặc các trường thu nhập thấp trong khu vực nội thành [170] Một nghiên cứu ở Trung Quốc nhận xét, trong khi các trường học ở thành thị thường có đội ngũ giáo viên được đào tạo tốt, các trường học ở các vùng nông thôn hẻo lánh thường gặp khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ chân các giáo viên có trình độ Nhiều giáo viên nông thôn thiếu động lực để ở lại những ngôi làng nghèo và hẻo lánh thậm chí không thể đảm bảo chi phí sinh hoạt cơ bản Họ sẵn sàng di chuyển đến các khu vực

đô thị ngay khi họ tìm thấy cơ hội [179]

Trẻ em gái phải đối mặt với rủi ro lớn hơn trẻ em trai nếu khoảng cách và

thời gian đến trường mất nhiều thời gian Ngoài ra còn phải đối mặt với quấy rối tình dục, tấn công và/hoặc buôn bán Nhiều bậc cha mẹ giữ con gái ở nhà vì những

lo ngại về an toàn, điều này thường dẫn đến việc đi học muộn cho đến khi trẻ em gái được đánh giá là đủ tuổi để tự đi đến trường Những vấn đề này thường xảy ra hơn ở khu vực nông thôn và ở cấp giáo dục trung học [148] Mật độ dân số thấp ở khu vực nông thôn có nghĩa là trẻ em thường phải đi xa để đến trường, đôi khi trên những địa hình rất khó khăn [166] Vì khoảng cách là rất quan trọng trong việc quyết định liệu trẻ em sẽ đi học hay không, nên việc cung cấp phương tiện giao thông như xe đạp, phương tiện giao thông miễn phí hoặc ký túc xá là rất quan trọng cho trẻ em ở Ấn Độ đi học [127] Xe buýt trường học phổ biến ở các nước phát triển và do đó khoảng cách đến trường học thường không phải là một yếu tố ảnh

Trang 37

hưởng đến tỷ lệ đi học Ở các khu vực nông thôn của Pakistan không có hệ thống xe buýt như vậy nên dẫn đến tỷ lệ đi học của trẻ em thấp [150]

Một khía cạnh có thể làm cho khu vực thành thị có tỷ lệ trẻ em đi học cao hơn khu vực nông thôn là do có sự đóng góp tích cực của các trường tư vào hoạt động giáo dục Các trường tư có thể vừa giảm bớt vừa gây bất bình đẳng Ở nhiều quốc gia, các trường tư nhân giải quyết nhu cầu của dân số đô thị tăng và cung cấp, phục vụ giáo dục với chất lượng cao hơn thực tế so với hệ thống công cộng, và cung

cấp dịch vụ giáo dục khi hệ thống công cộng không mở rộng để đáp ứng nhu cầu dân số [170] Thêm vào đó, ở khu vực thành thị của Thổ Nhĩ Kỳ, ngoài việc cơ sở

hạ tầng giao thông và đường bộ có xu hướng tốt hơn còn có sự ảnh hưởng của nhà nước mạnh mẽ hơn và có thể có nhiều áp lực hơn đối với bố mẹ và trẻ em trong việc đi học [94]

1.1.8 Y ếu tố vùng địa lý

Nghiên cứu của Wagenaar (1987) chỉ ra rằng những người bỏ học được đặc trưng bởi sự không chuẩn mực và sự cô lập xã hội Điều này cho thấy rằng sự tương tác cộng đồng và nhận truyền đạt các chuẩn mực và giá trị phù hợp với giáo dục có khả năng tạo ra cho trẻ em ý thức hòa nhập xã hội lớn hơn và khả năng bỏ học thấp hơn Môi trường cộng đồng có liên quan đến kết quả giáo dục không chỉ về mặt hữu hình như đầu tư vào cơ sở vật chất trường học, mà còn về các mô hình tương tác xã hội [133]

Các tập quán và thái độ văn hóa truyền thống của cộng đồng đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực tiếp cận giáo dục [166] Các tiêu chuẩn cộng đồng cũng đóng một vai trò quan trọng Cộng đồng cư trú là một yếu tố dự báo quan trọng về việc mong muốn đi học của trẻ em, ngay cả sau khi kiểm soát các đặc điểm

ở cấp độ hộ gia đình Nếu có ít người trong làng học trung học, bất kỳ cá nhân học sinh nào cũng không có khả năng được yêu cầu đi học [147]

Việc thiếu các nguồn lực ở những khu vực cộng đồng nghèo thường dẫn đến các trường học có chất lượng thấp hơn, điều này có thể làm giảm lợi nhuận của giáo dục và không khuyến khích trẻ em đi học [144] Một nghiên cứu ở Trung Quốc cho biết, tỷ lệ nhập học và hoàn thành giáo dục rất khác nhau trên khắp đất nước này

Trang 38

Địa hình, thu nhập bình quân đầu người và dân tộc giải thích một số khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt về địa điểm các vùng đơn giản là vì chất lượng giáo dục được cung cấp và đầu tư của địa phương [147] Theo nhận xét của một nghiên cứu khác, giáo dục ở Trung Quốc đang bộc lộ nhiều bất bình đẳng, có sự di chuyển giáo viên

giỏi đến các vùng phát triển và trường chất lượng cao làm cho chất lượng giáo dục mất cân đối giữa các vùng miền [69]

Một số nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy, trong các thị trường lao động phân khúc, lợi nhuận của giáo dục ở các vùng nghèo, hẻo lánh có thể rất thấp

vì thế không khuyến khích gia đình đầu tư cho giáo dục [144, 147] Thiếu triển vọng việc làm có nghĩa là giáo dục không còn gắn liền với sự giàu có, địa vị hoặc

an toàn Như có thể giải thích bởi lý thuyết lựa chọn hợp lý nhận ra rằng mối đe dọa thua lỗ có thể thúc đẩy mọi người đầu tư cho giáo dục ít hơn [106]

Những nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy, những người sống ở vùng xa xôi và những vùng dân cư thưa thớt phải chịu thiệt thòi do thiếu tiếp cận trực tiếp trường học và điều này vẫn xảy ra với nhiều quốc gia, nhất là ở cấp trung học [162] Một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ nhận xét, các địa phương có thể không có sẵn trường trung học hoặc chúng có thể nằm cách xa nơi những người nghèo nhất định cư Nó

có thể nguy hiểm hoặc có thể được cha mẹ cho là nguy hiểm khi trẻ em phải đi bộ trên đoạn đường dài [94] Trẻ em Pakistan không thể đi bộ với khoảng cách lớn và trong trường hợp không có hệ thống giao thông đầy đủ thì cha mẹ sẽ không sẵn lòng cho trẻ em đến trường Việc thiếu các trường học ở các khu vực nông thôn xa xôi và khoảng cách đến trường học lớn như vậy là một yếu tố dẫn đến tỷ lệ trẻ em đi học thấp và tỷ lệ bỏ học cao hơn [150] Ngoài ra, những khu vực nghèo cho thấy rằng,

tỷ lệ biết chữ và mức độ đi học của người lớn thấp do đó dẫn đến việc trẻ em đi học thấp [174]

Cuối cùng, các yếu tố chính trị cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của giáo dục giữa các vùng khác nhau Các lựa chọn của lãnh đạo liên quan đến các ưu tiên đầu tư và chiến lược hỗ trợ có tác động mạnh mẽ đến sự bất bình đẳng trong giáo dục giữa các tỉnh của Trung Quốc [113]

Trang 39

1.2 N GHIÊN CỨU CỦA VIỆT NAM

1.2.1 Y ếu tố giới

Các cuộc khảo sát quốc gia đều cho thấy có những thành tựu rõ rệt về bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục và trẻ em gái được đi học với tỷ lệ cao hơn trẻ em trai J Knodel và cộng sự (1996) đã sử dụng Việt Nam như một trường hợp nghiên cứu để lập luận rằng khoảng cách giới trong giáo dục không còn là vấn đề nữa ở hầu hết các nước đang phát triển Các tác giả đã nhấn mạnh sự khác biệt quan trọng hơn đáng kể giữa các nhóm kinh tế - xã hội hơn là sự khác biệt giữa nam và nữ Nhóm tác giả này kêu gọi các chính sách nhằm giảm nghèo thay vì giảm chênh lệch giới

và cho rằng, với mức sống ngày càng tăng và mức sinh thấp hơn, bất bình đẳng giới trong giáo dục sẽ được giải quyết [125] Một báo cáo năm 2008 cho biết, trong giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông về cơ bản đã đạt được bình đẳng giới [8]

Một số nghiên cứu đã có những giải thích khác nhau về tỷ lệ trẻ em gái đi học trung học phổ thông cao hơn trẻ em trai Phân tích số liệu Tổng điều tra dân số nhà ở Việt Nam năm 2009 bằng mô hình hồi quy đa biến, một nghiên cứu khẳng định trong cùng một điều kiện chịu tác động của nhiều yếu tố khác, trẻ em gái có xác suất đi học ở bậc trung học cao hơn trẻ em trai Qua đó cho thấy, có nhiều cơ hội hoặc áp lực hơn liên quan đến việc đi làm cũng như ít hạn chế hơn đối với việc thoát ly có thể làm giảm khả năng duy trì học vấn của trẻ em trai [73] Tỷ lệ bỏ học của trẻ em trai cao hơn trẻ em gái có thể là do áp lực kinh tế, xã hội đã bắt buộc các trẻ em trai phải nghỉ học để giúp gia đình hoặc tìm việc làm kiếm tiền [78] Con gái học tập chăm chỉ hơn và/hoặc áp lực kinh tế, xã hội nhiều hơn buộc các em trai phải nghỉ học để đi làm ở cuối cấp hai [79] Một số trẻ em ở độ tuổi vị thành niên bỏ học

để đi lao động kiếm tiền tại địa phương hoặc tới các khu đô thị và các tỉnh lân cận Trên thực tế, có vẻ như tỷ lệ các em trai trung học phổ thông bỏ học nhiều là do nhu cầu hoặc mong muốn đi kiếm việc làm được trả lương [80]

Có lẽ do việc cải thiện mức sống gia đình, giảm số con của mỗi cặp vợ chồng, gia tăng sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế và tích cực triển khai các chương trình bình đẳng giới đã góp phần giảm bớt những định kiến giới và tạo nên cơ hội đi học ngày càng bình đẳng hơn cho trẻ em gái [30] Thậm chí xuất

Trang 40

phát từ thực tế cuộc sống gần đây, nhiều bậc cha mẹ có tâm lý lo ngại con gái sẽ khó lấy chồng nếu không được học hành tử tế, không có công ăn việc làm ổn định [22] Theo lý giải của Chương trình nghiên cứu ‘Những cuộc đời trẻ thơ’, trẻ em trai ở độ tuổi 15 bỏ học nhiều hơn không nhất thiết phản ánh sự phân biệt giới (đối

với các em học sinh nam) của cha mẹ mà có lẽ được giải thích bởi vì trẻ em gái thường có học lực và điểm thi chuyển cấp vào trung học phổ thông tốt hơn trẻ em học trai [90] Một nghiên cứu khác đưa ra kết luận, việc thực hiện các chính sách

của chính phủ về bình đẳng giới và thay đổi nhận thức của mọi người về bình đẳng giới đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ trẻ em gái đi học cao hơn trẻ em trai ở bậc trung học phổ thông [99]

Một số nghiên cứu đã xác nhận ảnh hưởng của bạn bè cùng trang lứa và cùng giới trong vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ em Một nghiên cứu đã phát hiện, áp lực bạn bè làm giảm giá trị giáo dục là một vấn đề đối với trẻ em nhóm Hmông và Bahnar Giáo viên và các phụ huynh tham gia nghiên cứu khẳng định rằng việc có một trẻ em gái nghỉ học cũng sẽ có ảnh hưởng đến việc tiếp tục theo học của các trẻ

em gái khác Những trẻ em gái người Bahnar bày tỏ việc không thích đi học vì các bạn gái khác cũng bỏ học, vì thế các em không muốn đi học một mình [5] Những người tham gia một nghiên cứu ở An Giang đã thừa nhận có những ảnh hưởng xấu

của bạn bè lên các hành vi học tập của trẻ em Cụ thể, tại một xã khảo sát trong thời gian một vài năm vừa qua, số trẻ em trai bỏ học nhiều hơn số trẻ em gái và lý do của việc bỏ học đó là từ những hành vi quậy phá xã hội như rượu chè, đánh lộn và nghiện trò chơi điện tử [59]

1.2.2 Y ếu tố dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với nhiều nhóm dân tộc vẫn còn lưu giữ ngôn ngữ và văn hóa đặc trưng riêng của mình Có những khác biệt rõ rệt về văn hóa, kinh tế và sự tham gia vào xã hội hiện đại trong số các nhóm dân tộc thiểu số Mặc dù gần đây đã có nhiều cải thiện về điều kiện kinh tế - xã hội ở vùng miền núi

và vùng xa vùng sâu, nhưng dân tộc thiểu số vẫn là nhóm dân số nghèo nhất và biệt lập nhất, dẫn đến trẻ em của các gia đình dân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với giáo dục Kết quả phân tích đa biến từ số liệu Tổng

Ngày đăng: 08/08/2020, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ActionAid Việt Nam (2010), “Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam”, Báo cáo nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam
Tác giả: ActionAid Việt Nam
Năm: 2010
3. Alejandro Portes (1998), “Vố n xã h ộ i: Ngu ồ n g ố c và nh ữ ng s ự áp d ụ ng nó trong xã hội học hiện đại (bản dịch)”, T ạ p chí Xã h ộ i h ọ c, (4), tr. 99-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội: Nguồn gốc và những sự áp dụng nó trong xã hội học hiện đại (bản dịch)”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Alejandro Portes
Năm: 1998
4. Báo cáo phát triển Việt Nam (2004), “Nghèo”, Báo cáo chung của các nhà tài trợ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo
Tác giả: Báo cáo phát triển Việt Nam
Năm: 2004
5. Bộ GD&ĐT, UNESCO, UNICEF (2008), “Nghiên cứu về chuyển tiếp trẻ em gái người dân tộc thiểu từ tiểu học lên trung học cơ sở”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về chuyển tiếp trẻ em gái người dân tộc thiểu từ tiểu học lên trung học cơ sở
Tác giả: Bộ GD&ĐT, UNESCO, UNICEF
Năm: 2008
6. B ộ Giáo d ục và Đào tạo (2014), “Báo cáo giáo dụ c cho m ọi ngườ i 2015 c ủ a Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo giáo dục cho mọi người 2015 của Việt Nam
Tác giả: B ộ Giáo d ục và Đào tạo
Năm: 2014
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNICEF Việt Nam (2013), “Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNICEF Việt Nam
Năm: 2013
8. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2008), “Báo cáo quốc gia lần thứ ba và lần thứ tư: Việt Nam thực hiện công ước quốc tế quyền trẻ em giai đoạn 2002-2007”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia lần thứ ba và lần thứ tư: Việt Nam thực hiện công ước quốc tế quyền trẻ em giai đoạn 2002-2007
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Năm: 2008
9. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, ILO (2014), “Điề u tra qu ố c gia v ề lao độ ng tr ẻ em 2012 - Các k ế t qu ả chính”, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia vềlao động trẻ em 2012 - Các kết quảchính
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, ILO
Năm: 2014
10. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, UNICEF, Viện Gia đình và Giới (2008), “Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, UNICEF, Viện Gia đình và Giới
Năm: 2008
11. Chung Á - Nguyễn Đình Tấn (1996), “Nghiên cứu xã hội học”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Chung Á - Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
12. C ộ ng hòa xã h ộ i ch ủ nghĩa Việt Nam (2003), “Kế ho ạch hành độ ng qu ố c gia giáo dục cho mọi người 2003-2015”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003-2015
Tác giả: C ộ ng hòa xã h ộ i ch ủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
13. Đặng Nguyên Anh (2007), “Lao động và việc làm của thanh niên Việt Nam”, Giang Thanh Long, Dương Kim Hồng (Chủ biên). Các v ấn đề xã h ộ i trong quá trình chuy ển đổ i và h ộ i nh ậ p kinh t ế ở Vi ệ t Nam, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động và việc làm của thanh niên Việt Nam”, Giang Thanh Long, Dương Kim Hồng (Chủ biên). "Các vấn đề xã hội trong quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2007
14. Đặng Nguyên Anh (2013), “Bảo trợ xã hội ở Việt Nam: khái niệm, thực tr ạ ng và gi ải pháp”, T ạ p chí Xã h ộ i h ọ c, (2), tr. 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội ở Việt Nam: khái niệm, thực trạng và giải pháp”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2013
15. Đỗ H ạnh Nga (2007), “Xung độ t tâm lý gi ữ a cha m ẹ và con l ứ a tu ổ i trung học cơ sở”, T ạ p chí Nghiên c ứu Gia đình và Gi ớ i, (2), tr. 68-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi trung học cơ sở”, "Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
Tác giả: Đỗ H ạnh Nga
Năm: 2007
16. Đỗ Thiên Kính (2003), “Phân hóa giàu - nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa giàu - nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thiên Kính
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
17. Dương Chí Thiện (2014), “Bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam”, T ạ p chí Khoa h ọ c xã h ộ i Vi ệ t Nam, (3), tr. 73-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Dương Chí Thiện
Năm: 2014
18. Emile Durkheim (1993), “Các quy tắc của phương pháp xã hội học”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học
Tác giả: Emile Durkheim
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
19. Francois Houtart & Genevieve Lemercinier (2001), “Xã hội học về một xã ở Việt Nam: Tham gia xã hội, Các mô hình văn hóa, Gia đình, Tôn giáo ở xã H ải Vân”, NXB Khoa h ọ c xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về một xã ở Việt Nam: Tham gia xã hội, Các mô hình văn hóa, Gia đình, Tôn giáo ở xã Hải Vân
Tác giả: Francois Houtart & Genevieve Lemercinier
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
20. Gary Becker (2010), “Vốn con ngườ i: Phân tích lý thuy ế t và kinh nghi ệ m, liên quan đặc biệt đến giáo dục (Sách tham khảo nội bộ)”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục (Sách tham khảo nội bộ)
Tác giả: Gary Becker
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2010
21. Geoffrey B. Hainsworth (2001), “Phát triển nguồn nhân lực”, Nolwen Henaff, Jean-Yves Martin (Biên tập khoa học). Lao độ ng, vi ệ c làm và ngu ồ n nhân l ự c ở Vi ệt Nam 15 năm Đổ i m ớ i, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực”, Nolwen Henaff, Jean-Yves Martin (Biên tập khoa học). "Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm Đổi mới
Tác giả: Geoffrey B. Hainsworth
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w