Việc tìm hiểu các yếu tố xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến tiếp cận giáodục THPT của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và là nhiệm vụ chính của luận án.Dựa trên những luận điểm đã phân
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TS Nguyễn Hữu Minh
2 PGS TS Đặng Thị Ánh Tuyết
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Giáo dục khuyến khích sự phát triển, khả năng linh hoạt và thích ứng, giúpcho con người phát triển quyền năng hơn, thay đổi hành vi và tiếp cận những cơ hội
to lớn trong cuộc sống Tầm quan trọng của giáo dục đối với cá nhân, cộng đồng vàđối với sự phát triển của một quốc gia được phản ánh bằng cách thừa nhận nó nhưmột quyền con người
Giáo dục trung học không chỉ để đưa những người trẻ tuổi vào con đường đếnvới thế giới công việc, mà còn cung cấp cho các quốc gia lực lượng lao động cógiáo dục mà họ cần để cạnh tranh trong thế giới công nghệ ngày nay Trình độ họcvấn đạt đến bậc trung học phổ thông (THPT) có thể giúp cá nhân thay đổi cuộc sốngbằng cách giảm nghèo, cải thiện kết quả sức khỏe, tiến bộ công nghệ và tăng sự gắnkết xã hội
Những ai không có điều kiện tiếp cận giáo dục THPT có nguy cơ bị loại khỏinhững cơ hội mới Những người trẻ tuổi chỉ có trình độ học vấn dưới THPT gặpphải sự hạn chế về cơ hội để phát huy tiềm năng và phát triển kỹ năng học tập Họphải đối mặt với những bất lợi trong việc làm, có nguy cơ nghèo đói và bị loại trừ
xã hội cao hơn Nhiều thanh niên sẽ bị buộc phải nhận lương thấp, làm việc không
an toàn và thường có rủi ro, và đất nước của họ sẽ bị tước đi những loại kỹ năng cóthể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đảm bảo tất cả những người trẻ tuổi đạt được ítnhất một trình độ giáo dục trung học tốt là rất quan trọng để cung cấp cho các quốcgia lực lượng lao động lành nghề mà họ cần để nhận được lợi tức nhân khẩu họccho phát triển
Trẻ em trong độ tuổi học THPT (15-18 tuổi) cũng là trẻ em ở nhóm tuổi vịthành niên Đây là một nhóm xã hội đặc biệt, có sự thay đổi rất lớn về tâm sinh lýtrong quá độ phát triển từ trẻ em lên người trưởng thành Lứa tuổi THPT cũng cómức độ trưởng thành đáng kể trong hoạt động học tập Khác với giai đoạn nhỏ tuổi,trẻ em trong độ tuổi THPT có nhiều mối quan hệ xã hội hơn, sự giao tiếp xã hộicũng nhiều hơn Vì thế, việc tìm hiểu tiếp cận giáo dục THPT trong giai đoạn tuổi
vị thành niên của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết
Trang 4Việc tìm hiểu các yếu tố xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến tiếp cận giáodục THPT của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và là nhiệm vụ chính của luận án.
Dựa trên những luận điểm đã phân tích, luận án lựa chọn vấn đề: “Các yếu tố xã
hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu Thông qua cách tiếp cận xã hội học, đặc biệt là tiếp cận xãhội học giáo dục, luận án mong muốn nhận diện đặc điểm, tính chất, các yếu tố ảnhhưởng, xu hướng biến đổi về tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em Việt Nam Qua đógóp phần cung cấp bằng chứng cho việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách
về giáo dục THPT cho trẻ em ở Việt Nam
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu: Nhận diện thực trạng, đặc điểm, và những khác biệttrong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởngđến tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu về tiếp cận giáo
dục và làm rõ các khái niệm công cụ như: tiếp cận giáo dục, giáo dục THPT, trẻ em
và một số khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án
- Tìm hiểu thực trạng, đặc điểm và những khác biệt về tiếp cận giáo dục trung họccủa trẻ em Việt Nam
- Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học của trẻ
em Đánh giá sự tác động của các yếu tố qua hai thời điểm 2016 và 2006
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao tiếp cận giáo dục THPT củatrẻ em Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục
THPT của trẻ em
3.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ em trong độ tuổi 15-18.
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung: Luận án nghiên cứu tiếp cận giáo dục THPT
của trẻ em theo các chỉ báo: i) Tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi; ii) Trẻ em trong
độ tuổi THPT không đi học; iii) Khả năng trẻ em theo học ở bậc giáo dục THPT Về
không gian: Phạm vi khảo cứu cấp quốc gia Về thời gian: Nghiên cứu hai thời
điểm khảo sát 2016, 2006
Trang 54 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và hệ biến số
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em Việt Nam có đặc điểm như thế nào?
- Các yếu tố xã hội tác động và biến đổi vai trò tác động như thế nào đến việc tiếpcận giáo dục THPT của trẻ em Việt Nam?
- Những khuyến nghị đặt ra trong vấn đề tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em là gì?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em có sự khác biệt theo các yếu tố xã
hội mang tính đặc trưng cá nhân và gia đình
Giả thuyết 2: Không có sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ
em
Giả thuyết 3: Trẻ em ở những nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số, gia đình đông người,
cư trú ở khu vực nông thôn, vùng xa, miền núi) có khả năng tiếp cận giáo dụcTHPT thấp hơn so với trẻ em khác
Giả thuyết 4: Trẻ em có bố mẹ với học vấn cao hơn và làm nghề chuyên môn có
mức độ tiếp cận giáo dục THPT cao hơn trẻ em có bố mẹ với học vấn thấp và làmnghề lao động giản đơn
5 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận, phương pháp luận:
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục; lý thuyết xung đột
xã hội, lý thuyết vốn con người trong nghiên cứu về tiếp cận giáo dục THPT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
- Thu thập, phân tích số liệu, tài liệu về giáo dục từ năm 2006-2016 Các văn kiện,đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề giáo dụccũng như xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Các văn bản pháp luật và chính sách như Luật Giáo dục, Luật trẻ em; Những chiếnlược về phát triển trẻ em, giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành khác;
Trang 6- Các nghiên cứu, đề tài, các cuộc khảo sát, điều tra về vấn đề trẻ em, giáo dục ởViệt Nam và ở nước ngoài.
5.2.2 Phương pháp định lượng
Luận án sử dụng số liệu Khảo sát mức sống dân cư (KSMS) Việt Nam năm
2016 và năm 2006 KSMS được triển khai trên phạm vi cả nước đại diện các vùng,khu vực thành thị nông thôn và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
để kiểm chứng những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục THPT của trẻ
em Ngoài ra, luận án còn hướng đến việc bổ sung vào hệ thống khái niệm và lýthuyết xã hội học, nhất là khái niệm tiếp cận giáo dục
Trang 7Đề xuất khuyến nghị trong việc thực hiện chính sách giáo dục cho trẻ em,thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục nhằm giúp trẻ em được tiếp cận vớigiáo dục THPT ngày một nhiều hơn, có chất lượng và hiệu quả hơn.
là tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em
Mẫu phân tích của hai cuộc khảo sát quốc gia về mức sống dân cư chỉ baogồm trẻ em đang sống trong các hộ gia đình, không bao gồm các nhóm trẻ em di cư,lang thang, đang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, lao động tự do…Sốliệu của KSMS hộ gia đình Việt Nam ở hai thời điểm chưa bao phủ hết các nhómtrẻ em có những đặc điểm riêng biệt cho nên những phân tích trong luận án chưaphản ánh hết đặc trưng của trẻ em nói chung trong xã hội Ngoài ra, luận án chỉ tậptrung phân tích các yếu tố xã hội còn các yếu tố mang tính chất vĩ mô, kinh tế, sinhhọc sẽ không được đề cập đến
9 Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung của luận án gồm 5 chương
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC THPT CỦA TRẺ EM 1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có hai xu hướng trái ngược nhau trongmối liên hệ giữa yếu tố giới với việc trẻ em đi học ở bậc THPT Nghiên cứu củamột số nước nhận thấy trẻ em gái đi học THPT thấp hơn trẻ em trai, ở một số nướckhác thì tỷ lệ nhập học của trẻ em trai lại thấp hơn
Có sự khác biệt dân tộc trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em trên toànthế giới Các nhóm dân tộc thiểu số gặp bất lợi về giáo dục có thể bắt nguồn từ các
Trang 8mô hình phân biệt đối xử và kỳ thị văn hóa lâu đời và thường xuyên hàng thế kỷ.Tương tác với sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội đã duy trì sự loại trừ xã hội tronggiáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số.
Một số nghiên cứu đã tìm thấy một mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa giữagiáo dục của cha mẹ và giáo dục THPT của trẻ em Sự tham gia của các bậc cha mẹđóng một vai trò quan trọng trong việc nâng nhu cầu tiếp cận giáo dục của trẻ em,trong việc tạo ra áp lực nâng cao chất lượng giáo dục và trong việc nâng cao tinhthần trách nhiệm của các cơ sở giáo dục Cha mẹ ảnh hưởng đến hành vi của trẻ
em, do đó dễ dàng ảnh hưởng đến quyết định đi học, bằng cách tác động đếnnhững ưu tiên cá nhân đối với giáo dục thông qua môi trường gia đình, và bằngcách giúp phát triển các kỹ năng hành vi của con cái họ
Cấu trúc nhân khẩu học của hộ gia đình có ảnh hưởng đến quá trình tiếp cậngiáo dục THPT của trẻ em Số lượng thành viên hộ gia đình có mối quan hệ với khảnăng được đi học của trẻ em đã được nghiên cứu và kiểm chứng trên toàn thế giới.Một quan điểm rất có ảnh hưởng khi cho rằng trẻ em trong các gia đình lớn nhậnđược đầu tư ít hơn từ cha mẹ so với trẻ em từ các gia đình nhỏ hơn Trong hộ giađình lớn hơn, cha mẹ đầu tư vào việc đi học của con cái ít hơn vì thu nhập trên đầungười có thể rất thấp do tỷ lệ phụ thuộc cao hơn
Bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em giữa nông thôn vàthành thị diễn ra phổ biến trên toàn cầu Có sự khác biệt lớn về cơ hội tiếp cận vàchất lượng giáo dục ở nông thôn và đô thị Khu vực nông thôn ở nhiều nước có xuhướng nghèo đói cao hơn và rơi vào nhóm ngoài lề hơn trong giáo dục
Những người sống ở vùng xa xôi và những vùng dân cư thưa thớt phải chịuthiệt thòi do thiếu việc tiếp cận trực tiếp trường học và điều này vẫn là một vấn đềvới nhiều quốc gia, nhất là ở cấp trung học
1.2 Nghiên cứu của Việt Nam
Các cuộc khảo sát quốc gia đều cho thấy có những thành tựu rõ rệt về bìnhđẳng giới trong tiếp cận giáo dục và trẻ em gái được đi học với tỷ lệ cao hơn trẻ emtrai Con gái học tập chăm chỉ hơn và/hoặc áp lực kinh tế, xã hội ít hơn nên đi họcTHPT nhiều hơn Bên cạnh đó, có lẽ do việc cải thiện mức sống gia đình, giảm sốcon của mỗi cặp vợ chồng, gia tăng sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh
Trang 9tế và tích cực triển khai các chương trình bình đẳng giới đã góp phần tạo nên cơ hội
đi học ngày càng bình đẳng hơn cho trẻ em gái
Những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đi học THPT của trẻ em dân tộc thiểu sốthấp hơn trẻ em dân tộc Kinh là do những rào cản về định kiến, quan niệm Một sốnghiên cứu khác cho rằng, trẻ em người dân tộc thiểu số có khả năng tiếp cận giáodục thấp hơn người Kinh là do những rào cản về nghèo đói, phải làm việc, cơ sở vậtchất nhà trường thiếu thốn và chất lượng dạy học thấp Các tỷ lệ nhập học thấp hơn
ở nhóm dân tộc thiểu số là do các chi phí cơ hội và chi phí tiền mặt cao hơn và thiếunhận thức phù hợp về giáo dục
Nghiên cứu về ảnh hưởng của học vấn bố mẹ đối với tiếp cận giáo dục THPTcủa trẻ em ở Việt Nam có những nét tương đồng với các nghiên cứu trên thế giới.Tác động của học vấn bố mẹ đối với khả năng đi học THPT của con cái là do cácbậc bố mẹ được hưởng sự giáo dục tốt thì họ có khả năng am hiểu tốt hơn về cáchthức sử dụng các dịch vụ giáo dục Trình độ học vấn của bố mẹ cao thì có thể manglại thu nhập và có mức sống cao hơn, nhờ đó mà các hộ gia đình mới có thể dànhthời gian và kinh phí cho con cái học tập
Những nghiên cứu ở Việt Nam cũng phát hiện quy mô gia đình ảnh hưởngđến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em như các nghiên cứu trên thế giới Trongmột hộ gia đình có quy mô lớn, chi tiêu giáo dục cho mỗi trẻ em thường thấp hơn sovới hộ gia đình nhỏ vì phải phân bổ nguồn lực cho nhiều thành viên
Một số nghiên cứu đã phân tích sự khác biệt giữa thành thị và nông thôntrong tiếp cận giáo dục của trẻ em ở Việt Nam và có những lý giải khác nhau Hộgia đình ở thành thị có xu hướng sử dụng nhiều nguồn lực hơn trong giáo dục chocon cái so với các hộ gia đình nông thôn Điều kiện sống và cơ hội tiếp cận giáo dục
ở thành thị cao hơn và thuận lợi hơn, mạng lưới trường học các cấp cũng dày đặchơn với cơ sở vật chất tốt hơn và chất lượng giáo dục đồng đều, đặc biệt là nhậnthức về tầm quan trọng của giáo dục của bố mẹ thành thị tốt hơn so với nông thôn
Có sự khác biệt giữa các vùng trong lĩnh vực tiếp cận giáo dục THPT của trẻ
em So với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trẻ em sống ở Bắc Bộ có xác suất
đi học cao hơn, trong khi trẻ em sống ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam và đồng bằngsông Cửu Long ít đi học hơn
Trang 10Tiểu kết chương 1
Thông qua việc phân tích các tài liệu nước ngoài và trong nước, chương 1trình bày thực trạng, đặc điểm, tính chất của quá trình tiếp cận giáo dục THPT củatrẻ em Các nghiên cứu, khảo sát đã cho thấy một bức tranh khái quát về tình trạngtiếp cận giáo dục THPT của trẻ em theo các yếu tố về đặc trưng cá nhân, gia đình vàcộng đồng Bên cạnh đó, tổng quan tài liệu đã giúp cho luận án định hình được cácmối quan hệ, tương quan giữa các yếu tố xã hội với quá trình tiếp cận giáo dụcTHPT của trẻ em
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU TIẾP CẬN GIÁO DỤC THPT 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Giáo dục
“Giáo dục là hoạt động đặc biệt nhằm tác động một cách có hệ thống, hướng tới sự phát triển cá nhân nhằm làm cho cá nhân có được những năng lực phẩm chất cần thiết, được thực hiện trong các tổ chức chính quy dành cho mục đích
đó và được tiêu chuẩn hóa”.
2.1.2 Giáo dục THPT
Luật Giáo dục Việt Nam (2019) quy định: “giáo dục THPT là bậc học cuốicùng của hệ thống giáo dục quốc dân, được thực hiện trong ba năm học, từ lớpmười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trunghọc cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi”
Trang 11án được đề cập là nhóm dân số từ 15 đến 18 tuổi (bởi vì tuổi của trẻ em ở học kỳ 2của lớp 12 là 18 tuổi).
2.1.5 Các yếu tố xã hội
Là một sản phẩm đặc biệt của xã hội nên giáo dục có hình thù, kích cỡ, dạngthức của các yếu tố xã hội thể hiện dưới những dáng vẻ “hữu hình” có thể quan sátđược Xã hội có những thành phần/giai tầng, nhóm xã hội nào thì trong giáo dục cóđầy đủ các thành phần giai tầng đó Nhìn bên trong, giáo dục có cấu trúc xã hộiđược tạo bởi các thành phần xã hội, nhóm trẻ em với các đặc trưng khác nhau Vớinhững nguồn gốc xuất thân từ các nhóm khác nhau, việc tiếp cận giáo dục THPTcủa trẻ em sẽ có sự khác biệt, thậm chí bất bình đẳng với nhau
2.2 Các thuyết vận dụng trong nghiên cứu
2.2.1 Lý thuyết xung đột xã hội
Sử dụng lý thuyết xung đột xã hội sẽ giúp luận án tìm hiểu tiếp cận giáo dụcTHPT của trẻ em dưới hình thức các cơ hội đi học và duy trì giáo dục được phân bổnhư thế nào giữa các nhóm xã hội Lý thuyết xung đột cho rằng sự không bình đẳngtrong xã hội đã ảnh hưởng đến mô hình giáo dục và sự tiếp cận giáo dục Nhữngkhác biệt/ bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em là do địa vị xãhội, nguồn gốc hay giai tầng xã hội của mình
2.2.2 Lý thuyết vốn con người
Cơ sở cho việc áp dụng lý thuyết vốn con người là các gia đình đưa ra cácquyết định đầu tư vào giáo dục cũng tương tự như các nhà kinh doanh đưa ra quyếtđịnh đầu tư bằng cách tính toán, so sánh lợi ích và chi phí Các gia đình sẵn sàng bỏ
ra các khoản chi phí cần thiết cho giáo dục THPT bởi vì thực ra đó là những khoảnđầu tư cho sự phát triển trong tương lai của trẻ em Nếu được học tập và hoàn thànhchương trình giáo dục THPT thì trẻ em sẽ có trình độ học vấn và kỹ năng chuyênmôn nghề nghiệp cần thiết để tìm được việc làm trên thị trường lao động và tăngđược năng suất lao động, đảm bảo thu nhập
2.3 Chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về giáo dục trung học phổ thông
Đảng ta luôn coi phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, khôngngừng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực để có được hành trang từng bước xây
Trang 12dựng nền kinh tế tri thức Đầu tư cho lĩnh vực giáo dục là đầu tư phát triển, trực tiếpbảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Có thể nói, hệ thống chính sách có liên quan đếnviệc tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em ở Việt Nam là tương đối đầy
đủ và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ Để thực hiện chủ trương, quan điểm củaĐảng về phổ cập giáo dục trung học phổ thông và thực hiện quyền con người, Nhànước cũng đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều Luật, chính sách về giáo dục
Tiểu kết Chương 2
Các khái niệm, thao tác hóa các chỉ báo nghiên cứu về tiếp cận giáo dụcTHPT của trẻ em đã được làm rõ Việc tìm hiểu, phân tích các lý thuyết nhằm xácđịnh các mối quan hệ, tính chất và nội dung giữa các yếu tố xã hội và tiếp cận giáodục THPT của trẻ em đã được thực hiện, từ đó xác định khung phân tích cho nghiêncứu Luận án đã phân tích về những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nướckhi nhìn nhận, đánh giá về lĩnh vực giáo dục trong thời gian qua và một số địnhhướng, giải pháp trong thời gian tới
Chương 3 NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM ĐI HỌC
THPT ĐÚNG TUỔI 3.1 Đặc điểm chung và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi
Có thể thấy rằng, sau 10 năm (2006~2016) tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậcTHPT của trẻ em trong phạm vi cả nước có xu hướng tăng dần, từ 53,9% năm 2006tăng lên đạt 68,6% vào năm 2016 Tỷ lệ trẻ em Việt Nam đi học đúng tuổi ở bậcTHPT cao hơn so với trung bình chung của thế giới và cao hơn so với các nướccùng nhóm thu nhập dưới trung bình Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em Việt Namvẫn có sự khác biệt khá lớn giữa các tỉnh/ thành phố
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc trẻ em đi học THPT đúng tuổi
3.2.1 Yếu tố giới
Phân tích của luận án đối với số liệu KSMS ở hai thời điểm khảo sát cáchnhau 10 năm cho thấy, trẻ em gái có tỷ lệ đi học THPT đúng tuổi cao hơn so với trẻ
Trang 13em trai Năm 2006, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc THPT của trẻ em gái là 56,4%, caohơn gần 5 điểm phần trăm so với trẻ em trai, 51,5% Sau 10 năm, chênh lệch trong
tỷ lệ đi học đúng tuổi bậc THPT giữa trẻ em gái và trẻ em trai tăng lên, 73,6% sovới 63,7% Như vậy, sự bất bình đẳng giới nghiêng về trẻ em trai trong tỷ lệ đi họcTHPT đúng tuổi
3.2.2 Yếu tố dân tộc
Tỷ lệ trẻ em dân tộc Kinh đi học THPT đúng tuổi cao hơn so với trẻ em dântộc thiểu số ở cả hai thời điểm khảo sát Khoảng cách trong tỷ lệ đi học THPT đúngtuổi giữa trẻ em dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số tăng lên 7 điểm phần trăm sau 10năm Qua đó cho thấy, trẻ em dân tộc thiểu số vẫn là một nhóm xã hội chịu nhiềuthiệt thòi và rất cần sự hỗ trợ nhiều hơn nữa về mặt chính sách nhằm duy trì quátrình tham gia học đường ở bậc THPT
3.2.3 Yếu tố học vấn của bố mẹ
Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ của yếu tố học vấn mẹ hoặc bố với
tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi có sự tương đồng với nhau cả về xu hướng và tỷ
lệ Trẻ em ở nhóm mẹ hoặc bố có học vấn cao hơn có tỷ lệ đi học THPT đúng tuổicao hơn Chính những thành công về học vấn của cha mẹ đã giúp họ tự tin hơn vànhận thức tốt hơn về quyền học tập của con cái Những năng lực và kỹ năng cùngvới truyền thống giáo dục của gia đình đều là những cơ sở quan trọng để những bậccha mẹ có học vấn cao hơn quan tâm hơn đến việc đi học đúng tuổi ở bậc THPT củatrẻ em
3.2.4 Yếu tố nghề nghiệp của bố mẹ
Nghề nghiệp của mẹ và bố có mối quan hệ với tỷ lệ trẻ em đi học THPTđúng tuổi ở cả hai thời điểm khảo sát Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ trẻ em đihọc THPT đúng tuổi luôn thấp nhất ở nhóm có mẹ hoặc bố làm nghề lao động giảnđơn Có thể là do nghề nghiệp của bố mẹ có chuyên môn hơn thì cũng có vốn xã hộicao hơn và qua đó có ảnh hưởng đến việc con cái được đi học THPT đúng tuổi caohơn
3.2.5 Yếu tố thành thị-Nông thôn
Phân tích của luận án đối với số liệu năm 2016 cho thấy, tỷ lệ đi học THPTđúng tuổi của trẻ em ở khu vực thành thị cao hơn so với trẻ em ở khu vực nông