Nội dung Nội dung của luận vcủa luận văn, chúng ăn, chúng tôi tập trtôi tập trung vào các ung vào các mặt sau:mặt sau: - Nghiên cứu những đặc điểm về phương diện cấu tạo của các địa danh
Trang 1ĐỊA DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
HằngHD: PGS Hà Quang NăngTrường ĐHSP Thái Nguyên, 2008
MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tàiLí do chọn đề tài1.1 Địa danh là một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việtnói riêng Nghiên cứu địa danh một vùng cung cấp cho ta những cơ sở để tìm hiểunhững cơ chế định danh của một sự vật, hiện tượng Mỗi ngôn ngữ có cách địnhdanh riêng
1.2 Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hoá, cư dân của một vùngnhất định Địa danh lưu giữ những trầm tích của lịch sử, văn hoá, phong tục, tậpquán cư dân của một vùng đất Nghiên cứu địa danh sẽ giúp nghiên cứu văn hóa,lịch sử của vùng đất ấy
1.3 Địa danh có những nguyên tắc riêng trong cấu tạo, trong cách gọi tên, cóthể một địa danh có nhiều tên gọi khác nhau, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khácnhau Nghiên cứu địa danh giúp nghiên cứu lịch sử một vùng đất, giúp khám phá sựảnh hưởng và tác động của những nhân tố bên ngoài vào cách đặt tên địa danh: đất
nước học, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử tộc người… Trong hoàn cảnh một vùng đất
có nhiều dân tộc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh có nhiều dấu tích từ vựng của cácngôn ngữ Mỗi địa danh được hình thành trong một hoàn cảnh văn hoá, lịch sử nhấtđịnh và còn lưu dấu mãi về sau Nhiều địa danh thường mang tên người, cây cỏ,cầm thú, sự vật, địa hình thiên nhiên…
1.4 Điện Biên nói chung, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên nóiriêng là một trong những mảnh đất giàu ý nghĩa lịch sử Khảo sát địa danh thành phố Điện Biên P
phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Bihủ và huyện Điện Biên giúp chúng ta nghên giúp chúng ta nghiên cứu một chặng điên cứu một chặng đườngườnglịch sử lâu dài và hào hùng của dân tộc ta; giúp chúng ta học tập, giữ gìn truyền
28
Trang 2thống văn hoá dân tộc, đồng thời góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hoá xãhội và mở rộng phát triển du lịch của tỉnh Điện Biên Với những lý do nêu trên,chúng tôi chọn đề tài “
chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên Nghiên cứu cứu địa địa danh danh thành thành phố phố Điện Điện Biên Biên Phủ Phủ và và huyệnhuyện Điện Bi
Điện Biênên” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn.” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn
2.2
2.2. Nội dung ng Nội dung nghiên cứuhiên cứuXác định những cơ sở lí luận liên quan đến việc nghiên cứu địa danh và địadanh học
Nội dung Nội dung của luận vcủa luận văn, chúng ăn, chúng tôi tập trtôi tập trung vào các ung vào các mặt sau:mặt sau:
- Nghiên cứu những đặc điểm về phương diện cấu tạo của các địa danh địahình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo của thành phố Điện Biên Phủ
và huyện Điện Biên
- Tìm hiểu về phương thức định danh các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vịdân cư và công trình nhân tạo của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên đồngthời qua đó bước đầu tìm hiểu về nội dung ngữ nghĩa địa danh
- Ở một
- Ở một chừng mực nhất định tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ - chừng mực nhất định tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoávăn hoá
và lịch sử trong những địa danh nổi tiếng của thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên
33 Lịch sử vấn đềLịch sử vấn đề3.1
3.1. Vấn đề nghiên cứu địa danh trên Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới thế giới Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ lâu trên thế giới Ở TrungQuốc, ngay từ thời Đông Hán (32 - 39 sau Công nguyên), Ban Cố đã ghi chép hơn
4000 địa danh, trong đó một số đã được giải thích rõ nguồn gốc và ý nghĩa
29
Trang 3Ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học được chính thức ra đời vàocuối thế kỷ XIX Năm 1872, J.J Êgi (Thuỵ Sĩ) viết
cuối thế kỷ XIX Năm 1872, J.J Êgi (Thuỵ Sĩ) viết “Địa danh học“Địa danh học” và năm 1903,” và năm 1903,J.W Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm
J.W Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm “Địa danh học”.“Địa danh học”. Thời kỳ đầu, các Thời kỳ đầu, cáctác phẩm địa danh học chú trọng khảo chứng nguồn gốc địa danh
Từ thế kỷ XX, bước vào giai đoạn nghiên cứu tổng hợp về địa danh, J.Glliénon đã viết
Glliénon đã viết “Átlát ngôn ngữ Pháp”“Átlát ngôn ngữ Pháp”, nghiên cứu địa danh theo hướng, nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lí
phát triển địa lí học Năm 1926, A Dauzat (người Pháp) học Năm 1926, A Dauzat (người Pháp) đã viếtđã viết “Nguồn“Nguồn gốc và sự gốc và sự phát triể
phát triển địa danh”n địa danh”, đề xuất phương pháp văn hoá địa lí , đề xuất phương pháp văn hoá địa lí học để nghiên cứu các lớphọc để nghiên cứu các lớpniên đại của địa danh
Từ sau năm 1960 đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được
sự nghiên cứu địa danh đi sâu vào bản chất bên trong của đối tượng
Những côn Những công trình nghg trình nghiên cứu địa iên cứu địa danh ở các qdanh ở các quốc gia khuốc gia khác nhau đã góác nhau đã góp phầnp phầnminh chứng sự phong phú, đa dạng của địa danh cũng như những vấn đề nghiên cứutrong lĩnh vực này Chẳng hạn, Ch Rostaing (1965) với “
trong lĩnh vực này Chẳng hạn, Ch Rostaing (1965) với “ Les noms Les noms de lieuxde lieux” đã nêu” đã nêu
ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu
tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ
âm học địa phương Đây là một chuyên khảo bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I.Popov đã đưa ra trước đó
3.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở 3.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt NamViệt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề địa danh được quan tâm từ rất sớm Các tài liệu “
Hán thư Hán thư ”” , , ““ Địa lí Địa lí chí chí ”” , , ““ Hậu Hán Hậu Hán thư thư ”” , , ““Tấn thư Tấn thư ”” trong thời Bắc thuộc có đề cậptrong thời Bắc thuộc có đề cậpđến địa danh Việt Nam Các tài liệu này đều do người Hán viết, phục vụ trực tiếpcho cuộc xâm lược nước ta Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm của các nhànghiên cứu Việt Nam như vào khoảng thế kỉ xv có tác phẩm “
nghiên cứu Việt Nam như vào khoảng thế kỉ xv có tác phẩm “ Dư Dư địa địa chí chí ” của” của
30
Trang 4Nguyễn T Nguyễn Trãi, khoảng trãi, khoảng thế kỉ XVIII có thế kỉ XVIII có tác phẩm “ác phẩm “ Phủ biên tạ Phủ biên tạp lụcp lục” của Lê Quý Đôn.” của Lê Quý Đôn.Tuy không nhiều nhưng những công trình này đã góp phần quan trọng vào việcnghiên cứu địa danh Việt Nam.
Vấn đề nghiên cứu địa danh Việt Nam có được những bước tiến đáng kể hơn
là từ những năm 1960 trở đi Hoàng Thị Châu với
là từ những năm 1960 trở đi Hoàng Thị Châu với “Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ “Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông”
đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” (1964) được xem như là người cắm cột (1964) được xem như là người cắm cộtmốc đầu tiên trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học Lê Trung Hoavới
với “Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh”“Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” (1991) đã đưa những vấn đề lý thuyết(1991) đã đưa những vấn đề lý thuyếtlàm cơ sở cho sự phân tích và
làm cơ sở cho sự phân tích và chỉ ra các đặc chỉ ra các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa…điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa…của thành phố Hồ Chí Minh Đến 1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS
“Những đặc điểm chính địa danh Hải Phòng”
“Những đặc điểm chính địa danh Hải Phòng” đã bổ sung thêm những vấn đề lý đã bổ sung thêm những vấn đề lýthuyết mà Lê Trung Hoa đã đưa ra trước đó Tiếp sau là luận án tiến sĩ của Từ ThuMai với
Mai với “Nghiên cứu địa danh Quảng Trị”“Nghiên cứu địa danh Quảng Trị” (2004)(2004) , , Phan Xuân Đạm vớiPhan Xuân Đạm với “Địa danh “Địa danh Nghệ
Nghệ An”An” (2005)… Một loạt các luận văn thạc sĩ khảo sát địa danh ở nhiều địa (2005)… Một loạt các luận văn thạc sĩ khảo sát địa danh ở nhiều địa phương đã được công
phương đã được công bố Những công bố Những công trình này đều trình này đều có những đóng có những đóng góp đáng trângóp đáng trântrọng khi tiếp cận vấn đề địa danh học dưới cách nhìn ngôn ngữ học
Ngo Ngoài ài ra còn mộra còn một số cônt số công trìng trình ra đời dướh ra đời dưới dạng si dạng sáchách, từ điển, từ điển, sổ tay nh, sổ tay như cácư cáccông trình của Trần Thanh Tân, Đinh Xuân Vịnh… Các công trình này đều nghiên cứumột cách công phu nhưng nặng về tập hợp tư liệu, tính lý thuyết chưa cao
3.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở thành phố Điện Biên và huyện Điện Biên
Địa danh Điện Biên nói chung, địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên nói riêng là đối tượng hết sức mới mẻ, chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu Hiện mới chỉ có tác phẩm “
nghiên cứu Hiện mới chỉ có tác phẩm “Sông núi Điện BiênSông núi Điện Biên” (2000) của Trần Lê” (2000) của Trần LêVăn là tác phẩm gh
Văn là tác phẩm ghi lại i lại những câu chunhững câu chuyện về một vài vùnyện về một vài vùng đất ở Điện Biên mà tág đất ở Điện Biên mà táccgiả có dịp đặt chân đến Và rải rác trong một số cuốn sách hay bài báo có đề cập đếnmột vài địa danh nổi tiếng trong tỉnh, chẳng hạn bài báo “
một vài địa danh nổi tiếng trong tỉnh, chẳng hạn bài báo “ Thành Bản PhủThành Bản Phủ” (1991)” (1991)của Đỗ Văn Ninh trong tạp chí Khảo cổ học, tác phẩm “
của Đỗ Văn Ninh trong tạp chí Khảo cổ học, tác phẩm “ Di tích lịch Di tích lịch sử và sử và văn hóavăn hóa Điện
Điện Biên Biên PhủPhủ” (2008) của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hay tác” (2008) của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hay tác
31
Trang 5phẩm “ phẩm “ Địa danh Địa danh và những vấn và những vấn đề lịch sử - đề lịch sử - văn hóa của văn hóa của các dân tộcác dân tộc nhóm ngôc nhóm ngôn ngữ n ngữ Tày - Thái Việt Nam” (2009)
Tày - Thái Việt Nam” (2009) của Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ V.của Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ V
Nhìn Nhìn chung chung các các khuynh hướng khuynh hướng nghiên cứu nghiên cứu địa địa danh danh ở ở Việt Việt Nam Nam rất rất phongphong phú, đa dạng Chính sự phon
phú, đa dạng Chính sự phong phú, đa dạng ấy đã giúp chúng ta nhìn nhận địa danhg phú, đa dạng ấy đã giúp chúng ta nhìn nhận địa danh
ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về địa danh theogóc độ ngôn ngữ học còn chưa nhiều
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàiTrước chúng tôi đã có một số công trình luận án tìm hiểu địa danh TP HồChí Minh, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Trị, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và
khác Với địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên, từ trước tới nayhầu như chưa được khảo sát
hầu như chưa được khảo sát và nghiên cứu Đây là và nghiên cứu Đây là công trình đầu tiên khảo sát, tìmcông trình đầu tiên khảo sát, tìmhiểu một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống địa danh ở địa bàn này về các phươngdiện cấu tạo, nguồn gốc, đặc điểm phương thức định danh và ý nghĩa các địa danhđịa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo Bên cạnh đó luận văncũng chỉ ra một vài đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của địa danh trong mối quan hệvới địa lí, lịch sử, dân cư và ngôn ngữ Kết quả nghiên cứu của luận văn về địa danh
có thể là tư liệu quý cho ngành địa phương học, cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóaĐiện Biên, góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, du lịch của địa phương.Đồng thời kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích
trong việc giảng dạy lịch sử địa phương, trong giáo dục truyền thống, giữ gìn, pháthuy những giá trị lịch sử, văn hoá của địa phương
5 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, công việc đầu tiên là phải thu thập tưliệu, bổ sung và chỉnh lí các
liệu, bổ sung và chỉnh lí các thông tin, thông số của địa danh Mặt khác thông tin, thông số của địa danh Mặt khác phải tra cứuphải tra cứucác tài liệu về lịch sử, địa lí, truyền thống văn hóa của thành phố Điện Biên Phủ vàhuyện Điện Biên Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
32
Trang 6- Phương pháp điều tra, điền dã,
- Phương pháp điều tra, điền dã, khảo sát thực tế, thu thập tất khảo sát thực tế, thu thập tất cả các địa danhcả các địa danhtrên hai địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
- Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp giúp chúng tôi tập hợp và phânloại các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo trongthành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên trên cơ sở thu thập địa danh qua cácnguồn khác nhau Đồng thời phương pháp này được sử dụng để phản ánh những đặcđiểm cấu tạo và đặc trưng ngữ nghĩa của các yếu tố tên riêng trong phức thể địa danh
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa vào các cứ liệu ngôn ngữ, đặc điểmtâm lí của con người và quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, nghiên cứu một số địadanh để tìm hiểu xuất xứ, nguồn gốc của một số địa danh nổi tiếng trong thành phốĐiện Biên Phủ và huyện Điện Biên
5.2 Tư liệu nghiên cứuVới mục đích phản ánh đầy đủ, trung thực hệ thống địa danh địa hình thiênnhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo trong thành phố Điện Biên Phủ vàhuyện Điện Biên, chúng tôi đã tiến hành tập hợp các tư liệu cần thiết từ nhữngnguồn sau:
- Dựa vào tư liệu điều tra điền dã để thu thập tư liệu, ghi chép, bổ sung,chỉnh lí các thông số, thông tin của từng địa danh
- Dựa vào niên giám thống kê của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
- Dựa vào bản đồ các loại của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
- Dựa vào một số các công trình nghiên cứu về văn hoá, lịch sử, tôn giáo,kinh tế của địa phương
- Dựa vào những tư liệu lưu giữ ở chính quyền địa phương Đây là tư liệuquan trọng nhất, có tính pháp lí để đảm bảo tính minh xác
quan trọng nhất, có tính pháp lí để đảm bảo tính minh xác của những điều trình bàycủa những điều trình bàytrong luận văn
6 Cấu trúc luận văn Ngoài phần m
Ngoài phần mở đầu, kết luậnở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo , tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vvà phụ lục, luận văn gồm baăn gồm bachương:
Chương 1Chương 1 Những cơ sở lí thuyết liên quan Những cơ sở lí thuyết liên quan đến địa danh và địa đến địa danh và địa danh họcdanh học
33
Trang 7Chương này sẽ trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triểnkhai những chương mục tiếp theo Bên cạnh đó, những vấn đề về
khai những chương mục tiếp theo Bên cạnh đó, những vấn đề về địa lí, lịch sử, dânđịa lí, lịch sử, dân
cư, văn hóa và ngôn ngữ trên địa
cư, văn hóa và ngôn ngữ trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biênbàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biêncùng một số kết quả thu thập, phân loại các địa danh trên địa bàn cũng được trình bày tóm t
bày tóm tắt, làm cơ sắt, làm cơ sở cho nội ở cho nội dung của ldung của luận vănuận văn
Chương 2 Đặc điểm cấu tạo của địa danh thành phố Điện Biên Phủ vàhuyện Điện Biên
Chương này sẽ xác định cấu trúc phức thể Chương này sẽ xác định cấu trúc phức thể địa danh của thành phố Điện Biênđịa danh của thành phố Điện BiênPhủ và huyện Điện Biên gồm thành tố chung và tên riêng Nội dung của chương sẽ
đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo của địa danh trong địa bàn và những phương t
phương thức định hức định danh nhữdanh những địa danh ng địa danh đó.đó
Chương 3 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong địa danh thành phố ĐiệnBiên Phủ và huyện Điện Biên
Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh.Qua đó xác định được lí do đặt tên của địa danh và xác lập được một hệ thống cáctrường nghĩa và bộ phận nghĩa của các yếu tố cấu tạo Đồng thời nội dung củachương sẽ khai thác những ảnh hưởng của địa lí, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ đối vớimột số địa danh trong địa bàn Qua đó thấy được nét riêng của địa danh thành phốĐiện Biên Phủ và huyện Điện Biên được phản ánh như thế nào
34
Trang 8CHƯƠNG 1NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH
VÀ ĐỊA DANH HỌC
1.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐỊA DANH
Cuộc sống của con Cuộc sống của con người gắn với những điểm địa lí người gắn với những điểm địa lí khác nhau Những điểmkhác nhau Những điểmđịa lí này được gọi bằng những từ ngữ riêng Đó là những tên gọi địa lí (địa danh). Những tên gọi này tạo nên một
Những tên gọi này tạo nên một hệ thống riêng và tồn tại hệ thống riêng và tồn tại trong vốn từ của các trong vốn từ của các ngônngônngữ khác nhau trên thế giới Những tên gọi địa lí, địa danh ấy được thể hiện bằngthuật ngữ
thuật ngữ toponimatoponima hayhay toponomatoponoma (có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp) với ý nghĩa “ (có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp) với ý nghĩa “têntên gọi điểm
gọi điểm địa lí địa lí ”.”
Cần phải hiểu đúng khái niệm địa danh theo phạm vi xuất hiện của nó Nếuhiểu đúng theo lối chiết tự thì “địa danh” là tên đất Thế nhưng, khái niệm này cần phải hiểu rộng
phải hiểu rộng hơn vì hơn vì đây chính đây chính là đối là đối tượng nghiên cứu của tượng nghiên cứu của một ngành khoa một ngành khoa học.học
Cụ thể địa danh không chỉ là
Cụ thể địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa tên gọi của các đối tượng địa lí tồn tại trên trái lí tồn tại trên trái đất Nóđất Nó
có thể là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên Đối tượng địa lí cư trú hay
là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng
để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí Vì thế, nó hoạt động và chịu sự tác động, chi phối của
phối của các các qui luật qui luật ngôn ngữ ngôn ngữ nói chung nói chung về mặt về mặt ngữ âm, ngữ âm, từ vựng từ vựng - - ngữ nghĩa ngữ nghĩa vàvàngữ pháp
35
Trang 9Hiện nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau vềđịa danh Nhà ngôn ngữ học Nga A.V Superanskaja trong cuốn “
địa danh Nhà ngôn ngữ học Nga A.V Superanskaja trong cuốn “ Địa danh là Địa danh là gì?gì?””
đã cho rằng: địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi “
đã cho rằng: địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi “ những địa điểm, mục tiêunhững địa điểm, mục tiêuđịa lí”, “những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là
địa lí”, “những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạonhững vật thể tự nhiên hay nhân tạovới sự định vị xác định trên bề mặt trái đất
với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất ” [43, tr.13].” [43, tr.13]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học đã tiếp cận địa danh từ hai góc
độ khác nhau là nghiên cứu địa danh từ góc độ địa lí - văn hóa và nghiên cứu địadanh từ góc độ ngôn ngữ học Đại diện cho hướng nghiên cứu thứ nhất, NguyễnVăn Âu cho rằng: “
Văn Âu cho rằng: “ Địa danh Địa danh là tên đấlà tên đất, tên sônt, tên sông, núi, làg, núi, làng mạc… hng mạc… hay là tên ay là tên các địacác địa phương, c
phương, các dân tộác dân tộcc” [5, tr.15].” [5, tr.15]
Đại diệĐại diện cho hướnn cho hướng nghiêg nghiên cứu n cứu thứ hai là Lê Truthứ hai là Lê Trung Hoa, Ngng Hoa, Nguyễn Kiuyễn KiênênTrường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm
Lê Trung Hoa cho rằng: “
Lê Trung Hoa cho rằng: “ Địa danh là n Địa danh là những từ hoặc ngữ cố đhững từ hoặc ngữ cố định được dùng ịnh được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hànhchính, các vùng lãnh thổ
chính, các vùng lãnh thổ ” [26, tr.21].” [26, tr.21]
Nguyễn Kiên Trường quan Nguyễn Kiên Trường quan niệm: “niệm: “ Địa danh Địa danh là tên là tên riêng của các riêng của các đối tượng đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất
địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất ” [48, tr 16].” [48, tr 16]
Từ Thu Mai đưa ra cách hiểu: “
Từ Thu Mai đưa ra cách hiểu: “ Địa danh là Địa danh là những từ ngữ những từ ngữ chỉ tên riêng chỉ tên riêng củacủacác đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất
các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất ” [31, tr.21].” [31, tr.21]
Phan Xuân Đạm cho rằng: “Phan Xuân Đạm cho rằng: “ Địa da Địa danh là lớp từ ngữ đặc binh là lớp từ ngữ đặc biệt, đượệt, được định ra để c định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn
đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn” [20, tr.12].” [20, tr.12]
Như Như vậy, vậy, với với mong mong muốn muốn đi đi tìm tìm một một khái khái niệm niệm với với nguyên nguyên nghĩa nghĩa của của từtừtoponomie
toponomie, Nguyễn Văn Âu quan niệm địa danh chính là “, Nguyễn Văn Âu quan niệm địa danh chính là “ tên gọi các địa phương tên gọi các địa phương hay tên gọi địa lí
hay tên gọi địa lí ”, theo đó “”, theo đó “địa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứuđịa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu
về tên địa lí của các địa phương
về tên địa lí của các địa phương ” Quan niệm này khá đơn giản, dễ hiểu, trùng với” Quan niệm này khá đơn giản, dễ hiểu, trùng vớicách hiểu thông thường của nhân dân, của từ điển ngữ văn giải thích, chẳng hạntrong “
trong “Từ điểnTừ điển Hán Việt Hán Việt ”, Đào Duy Anh giải thích: “”, Đào Duy Anh giải thích: “địa danh là tên gọi các miềnđịa danh là tên gọi các miềnđất
đất ”, ”, ““Từ điển tiếng Việt Từ điển tiếng Việt ” do Hoàng Phê chủ biên giải thích: địa danh là “” do Hoàng Phê chủ biên giải thích: địa danh là “ tên đất,tên đất,
36
Trang 10tên làng tên làng ” Nguyễn Văn Âu cố gắng thoát ra khỏi quan niệm cho rằng địa danh học” Nguyễn Văn Âu cố gắng thoát ra khỏi quan niệm cho rằng địa danh học
““chuyên nghiên cứu về tên riêng chuyên nghiên cứu về tên riêng ”, ông “”, ông “chú ý tới các từ chú ý tới các từ chung chung ”.”
Lê Trung Hoa là một trong những người có ý thức trình bày các vấn đề địadanh đặt trong khung cảnh ngôn ngữ học, hướng đến tính lý thuyết, tính hệ thốngsớm hơn cả so với
sớm hơn cả so với nhiều tác giả khác Lê Trung Hoa nhiều tác giả khác Lê Trung Hoa cho rằng: “cho rằng: “ Địa danh là những Địa danh là những
từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng thiên về không gian hai
trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, các đơn vị chiều, các đơn vị hành chính, các vùng lãnhhành chính, các vùng lãnhthổ
thổ ” [26, tr.21] Định nghĩa này thiên về ” [26, tr.21] Định nghĩa này thiên về việc chỉ ra ngoại diên của việc chỉ ra ngoại diên của khái niệm, đồngkhái niệm, đồngthời chỉ ra cách phân loại các địa danh Do
thời chỉ ra cách phân loại các địa danh Do đó, khó có thể khuôn được hiện thực cácđó, khó có thể khuôn được hiện thực cáckiểu loại địa danh vốn đa dạng trong thực tế vào trong định nghĩa phân loại này
Nguyễn Kiên Trườ Nguyễn Kiên Trường là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn ngoạing là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn ngoạidiên của địa danh chỉ thuộc về những gì ở trên trái đất một cách hiển ngôn Dựa trêntiêu trí mà Lê Trung Hoa đưa ra, Nguyễn Kiên Trường chia địa danh thành từng loạinhỏ Bên cạnh đó, ông còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ, theo chức năng củađịa danh
Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú ý đến nhữngvấn đề trong nội tại bản thân khái niệm Định nghĩa của Từ Thu Mai có điểm xuất phát từ
phát từ cách hiểu đcách hiểu địa danh của ịa danh của A.V SupA.V Superanskaja.eranskaja
Theo chúng tôi, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhaunhưng các đối tượng địa lí bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thểđộc lập Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để định danh cho
tượng cụ thể, được xác định Nó chính là tượng cụ thể, được xác định Nó chính là đơn vị định danh bậc hai trên đơn vị định danh bậc hai trên cơ sở vốn từcơ sở vốn từchung Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đềnội tại trong bản thân địa danh Trước hết, mỗi
nội tại trong bản thân địa danh Trước hết, mỗi địa danh đều phải có tính lí địa danh đều phải có tính lí do, phảido, phảixác định được nguyên nhân đặt tên đối tượng Chức năng gọi tên
xác định được nguyên nhân đặt tên đối tượng Chức năng gọi tên và cá thể hóa, và cá thể hóa, khukhu biệt đối tượng là tiêu chí th
biệt đối tượng là tiêu chí thứ hai Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phảiứ hai Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải
là các đối tượng địa lí tồn tại trên bề mặt trái đất và ngoài trái đất Các đối tượngnày có thể là đối tượng địa lí tự nhiên hay không tự nhiên
37
Trang 11Phan Xuân Đạm có quan niệm khá độc đáo, khác với những người đi trước.Cách hiểu của ông về địa danh rất hợp lý, tiến bộ theo hướng chức năng của địadanh Về cách phân loại địa danh, cũng như Từ Thu Mai, tác giả kế thừa cách phânloại của Lê Trung Hoa.
Nhìn Nhìn chung, chung, trong trong các các định định nghĩa nghĩa và và phân phân loại, loại, các các tác tác giả giả đều đều thừa thừa nhậnnhậnrằng, các đối tượng được định danh rồi nhóm lại dưới cái tên gọi “địa danh” chỉ lànhững đối tượng thuộc về trái đất Như vậy, các đối tượng ngoài trái đất như Trạm
vũ trụ Hòa Bình, sao Hỏa… sẽ không được coi là địa danh Điều này khác với quanđiểm của nhiều nhà khoa học nước ngoài
Từ những vấn đề trên, chúng tôi tán thành quan điểm của Phan Xuân Đạmkhi ông cho rằng: “
khi ông cho rằng: “ Địa danh Địa danh là lớp từ là lớp từ ngữ đặc bingữ đặc biệt, được địệt, được định ra để đnh ra để đánh dấu vị ánh dấu vị trí,trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn
xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn” [20, tr.12] Luận văn này” [20, tr.12] Luận văn này
sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí thuộc địa danh địahình tự nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh công trình nhân tạo trên địa bànthành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
1.2 PHÂN LOẠI ĐỊA DANHHiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học có nhữngcách phân loại khác nhau về địa danh Chẳng hạn, G.P Smolichnaja và M.V.Gorbanevskij cho rằng địa danh có bốn loại: Phương danh (tên các địa phương), sơndanh (tên núi, gò, đồi…), thủy danh (tên các dòng chảy, ao ngòi, sông vũng), phố
ddananh h (t(tên ên cácác c đốđối i tưtượnợng g trtronong g ththànành h phphố)ố) CòCòn n nhnhà à khkhoa oa họhọc c NgNga a A.A.V.V.Superanskaja lại chia làm bảy loại: Phương danh, thủy danh, sơn danh, phố danh,viên danh, lộ danh, đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trênnước, trên không)
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “ Phân Phân loại loại địa địa danh danh là là sự sự phânphânchia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí cũng như về ngôn ngữ và lịch sử
địa lí cũng như về ngôn ngữ và lịch sử ” [5, tr.37] Và ông đã chia địa danh Việt” [5, tr.37] Và ông đã chia địa danh Việt Nam
Nam thành thành hai hai loại: loại: Địa Địa danh danh tự tự nhiên nhiên và và địa địa danh danh kinh kinh tế tế - - xã xã hội hội với với bảy bảy kiểu:kiểu:Thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và
38
Trang 12mười hai dạng: Sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng –
xã, huyện – quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia Mỗi dạng lại có thể phân chiathành các dạng sôn
thành các dạng sông, ngòi, suối… Cách g, ngòi, suối… Cách phân loại này của tác giả nghphân loại này của tác giả nghiêng về tínhiêng về tínhdân gian, dễ tiếp thu song hơi sa vào chi tiết, thiếu tính khái quát, đối tượng nghiêncứu và tên gọi đối tượng nghiên cứu chưa được làm rõ
Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc địa danh Cách phânloại của ông dựa vào hai
loại của ông dựa vào hai tiêu chí tính tự nhiên và không tự tiêu chí tính tự nhiên và không tự nhiên Đây là cách phânnhiên Đây là cách phânloại thường gặp và tương đối hợp lý, có tính bao quát Ông phân loại địa danh: Địadanh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh hànhchính, địa danh chỉ vùng
Nguyễn Nguyễn Kiên Kiên Trường Trường phân phân loại loại dựa dựa trên trên tiêu tiêu chí chí mà mà Lê Lê Trung Trung Hoa Hoa đưa đưa raranhưng tiếp tục chia nhỏ một bước nữa Ông chia đối tượng tự nhiên thành hai loạinhỏ: Các đối tượng sơn hệ và các đối tượng thủy hệ; chia đối tượng nhân văn thành:địa danh cư trú và địa danh chỉ công trình xây dựng Địa danh cư trú bao gồm: đơn
vị cư trú tự nhiên, đơn vị
vị cư trú tự nhiên, đơn vị hành chính, đường phố Địa danh chỉ công trình xây dựnghành chính, đường phố Địa danh chỉ công trình xây dựng bao
bao gồm: gồm: Đơn Đơn vị vị hành hành chính, chính, đường đường phố phố và và các các đối đối tượng tượng khác khác Bên Bên cạnh cạnh đó,đó, Nguyễn Kiên Trườn
Nguyễn Kiên Trường còn tiến hành g còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ địa danh, theo chứcphân loại theo nguyên ngữ địa danh, theo chứcnăng giá trị của địa danh
Từ Thu Mai cũng phân loại theo cách phân loại của Lê Trung Hoa và dùngkhái niệm “loại hình địa danh” làm tiêu chí phân loại Theo Từ Thu Mai có ba loại
hình địa danh là địa danh địa hình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danhcông trình nhân tạo Trong đó, ở
công trình nhân tạo Trong đó, ở mỗi loại hình địa danh mỗi loại hình địa danh lại gồm những tiểu loại địalại gồm những tiểu loại địadanh khác nhau
Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước và theo mụcđích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cũng tán đồng cách phân loại theo tiêu chí
“tự nhiên - không tự nhiên” của Lê
“tự nhiên - không tự nhiên” của Lê Trung Hoa và Từ Thu Trung Hoa và Từ Thu Mai Chúng tôi phân loạiMai Chúng tôi phân loạiđịa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành ba loại: địa danh địahình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh công trình nhân tạo Trong đóđịa danh địa hình tự nhiên gồm sơn danh, thủy danh và
địa danh địa hình tự nhiên gồm sơn danh, thủy danh và những vùng đất nhỏ phi dânnhững vùng đất nhỏ phi dân
39
Trang 13cư; địa danh đơn vị dân cư gồm các đơn vị dân cư cụ thể nằm trong cấp thành phố,huyện; địa danh các công trình nhân tạo gồm địa danh các công trình nhân tạo thuộcnhững hoạt động vật chất của con người và địa danh các công trình nhân tạo thuộcnhững hoạt động tâm linh của con người Trong mỗi tiểu loại lại gồm những bộ phận nhỏ
phận nhỏ hơn, thuộhơn, thuộc vào nhữnc vào những loại hìg loại hình địa dannh địa danh đó.h đó
1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANHXét về phương diện ngôn ngữ học, nhìn vào toàn bộ hệ thống địa danh mộtvùng đất, có thể thấy rõ các đặc điểm sau đây:
1.3.1 Địa danh là một hệ thống tên 1.3.1 Địa danh là một hệ thống tên gọi đa dạnggọi đa dạng Nếu
Nếu so so sánh sánh với với nhân danh nhân danh và và vật vật danh danh thì thì hệ hệ thống địa thống địa danh vừa danh vừa đa đa dạngdạngvừa phức tạp Về loại hình địa danh, có những địa danh biểu thị địa hình tự nhiên(núi, sông, biển, hồ…); có những địa danh biểu thị tên gọi của các đơn vị hànhchính, đơn vị dân cư do Nhà nước đặt ra (thành phố, thị xã, huyện, phường, phố…);lại có những địa danh là tên gọi các công trình xây dựng trên bề mặt đất hay dướilòng đất (cầu, cống, đường, hầm, đê, đập…) Về cấu tạo, địa danh vừa có cấu tạođơn vừa có cấu tạo phức (vừa có từ vừa có cụm từ, vừa có danh từ vừa có danhngữ) Trong cấu tạo đơn, có địa danh đơn tiết, có địa danh đa tiết Trong cấu tạo phức, giữ
phức, giữa các yếu tố ta các yếu tố trong địa darong địa danh có các mối nh có các mối quan hệ: Ququan hệ: Quan hệ đẳng an hệ đẳng lập, quan hệlập, quan hệchính phụ và quan hệ chủ vị Về nguồn gốc ngôn ngữ, có những địa danh có nguồngốc tiếng Việt (thuần Việt, Hán Việt), có những địa danh có nguồn gốc tiếng dân
tộc thiểu số và có cả những địa danh vay mượn từ tiếng nước ngoài
1.3.2 Địa danh thường diễn ra hiện tượng chuyển hóaChuyển hóa là lấy tên gọi một đối tượng địa lí này để gọi một đối tượng địa
lí khác Hiện tượng này có thể xảy ra các trường hợp như:
- Chuyển hóa trong nội bộ từng loại địa danh Chẳng hạn, trong nội bộ địadanh đơn vị dân cư:
danh đơn vị dân cư: bảnbản Noong Bua Noong Bua phường phường Noong Bua, Noong Bua, mườngmường LóiLói xã xã MườngMườngLói; trong nội bộ địa danh địa hình thiên nhiên:
Lói; trong nội bộ địa danh địa hình thiên nhiên: hồhồ U VaU Va núinúi U Va,U Va, núinúi Phà LénPhà Lén
dãy núidãy núi Phà Lén.Phà Lén
40
Trang 14- Chuyển hóa giữa các loại địa danh Chẳng hạn, chuyển hóa địa danh địahình thiên nhiên thành địa danh đơn vị dân cư:
hình thiên nhiên thành địa danh đơn vị dân cư: núinúi Pú Sung Pú Sung bảnbản Pú SunPú Sun g g ; chuyển; chuyểnhóa địa danh đơn vị dân cư thành địa danh công trình nhân tạo:
hóa địa danh đơn vị dân cư thành địa danh công trình nhân tạo: bảnbản Hua PeHua Pe đồnđồnHua Pe,
Hua Pe, thànhthành Sam MứnSam Mứn bảnbản Sam Mứn.Sam Mứn
- Chuyển hóa nhân danh thành địa danh Chẳng hạn,
- Chuyển hóa nhân danh thành địa danh Chẳng hạn, Nguyễn Nguyễn Chí Chí ThanhThanh
đường Nguyễn Chí Thanhđường Nguyễn Chí Thanh,, Hoàng Cô Hoàng Công Chất ng Chất đền Hoàng Công Chất đền Hoàng Công Chất
1.3.3 Địa danh có phương thức cấu tạo phong phú Nghiên
Nghiên cứu cứu các các phương phương thức thức cấu cấu tạo tạo định định danh, danh, chúng chúng tôi tôi thấy thấy địa địa danhdanhđược tạo nên bởi rất nhiều phương thức khác nhau: vừa dựa vào đặc điểm bản thânđối tượng để đặt tên như: núi
đối tượng để đặt tên như: núi Pha Sung Pha Sung (vách cao), suối(vách cao), suối Púng Púng (vũng), bản (vũng), bản Noong Noong Chứn
Chứn (ao chì), bản (ao chì), bản Đồi Cao Đồi Cao, thác, thác Trắng Trắng ; vừa dựa vào sự ; vừa dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặtvật, yếu tố có quan hệ chặtchẽ với đối tượng như xã
chẽ với đối tượng như xã Nà Nhạn Nà Nhạn (ruộng nhạn), suối(ruộng nhạn), suối Hẹt Hẹt (tê giác), núi(tê giác), núi Pú Co Pú Co Nghịu
Nghịu (núi cây bông gạo), đồn biên phòng(núi cây bông gạo), đồn biên phòng Hua Pe Hua Pe (đầu suối Pe), bản (đầu suối Pe), bản Sam Mứn Sam Mứn (ba (bavạn); bên cạnh đó còn có phương thức ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên như: bảnTân Quang
Tân Quang , bản, bản Thanh Bình Thanh Bình, thôn, thôn Lập Thành Lập Thành, thôn, thôn Đoàn Kết Đoàn Kết ; dùng số đếm, chữ cái; dùng số đếm, chữ cáihoặc kết hợp cả hai yếu tố đó để đặt tên như: tổ dân phố
hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó để đặt tên như: tổ dân phố 11, thôn, thôn 2424, đội, đội C1C1, cầu, cầuC4
C4 và phương thức ghép giữa các yếu tố (tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc thiểu số) và phương thức ghép giữa các yếu tố (tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc thiểu số)với số đếm hoặc chữ cái như: bản
với số đếm hoặc chữ cái như: bản Ten A, Ten A, bản bản Gia Phú B, Gia Phú B, bản bản Pom Lót 10, Pom Lót 10, thônthônThanh Hồng 4,
Thanh Hồng 4, di tíchdi tích Đồi A1, Đồi A1, di tíchdi tích Đồi E2 Đồi E2
1.4 CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA DANHĐối tượng nghiên cứu của địa danh học rất
Đối tượng nghiên cứu của địa danh học rất rộng Nói đến danh học, người tarộng Nói đến danh học, người tathường thiết lập một danh sách những khái niệm có liên quan như: Tên người/nhândanh, tên các hành tinh, tên gọi các tổ chức chính trị - xã hội, tên các tộc người, têncác nghiệp đoàn, tên các con đường, tên gọi các con sông, dòng suối, tên gọi cáccon vật, tên gọi các đấng siêu nhiên, thần linh, tên gọi các quả đồi, ngọn núi, tên cáccông trình xây dựng để ở, tên người gọi theo dòng bố, tên gọi theo dòng mẹ, tênngười gọi theo con cháu… Bộ môn khoa học nghiên cứu về tên gọi như vậy đượcgọi là danh học Các địa danh cũng chỉ là một trong nhiều đối tượng nghiên cứu củakhoa học được đặt trong thế phân biệt với nhân danh học Đặt trong khung cảnh của
41
Trang 15ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong lòng bộ môn từ vựng học, vì đối tượngnghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được sử dụng để đặt tên, gọi tên.
Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc,cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan tỏa, phân bố của địa danh Người chuyênnghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học
Như Như vậy vậy một một nhà nhà địa địa danh danh học học thường thường phải phải làm, làm, nghiên nghiên cứu cứu giải giải quyếtquyếtnhững công việc chính sau đây:
- Tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh
- Tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh
- Tìm hiểu các mô hình địa danh, các phương thức quá trình tạo địa danh
- Tìm hiểu sự nảy
- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa danh qua các không gian,danh qua các không gian,các khoảng thời gian khác nhau
- Chuẩn hóa địa danh
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề khácnhau để nghiên cứu
Về quan điểm tín hiệu học, địa danh có tính lí do Vậy, vấn đề quan trọng làcội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh Điều này, ta thường thấy trong định nghĩa địadanh học: Là bộ môn nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa của địa danh
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như: Ngôn ngữđịa danh học, địa lí địa danh học, lịch sử địa danh học, đối chiếu địa danh học… Ngôn ngữ
Ngôn ngữ địa danh địa danh học chú học chú ý nhiều ý nhiều đến những đến những diễn tiến diễn tiến về về mặt ngôn mặt ngôn ngữ của ngữ của địađịadanh, đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ của địa danh, ngữ nghĩa của địa danh, các mô hìnhcấu tạo của địa danh…; địa lí địa danh học chú ý nhiều đến sự
cấu tạo của địa danh…; địa lí địa danh học chú ý nhiều đến sự phân bố về địa danh,phân bố về địa danh,
sự liên quan giữa sự phân bố của địa danh đối với các vùng, các đối tượng khônggian địa lí…; lịch sử địa danh học chú ý nhiều đến các quá trình hình thành địadanh, sự phát triển của địa danh, sự phân bố của địa danh có liên quan đến các tộcngười, đối chiếu địa danh học nghiêng về sự đối sánh để tìm ra những nét tươngđồng và dị biệt giữa hệ thống địa danh của tộc người này, dân tộc này, đất nước này
42
Trang 16với tộc người khác, dân tộc khác, đất nước khác, tìm hiểu tính chất nhân học trongđịa danh.
Ngoài Ngoài ra, ra, người người ta ta có có thể thể chia chia địa địa danh danh thành thành địa địa danh danh học học lý lý thuyết, thuyết, địađịadanh học mô tả
1.5 MỘT SỐ 1.5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẾN ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1.5.1 Về địa lí Thành phố Điện Biên Phủ và Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là hai địa huyện Điện Biên là hai địa bàn thuộc tỉnh Điệnbàn thuộc tỉnh ĐiệnBiên, một tỉnh biên giới ở phía Tây Bắc Tổ quốc Thành phố Điện Biên Phủ nằmtrong vùng lòng chảo Mường Thanh, phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông (tỉnhĐiện Biên), phía Tây, phía Nam, phía Bắc đều giáp huyện Điện Biên (tỉnh ĐiệnBiên); có diện tích tự nhiên là 6.009,05 ha Còn huyện Điện Biên có vị trí: phía Bắcgiáp huyện Mường Chà và huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên), phía Đông giáphuyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên) và
huyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên) và huyện Sốp Cộp (tỉnh Sơn La), huyện Sốp Cộp (tỉnh Sơn La), phía Tâyphía Tây
và phía Nam giáp Lào; có diện tích tự nhiên là 163.985 ha
Cấu trúc địa hình thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên mang một sốđặc điểm nổi bật của địa hình toàn tỉnh: núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông vàsuối lớn, hoặc xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối Lọt vào giữa các dãy núi córất nhiều dải trũng bằng phẳng tạo thành những cánh đồng hẹp kéo dài Các
phía Tây là bộ p phía Tây là bộ phận kéo dài của hhận kéo dài của hệ thống núi ở Bắc Lệ thống núi ở Bắc Lào, cùng hướng vào, cùng hướng với dòng chảyới dòng chảy
của các sông suối trong vùng này thường có hướng Bắc Nam hoặc Tây Bắc Đông Nam Ngoài ra còn có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi,sườn tích, hang động castơ phân bố rộng khắp trên địa bàn nhưng diện tích nhỏ
-Thành phố Điện Biên Phủ nằm trong vùng lòng chảo, là vùng có địa hìnhtương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, độ dốc nhỏ dưới 15 độ, độ cao hơn 400 m sovới mặt nước biển thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch Đặc biệt có thung lũng Mường Thanh với diệntích trên 15.000 ha, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của toàn tỉnh và toàn vùng
43
Trang 17Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) Với khả Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) Với khả năng sản xuất lương thựcnăng sản xuất lương thựcdồi dào, cánh đồng Mường Thanh là vựa lúa của cả tỉnh Điện Biên.
Địa hình của huyện Điện Biên Địa hình của huyện Điện Biên bao gồm một phần của bao gồm một phần của vùng lòng chảo (gọi làvùng lòng chảo (gọi làvùng thấp) và vùng núi cao (còn gọi là vùng ngoài) Vùng thấp (như đã nêu trên)chiếm 21% diện tích toàn huyện, còn
chiếm 21% diện tích toàn huyện, còn vùng núi cao chiếm vùng núi cao chiếm 79% diện tích toàn huyện79% diện tích toàn huyệnvới độ cao từ 1000 m trở lên trong đó đỉnh cao nhất là Pú Pha Sung Địa hình đồi,núi cao và đất dốc của huyện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi đại giasúc, phát triển thủy điện và xây dựng các
súc, phát triển thủy điện và xây dựng các hồ chứa nước phục vụ sinh hoạt, cung cấphồ chứa nước phục vụ sinh hoạt, cung cấpnước cho sản xuất nông nghiệp vùng lòng chảo
Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có các nhóm đất chính là:nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất feralit mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đấtthung lũng do sản phẩm dốc tụ, nhóm đất mùn vàng nhạt trên núi cao và núi đá,sông suối Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồmcác loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt vàkim loại màu nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh Là tỉnh miền núi nênĐiện Biên có tiềm năng rừng và đất rừng rất lớn Diện tích rừng và đất rừng chiếmtới 79,30% tổng diện tích tự nhiên với nhiều loại
tới 79,30% tổng diện tích tự nhiên với nhiều loại rừng phong phú, đa dạng, phân bốrừng phong phú, đa dạng, phân bốtrên các kiểu địa hình khác
trên các kiểu địa hình khác nhau Rừng có hệ động, thực vật nhau Rừng có hệ động, thực vật đa dạng và một số đa dạng và một số loạiloại
có giá trị kinh tế cao
Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có mạng lưới ao hồ và sôngsuối chằng chịt Sông suối mang tính chất đầu nguồn điển hình, dốc hẹp, quanh co,nhiều thác ghềnh Các sông suối ở đây đều nằm trong ba hệ thống sông chính củanước ta là sông Đà, sông Mã và sông Mê Công với các phụ lưu chính là sông NậmRốm, Nậm Núa, Nậm Mức và sông Mã cùng với rất nhiều những suối, khe, rãnhlớn, nhỏ khác
Ngoài ra h Ngoài ra hai địa bàn ai địa bàn này còn có này còn có một hệ thmột hệ thống hồ chứống hồ chứa nước lớa nước lớn, những hn, những hồ đóồ đó
là nguồn trữ nước của công trình thủy lợi Nậm Rốm, cung cấp nước tưới cho toàn
bộ đồng ruộng vùng lò
bộ đồng ruộng vùng lòng chảo, nuôi hải sản, bảo vệ môi trườnng chảo, nuôi hải sản, bảo vệ môi trường Bên cạnh đó có hồg Bên cạnh đó có hồcòn là điểm tham quan, du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn của Điện Biên
44
Trang 18Điện Biên là cửa ngõ phía Tây Bắc của vùng Bắc Bộ nước ta, là tỉnh duynhất có chung đường biên giới với hai quốc gia Trung Quốc và
nhất có chung đường biên giới với hai quốc gia Trung Quốc và Lào trong đó huyệnLào trong đó huyệnĐiện Biên có chung đường biên giới với Lào qua hai cửa khẩu Huổi Puốc và TâyTrang Điện Biên còn có quốc lộ 279 nối liền Điện Biên - Lào và quốc lộ 12 chạy từthành phố Điện Biên Phủ tới thị xã Lai Châu cùng với hệ thống giao thông biên giới
và con đường xuyên Á đang từng bước được đầu tư xây dựng Bên cạnh đó ĐiệnBiên còn có cảng hàng không Điện Biên Phủ hoạt động thường xuyên nhằm phục
vụ khách đến tham quan du lịch và
vụ khách đến tham quan du lịch và đáp ứng nhu cầu đi lại đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong vùng.của nhân dân trong vùng.Cảng này đang được đầu tư để mở đường bay tới các nước trong khu vực Chínhnhững sự kiến tạo này đã làm cho Điện Biên có điều kiện trở thành đầu mối giaothông quan trọng, thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa - du lịchgiữa các vùng trong và ngoài tỉnh 27 đơn vị hành chính (gồm 7 phường và 20 xã)trong thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được phân bố đều ở cả địa hìnhthung lũng, đồi núi thấp và vùng núi cao [6], [8], [49]
1.5.2 Về lịch sử Thời Hùng Vương, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên ngày naythuộc bộ Tân Hưng; thời Lý thuộc lộ Đà Giang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn;thời Lê thuộc trấn Gia Hưng Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập gồm 3 phủ:Gia Hưng, Quy Hóa, An Tây gồm một vùng đất đai, sông núi rộng mênh môngtương đương với các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ ngày nay.Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên lúc đó thuộc phủ An Tây Phủ AnTây có 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Hợ
Nham, Hợp Phì, Tup Phì, Tuy Phụ và Khy Phụ và Khiêm.iêm
Đời Lê Cảnh Hưng (1740-1768), 6 châu của nước ta là: Tùng Lăng, Hoàng Nham,
Nham, Hợp Hợp Phì, Phì, Lễ Lễ Tuyền, Tuyền, Tuy Tuy Phụ Phụ và và Khiêm Khiêm đều đều bị bị nhà nhà Thanh Thanh (Trung (Trung Quốc)Quốc)đánh chiếm Phủ An Tây chỉ còn 4 châu: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai và Luân.Thời Tây Sơn Quang Trung đã làm một biểu gửi vua Thanh đòi lại 6 châu đã chiếmnhưng không được chấp nhận
45
Trang 19Năm Năm 18821882, , thực dân thực dân Pháp đánh Pháp đánh chiếm Bắc chiếm Bắc Kỳ Kỳ lần lần thứ hai, thứ hai, đã đã đặt kế đặt kế hoạchhoạchđánh chiếm tỉnh Hưng Hóa Theo Tổng mệnh lệnh số 4 ngày 11-6-1885 củaĐờcuốcxy (Decourcy) tỉnh Hưng Hóa nằm trong Quân khu miền Tây, tiếp đó nằmtrong Đạo quan binh thứ tư
trong Đạo quan binh thứ tư (theo(theo Nghị đ Nghị định cịnh của Toủa Toàn quàn quyền Đôyền Đông Dưng Dương nơng ngày 2gày 20-8-1891
0-8-1891) Sau đó Đạo quan binh thứ tư tách thành Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quân) Sau đó Đạo quan binh thứ tư tách thành Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quânkhu Lai Châu Ngày 10-10-1859, hai tiểu quân khu trên sáp nhập thành tỉnh Vạn Bú. Ngày
Ngày 7-4-17-4-1904, t904, tỉnh lỵ ỉnh lỵ Vạn BVạn Bú chuyú chuyển về Sơển về Sơn La Đn La Đến ngến ngày 23-ày 23-8-198-1904, tỉ04, tỉnh Vạn nh Vạn BúBúđổi thành tỉnh Sơn La Ngày 28-6-1909, Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra Nghị
Nghị định định thànthành lập h lập tỉnh tỉnh Lai ChLai Châuâu gồm: Đạo Lai (châu Lai, châu Quỳnh Nhai và phủ gồm: Đạo Lai (châu Lai, châu Quỳnh Nhai và phủLuân Châu), châu Điện Biên và phủ Tuần Giáo, dân số khoảng 4 vạn người Đến 27-3-1916, tỉnh Lai Châu lại chuyển thành Đạo quan binh thứ tư theo chế độ quân quản,
có một thời gian ngắn chúng áp dụng chế độ cai trị hành
có một thời gian ngắn chúng áp dụng chế độ cai trị hành chính.chính
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới chính thể mới của nướcViệt Nam Dân chủ cộng hòa, địa phương có một số thay đổi như sau:
- Khi cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ, Lai Châu nằm trong Chiến khu
2 cùng với Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Sơn La Sau đó LaiChâu nhập cùng Chiến khu 10 và một phần Chiến khu 1 thành liên khu Việt Bắc
- Năm 1948, Lai Châu và Sơn La hợp nhất thành tỉnh Sơn Lai Ngày
12-1-1952, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 145-TTg tái lập hai tỉnh
- Ngày 26-1-1953, để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng, Chủ tịch HồChí Minh ký Sắc lệnh số 134-SL thành lập Khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, YênBái, Sơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc Đồng thời, Khu ủy Tây Bắccũng ra Quyết định chuyển huyện Thuận Châu từ tỉnh Sơn La sang tỉnh Lai Châu
- Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Lai Châu được giải phóng, h
phóng, hòa bình đòa bình được lập lạược lập lại trên miền i trên miền Bắc nước tBắc nước ta.a
Ngày 29-4-1955, Chủ Ngày 29-4-1955, Chủ tịch nước tịch nước Việt Nam Việt Nam Dân chủ Dân chủ cộng hòa cộng hòa ban ban hành Sắchành Sắclệnh số 230-SL thành lập Khu tự trị Thái - Mèo, các châu (huyện trước đây) trựcthuộc Khu, không có cấp hành chính tỉnh
46
Trang 20Ngày 27-10 Ngày 27-10-1962, kỳ họ-1962, kỳ họp thứ năm Quốp thứ năm Quốc hội khóa II đã ra Nc hội khóa II đã ra Nghị quyết đghị quyết đổi tênổi tênKhu tự trị Thái -
Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị Tây Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và thành lập lại Bắc và thành lập lại 3 tỉnh trong Khu là:3 tỉnh trong Khu là:Lai Châu, Nghĩa Lộ và Sơn La Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên,Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Tè, Mường Lay, Phong Thổ, Sìn Hồ và thị trấn LaiChâu Ngày 8-10-1971, Khu tự trị Tây Bắc giải thể
Ngày 7-10-1995, Chính Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra phủ ra Nghị định Nghị định số 59/NĐ-CP số 59/NĐ-CP về thành về thành lập huyệnlập huyệnĐiện Biên Đông trên cơ sở tách ra từ huyện Điện Biên
Ngày 26-09-20 Ngày 26-09-2003, Chính phủ ra Nghị định số 110/2003/NĐ03, Chính phủ ra Nghị định số 110/2003/NĐ-CP về thành lập-CP về thành lậpThành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu
Ngày Ngày 26-11-2026-11-2003, 03, Quốc Quốc hội hội nước nước Cộng Cộng hòa hòa xã xã hội hội chủ chủ nghĩa nghĩa Việt Việt Nam Nam rara Nghị quyết số 22/2
Nghị quyết số 22/2003/QH1003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chín1 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một sốh một sốtỉnh, trong đó có Lai Châu Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới)
và tỉnh Điện Biên Ngày 1-1-2004, hai tỉnh chính thức đi vào hoạt động Đến naytỉnh Điện Biên có 9 huyện, thị, thành phố gồm các huyện: Điện Biên, Điện BiênĐông, Tuần Giáo, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Chà, Mường Lay, thị xã LaiChâu và thành phố Điện Biên Phủ
Hiện nay thành phố Điện Biên Phủ có diện tích tự nhiên là 6.009,05 ha vàgồm 8 đơn vị hành chính với 7 phường (đó là các phường: Him Lam, MườngThanh, Nam Thanh, Noong Bua, Tân Thanh, Thanh Bình, Thanh Trường) và 1 xã(đó là xã Thanh Minh) Thành phố Điện Biên Phủ là tỉnh lỵ của tỉnh Điện Biên Cònhuyện Điện Biên sau khi trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, đến nay có
huyện Điện Biên sau khi trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, đến nay có diện tíchdiện tích
tự nhiên là 163.985 ha và gồm 19 đơn vị hành chính trực thuộc ở cấp xã (đó là các
xã Mường Lói, Mường Nhà, Mường Phăng, Mường Pồn, Nà Nhạn, Nà Tấu, Na Ư, Noong
Noong Hẹt, Hẹt, Noong Noong Luống, Luống, Núa Núa Ngam, Ngam, Pa Pa Thơm, Thơm, Sam Sam Mứn, Mứn, Thanh Thanh An, An, ThanhThanhChăn, Thanh Hưng, Thanh Luông, Thanh Nưa, Thanh Xương và Thanh Yên) [6],[8], [49]
1.5.3 Về văn hóaKho tàng văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc anh em từ bao đời nay để lại đãkhẳng định thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có nền văn hóa phát
47
Trang 21từ rất sớm, độc đáo, phong phú và đa dạng Truyền thống đó được kết tinh từ truyềnthống yêu nước, nhân nghĩa, thủy chung, đức tính cần cù, chăm chỉ, yêu lao độngcủa đồng bào các dân tộc nơi đây Mỗi dân tộc trong vùng đều có bản sắc văn hóariêng phong phú, độc đáo như: kiến trúc, xây dựng, tâm linh, tín ngưỡng, ẩm thực,những câu tục ngữ, thành ngữ, hát giao duyên, lời khấn, lời bùa chú, các áng văntrong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rể trong đámcưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười…
Các công trình kiến trúc mang đậm bản sắc dân tộc như thành Bản Phủ,thành Tam
thành Tam Vạn, di Vạn, di tích tích Chùa Pá Chùa Pá Sa…Sa…
Trong số 20 dân tộc ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên, ngườiThái là dân tộc sinh sống đông nhất và có truyền thống văn hóa lâu đời Họ có chữviết riêng, thuộc hệ chữ Phạn nên đã ghi chép được nhiều diễn biến về các lĩnh vựckinh tế, văn hóa, xã hội trong tỉnh đồng thời qua giao lưu, họ còn tiếp thu đượcnhiều nền văn hóa của các dân tộc khác Họ đã dựa vào truyện kể dân gian củangười La Hủ để sáng tác truyện thơ “
người La Hủ để sáng tác truyện thơ “Chàng Lú nàng ỦaChàng Lú nàng Ủa”, dựa vào truyền thuyết”, dựa vào truyền thuyếtcủa người Khơ Mú mà sáng tạo ra trường ca “
của người Khơ Mú mà sáng tạo ra trường ca “Chương HanChương Han” Nhờ có chữ viết mà” Nhờ có chữ viết màcác tác phẩm văn học có giá trị của người Thái như “
các tác phẩm văn học có giá trị của người Thái như “Sống chụ son saoSống chụ son sao”, “”, “Tản chụTản chụ siết sươn
siết sương g ” cũng được lưu truyền lại.” cũng được lưu truyền lại
Các điệu múa xòe, múa nón, múa sạp rộn ràng, duyên dáng của người Tháicùng các điệu múa ô,
cùng các điệu múa ô, múa khèn của người Mông; múa chuông của người Dao; múamúa khèn của người Mông; múa chuông của người Dao; múa
lắc mông, lượn eo đặc sắc riêng của người Khơ Mú và Xinh Mun; múa trống, múaTăng Bu (dỗ ống) của người La Ha đã góp phần làm cho kho tàng nghệ thuật củađồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc thêm phong phú, đa dạng
Các dân tộc ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên còn có văn hóa
lễ hội hết sức đặc sắc Các lễ hội diễn ra gần như quanh năm, tùy theo từng dân tộc
và theo vùng Chẳng hạn, lễ hội Thành Bản Phủ (còn gọi là lễ hội Hoàng CôngChất) của đồng bào các dân tộc trong vùng, lễ Xên bản (cúng bản) và lễ HạnKhuống của người Thái, lễ hội Gầu Tào của người Mông, lễ Cầu mưa của dân tộcKhơ Mú, Lô Lô và Lào, lễ hội Căm Mường của dân tộc Lự…
48
Trang 22Trong các lễ hội, chúng ta sẽ có dịp được chiêm ngưỡng các trang phục đẹp
đẽ, đặc sắc, độc đáo của đồng bào các dân tộc Đó là những bộ trang phục đượctrang trí bởi bàn tay khéo léo của các cô gái với những hoa văn, họa tiết cầu kỳ,nhiều màu sắc sinh động Những bộ trang phục đó đã góp phần làm phong phú nềnvăn hóa đa dạng của đồng bào các dân tộc trong vùng [6], [8], [16], [27], [49]
1.5.4 Về dân cư Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được coi là quê hương của haimươi dân tộc anh em (gồm Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Lào, Dao, Hà Nhì, La Hủ,Giáy, Phù Lá, Cống, Si La, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh Mun)trong đó 5 dân tộc đông nhất là: dân tộc Thái (53,71%), dân tộc Kinh (27,85%), dântộc Mông (8,5%), dân tộc Khơ Mú (5%), dân tộc Lào (3,17%) [6, tr.24] Đến năm
2007, dân số thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là 154.942 người với
hai địa bàn khá thấp và mật độ thưa thớt, dân cư tập trung chủ yếu ở thành phố vàtrung tâm huyện Mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn có tập quán văn hóa truyềnthống khác nhau góp phần đem lại cho nơi đây những bản sắc văn hóa phong phú,
đa dạng
Người Thái Người Thái mặc mặc dù dù có có mặt mặt ở ở Điện Điện Biên sau Biên sau người Lự người Lự (một dân (một dân tộc bà tộc bà conconvới người Thái, có mặt ở Điện Biên từ những thế kỷ đầu Công nguyên và đã để lạinơi đây nhiều di tích lịch sử) nhưng từ trước đến nay là cư dân chiếm số đông nhất
ở Điện Biên Họ thiên di đến Mường Thanh (Điện Biên) qua nhiều thời kỳ lịch sửkhác nhau Đầu tiên họ theo người tù trưởng Thái đen là Lạng Chượng tiến quânvào đất Mường Thanh từ khoảng thế kỷ XII - XIII Có lẽ vì thế nên người Thái ở Điện Biên hiện nay phần lớn thuộc ngành Thái đen Sau đó
Điện Biên hiện nay phần lớn thuộc ngành Thái đen Sau đó sự thiên di gần đây nhấtsự thiên di gần đây nhất
và ồ ạt nhất là thời kỳ Cầm Ten (hay Bạc Cầm Tiến) liên kết với người tù trưởngKhơ Mú là Chương Han đánh giặc Cờ Vàng Người Thái thường sinh sống theocộng đồng thành từng bản gần nguồn nước, ven sông, suối; họ định cư khá bềnvững ở các thung lũng trù phú dưới chân đồi với cuộc sống làm lúa nước và phátnương, làm rẫy, làm nghề rừng Người Thái có một cơ sở xã hội ổn định, một nền
49
Trang 23văn hóa khá cao, một đời sống kinh tế trù phú, dân tộc Thái là nhân tố thu hút cácdân tộc quanh vùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương chống lại âmmưu xâm lược của bất kỳ thế lực đế quốc phản động nào.
Người Kinh Người Kinh có có số số dân dân đông đông thứ thứ hai, hai, sau sau người Thái, người Thái, sinh sinh sống sống tập tập trung trung ở ở các thành phố, thị trấn Họ
các thành phố, thị trấn Họ đến Điện Biên qua những thời kỳ đến Điện Biên qua những thời kỳ khác nhau: theo sự chỉkhác nhau: theo sự chỉđạo của triều đình phong kiến khi triều đình thấy đây là
đạo của triều đình phong kiến khi triều đình thấy đây là một vùng đất có vị một vùng đất có vị trí quantrí quantrọng phía Tây Tổ quốc, theo nghĩa quân Hoàng Công Chất lên giải phóng đấtMường Thanh khỏi ách thống trị của giặc Phẻ hay có một số gia đình người Kinh vìnghèo khổ mà phải lên đây lập nghiệp Lúc đó người Kinh chỉ sống rất rải
nghèo khổ mà phải lên đây lập nghiệp Lúc đó người Kinh chỉ sống rất rải rác, thưarác, thưathớt Người Kinh lên Điện Biên đông nhất là
thớt Người Kinh lên Điện Biên đông nhất là sau khi chiến dịch Điện Biên sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ lịchPhủ lịch
sử kết thúc, họ theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ lên xây dựng quê hươngmới Điện Biên ngày càng văn
mới Điện Biên ngày càng văn minh, giàu đẹp Người Kinh có một minh, giàu đẹp Người Kinh có một trình độ văn hóatrình độ văn hóacao, với năng lực trí thức và khoa học kĩ thuật được trang bị tốt hơn, họ đã góp phầnthúc đẩy Điện Biên tiến mau trên con đường đổi mới, hòa chung với sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Người Mông (còn gọi H’Mông, Mèo) cư trú Người Mông (còn gọi H’Mông, Mèo) cư trú ở những vùng núi cao với nghềở những vùng núi cao với nghềchính là làm nương rẫy và trồng ngô, trồng lúa Họ từ Trung Quốc sang Việt Namvào những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Họ có tinh thần đấu tranh kiêncường, bất khuất và truyền thống này đã được phát huy trong cuộc kháng chiếnchống Pháp, chống Mỹ, chống biệt kích gián điệp, bảo vệ an ninh Tổ quốc và phá
tan âm mưu diễn biến hòa bình của những thế lực phản động
Người Người Khơ Khơ Mú Mú (còn (còn gọi gọi người người Xá) Xá) là là một một dân dân tộc tộc lâu lâu năm năm cư cư trú trú trên trên đấtđấtnước Lào, họ vào Tây Bắc, đến Điện Biên bằng một mối tình chiến đấu anh em giữanhân dân hai nước Họ đã theo người tù trưởng của mình là Chương Han liên minhvới người Thái dưới sự lãnh đạo của tù trưởng Cầm Ten (hay Bạc Cầm Tiến) đánhđuổi giặc Cờ Vàng ở miền Tây Bắc Việt Nam Người Khơ Mú là một dân tộc cótrình độ phát triển xã hội thấp, chuyên sống du canh du cư và bị ràng buộc bởi nhiềutập tục lạc hậu Ngày nay đời sống của họ
tập tục lạc hậu Ngày nay đời sống của họ cũng đã ít nhiều được thay đổi và cũng đã ít nhiều được thay đổi và dần ổndần ổnđịnh hơn trong sự phát triển chung của địa phương
50
Trang 24Người Lào có Người Lào có nguồn gốc từ nguồn gốc từ nước bạn nước bạn Lào sang và Lào sang và chỉ có chỉ có một tỷ một tỷ lệ nhỏ lệ nhỏ dândân
cư sinh sống ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên Họ phần lớn thuộcnhóm Lào Bốc (Lào ở cạn) hay Lào Nọi (Lào nhỏ), phong tục gần với người Thái
Họ sống tập trung bên những cánh đồng phì nhiêu, ven theo các sườn đồi hoặc dọctheo các con sông nhỏ, các khe suối râm mát Họ cũng là những con người cần cù,khéo léo, ưa cuộc sống hòa bình và cũng có tinh thần đấu tranh kiên cường bấtkhuất [6], [8]
1.5.5 Về ngôn ngữThành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là hai địa bàn đa dân tộc, đangôn ngữ Có đến 20 dân tộc khác nhau sinh sống trong vùng và ngôn ngữ của cácdân tộc này lại thuộc vào những nhóm ngôn ngữ khác nhau
Nh Nhóm óm ngngôn ôn ngngữ ữ Tày Tày - T- Thái hái gồgồm m cácác dc dân ân tộtộc nc như hư ThThái, ái, TàyTày, N, Nùnùng, g, MônMông, g, DaoDao Nhóm ngô
Nhóm ngôn ngữ Viện ngữ Việt - Mường có t - Mường có các dân tộc các dân tộc như Kinhnhư Kinh, Mường., Mường
Nhóm ngô Nhóm ngôn ngữ Môn n ngữ Môn - Khơ Me có - Khơ Me có các dân tộcác dân tộc như Khơ c như Khơ Mú, Xinh Mú, Xinh Mun.Mun. Nhóm ngôn ngữ Tạng -
Nhóm ngôn ngữ Tạng - Mianma có các dân Mianma có các dân tộc như dân tộc tộc như dân tộc Hà Nhì, La Hà Nhì, La Hủ,Hủ,Phù Lá, Cống, Si La, Lô Lô
Nhóm ngô Nhóm ngôn ngữ Hán n ngữ Hán có dân tộc có dân tộc Hoa.Hoa
Trong đó, tiếng Thái của dân tộc Thái chiếm đa số; sau đó đến tiếng Kinh(tiếng Việt); còn ngôn ngữ của các dân tộc khác chiếm tỉ lệ nhỏ
Người Thái Người Thái sớm sớm có có chữ chữ viết viết và và đã đã để để lại lại một một kho kho tàng tàng văn văn học học nghệ nghệ thuậtthuật
gồm các tác phẩm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ, ca dao khá giá trị.Trong ngữ hệ Tày - Thái, người Thái có tới 5 loại chữ khác nhau Sự khác nhau vềloại chữ phản ánh rõ nét tính địa phương của những nhóm người Thái khác nhau ở Việt Nam được gộp chung vào dân tộc Thái Chữ Thái của người Thái ở thành phốĐiện Biên Phủ và huyện Điện Biên là chữ của người Thái đen [6], [49]
Như vậy Như vậy ở ở thành phố thành phố Điện Biên Điện Biên Phủ và Phủ và huyện Điện huyện Điện Biên có Biên có khá nhiều khá nhiều dândântộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau sinh sống trong đó chiếm số lượng lớnnhất là các dân tộc người thuộc nhóm Tày - Thái và nhóm Việt - Mường Điều đó sẽ
51
Trang 25tạo ra sự giao thoa về văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tộc và có tác động lớn đếncách đặt địa danh trong hai địa bàn được nghiên cứu.
1.6 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH1.6.1 Kết quả thu thập địa
Căn cứ vào phạm vi, đối tượng và nguyên tắc cùng các tiêu chí thu thập, phân
phân loại loại địa địa danh, danh, chúng chúng tôi tôi đã đã thu thu thập thập được được 1008 1008 địa địa danh danh Các Các địa địa danh danh nàynàyđược xác định trên sự phân bố theo không gian ở 27 đơn vị với 7 phường và 20 xãtrong hai địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
Những địa danh này ch Những địa danh này chúng tôi thu thập dựa vào các văn búng tôi thu thập dựa vào các văn bản hành chính, mộtản hành chính, một
số loại bản đồ và từ tư liệu điền dã theo sự tồn tại thực tế của địa danh trong vùng
Kết quả thu thập địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biênđược thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Kết quả Kết quả thu thập địa danh thành phố Điện Biên Phủ và thu thập địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện huyện Điện Biên
S
STTTT LLooạại i hhììnnh h đđịịa a ddaannhh SSố ố llưượợnngg TTỉ ỉ llệ ệ ((%%))
T
1.6.2 Kết quả phân loại địa danhTheo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên, chúng tôi chia địa danh thành phốĐiện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành hai loại là địa danh tự nhiên gồm địa danhđịa hình thiên nhiên và địa danh không tự nhiên gồm địa danh đơn vị dân cư và địadanh công trình nhân tạo
1.6.2.1 Địa danh địa hình thiên nhiên
52
Trang 26Loại địa danh này gồm 238 trường hợp, chiếm 24,61% Trong đó, sơn danh(gồm đồi, núi, dãy núi, đèo, thác) có ở 79 địa danh, chiếm 8,14%, chẳng hạn,
núi Phà Lénnúi Phà Lén,, đèo Huổi Chanđèo Huổi Chan,, đồi Độc Lậpđồi Độc Lập; thủy danh (gồm sông, suối, hồ, khe) có; thủy danh (gồm sông, suối, hồ, khe) có
ở 149 địa danh, chiếm 14,78%, chẳng hạn,
ở 149 địa danh, chiếm 14,78%, chẳng hạn, hồ Pa Khoang hồ Pa Khoang ,, sông sông Nậm Nậm RốmRốm,, suối suối Huổi Phạ
Huổi Phạ,, khe Hát Sikhe Hát Si; những vùng đất nhỏ phi dân cư (gồm cánh đồng, hang, động); những vùng đất nhỏ phi dân cư (gồm cánh đồng, hang, động)
phố (0,16%), 1 huyện (0,16%), 7 phường (1,1, 1 huyện (0,16%), 7 phường (1,12%), 20 xã (3,20%), 5 mường (đơn vị2%), 20 xã (3,20%), 5 mường (đơn vịcũ) (0,80%), 131 tổ dân phố (20,99%), 404 bản (64,74%), 45 thôn (7,21%) và 10đội (1,60%) Chẳng hạn,
đội (1,60%) Chẳng hạn, phường Mường Thanh phường Mường Thanh,, phường Him phường Him LamLam,, xã Noong xã Noong Hẹt Hẹt ,,
xã
xã Thanh Thanh Xương Xương ,, mường Lóimường Lói,, mường Pồnmường Pồn,, tổ dân phố 12tổ dân phố 12,, tổ dân phố 32tổ dân phố 32,, bản Pábản PáChả
Chả,, bản Thanh Bìnhbản Thanh Bình,, thôn Trần Phúthôn Trần Phú,, thôn Đoàn Kết thôn Đoàn Kết ,, đội C1đội C1,, đội C17 ađội C17 a
1.6.2.3 Địa danh công trình nhân tạoLoại địa danh này gồm 146 địa danh, chiếm 14,48% Trong đó có 98 địadanh các công trình nhân tạo thuộc những hoạt động vật chất kĩ thuật của con người(gồm các tiểu loại địa danh: quốc lộ, đường, cầu, cầu treo, đập đầu mối, đập tràn,
đồn biên phòng, sân bay, cứ điểm, thành, hầm, nhà máy thủy điện, cửa khẩu, côngtrình thủy lợi, công trình đại thủy nông, kênh, khu du lịch, khu khảo cổ học, quầnthể khu di tích lịch sử, cống, tượng đài, phân khu, trung tâm đề kháng, rạp chiếu bóng),
bóng), chiếm chiếm 9,7%, 9,7%, chẳng chẳng hạn,hạn, quốc lộ 279quốc lộ 279,, đường Sùng Phái Sinhđường Sùng Phái Sinh,, cầu A1cầu A1,, nhànhàmáy thủy điện Nà Lơi
máy thủy điện Nà Lơi,, đồn biên phòng Tây Trang đồn biên phòng Tây Trang ,, kênh Nậm Rốmkênh Nậm Rốm,, cửa khẩu Huổicửa khẩu Huổi Puốc
Puốc,, sân bay Điện sân bay Điện Biên PhủBiên Phủ,, hầm Đờ Cát hầm Đờ Cát ,, quần thể khu di tích lịch sử Điện Biênquần thể khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ
Phủ; và 48 địa danh các công trình nhân tạo thuộc những hoạt động tâm linh của; và 48 địa danh các công trình nhân tạo thuộc những hoạt động tâm linh củacon người (gồm các tiểu loại địa danh: bảo tàng, nghĩa trang liệt sĩ, đền, lễ hội, ditích, chùa), chiếm 4,8%, chẳng hạn,
tích, chùa), chiếm 4,8%, chẳng hạn, bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủbảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ,,
53
Trang 27nghĩa trang liệt sĩ Him Lamnghĩa trang liệt sĩ Him Lam,, lễ hội Xên bảnlễ hội Xên bản,, đền Hoàng Công Chất đền Hoàng Công Chất ,, chùa Vạt Buchùa Vạt Bu Hôm
Hôm,, di tích Mường Pồndi tích Mường Pồn,, di tích Noong Nhaidi tích Noong Nhai
1.7 TIỂU KẾTQua sự trình bày một số Qua sự trình bày một số cơ sở lý thuyết, chúng tôi đã thể cơ sở lý thuyết, chúng tôi đã thể hiện quan điểm củahiện quan điểm củamình về định nghĩa địa danh đồng thời là nội hàm làm việc của luận văn này
1.7.1 Địa danh học là một 1.7.1 Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học có nhiệm ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứuvụ nghiên cứu
sự ra đời, cấu tạo, ngữ nghĩa và sự biến đổi, lan tỏa, phân bố của các địa danh
Việc nghiên cứu địa danh đã xuất Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu trên hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng mãi đếnthế giới nhưng mãi đếncuối thế kỷ XIX đầu thế
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nghiên cứu địa danh mới trở thành ngành khoa họckỷ XX, nghiên cứu địa danh mới trở thành ngành khoa học
ra đời đầu tiên ở
ra đời đầu tiên ở Âu Mỹ, liên bang Xô Viết Âu Mỹ, liên bang Xô Viết (cũ) Ở Việt Nam, những tài liệu (cũ) Ở Việt Nam, những tài liệu về địavề địadanh, liên quan đến địa danh cũng xuất hiện từ khá sớm nhưng địa danh học Việt Nam thực sự
Nam thực sự có được có được một bước tiến một bước tiến đáng kể đáng kể vào những thập vào những thập niên cuối thế niên cuối thế kỷ XX.kỷ XX.Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa có được những công trình nghiên cứu về địa danh cótầm cỡ
1.7.2 Khi nghiên cứu địa danh cần xác định đúng nội 1.7.2 Khi nghiên cứu địa danh cần xác định đúng nội hàm của khái niệm địahàm của khái niệm địadanh và các cách phân loại địa danh Đồng thời cần vận dụng
danh và các cách phân loại địa danh Đồng thời cần vận dụng các phương pháp liêncác phương pháp liênngành: sử học, địa lý học, dân tộc học, khảo cổ học để nghiên cứu địa danh trong
đó lấy phương pháp chính là ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh Đó là phương pháp ngữ âm lịch sử
pháp ngữ âm lịch sử, phương pháp đị, phương pháp địa lý - ngôn ngữ học, phưa lý - ngôn ngữ học, phương pháp từ vựng họơng pháp từ vựng họcc
và ngữ pháp học
1.7.3 Địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là địa bàn cư trúlâu đời của dân tộc Thái Vì vậy những đặc điểm về văn hóa Thái ảnh hưởng rất lớnđến địa danh trong hai địa bàn này
đến địa danh trong hai địa bàn này Ngoài ra, trải qua các Ngoài ra, trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau,thời kỳ lịch sử khác nhau,các lớp dân cư liên tục di cư đến đây sinh cơ lập nghiệp trong đó sự xuất hiện củangười Kinh từ miền xuôi lên và có vai trò khá quan trọng góp phần tạo cho thành phố Điện
phố Điện Biên Phủ và Biên Phủ và huyện Đihuyện Điện Biên có nện Biên có nền văn hóền văn hóa phong pha phong phú, đa dạngú, đa dạng
Xét theo nguồn gốc ngôn ngữ, địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên chủ yếu được cấu tạo bởi các yếu tố thuộc ngôn ngữ tiếng Thái, sau đó
54
Trang 28đến các địa danh được cấu tạo bởi đến các địa danh được cấu tạo bởi ngôn ngữ tiếng Việt, còn một bộ phận nhỏ là cácngôn ngữ tiếng Việt, còn một bộ phận nhỏ là cácđịa danh được cấu tạo bởi tiếng Mông, Khơ Mú, Lào và một số dân tộc khác.
1.7.4 Kết quả thống kê địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện ĐiệnBiên theo tiêu chí tự nhiên -
Biên theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên cho thấy địa danh trong hai địa không tự nhiên cho thấy địa danh trong hai địa bàn nàybàn này
đã phản ánh khá trung thực địa hình tự nhiên và cảnh quan trong vùng Đó là địahình đồi núi, sông ngòi dày đặc tạo nên các loại hình địa danh gồm sơn danh, thủydanh và các vùng đất nhỏ phi dân cư khá đa dạng, độc đáo
CHƯƠNG 2 CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
VÀ HUYỆN ĐIỆN BIÊN
2.1 CẤU TRÚC PHỨC THỂ ĐỊA DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊNPHỦ VÀ HUYỆN ĐIỆN BIÊN
2.1.1 Vài nét về mô hình cấu trúc phức thể địa danhMột địa danh bao giờ cũng có hình thức cấu tạo và nội dung ý nghĩa Địadanh đó luôn được đặt trong một cấu trúc, một chỉnh thể nhất định Việc xác địnhđịa danh trong các tổ hợp từ ngữ hay trong một cấu trúc cụ thể giúp chúng ta phântích được các yếu tố cấu tạo địa danh cũng như có cách thể hiện chúng dưới dạngvăn tự đúng đắn và phù hợp Khi nghiên cứu địa danh, nhiều nhà nghiên cứu đưa raquan niệm về mô hình cấu trúc địa danh Chẳng hạn, A.V Superanskaja, một nhànghiên cứu địa danh người Nga, trong cuốn “
nghiên cứu địa danh người Nga, trong cuốn “ Địa Địa danh danh học học là là gì?gì?” đã dùng thuật” đã dùng thuậtngữ tên chung và tên riêng để
ngữ tên chung và tên riêng để phân biệt hai cấu trúc cụm phân biệt hai cấu trúc cụm từ trong cấu trúc phức từ trong cấu trúc phức thểthểđịa danh Theo tác giả: “
địa danh Theo tác giả: “ Những Những mục mục tiêu tiêu địa địa lí lí có có hai hai loại loại tên: tên: tên tên chung chung để để xếpxếpchúng vào hệ thống khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể
biệt của từng vật thể ” [43, tr.13].” [43, tr.13]
55
Trang 29Một số nhà nghiên cứu địa danh Việt Nam cũng tán đồng Một số nhà nghiên cứu địa danh Việt Nam cũng tán đồng với quan niệm nàyvới quan niệm nàycủa A V Superanskaja Chẳng hạn, Nguyễn Kiên Trường: “
của A V Superanskaja Chẳng hạn, Nguyễn Kiên Trường: “ Địa danh mang Địa danh mang trong trong mình hai thông tin: a) đối tượng được gọi tên thuộc loại hình đối tượng địa lí nào(đồi, sông, phố, làng ), thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b) có nghĩa nào
đó (phản ánh điều gì đó), thể hiện qua tên riêng
đó (phản ánh điều gì đó), thể hiện qua tên riêng ” [48, tr.53].” [48, tr.53]
Từ Thu Mai: “
Từ Thu Mai: “ Khi đã phân biệt thành bộ Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung và bộ phận từ ngữ chung và bộ phận tênphận tênriêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận từ ngữ chung đượcđặt trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lí
tr.55]
Phan Xuân Đạm: “Phan Xuân Đạm: “ Mỗi địa danh gồm hai thành tố Mỗi địa danh gồm hai thành tố: thành tố chung (A) là từ,: thành tố chung (A) là từ,ngữ danh pháp và thành tố riêng (B) là tên riêng Thành tố thứ nhất giúp chúng tanhận biết loại hình của đối tượng địa lí, thành tố thứ
nhận biết loại hình của đối tượng địa lí, thành tố thứ hai giúp chúng ta khu biệt đốihai giúp chúng ta khu biệt đốitượng
tượng ” [20, tr.51-52].” [20, tr.51-52]
Như Như vậy vậy tuy tuy có có các các cách cách thể thể hiện hiện khác khác nhau nhau nhưng nhưng nhìn nhìn chung chung các các nhànhànghiên cứu đều cho rằng về mặt cấu tạo địa danh là một tổ hợp gồm hai bộ phận:thành tố chung và thành tố riêng Tổ hợp đó được gọi là cấu trúc phức thể địa danh.Trong cấu trúc phức thể địa danh, mỗi thành tố lại có đặc điểm riêng và thành tốriêng đó mới được coi là địa danh
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà địa danh học đi trước, chúng tôicũng xác định một cấu trúc phức thể địa danh gồm hai bộ phận là từ ngữ chung vàtên riêng Chẳng hạn có những phức thể địa danh như:
tên riêng Chẳng hạn có những phức thể địa danh như: thành phố Điện Biên Phủthành phố Điện Biên Phủ,,huyện Điện Biên
huyện Điện Biên,, di tích Cầu Mường Thanhdi tích Cầu Mường Thanh,, hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáphầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp,, đồiđồi A1
A1,, sông Nậm Rốm sông Nậm Rốm,, dãy núi Pú Hồng Mèodãy núi Pú Hồng Mèo trong đó bộ phận từ ngữ chung là các từ: trong đó bộ phận từ ngữ chung là các từ:thành phố
thành phố ,, huyệnhuyện,, di tíchdi tích,, hầmhầm,, đồiđồi,, sông sông ,, dãy núidãy núi còn bộ phận tên riêng là những còn bộ phận tên riêng là nhữngtừ
từ, , ngngữ còn lạiữ còn lại:: Điện Điện Biên Biên PhủPhủ,, Điện Điện BiênBiên,, Cầu Mường ThanhCầu Mường Thanh,, Đại Đại tướng tướng VõVõ Nguyên G
Nguyên Giápiáp,, A1 A1,, Nậm Rốm Nậm Rốm,, Pú Hồng M Pú Hồng Mèoèo
Mỗi bộ phận đó có vai trò, chức năng riêng nhưng được đặt trong mối quan
hệ gắn bó, thống nhất với nhau Bộ phận từ ngữ chung dùng để gọi tên các đốitượng địa lí có cùng đặc điểm được xếp vào cùng một kiểu loại Do đó, bộ phận này
56
Trang 30có thể do từ hay cụm từ đảm nhiệm Còn bộ phận tên riêng dùng để khu biệt đốitượng địa lí này với đối tượng địa lí khác, đặc biệt khi các đối tượng này thuộc vàocùng một kiểu loại Bộ phận này có thể được cấu tạo bởi từ, cụm từ và các từ ngữnày thuộc các từ loại khác nhau như động từ, tính từ, danh từ, số từ, đại từ Trong phức thể đ
phức thể địa danh, bộ ịa danh, bộ phận từ ngphận từ ngữ chung thưữ chung thường đứng trờng đứng trước và là cái ước và là cái được hạn địđược hạn địnhnhcho đối tượng địa lí còn bộ phận tên riêng thường đứng sau để hạn định cho đốitượng địa lí đó
Chẳng hạn trong những phức thể địa danh nhưChẳng hạn trong những phức thể địa danh như đồi A1đồi A1,, đồi Cháyđồi Cháy,, đồi Pomđồi Pom Lót
Lót ,, đồi C2đồi C2 thì đối tượng địa lí được hạn định ở đây chỉ có “đồi”, đó là dạng địa thì đối tượng địa lí được hạn định ở đây chỉ có “đồi”, đó là dạng địahình lồi, có sườn thoải, thường không cao quá 200m; nhưng các “đồi” này khônggiống nhau do được khu biệt bởi các yếu tố hạn định:
giống nhau do được khu biệt bởi các yếu tố hạn định: A1 A1,, CháyCháy,, Pom Lót Pom Lót ,, C2C2
Như vậy, Như vậy, trong cấu ttrong cấu trúc phức thrúc phức thể địa danh ể địa danh thì bộ pthì bộ phận tên rihận tên riêng mới đưêng mới được coiợc coi
là địa danh và địa danh này
là địa danh và địa danh này có cấu trúc nội bộ có cấu trúc nội bộ riêng (từ đây chúng tôi sẽ thống nhấtriêng (từ đây chúng tôi sẽ thống nhất
sử dụng thuật ngữ “địa danh” thay cho thuật ngữ “tên riêng”) còn bộ phận từ ngữchung đứng trước nó chỉ có tính chất xác định loại hình đối tượng địa lí được địnhdanh Khi địa danh thể hiện dưới dạng chữ viết thì bộ phận tên riêng được viết chữ
in hoa còn bộ phận từ ngữ chung viết chữ in thường Chẳng hạn,
in hoa còn bộ phận từ ngữ chung viết chữ in thường Chẳng hạn, bản Hồng Cúmbản Hồng Cúm,, hồhồ
Pa Khoan
Pa Khoang g ,, đền Hoàng Công Chất đền Hoàng Công Chất
2.1.2 Cấu trúc phức thể địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên
Địa danh thành phố Điện Biên Phủ và
Địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên cũng được tạo thànhhuyện Điện Biên cũng được tạo thành bởi
bởi một một phức phức thể thể gồm gồm hai hai bộ bộ phận phận là là từ từ ngữ ngữ chung chung (thành (thành tố tố chung) chung) và và địa địa danhdanh(tên riêng) Đưa ra mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở thành phố Điện Biên Phủ
và huyện Điện Biên là chúng tôi đi sâu vào mô tả, mô hình hóa địa danh ở hai địa bàn này
Qua khảo sát 1008 địa danh trong thành phố Điện Biên Phủ và huyện ĐiệnBiên, chúng tôi xác định mô hình khái quát về cấu trúc phức thể địa danh như bảng 2.1
57
Trang 31Bảng 2.1: Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở Bảng 2.1: Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
Mô
hình
Phức thể địa danh T
Th hààn nh h ttố ố cch hung g ((ttốối i đ đa a 7 7 yyếếu u ttốố)) Đ Địịa a d daan nh h ((ttốối i đ đa a 112 2 yyếếu u ttốố)) Y
2.2 THÀNH TỐ CHUNG2.2.1 Khái niệm thành tố chungCác nhà địa danh học
Các nhà địa danh học đi trước tuy có nhiều cách gọi đi trước tuy có nhiều cách gọi tên khác nhau cho thànhtên khác nhau cho thành
tố chung như: tên gọi chung thành tố A (danh từ chung) nhưng cách hiểu về bản
Trang 32tố chung như: tên gọi chung, thành tố A (danh từ chung) nhưng cách hiểu về bảnchất thành tố chung thì khá đồng nhất với quan điểm của nhà nghiên cứu địa danhhọc người Nga A.V Superanskaja: đó “
học người Nga A.V Superanskaja: đó “là những tên gọi chung liên kết các đốilà những tên gọi chung liên kết các đốitượng địa lí với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng được diễn đạt bằng cácdanh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các
danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu, cóđối tượng cùng kiểu, cócùng đặc điểm nhất định
cùng đặc điểm nhất định” [43, tr.13].” [43, tr.13]
Như vậy, thành tố chung trong phức Như vậy, thành tố chung trong phức thể địa danh thể địa danh là bộ phận từ là bộ phận từ ngữ dùng đểngữ dùng đểchỉ những đối tượng địa lí có cùng
chỉ những đối tượng địa lí có cùng thuộc tính, bản chất được xếp vào cùng một thuộc tính, bản chất được xếp vào cùng một loạiloạihình Thành tố chung có đầy đủ các mặt chức năng, cấu tạo, vị trí và ý nghĩa Chứcnăng của nó là gọi tên và chỉ một lớp đối tượng có cùng thuộc tính; chúng có cấutạo là những danh từ chung hay ngữ danh từ chung và trong phức thể địa danh
chúng có vị trí đứng trước địa danh để phản ánh loại hình của đối tượng được địnhdanh; còn về ý nghĩa chúng có cả ý nghĩa về hình thức -
danh; còn về ý nghĩa chúng có cả ý nghĩa về hình thức - tạo nên chỉnh thể của phứctạo nên chỉnh thể của phứcthể địa danh và ý nghĩa về
thể địa danh và ý nghĩa về nội dung - xác định loại hình của đối tượng được gọi tênnội dung - xác định loại hình của đối tượng được gọi têntrong địa danh
59
2.2.2 Thành tố chung trong địa danh thành 2.2.2 Thành tố chung trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyệnphố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên
2.2.2.1 Số lượng các thành tố chungTrong tổng số 1008 phức thể địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên, chúng tôi tập hợp và thống kê được 51 loại hình đối tượng địa lí tươngtương với 51 thành tố chung Các thành tố này phân bố khác nhau trong các nhómloại hình địa danh Cụ thể:
- Trong loại hình địa danh địa hình thiên nhiên có 12 thành tố chung, chiếm24,0%, thể hiện qua 238 địa danh Trong đó có 5 thành tố chung thuộc sơn danh,chiếm 10,0% với 79 địa danh, chẳng
chiếm 10,0% với 79 địa danh, chẳng hạn,hạn, dãy núidãy núi Pu Khâu Lạnh, Pu Khâu Lạnh, núinúi Lao Yao, Lao Yao, đèođèoHua Pe,
Hua Pe, thácthác Bay, Bay, đồiđồi Độc Lập; có 4 thành tố chung thuộc thủy danh, chiếm 8,0%Độc Lập; có 4 thành tố chung thuộc thủy danh, chiếm 8,0%với 149 địa danh, chẳng hạn,
với 149 địa danh, chẳng hạn, hồhồ Co Củ, Co Củ, sông sông Mã, Mã, suối suối Ái, Ái, khekhe Loọng Bon; có 3 địa Loọng Bon; có 3 địadanh thuộc các vùng đất nhỏ phi dân cư, chiếm 6,0% với 10 địa danh, chẳng hạn,cánh đồng
cánh đồng Nà TấuNà Tấu độngđộng Pa ThơmPa Thơm hanghang Chùa Pá SaChùa Pá Sa
Trang 33cánh đồngcánh đồng Nà Tấu, Nà Tấu, động động Pa Thơm, Pa Thơm, hang hang Chùa Pá Sa. Chùa Pá Sa.
- Trong loại hình địa danh các đơn vị dân cư có 9 thành tố chung, chiếm18,0% thể hiện qua 624 địa danh Trong đó có 8 thành tố chung chỉ loại hình cácđơn vị dân cư hiện nay đang được sử dụng phổ biến trong chính quyền hành chính,chiếm 16,0% qua 619 địa danh, chẳng hạn
chiếm 16,0% qua 619 địa danh, chẳng hạn thành phốthành phố Điện Biên Phủ,Điện Biên Phủ, huyệnhuyện Điện ĐiệnBiên,
Biên, phường phường Tân Thanh, Tân Thanh, xã xã Thanh An, Thanh An, tổ dân phốtổ dân phố 25,25, bảnbản Nà Nghè, Nà Nghè, thônthôn Việt ViệtThanh,
Thanh, độiđội 10; có 1 thành tố chung chỉ đơn vị dân cư cũ, hiện nay không còn sử 10; có 1 thành tố chung chỉ đơn vị dân cư cũ, hiện nay không còn sửdụng trong chính quyền hành chính đó là
dụng trong chính quyền hành chính đó là địa danh “mường”, chiếm 2,0% xuất hiệnđịa danh “mường”, chiếm 2,0% xuất hiệntrong 5 địa danh, chẳng hạn,
trong 5 địa danh, chẳng hạn, mường mường Phăng, Phăng, mường mường Nhà. Nhà
- Trong loại hình địa danh các công trình nhân tạo có 30 thành tố chung,chiếm 58,0%, được thể hiện qua 146 địa danh Trong đó, loại địa danh các công
trình nhân tạo gắn với hoạt động vật chất, kĩ thuật của con người có tới 24 thành tốchung, chiếm 47,0% với 98 địa danh, chẳng hạn,
chung, chiếm 47,0% với 98 địa danh, chẳng hạn, quốc lộquốc lộ 12, 12, đường đường Lò Văn Hặc, Lò Văn Hặc,đèo
đèo An Tao, An Tao, đập trànđập tràn Pa Khoang, Pa Khoang, cầucầu Pắc Nậm, Pắc Nậm, công trình đại thủy nông công trình đại thủy nông NậmNậmRốm,
Rốm, khu khảo cổ họckhu khảo cổ học Hồ U Va, Hồ U Va, sân bay sân bay Điện Biên Phủ; còn loại địa danh các công Điện Biên Phủ; còn loại địa danh các côngtrình nhân tạo gắn với hoạt động tâm linh của con người chỉ có 6 thành tố chung,
60
chiếm 12,0% và được thể hiện qua 48 địa danh, chẳng hạn,chiếm 12,0% và được thể hiện qua 48 địa danh, chẳng hạn, bảo tàng bảo tàng Tỉnh Điện Tỉnh ĐiệnBiên,
Biên, lễ hộilễ hội Mừng cơm mới, Mừng cơm mới, nghĩa trang liệt sĩ nghĩa trang liệt sĩ Độc Lập, Độc Lập, đềnđền Hoàng Công Chất, Hoàng Công Chất,chùa
chùa Vạt Bu Hôm, Vạt Bu Hôm, di tíchdi tích Sân bay Hồng Cúm. Sân bay Hồng Cúm
2.2.2.2 Cấu tạo của các thành tố chungKhi coi mỗi âm tiết là một yếu tố thì trong 51 thành tố chung chỉ loại hình đốitượng địa lí được định danh có 25 thành tố chung có cấu tạo đơn yếu tố, chiếm 50%chẳng hạn
chẳng hạn bản, thôn, đội, đèo, hang, động, kênh, cầu, hầmbản, thôn, đội, đèo, hang, động, kênh, cầu, hầm Loại thành tố chung có cấu Loại thành tố chung có cấutạo phức thường có độ dài từ hai yếu tố trở lên và tối đa là 7 yếu tố Trong đó thành tốchung được cấu tạo bởi 2 yếu tố có tới 15 thành tố chung, chiếm số lượng lớn nhất chẳnghạn,
hạn, thành phố, quốc lộ, sân bay, tượng đài, lễ hội, bảo tàng, di tíchthành phố, quốc lộ, sân bay, tượng đài, lễ hội, bảo tàng, di tích , chỉ có 1 thành tố , chỉ có 1 thành tốchung được cấu tạo gồm năm yếu tố là
chung được cấu tạo gồm năm yếu tố là công trình đại thủy nông công trình đại thủy nông và 1 thành tố chung và 1 thành tố chungđược cấu tạo gồm bảy yếu tố là
được cấu tạo gồm bảy yếu tố là quần thể khu di tích lịch sử quần thể khu di tích lịch sử , cả hai thành tố chung này, cả hai thành tố chung nàyđều thuộc vào địa danh các công trình nhân tạo
Đặc điểm cấu tạo của các thành tố chung được thể hiện trong bảng 2 2
Trang 34Đặc điểm cấu tạo của các thành tố chung được thể hiện trong bảng 2.2.
Bảng 2.2: Kết quả thống kê cấu Bảng 2.2: Kết quả thống kê cấu tạo các thành tố chungtạo các thành tố chungS
STTTT SSố ố llưượợnng g yyếếu u ttốố Số lượng
thành tố chung
Tỉ lệ(%)
Ví dụ
55 Năm yếu tố 11 11 Nậm RốmCôCông ng trtrìnình h đạđại i ththủy ủy nônông ng
Điện Biên Phủ2.2.2.3 Chức năng của các thành tố chung
Thành tố chung và địa danh có mối quan hệ qua lại, bổ sung, hỗ trợ chonhau Thành tố chung là cái được hạn định trong phức thể địa danh nên nó thực hiệnchức năng rất quan trọng là đi kèm và phân biệt loại hình cho địa danh Chẳng hạn,
61
cùng một địa danhcùng một địa danh Điện Biên Điện Biên PhủPhủ nhưng khi đi sau các thành tố chung khác nhau nhưng khi đi sau các thành tố chung khác nhaunhư
như thành phố, nghĩa trang liệt sĩ, sân bay, quần thể khu di tích lịch sử thành phố, nghĩa trang liệt sĩ, sân bay, quần thể khu di tích lịch sử thì các phức thì các phứcthể địa danh này cũng khác nhau và có sự phân biệt rõ ràng về loại hình đối tượngđịa lí, ta có các phức thể địa danh khác nhau như:
địa lí, ta có các phức thể địa danh khác nhau như: thành phốthành phố Điện Biên PhủĐiện Biên Phủ , nghĩa , nghĩatrang liệt sĩ
trang liệt sĩ Điện Biên PhủĐiện Biên Phủ , , sân sân baybay Điện Biên PhủĐiện Biên Phủ , , quần quần thể thể khu khu di di tích tích lịch lịch sử sử Điện Biên Phủ
Các thành tố chung cũng có sự linh hoạt trong các phức thể địa danh, chúngkhông chỉ đứng ở trước địa danh và
không chỉ đứng ở trước địa danh và thực hiện chức năng phân biệt loại hình cho địathực hiện chức năng phân biệt loại hình cho địadanh mà chúng còn xâm nhập và chuyển hóa thành một hoặc một vài yếu tố trongđịa danh Đây cũng là một chức năng quan trọng nữa của thành tố chung trong phứcthể địa danh Chức năng này phản ánh sự đa dạng trong mối quan hệ giữa các bộ phận trong cấu trúc địa danh đồng thời cũng làm tăng thêm sự
phận trong cấu trúc địa danh đồng thời cũng làm tăng thêm sự phong phú, đa dạng,phong phú, đa dạng,độc đáo của các địa danh
Trang 35Tìm hiểu về cấu tạo của thành tố chung, chúng ta đã biết thành tố chung có
cả cấu tạo đơn và cấu tạo phức Nhưng khi thành tố chung rời khỏi vị trí của mình
để chuyển hóa thành một hoặc một vài yếu tố nào đó trong địa danh thì các thành tốchung có cấu tạo đơn dễ dàng chuyển hóa hơn cả Còn trường hợp thành tố chung
có cấu tạo phức chuyển hóa thành địa danh có số lượng rất nhỏ trong địa danh cácđơn vị dân cư và địa danh các công trình nhân tạo, các thành tố chung này có cấutạo hai hoặc bốn yếu tố, chẳng hạn, thôn
tạo hai hoặc bốn yếu tố, chẳng hạn, thôn Nhà Trường Nhà Trường , di tích, di tích Sân baySân bay Hồng Cúm, di Hồng Cúm, ditích
tích Trung tâm đề kháng Trung tâm đề kháng Him Lam Him Lam
Trong tổng số 1008 địa danh đã được điều tra và thu thập ở thành phố ĐiệnBiên Phủ và huyện Điện Biên, chúng tôi thống kê được 488 trường hợp các thành tốchung được chuyển hóa vào 439 địa danh ở các vị trí, các yếu tố khác nhau Cácthành tố chung này biểu thị cả địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư
thành tố chung này biểu thị cả địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và các công trìnhvà các công trìnhnhân tạo trong đó các thành tố chung biểu thị địa hình thiên nhiên được chuyển hóanhiều nhất vào các địa danh
Như trên chún Như trên chúng tôi đã trình bàyg tôi đã trình bày, các địa danh trong t, các địa danh trong thành phố Điệhành phố Điện Biên Phủn Biên Phủ
và huyện Điện Biên có số lượng yếu tố lớn nhất là mười hai yếu tố, trừ vị trí thứ
62
chín và vị trí thứ mười một còn lại các thành tố chung đều lần lượt được chuyển hóavào các vị trí còn lại trong địa danh Trong đó sự chuyển hóa thành tố chung đếnyếu tố thứ ba là phong phú, đa dạng nhất còn trường hợp chuyển hóa ở các yếu tốthứ tư trở đi nhìn chung đều có sự lặp lại trong một số phức thể địa danh có sốlượng yếu tố lớn và chứa nhiều thành tố chung khác nhau chuyển hóa thành Cụ thể:
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất hoặc độc lập tạo thànhđịa danh: có 409 trường hợp, chiếm 83,81% trong đó chỉ có 3 trường hợp thành tốchung chuyển hóa và độc lập tạo thành địa danh, chiếm 0,61% Chẳng hạn, trườnghợp thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất trong địa danh: di tích
Tam Vạn, cầu treoTam Vạn, cầu treo Nậm Nậm Thanh (suối xanh), khu khảo cổ học Thanh (suối xanh), khu khảo cổ học Hồ Hồ U Va, khe U Va, khe Hồng Hồng Cúm (khe cái cúm), núi
Cúm (khe cái cúm), núi Pá Pá Chả (rừng trúc), bản Chả (rừng trúc), bản Phiêng Phiêng Ban (bãi cây ban), thôn Ban (bãi cây ban), thônTrại
Trại Lúa, xã Lúa, xã Noong Noong Hẹt (ao tê giác); trường hợp thành tố chung chuyển hóa và độc Hẹt (ao tê giác); trường hợp thành tố chung chuyển hóa và độclập tạo thành địa danh: suối
lập tạo thành địa danh: suối CảnhCảnh (thác), bản (thác), bản Kéo Kéo (đèo), suối (đèo), suối ThẩmThẩm (hang). (hang)
Trang 36- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ hai trong địa danh có 41trường hợp, chiếm 8,40% Chẳng hạn, cầu Pắc
trường hợp, chiếm 8,40% Chẳng hạn, cầu Pắc Nậm Nậm (cửa suối), bản Che (cửa suối), bản Che Phai Phai (cạnh (cạnhđập nước), bản Càng
đập nước), bản Càng Ná Ná (giữa cánh đồng), thôn Thanh (giữa cánh đồng), thôn Thanh SơnSơn (núi xanh), động Pa (núi xanh), động PaThơm
Thơm (cửa hang), đồi Bản (cửa hang), đồi Bản Kéo Kéo (bản đèo), hang Chùa (bản đèo), hang Chùa Pá Pá Sa (chùa rừng cây sa), lễ Sa (chùa rừng cây sa), lễhội Xên
đề kháng Đồi Bản Kéo Kéo
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ tư trong địa danh có 3 trườnghợp, chiếm 0,61% Chẳng hạn, di tích Dân quân ở
hợp, chiếm 0,61% Chẳng hạn, di tích Dân quân ở xã xã Thanh An bắn rơi máy bay Thanh An bắn rơi máy bay
Mĩ, di tích Trại tập trung
Mĩ, di tích Trại tập trung Noong Noong Nhai. Nhai
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ năm có ở 6 trường hợp, chiếm1,23% Chẳng hạn, di tích Khu khảo cổ học
1,23% Chẳng hạn, di tích Khu khảo cổ học Hồ Hồ U Va, di tích Trung tâm đề kháng U Va, di tích Trung tâm đề kháng Đồi
Đồi D, di tích Trung tâm đề khángD, di tích Trung tâm đề kháng Đồi Đồi Độc Lập.Độc Lập
đề kháng Đồi Bản Bản Kéo. Kéo
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ bảy có ở 5 trường hợp, chiếm1,0
1,02% Chẳng hạn, tượng đài Chiến thắng lịch sử 2% Chẳng hạn, tượng đài Chiến thắng lịch sử Điện BiênĐiện Biên Phủ Phủ, bảo tàng Chiến, bảo tàng Chiếnthắng lịch sử Điện Biên
thắng lịch sử Điện Biên Phủ Phủ, di tích đồi phát hiện trống đồng bản, di tích đồi phát hiện trống đồng bản Na Na Hý.Hý
- Còn lại các trường hợp thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ tám, yếu tố
thứ mười và yếu tố thứ mười hai trong đó thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứtám và thứ mười hai có ở 1 trường hợp, mỗi trường hợp chiếm 0,20%; thành tố chungchuyển hóa thành yếu tố thứ mười có ở 3 trường hợp, chiếm 0,61% Chẳng hạn, di tíchĐường kéo pháo của quân ta ở Điện Biên
Đường kéo pháo của quân ta ở Điện Biên Ph Phủủ, di tích Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên, di tích Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Ph
Phủủ, di tích Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên, di tích Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Ph Phủủ, di tích Trận địa pháo của quân, di tích Trận địa pháo của quân
ta ở Điện Biên
ta ở Điện Biên Ph Phủủ, di tích Hồ Pa Khoang và Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên, di tích Hồ Pa Khoang và Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Ph Phủủ Các Các
Trang 37ph phức ức ththể để địa ịa dandanh th trên rên đềđều cu có tó thànhành h tố tố chchunung lg là “à “ ph phủủ”, thành tố này dùng để chỉ một đơn”, thành tố này dùng để chỉ một đơn
vị hành chính quan trọng nhất của một vùng và thành tố này được chuyển hóa thành mộtyếu tố trong địa danh ở các vị trí khác nhau
Qua các trường hợp chuyển hóa của thành tố chung vào trong địa danh,chúng tôi thấy có một số trường hợp các thành tố chung khác nhau chuyển hóathành các yếu tố ở các vị trí khác nhau trong cùng một địa danh Chẳng hạn, trong phức thể địa danh “
phức thể địa danh “di tích Thành Bản Phủdi tích Thành Bản Phủ”, ba thành tố chung là: “”, ba thành tố chung là: “thànhthành” (chỉ một” (chỉ mộtcông trình xây dựng) cùng với hai thành tố “
công trình xây dựng) cùng với hai thành tố “bảnbản” và “” và “ phủ phủ” (chỉ các đơn vị dân cư)” (chỉ các đơn vị dân cư)được lần lượt chuyển hóa thành các yếu tố khác nhau ở các vị trí thư nhất, thứ hai
và thứ ba trong địa danh
Sự phân bố các thành tố chung khi chuyển hóa thành các yếu tố trong địadanh được thể hiện ở bảng 2.3
64
Bảng 2.3: Thống kê sự phân bố của các thành tố chung khi chuyển hóa thành
các yếu tố trong địa danh
Vị trí YT
11
YT 22
YT 33
YT 44
YT 55
YT 66
YT 77
YT 88
YT 99
YT 10
YT 11
Trang 38loại hình và giữa các loại hình địa danh với nhau.
Địa danh cũng như thành tố chung trong phức thể địa danh có đầy đủ các mặtcấu tạo, chức năng, vị trí, ý nghĩa
Trước hết về vị trí, địa danh luôn đứng sau thành tố chung chỉ loại hình đốitượng địa lí để hạn định ý nghĩa cho đơn vị này Do phức thể địa danh được tạo ratheo phương thức trật tự từ trong tiếng Việt nên cũng như thành tố chung, địa danh
thường được phiên âm ra tiếng Việt để tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo và ýnghĩa của địa danh còn những địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp thường chỉ lànhững danh từ riêng chỉ người nên không nhất thiết phải dịch ra tiếng Việt Điều đó
có nghĩa là những phức thể địa danh nơi đây vừa mang những đặc trưng của tiếngViệt vừa mang những nét riêng của ngôn ngữ, văn hóa trong vùng Chẳng hạn, cácđịa danh được cấu tạo bởi những yếu tố Hán Việt:
địa danh được cấu tạo bởi những yếu tố Hán Việt: Thanh Xuân, Việt Hưng, Mỹ Thanh Xuân, Việt Hưng, Mỹ Hưng,
Hưng, Thanh Thanh BìnhBình, các địa danh cấu tạo bởi những yếu tố thuần Việt:, các địa danh cấu tạo bởi những yếu tố thuần Việt: Mới, Mới, NhàNhàtrường
trường cũng giống như ở nơi khác, nhưng cấu tạo bằng các yếu tố tiếng dân tộc cũng giống như ở nơi khác, nhưng cấu tạo bằng các yếu tố tiếng dân tộcthiểu số như
thiểu số như Ná Ná Khưa, Khưa, Noong Noong Bua, Bua, Huổi Huổi Co Co Củ, Củ, Pú Pú Co Co Nghịu, Nghịu, Tằng Tằng QuáiQuái thì thìmang đậm tính dân tộc và địa phương Địa danh nơi đây cũng có đầy đủ những kiểuquan hệ của cấu tạo từ đó là quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập và quan hệ chủ vị.Những
Những kiểukiểu quanquan hệhệ nàynày cùngcùng vớivới cáccác đặcđặc điểmđiểm vềvề cấucấu tạotạo dodo phươngphương thứcthức địnhđịnh
Trang 39Những Những kiểu kiểu quan quan hệ hệ này này cùng cùng với với các các đặc đặc điểm điểm về về cấu cấu tạo tạo do do phương phương thức thức địnhđịnhdanh mang lại có tính chất quyết định trong việc tạo ra ý nghĩa của các yếu tố cấutạo địa danh Trong cấu tạo của địa danh còn có một bộ phận các thành tố chung chỉloại hình đối tượng địa lí được chuyển hóa thành một hoặc một số các yếu tố trongđịa danh Nghĩa là khi thấy một đối tượng địa lí mới có quan hệ nào đó với đốitượng địa lí đã được đặt tên thì người định danh sẽ lấy những từ ngữ chỉ loại hìnhđịa lí hoặc tên của đối tượng cũ để định danh cho đối tượng mới; cũng có khi ngườiđịnh danh chỉ lựa chọn một đặc điểm nào đó có liên quan giữa đối tượng mới và đốitượng cũ để gọi tên đối tượng mới.
2.3.2 Số lượng yếu tố trong địa danhCác địa danh trong tổng số 1008 địa danh ở hai địa bàn nghiên cứu có độ dài
khác nhau, địa danh có cấu tạo đơn giản nhất chỉ gồm một yếu tố còn địa danh cócấu tạo phức tạp nhất gồm mười hai yếu tố Ở đây chúng tôi coi mỗi yếu tố tươngđương với một âm tiết có nghĩa
66
2.3.2.1 Kết quả thống kê số lượng các yếu tố trong địa danh
Số lượng các yếu tố trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện ĐiệnBiên được chúng tôi thống kê trong bảng 2.4
Bảng 2.4: Thống kê địa danh theo số lượng các yếu tốS
cộng
Tỉ lệ(%)Đ
Trang 40chiếm 19,35%; còn các loại địa danh từ bốn yếu tố đến mười hai yếu tố tố đến mười hai yếu tố có số lượngcó số lượngrất ít với 27 địa danh chiếm 2,68% Điều đó cho thấy người định danh thường có xuhướng đặt tên địa danh theo cách đơn giản, dễ nhớ, dễ thuộc và ngắn gọn.
* Về loại hình địa danh và số lượng các yếu tố
Ở các loại hình địa danh khác nhau trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ
và huyện Điện Biên, các địa danh có số lượng yếu tố không giống nhau
67
Ở loại địa danh địa hình thiên nhiên trong tổng số 238 địa danh (chiếm23,61%) có 52 trường hợp có cấu tạo chỉ một yếu tố, chiếm 5,16% (chẳng hạn, đồiCháy
Cháy, đồi, đồi Thông Thông , sông, sông Mã Mã, suối, suối CảnhCảnh, suối, suối Lương Lương ); có 158 địa danh có cấu tạo hai); có 158 địa danh có cấu tạo haiyếu tố, chiếm 15,67% (chẳng hạn, núi
yếu tố, chiếm 15,67% (chẳng hạn, núi Đất Lẻ Đất Lẻ, núi, núi Pu Hang Pu Hang , đèo, đèo Cò ChạyCò Chạy, suối, suối Hai Hai Nọi
Nọi, khe, khe Hoong Ka Hoong Ka, cánh đồng, cánh đồng Mường Lói Mường Lói, hang, hang Huổi He Huổi He); có 27 địa danh ba yếu); có 27 địa danh ba yếu
tố, chiếm 2,68% (chẳng hạn, dãy núi
tố, chiếm 2,68% (chẳng hạn, dãy núi Pú Hồng Mèo Pú Hồng Mèo, núi, núi Phu Khăn Pỏm Phu Khăn Pỏm, suối, suối Him Him Lếch
Lếch PhayPhay, suối, suối Nậm Nậm Phăng Phăng NọiNọi) và chỉ có 1 địa danh bốn yếu tố, chiếm 0,1%) và chỉ có 1 địa danh bốn yếu tố, chiếm 0,1%(chẳng hạn, núi
(chẳng hạn, núi Pu Nậm Pu Nậm Khẩu HúKhẩu Hú); còn các địa danh có cấu tạo từ bốn yếu tố đến); còn các địa danh có cấu tạo từ bốn yếu tố đếnmười hai yếu tố không có trường hợp nào Ở loại hình địa danh này, địa danh có cấutạo hai yếu tố chiếm tỉ lệ cao nhất
Trong 624 địa danh (chiếm 61,90%) đơn vị dân cư về mặt cấu tạo chỉ gồm từmột đến bốn yếu tố, các địa danh có số lượng yếu tố lớn hơn không thấy xuất hiện.Trong loại địa danh này, số lượng địa danh đa yếu tố (với 447 địa danh) nhiều hơn