TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾNViệc dạy học Tiếng Việt điển hình là Phân môn Tập làm văn là mộttrong những phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh biếtphát huy tính tích cực
Trang 1Phần 1 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
3 Tác giả:
Họ và tên: Nhữ Thị Vân Giới tính: Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 01/10/1988
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Hùng Thắng
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Trường Tiểu học Hùng Thắng – Bình Giang – Hải Dương
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, tận tâm trong công việc và luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh
- Nhà trường có đủ cơ sở, vật chất trang thiết bị dạy học để học sinh đượchọc 2 buổi/ngày
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 2A TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Việc dạy học Tiếng Việt (điển hình là Phân môn Tập làm văn) là mộttrong những phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh biếtphát huy tính tích cực, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, sử dụng toàn bộ các kỹnăng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác của môn TiếngViệt đảm nhiệm (kỹ năng đọc, nghe, nói, viết chữ, viết chính tả, dùng từ đặtcâu, ) Đặc biệt Tập làm văn còn là phân môn tổng hợp của vốn sống, vốn trithức và sự hiểu biết về xã hội, về thế giới đang phát triển xung quanh cuộcsống của các em học sinh Qua từng bài Tập làm văn, ta sẽ thấy được trình độ
sử dụng Tiếng Việt cũng như vốn tri thức và sự hiểu biết của các em về cuộcsống
Ở lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em được làm quen với đoạn văn vàđược rèn kĩ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu, song trong thực tế hiện nay, việcrèn cho học sinh viết đoạn văn tốt chưa được giáo viên chú tâm nhiều Bêncạnh đó, nhiều học sinh khi viết bài còn viết cẩu thả, không đúng yêu cầu, viếtlan man, không đủ số câu, sai ý, trình bày ý lộn xộn, thiếu tự nhiên, sai nhiềuchính tả, … Hơn thế nữa, một số em thiếu tự tin trong giờ Tập làm văn dễ dẫnđến hậu quả là các em chán nản, thiếu quyết tâm trong học tập Để khắc phụctình trạng này, đòi hỏi người giáo viên phải có kinh nghiệm và sáng tạo tronggiảng dạy, phải thật kiên trì và nhẫn nại, giúp học sinh nhận thức được tầmquan trọng của môn học Qua dự giờ và phỏng vấn một số học sinh ở một sốlớp, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêucầu Đó cũng là điều trăn trở lớn nhất của tôi và cũng là lí do tôi chọn và viết
sáng kiến với nội dung: “ Biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt
Thông thường, giáo viên dạy theo quy trình sách giáo khoa, sách giáoviên, điều này khiến học sinh hay gặp vướng mắc và áp đặt một cách máy mócnên tôi đã đưa ra một cách thức giúp HS khắc phục được những hạn chế
trong khi viết đoạn văn ngắn
+ Ứng dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy để giúp giáo viên tiết
Trang 3kiệm thời gian và truyền tải được nhiều ngữ liệu hơn Học sinh được quan sát
và tiếp nhận thông tin một cách phong phú
+ Thay vì đặt ra hệ thống câu hỏi trong việc hướng dẫn học sinh ở tất cả
các tiết gây sự nhàm chán, tôi đã đưa ra sơ đồ tư duy giúp học sinh dễ dàng
hơn trong khi viết các đoạn văn ngắn
+ Sáng kiến góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn vănngắn với câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sựsắp xếp các câu văn không lôgíc….Qua đó bồi dưỡng lòng say mê yêu thíchcon người, cảnh vật xung quanh các em
+ Góp phần vào đổi mới cách dạy Tiếng Việt, giúp học sinh có kĩ năng
viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2 theo hướng phát huytính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách họccủa trò Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chứccâu, ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết
Trong sáng kiến này, tôi cũng đưa ra một vài đề xuất nhỏ gửi đến Phònggiáo dục, nhà trường, địa phương, phụ huynh đặc biệt là với các thầy cô (nhữngngười có vai trò cơ bản quyết định chất lượng giáo dục của học sinh) để giúpcho việc dạy học đạt kết quả tốt hơn
Trang 4B MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới với quyết tâm công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Để thực hiện được điều đó đòi hỏi mỗichúng ta phải có một nguồn lực vừa có tài, vừa có đức, vừa có tri thức trongcuộc sống Nơi tạo ra những nền móng vững chắc cho quá trình học tập củamỗi con người chính là trường Tiểu học Giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảngcủa hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm,đạo đức, trí đức, thẩm mĩ và thể chất cho trẻ em nhằm hình thành cho học sinhnhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong các mặt giáo dục ởTiểu học thì Tiếng Việt là công cụ giúp các em giao tiếp, nhận biết được vốnkiến thức của nhân loại thành trí thức của riêng mình
Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giúpcác em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Phân môn Tập làmvăn trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ cả 4 kĩ năng trên Nó là phân môn tổng
hợp toàn bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phân môn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu Đối với học sinh lớp 2 thì đây là
một phân môn khó Bởi lẽ ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết cònhạn hẹp Bên cạnh đó, còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàncảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không cóđiều kiện quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiếnthức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ,… Điều này ảnh hưởng đến việchọc tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng
Trong chương trình Tập làm văn lớp 2, ngay từ đầu năm học, các emđược làm quen với đoạn văn và được rèn kĩ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu.Qua dự giờ thăm hỏi một số lớp, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều họcsinh làm bài chưa đạt yêu cầu Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai,cách chấm câu còn hạn chế có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có
Trang 5những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý.Việc dạy cho học sinhviết đoạn văn chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết và cảm nhậncủa các em về người, vật và cuộc sống xung quanh Điều đó đòi hỏi giáo viêndạy cho học sinh có cách tổ chức, sắp xếp câu, ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từchính xác và hay khi viết Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 khónhận thức được việc sắp xếp ý (cảm nhận của mình) theo trật tự đúng Vốnsống của các em còn hạn chế, do đó khi diễn đạt học sinh gặp rất nhiều khókhăn Sự sắp xếp tổ chức câu trong đoạn còn rời rạc Các câu độc lập về nộidung chưa có sự liên kết và lôgíc … Đôi khi các em còn viết câu không rõ ý, từlặp lại nhiều… Là một giáo viên đã từng mấy năm dạy lớp 2, tôi rất băn khoăn
và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bảnthân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng học tập
cho học sinh Đây là lí do tôi chọn và viết Sáng kiến với nội dung: “ Biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2” nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy - học phân môn Tập làm văn lớp 2
2 Cơ sở lí luận của vấn đề.
2.1 Tìm hiểu thực trạng.
Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạtđộng chủ đạo từ vui chơi sang học tập Các em hiếu động, ham chơi, sự tậptrung cho học tập và chú ý chưa cao Tư duy của các em nặng về trực quan cụthể, tư duy trừu tượng chưa phát triển Do đó, khi tổ chức dạy học, giáo viênphải linh hoạt sáng tạo thì mới có hiệu quả
2.2.Tìm hiểu nội dung chương trình, sách giáo khoa.
Như chúng ta đã biết, ở lớp 1 học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ tập nóihoặc viết câu có nội dung theo chủ đề bài học hoặc tìm tiếng nói có âm vần vừahọc Các em được ghép tiếng và nói những câu đơn giản, riêng lẻ có nội dunggần gũi với cuộc sống của các em hoặc ở các bài tập đọc Đến lớp 2 các em đãphải viết đoạn từ 4 đến 5 câu kể về một sự việc đơn giản mình cũng chứng kiến(tham gia) hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh các em Ở học kỳ I, chủyếu các em được viết đoạn từ 3 đến 5 câu kể về người thân như: Cô giáo, ông,
Trang 6bà, anh, chị, em và rộng hơn là toàn thể gia đình Đến học kỳ II các em đượcviết đoạn tả con vật (chim ), tả cảnh (biển), tả cây cối, tả người (ảnh Bác Hồ).Tuần 34 và 35, học sinh được kể về những việc làm mà bản thân chứng kiếnhoặc tham gia ….
Xen kẽ giữa các bài tập có yêu cầu kể (tả) nói trên có 2 dạng bài kể (tả) convật được viết đầy đủ song được sáo trộn trật tự câu nhằm mục đích củng cố về liênkết câu, gắn kết ý …
Mở đầu ngay ở tuần 1, sách giáo khoa đã giới thiệu cách kể theo nộidung tranh sau đó viết thành đoạn Đây chính là hình thức giúp học sinh vậndụng linh hoạt kỹ năng vốn hiểu biết khi học phân môn kể chuyện vào viếtđoạn văn ngắn
2.3 Vị trí , nhiệm vụ, nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2: 2.3.1.Vị trí :
Ở Tiểu học ( nhất là lớp 2), Tập làm văn là một trong những phân môn
có tầm quan trong đặc biệt vì ở lớp 1, các em chưa được học Lên lớp 2, học sinh mới bắt đầu được học, được làm quen với phân môn này
Phân môn Tập làm văn giúp học sinh có kỹ năng sử dụng Tiếng Việtđược phát triển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho đến luyện nói, luyện viếtthành bài văn theo suy nghĩ của từng cá nhân Tập cho các em ngay từ nhỏ cónhững hiểu biết sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính tự lập, tự trọng Conngười văn hóa sẽ hình thành các em từ những việc nhỏ bé, tưởng như khôngquan trọng đó Tập làm văn còn đòi hỏi học sinh huy động với kiến thức nhiềumặt ( Từ hiểu biết về cuộc sống đến tri thức về văn học, khoa học, thườngthức…) có liên quan đến đề bài Bài tập làm văn là sản phẩm của vốn sống,năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữnói và viết trong cuộc sống hằng ngày của học sinh Là môn học công cụ, phânmôn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm vững đơn vị tri thức cơ bản của khoahọc Việt ngữ Trên cơ sở hình thành kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết đạt đến trình
độ đúng Tạo điều kiện cho học sinh nắm được tri thức khoa học mới Vì vậy
Trang 7dạy học sinh tiếp thu kiến thức mới về cách viết một đoạn văn hay, đủ ý, gọnlời là góp phần không nhỏ vào việc hình thành mục tiêu giáo dục đào tạo.
kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật Trong hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể, sản phẩm lời nói mà một người tạo lập được có thể chỉ là một câu chào,một lời cảm ơn hay một vày dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm thiếp….Đốivới lớp 2, dạy Tập làm văn là trước hết là rèn luyện cho học sinh kỹ năng phục
vụ học tập và giao tiếp hàng ngày, cụ thể là:
+ Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm
ơn, xin lỗi, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành………
+ Dạy một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống, như : khai bản tựthuật ngắn, viết những bức thư ngắn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danhsanh sách học sinh, ………
Cuối cùng, cũng như các phân môn và môn học khác, phân môn Tập làmvăn, thông qua nội dung dạy học của mình, có nhiệm vụ trau dồi cho học sinhthái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡngnhững tình cảm lành mạnh cho các em
2.3.3 Nội dung :
Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em thực hành rènluyện các kỹ năng nói, viết,nghe phục vụ cho học tập và giao tiếp hàng ngày,
cụ thể :
Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu : chào hỏi, tự giới thiệu, cảm
ơn, xin lỗi…
Thực hành về kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày, như : viếtbản tự thuật ngắn, lặp danh sách học sinh, tra mục lục sách, ………
Trang 8Thực hành rèn kỹ năng diễn đạt ( nói, viết ), như : kể về người thân, tảbiển, tả cây cối, ……
Thực hành rèn kỹ năng nghe Với cách biên soạn này, giờ dạy Tập làmvăn trở nên linh hoạt hơn, gắn với cuộc sống đời thường hơn và giúp học sinhhứng thú trong học tập
3.1.1 Khó khăn.
Do đặc điểm tình hình địa phương là vùng nông thôn, điều kiện kinh tế
khó khăn, nên việc nhận thức của một số phụ huynh cho con em mình đi họccòn hạn chế hơn các vùng ở thị trấn, thành phố Việc đầu tư sách, vở, sách thamkhảo hay điều kiện được đi tham quan, dã ngoại cũng vô cùng khó khăn.Thêmvào đó môi trường sống ở vùng nông thôn ít nhiều ảnh hưởng cũng đến quátrình tiếp thu kiến thức của trẻ Là lớp đầu cấp (sau lớp 1) nên các em còn hạnchế khả năng giao tiếp, ngôn ngữ còn hạn hẹp về vốn từ
3.2.Về kiến thức trong sách giáo khoa:
Trang 9Nói chung kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp một cách hợp lí,lôgíc đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến sự vận dụng vốnsống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn Học sinh được dạy các kĩ năng kể (tả) đơngiản Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện cảnh vật theo nội dung bàitập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các em được kể (tả) những gì có vàdiễn ra trong cuộc sống xung quanh Điều này đã phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết đoạn Do đó, ta có thể khẳngđịnh rằng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đặc biệt chú trọng tới rèn kĩ năng viếtđoạn văn cho học sinh.
3 3 Những khó khăn hạn chế khi dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn.
3.3.1.Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn viết đoạn văn cho học sinhcách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáoviên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh Cáchdạy của giáo viên có phần khuôn mẫu
Ví dụ: Khi dạy học sinh bài Tập làm văn tuần 20 “ Tả ngắn về bốn mùa" Giáo viên đã hướng dẫn gợi mở các câu hỏi theo sách giáo khoa:
+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ? (Mùa hè bắt đầu từ tháng tưtrong năm)
+ Mặt trời mùa hè như thế nào ? (Mặt trời mùa hè rất chói chang)
+ Cây trái trong vườn như thế nào ?(Cây trong vườn có nhiều hoa quả ).+ Học sinh thường làm gì trong dịp nghỉ hè ? (Học sinh thường được vuichơi trong dịp nghỉ hè)
- Giáo viên chưa vận dụng kỹ năng tả “ Mùa Xuân" của bài tập 1 vàohướng dẫn bài tập 2 Sự dập khuôn máy móc như vậy dẫn đến bài viết của họcsinh là bốn câu thiếu lôgíc và sáng tạo, không phát huy được tính tích cực củahọc sinh
- Khi trao đổi với giáo viên dạy lớp 2 về cách hướng dẫn học sinh làm bàitập "Viết đoạn văn ngắn", đa số giáo viên đều trả lời rằng:
Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu bài
Trang 10Bước 2: Giáo viên nêu yêu cầu của bài: Viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu,
các câu phải liên kết với nhau
Bước 3 : Học sinh viết vào vở
Bước 4 : Đánh giá và chữa lỗi
+ Gọi 1 hoặc 2 học sinh đọc bài viết
+ Giáo viên đánh giá bài, chữa một số lỗi sai về câu từ
- Với cách hướng dẫn như trên học sinh khó có thể nhận ra nội dungđoạn viết cần có những gì ? Liên kết câu như thế nào ? Cách diễn đạt làm saocho thoát ý… Đến khi đánh giá bài như vậy chưa có kết quả thiết thực đối vớihọc sinh vì đối tượng học sinh lớp 2 các em dễ nhớ nhưng cũng nhanh quên
Do đó, cái sai của học sinh vẫn được lặp lại trong bài
3.3.2 Về phía học sinh
Các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt cònrất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còn cụt lủn Hoặc câu cóthể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa
rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược, đặc biệt làkhả năng miêu tả
- Học sinh có hứng thú trong giờ Tập làm văn song chủ yếu tập trung vàocác bài tập làm miệng với các yêu cầu nói lời cảm ơn, xin lỗi, đáp lại lời chào,lời tự giới thiệu… Học sinh thích thú nói về các con vật, người, quang cảnh vànhững gì diễn ra xung quanh Song vốn từ các em còn chưa nhiều, kỹ năng diễnđạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các em chưa nhận
ra được sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Ví dụ: Khi học bài tập làm văn tuần 10: Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết
một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông, bà hoặc người thân của em Bài viết của học sinh :" Bà em đã lên 60 tuổi rồi Da mịn màng Tóc dài
và thẳng Bà cho em bim bim Bà rủ em đi chợ sau đó hai bà cháu lại đi chơi."
- Học sinh thường viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình cho nên câuvăn chưa giàu hình ảnh, dùng từ chưa phù hợp
Trang 11Ví dụ: Cũng viết đoạn văn ngắn kể về ông, bà hoặc người thân ở bài tập
làm văn nói trên có một học sinh viết: “ Ông em 70 tuổi Ông là nghề làmvườn Hôm nào ông cũng đi tập thể dục bằng xe đạp.”
- Một số bài viết của học sinh còn lộn xộn về câu, ý, dùng từ chưa đúng vào văn cảnh, câu rời rạc thiếu sự liên kết
Ví dụ: Đây là đoạn văn của một học sinh khi viết đoạn văn tả về một
loài chim mà em thích ( Tập làm văn tuần 21) như sau:
" Những ngày đi học về em cảm thấy rất nhớ nó Mỏ nó mượt và nó hótrất hay Em rất thương nó và nó đẹp Bộ lông nó mượt Hình dáng của con bồcâu rất thích thú"
- Đôi khi học sinh viết câu dùng cụm từ so sánh để diễn tả nội dungsong sự so sánh ấy rất khập khiễng
Ví dụ : Khi viết đoạn văn kể về bà, có em viết : "Da mặt bà em nhăn nheo
như quả bưởi héo" Hay “Mỗi khi bà cười để lộ vài chiếc răng sữa trông rấtduyên.”
- Một lỗi nữa mà học sinh hay mắc là trả lời theo kiểu nắp đuôi cho nêncâu văn thiếu sự hấp dẫn, sinh động
V
í dụ : Khi dạy bài Tập làm văn tuần 8 để yêu cầu viết đoạn văn kể về cô
giáo (thầy giáo) cũ của em, sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó cócâu hỏi:
+ Tình cảm của cô đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô ( thầy)?
+ Tình cảm của em đối với thầy (cô) như thế nào?
Có em viết như sau: Tình cảm của cô đối với em rất tốt Em nhớ nhấtđiều là cô giáo rất dịu dàng và viết chữ rất đẹp Tình cảm của em đối với cô rấtkính trọng
3.4 Nguyên nhân của thực trạng
3.4.1.Do học sinh chưa có kỹ năng quan sát.
Do tâm lý lứa tuổi, do chưa được rèn luyện thường xuyên nên các em chưa
có cách quan sát cụ thể chi tiết Các em chỉ quan sát thoáng qua, hời hợt, thậm
Trang 12chí có em còn không để ý đến đối tượng cần quan sát Thêm vào đó khả năngtưởng tượng còn hạn chế, thiếu vốn sống thực tế Do vậy khi viết đoạn văn còn
có những câu văn lạc lõng không sát thực với yêu cầu của đề bài
3.4.2.Chưa biết dùng từ, đặt câu,.
Vốn từ của học sinh lớp 2 còn nghèo nàn, chưa hiểu hết nghĩa của từ, chưa hiểu nhiều về cấu tạo của câu nên khi viết đoạn văn các em còn nhiều hạnchế Các em không biết viết thế nào, viết từ đâu để thành một đoạn văn
3.4.3.Chưa có kỹ năng sắp xếp câu thành đoạn.
Từ chỗ nói chưa thành câu, nói câu cộc lốc nên khi viết các em bị chi phốinhiều Hơn nữa các em còn không biết viết câu nào trước, câu nào sau, viếtchưa thành câu đã chấm hết câu, viết xuống dòng tùy tiện do vậy nhiều bài văncủa các em viết không thành đoạn theo dung yêu cầu
3.4.4.Giáo viên dạy phần lý thuyết chưa tốt.
Nhiều giáo viên chưa chuẩn bị kĩ nội dung bài trước khi lên lớp, chưathực sự đổi mới phương pháp, chưa tự giác tự nghiên cứu trau dồi thêm chuyênmôn nghiệp vụ để phục vụ công tác giảng dạy
Trang 13- Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy ngay rằng tỉ lệ bài viết điểm 9-10 rất
ít mà tỉ lệ điểm 5- 6 và dưới 5 cao
- Khi viết đoạn văn kể về cô giáo, các em thường bộc lộ các điểm yếusau:
+ Về cách diễn đạt như: Từ bị lặp nhiều, dùng từ không chính xác Ví dụ:
có em viết :"Cô giáo em tên là Tâm Cô Tâm có dáng người cao, cô Tâm có mái tóc dài, cô Tâm có đôi bàn tay rất khéo viết chữ rất đẹp " Hay có em viết:
Cô giáo em có đôi mắt lồi như hai hòn bi Hay cô có nước da đen như da trâu
+ Câu không rõ nghĩa, câu không đủ bộ phận, các câu trong đoạn văncòn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi Ví dụ có em viết :
"Cô giáo em dạy lớp 1 Có nụ cười tươi Em rất yêu quý cô Có hàm răng trắng
cô giảng dễ hiểu Em rất quý cô"
+ Có em viết đoạn văn theo cách trả lời nắp đuôi như sau: Tình cảm của
cô đối với em rất tốt
4 Một số biện pháp để rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2.
Trước tình hình thực tế và kết quả khảo sát, tôi xin đưa ra một số biện pháp như sau:
4.1 Biện pháp 1: Dạy tốt các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu,
Chính tả.
4.1.1 Với Phân môn Tập đọc :
Nội dung các bài Tập làm văn và Tập đọc đều xoay quanh một chủđiểm.Qua các bài tập đọc học sinh được mở rộng vốn hiểu biết về đời sốngngoài ra các bài tập đọc là nguồn ngữ liệu sinh động giúp học sinh tiếp xúc với
vẻ đẹp Tiếng Việt trong hàng trăm tình huống giao tiếp khác nhau Đây là bàihọc tươi nguyên sự sống góp phần rèn luyện sự lĩnh hội và sử dụng Tiếng Việtcho các em
Khi dạy tập đọc giáo viên nên hướng cho học sinh những câu văn hay,hình ảnh đẹp để học sinh biết cách kể, tả ngắn và vận dụng sáng tạo vào bàiviết của mình
Trang 14“ Cành cây lớn hơn cột đình Ngọn chót vớt giữa trời xanh Rễ cây nổilên mặt đất thành những hình thù quái lạ, như những con rắn hổ mang giận dữ.
(Cây đa quê hương- TV2 – tập 2)
“ Hoa mận vừa tàn thì mùa xuân đến Bầu trời ngày thêm xanh Nắngvàng ngày càng rực rỡ.Vườn cây lại đâm chồi, nảy lộc Rồi vườn câu lại ra hoa.Hoa bưởi nồng nàn ”
( Mùa xuân đến- TV 2- tập 2)
“ Chim đại bàng chân vàng mỏ đỏ đang chao lượn, bóng che rợp mặt đất.Mỗi lần đại bàng vỗ cánh lại phát ra những tiếng vi vu vi vút từ trên nền trờixanh thẳm, giống như có hàng trăm chiếc đàn cùng hòa âm.”
( Chim rừng Tây nguyên- TV2- tâp 2)Câu văn, đoạn văn nào hay giáo viên nên hướng đẫn học sinh ghi chéplại Tích lũy vốn văn học càng nhiều, ý tưởng văn chương của các em càngphong phú
Như vậy Tập đọc và Tập làm văn có mối quan hệ mật thiết với nhau.Dạy tốt Tập đọc sẽ giúp học sinh có năng lực cảm thụ văn học, làm giàu hìnhảnh Để vận dụng vào viết văn và ngược lại
4.1.2 Với phân môn Luyện từ và câu:
Cần chú ý làm giàu vốn từ cho học sinh nhất là những từ chỉ hoạt động,trạng thái, từ ngữ về tình cảm, từ chỉ đặc điểm, tính chất Ví dụ: Tìm những từchỉ đặc điểm về tính tình của một người ( Bài 2 trang 122-TV2- tập 1) giáo viêncho học sinh thi đua làm bài theo nhóm Nhóm nào tìm được từ đúng và nhanhnhất nhóm đó là nhóm thắng cuộc Gọi một số nhóm đọc bài của mình
Ví dụ: tốt, ngoan, hiền, chăm chỉ, chịu khó, siêng năng, dịu dàng, dũngcảm, thật thà
Nhờ vốn từ này các em có thể vận dụng vào Tập làm văn khi kể về
Gia đình em, về người thân của em, về anh chị em
VD: Hãy viết từ 3 đến 4 câu kể về anh, chị, em ruột (hoặc anh, chị, em họ) của em
( Bài tập 3- trang 126- TV 2 -tập 1)
Trang 15Luyện viết câu văn sáng sủa, ngắn gọn, biết sử dụng các dấu ngắt câu đúng chỗ Học sinh lớp 2, các em thường chấm phẩy tùy tiện Vì thế khi dạy luyện từ và câu giáo viên phải chú trọng luyện cho học sinh viết câu đủ bộ phận chính, các dạng bài tập đưa ra như sau:
- Đặt câu kiểu Ai là gì ( Ai làm gì?, Ai thế nào? )
- Chọn và xếp các từ ở các nhóm để tạo thành câu hoàn chỉnh
- Cho trước một đoạn văn yêu cầu học sinh đặt dấu câu cho phù hợp
4.1.3 Với Phân môn chính tả:
Một bài văn hay không thể là một bài văn viết chữ xấu, mắc nhiều lỗichính tả Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy Tập làm văn nói chung và viếtđoạn văn ngắn nói riêng cần chú ý dạy tốt môn chính tả Điều trước tiên bảnthân giáo viên chúng ta phải phát âm thật chính xác và chú trọng khâu luyệnviết chữ khó trong tiết Chính tả, như:
- Hướng dẫn hiểu nghĩa của từ Muốn viết đúng học sinh phải hiểu nghĩacủa từ và cách viết của từ đó
Ví dụ: Muốn biết khi nào viết “ truyện”, khi nào viết “ chuyện” học sinh
phải phân biệt được sự khác nhau về nghĩa của 2 từ này để từ đó rút ra cáchviết đúng chính tả
+ Viết là “ Truyện” khi muốn chỉ tác phẩm văn học được in ( ví dụ:
Truyện ngắn, truyện cười,….)
+ Viết là “ chuyện” khi muốn chỉ lại một sự việc kể lại ( ví dụ: câu
chuyện cũ, chuyện tâm tình) hay chỉ công việc ( ví dụ : chưa làm nên chuyện).Đặc biệt là trong các bài tập Chính tả nên dạy kĩ để học sinh hiểu nghĩa từ khiviết
- Nhắc lại quy tắc viết chính tả:
Ví dụ: Quy tắc viết hoa ( viết hoa tên riêng, viết hoa đầu câu…), quy tắcviết c/k/q, g/gh, ng/ngh hay i/y…
- Tự chữa những lỗi chính tả thường mắc và cách sửa những lỗi ấy:
Ví dụ: Viết sai Viết đúng
khẻo khoẻ
Trang 16lảy lộc nảy lộc
khuia khuya
Phân môn Tập làm văn là sự tích lũy kiến thức của các phân môn Tiếng Việt Vì thế muốn rèn kĩ năng viết đoạn văn ngắn thì người giáo viên phải giúphọc sinh phối hợp các phân môn trên vào đoạn văn của mình một cách sángtạo,
linh hoạt
4.2 Biện pháp 2: Rèn cho học sinh có thói quen quan sát:
Giáo viên yêu cầu học sinh cần quan sát những sự vật hiện tượng xungquanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết Vì qua thực tế đôi khi tôicho các em một bài tập tả về cảnh biển, có em nói: “ Em chưa bao giờ nhìnthấy biển” Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở nông thônnên các em không nhìn thấy biển là đúng Bởi thế, giáo viên cũng cần sưu tầmnhững tranh, ảnh để có thể trình chiếu cho các em, cho các em quan sát về cảnhbiển, … hoặc vào dịp nghỉ hè, có những em kể về dự định của gia đình là được
bố mẹ cho đi tham quan, tắm biển Nhân đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinhquan sát kỹ để có ý tưởng cho đoạn văn tả về cảnh biển
4.3.Biện pháp 3: Giúp học sinh nắm chắc bố cục của đoạn văn dựa vào sơ đồ tư duy
Giáo viên cần tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3
phần : mở đoạn (giới thiệu), thân đoạn (nội dung), kết đoạn ( cảm nghĩ ) và lập
sơ đồ trước khi làm văn Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua một trò chơi “em và chú gà” như sau Ví dụ : Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một em là “chú gà”, một em là “người tả” Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ trên vở nháp
* “Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà “nhà em có nuôi một chú gà”
* Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà : “tôi có bộ lông nhiều màu sắc Tôi có cái mào trên đầu Tôi gáy rất to …”
Trang 17* Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : “Em
thường rải thóc cho gà ăn …”
Hoặc có thể tinh giảm : Em “người tả” chỉ cần một em sắm vai “chú gà”.Sau khi nghe học sinh đối thoại xong , giáo viên đưa ra sơ đồ để định hướng cho học sinh dựa vào đó viết đoạn văn theo ý riêng qua máy chiếu
Từ đó, các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triểnthành một đoạn văn Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn qua tròchơi “tiếp sức”
Từ sơ đồ đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo thành cáccâu, cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn trên giấy nháp Sau đó giáoviên chiếu bài của học sinh lên máy chiếu và đánh giá Có thể câu văn lúc ấycòn lủng củng nhưng ta có thể sửa chữa
4.4.
Biện pháp 4 : Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em.Song có được đoạn văn theo yêu cầu của bài là cả một quá trình học sinh phải
tư duy, phân tích, tổng hợp, sắp xếp…
* Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số từ thuộc chủ đề hoặc phùhợp với văn cảnh
Con gà
Trang 18+ Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả …
+ Nước da : đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, ngăm đen … + Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, …
+ Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông chữ
điền
Ví dụ:
- Khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển tuần 26 giáo viên gợi mở : Câu “ Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng rựclên, trông xa như những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh chimhải âu” Có thể trả lời cho câu hỏi nào? (Trên mặt biển có những gì ?)
Ví dụ : Qua bài Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra được đoạn văn tả
về chú Cá Con trong bài “Con vật thân dẹt, trên đầu có đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng ánh.
Ví dụ : Mặt biển xanh và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông Đồng thời để có đoạn văn lôgíc, chặt chẽ cần nối các câu văn lại thành
những từ ngữ liên kết như : và, thì, nếu, vậy, là …
Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay
những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự ,ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người… thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn.
Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh
Ví dụ: Sau khi thành lập sơ đồ, có thể các em sẽ thành lập một đoạn văn
như sau : “Nhà em có nuôi một chú gà Nó có bộ lông màu đỏ tía Nó gáy rất to Em rất yêu nó” Giáo viên có thể khuyến khích học sinh là “Em làm
đúng nhưng chưa hay Từ những ý tưởng ban đầu của em, chúng ta sẽ hình
thành một đoạn văn hay hơn nhé : “Chú gà trống nhà em trông mới oai vệ
Trang 19làm sao ! Toàn thân chú phủ một lớp lông vũ màu đỏ tía Sáng sáng, trống tía nhảy tót lên đống rơm đầu hè vươn mình, dang đôi cánh to vỗ phành phạch, rồi gáy vang: ò ó o Mỗi khi đi học về, em thường rải cho nó một
ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài cong cong của nó” Khi đó, học sinh sẽ thấy
được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đã thêm những từ ngữ trau chuốt hơn làm chođoạn văn đẹp hơn, nghệ thuật hơn
Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe
để học sinh học hỏi Trưng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp để các
em noi gương Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó vào mộtquyển từ điển riêng của mình Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày càng nhiều,càng phong phú
4.5.Biện pháp 5: Rèn kĩ năng nói cho học sinh:
Kĩ năng nói là phát âm đúng, dùng từ ngữ chính xác, đặt câu đúng quytắc ngữ pháp, sắp xếp các ý mạch lạc, kỹ năng nói còn yêu cầu học sinh biếtdùng giọng nói và điệu bộ để tăng thêm sức diễn cảm của lời nói
Để giúp học sinh định hướng đúng bài nói ngay từ bước đầu tiên nàygiáo viên cần tạo ra không khí lớp học vui vẻ, sôi nổi tạo sự hứng thú và mongmuốn được tìm hiểu bài của học sinh
Ví dụ: bài “ Chia vui Kể về anh chị em” giáo viên nên có một số câu hỏigợi mở cho các em như :
+ Gia đình em có mấy anh ,chị, em?
+ Em yêu quý anh, chị, em nào nhất?
+ Vì sao em lại yêu quý người đó?
Sau đó giáo viên đưa ra sơ đồ và định hướng cách viết cách viết các ý để
có được đoạn văn ngắn kể về anh, chị, em của mình
anh ( chị, em)
Hình dáng Tên
Trang 20Như vậy học sinh đã được tự vào bài và chiếm lĩnh kiến thức một cách tựnhiên, không còn cảm giác bị gò ép, chán nản nữa.
- Giáo viên cần chú trọng hoàn cảnh giao tiếp vì:
Học sinh không thể nói hoặc sẽ không muốn nói trong điều kiện lớp ồn
ào hoặc có thái độ không tôn trọng thể diện của người nói Bởi vậy khi luyệntập làm văn nói cho học sinh, giáo viên cần hết sức chú ý tới hoạt động chung
về mọi mặt của cả lớp Một lời động viên, một ánh mắt trìu mến của thầy côgiáo, sự lắng nghe chăm chú nghiêm túc của bạn bè cả lớp sẽ là một niềm độngviên lớn giúp các em tự tin, mạnh dạn trong khi nói
Giáo viên không nên ngắt lời học sinh và tiếp lời các em phải đúng lúc,đúng chỗ Sự đứt mạch trong suy nghĩ sẽ làm các em lúng túng và nhiều khikhông thể tiếp tục trình bày lại được Chỉ khi thật cần thiết, giáo viên mới dừnglời nói của học sinh và tránh tình trạng một bài nói của học sinh phải dừng tới 2đến 3 lần khi các em đang trình bày
Giúp học sinh chọn giọng nói thích hợp nói đều đều, nói to quá, hay béquá , nói đứt quãng không liên tục, nói hết ý trước mà vẫn không nối tiếp được
ý sau… đều hạn chế đến kết quả trình bày
Tập cho học sinh thói quen tránh những lời nói không đúng chỗ, cử chỉthừa, những thói quen xấu có ảnh hưởng tới hiệu quả của lời nói, tránh nói nhưđọc thuộc lòng
Dạy học Tiếng Việt chính là việc dạy cho các em cách tổ chức giao tiếpbằng ngôn ngữ Muốn cho viếc trình bày bài nói của học sinh có hiệu quả, kíchthích hứng thú luyện nói của các em, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắmđược nghệ thuật nói, cụ thể là:
+ Nói đúng yêu cầu đề bài
+ Chọn cách nói phù hợp với đối tượng ( người nghe)
+ Phong cách tự nhiên, biết điều khiển giọng nói