1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN

25 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 354 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn ---@---XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN Báo cáo này của Viện Chính sách và chiến lượ

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn

-@ -XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC,

TIẾP SỨC CHO DÂN

Báo cáo này của Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệpnông thôn tổng hợp thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng tổng kết 5 năm thực hiện nghịquyết Hội nghị TW 5 của Ban chấp hành TW Đảng khoá 9 về “đẩy nhanh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.”

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo

ra cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức,đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách đồng bộ để phát triển sản xuất, nâng caođời sống của cư dân nông thôn Trong phạm vi cho phép, báo cáo này tập trungvào một số vấn đề bức xúc nhất đối với cư dân nông thôn hiện nay để đề xuất một

số chính sách nhằm “khoan sức, tiếp sức cho dân”

Trang 2

thành cầu nối gắn chặt nông dân với quá trình xây dựng, triển khai chính sách vàđầu tư phát triển của chính phủ Đây cũng là những khó khăn mà nhiều nước lâncận Việt Nam như Thái lan, Philippin, Indonexia và Trung Quốc đang phải đươngđầu do sao nhãng việc đảm bảo sinh kế và điều kiện sống của một bộ phận dânchúng nông thôn, nhất là ở những vùng khó khăn, nhạy cảm về chính trị

b) Dân có thu nhập sẽ tăng sức mua Khi nông dân chiếm phần lớn tỷ lệ dân cưtăng mua sắm sẽ tạo ra thị trường rộng lớn để phát triển công nghiệp, tạo đà tíchlũy cho công nghiệp hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Nông nghiệp là nguồncung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là nguồn xuất khẩu quan trọng.Nông thôn là thị trường tiêu thụ to lớn nhất hiện nay cho nên cần cải tạo và pháttriển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác1", "nôngthôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽcung cấp đầy đủ lương thực nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị, như thế lànông thôn giàu có giúp công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩynông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa.2" Với quan điểm đó, trong di chúc, Bác còn

đề nghị miễn thuế cho nông dân Nhiều nhà kinh tế ủng hộ quan điểm hỗ trợ tăngcầu tiêu dùng nói chung như Keyne và đặc biệt là tăng cầu của nông dân nhưNurkse (1961), Mellor (1967, 1986)

c) Nội lực dồi dào cho phép nông dân đầu tư phát triển sản xuất, tích lũy vốn để táiđầu tư vượt qua mức tự cung tự cấp, đủ sức tái sản xuất mở rộng để chuyển đổi cơcấu kinh tế Mundle (1985) tổng kết kinh nghiệm công nghiệp hoá của một loạtnước phát triển và đang phát triển, cho thấy sức mua quan trọng nhất của nôngdân phải nhờ mức thu thặng dư từ sản xuất nông nghiệp chứ không thể chỉ dựa vàotăng trưởng nông nghiệp Tăng trưởng thương mại nông nghiệp phụ thuộc rấtnhiều tiến bộ kỹ thuật và kèm theo đó là tăng trưởng trong khả năng tự tích luỹ củanông hộ Arikoko trong bài góp ý gần đây cho Bộ Nông nghiệp Việt Nam đã nhắclại bài học chính sách thành công ban đầu của một số nước Bắc Âu trong việc hỗtrợ cho nông dân vượt qua mức tiêu dùng tự cấp trong giai đoạn tăng tốc côngnghiệp hoá Nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước (Jaman vàJansen, 1998; Golletti và Nguyễn Ngọc Quế, 2001; Akram-Lodhi, 2001;) và củaTrung tâm tư vấn chính sách nông nghiệp, 2007 cho thấy tăng trưởng nông nghiệp

1 Hồ Chí Minh, Tuyển tập, trang 14 (T10).

2 Hồ Chí Minh, Tuyển tập, trang 405-406 (T10).

Trang 3

Việt Nam cho đến giai đoạn gần đây chủ yếu nhờ vào các động lực do các chínhsách trong giai đoạn đổi mới tạo ra Từ nay trở đi, tăng trưởng của nông nghiệpphải dựa vào đổi mới công nghệ Muốn vậy, vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết đểtiếp tục tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

d) Ngoài ra, trong chiến lược mới về phát triển nông thôn, trí lực và vật lực củanhân dân phải trở thành động lực chính để tự lực và chủ động đứng lên làm chủcông cuộc mở mang kinh tế và đổi mới xã hội, cải thiện môi trường nông thôn ViệtNam J Nehru đã nói: “Sự thành bại là tùy thuộc ở khả năng vươn lên, lòng tự tin

và khả năng hợp tác lẫn nhau của nông dân.” Michael Todaro nhận định: “Nhân tố

cơ bản của phát triển nông thôn là nâng cao mức sống của người nghèo bằng cáchkhai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên tự nhiên và con người của họ Tạo nên tiếntrình tự giác phát triển nông nghiệp nông thôn không chỉ là sự huy động vốn và ápdụng kỹ thuật đem lại lợi ích cho người nghèo mà còn là sự tham gia tích cực của

họ để xây dựng nên các định chế tổ chức và hoạt động của các bộ máy này” Sựchỉ đạo, hỗ trợ của nhà nước, của quốc tế và các thành phần khác trong xã hộinhằm tạo điều kiện, tạo môi trường phát triển thuận tiện cho nông thôn, tạo nguồnlực xúc tác, kích thích tinh thần chủ động sáng tạo và nguồn nội lực dồi dào củanhân dân Chỉ đến khi bản thân người dân nông thôn có đủ sức mạnh để làm chủ

và đủ năng lực để tự thay đổi cuộc sống của chính mình thì sự nghiệp phát triểnnông thôn mới thành công vững chắc

2 Tình hình thực tế ở nông thôn

a) Thu nhập hộ nông thôn thấp

Sau 20 năm đổi mới, nhờ những thành tựu to lớn trong phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn, nhìn chung thu nhập của nông dân đã tăng từ 2 đến 3lần, tỷ lệ đói nghèo đã giảm xuống còn gần 20% năm 2004 so với 30% năm 2002.Tuy nhiên, do quá trình chuyển đổi kinh tế diễn ra rất chậm, hơn 78% hộ nôngthôn vẫn dựa vào nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông, lâm nghiệp Trồng trọtvẫn là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp và cây lúa vẫn là nguồn thu nhậpquan trọng của nông dân Do đó, nhìn chung, thu nhập của cư dân nông thôn vẫn

rất thấp, trung bình chỉ khoảng 400 ngàn đồng/người/tháng, khu vực Tây Bắc chỉ

gần 300 ngàn đồng/người/tháng Tại Vùng Đồng bằng sông Hồng 2006, trên kếtquả điều tra 420 hộ, đã cho thấy thu nhập khoảng 26 triệu đồng/hộ/năm, và

Trang 4

khoảng 06 triệu đồng/khẩu/năm Khi so sỏnh trờn cơ sở giỏ cố định 2003 cho thấynăm 2005, trờn cựng một mẫu điều tra, thu nhập cỏc hộ trong năm 2005 đó tăng2.42 lần so với năm 2003 Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt giảm từ 32 % xuống 18

%, chăn nuụi từ 42 xuống 34 % năm 2005 và thu nhập phi nụng nghiệp đó tăng từ

29 % lờn 49 % Đõy là sự thay đổi cơ cấu thu nhập mang tớnh đột phỏ trong vựng,qua điều tra, nguyờn nhõn cơ bản là đi làm thuờ từ thành phố gửi về

Tớnh đến năm 2004, tỷ lệ đúi nghốo theo chuẩn của Ngõn hàng Thế giới ởthành thị chỉ cũn 3,6%, trong khi ở nụng thụn vẫn trờn 25% Tỷ lệ đúi nghốo củadõn tộc Kinh và Hoa là 18%, trong khi của cỏc dõn tộc khỏc lờn đến gần 63% Đặcbiệt những vựng khú khăn tỷ lệ hộ nghốo cũn rất cao: Tõy Nguyờn 41%, Tõy Bắchơn 65%

Khoảng cỏch thu nhập và điều kiện sống giữa nụng thụn và thành thị, giữađồng bằng và miền nỳi vẫn cũn rất xa So sỏnh thu nhập hộ gia đỡnh cuộc điều tradõn cư năm 2002 và 2004 cho thấy tốc độ tăng thu nhập của thành thị là gần 35%trong khi tốc độ tăng của thu nhập ở nụng thụn chỉ là 28% Năm 2004, trong khimức thu nhập bỡnh quõn đầu người/thỏng ở cỏc hộ đồng bằng sụng Hồng và đồngbằng Sụng Cửu Long là 871 nghỡn và 888 nghỡn đồng, thỡ ở Tõy Bắc chỉ đạt 265nghỡn đồng

Do thu nhập thấp và tăng chậm nờn cuộc sống của phần lớn hộ nụng dõnchưa được cải thiện nhiều và khụng cú tớch lũy, nhất là cỏc hộ nghốo và rất nghốo,

để đảm bảo bự đắp cho những rủi ro xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống,chưa thể tớnh đến việc đầu tư trang bị mở rộng sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế

Mặc dự Nhà nước và cỏc tổ chức quốc tế đó dành nhiều hỗ trợ về vốn và

đầu tư cho cỏc hộ nghốo nhưng khả năng tiếp cận tớn dụng và lượng vốn của

cỏc hộ này được vay vẫn cũn rất khú khăn Theo cuộc điều tra mức sống dõn cư

2004, vay từ bạn bố, họ hàng và tư nhõn gần 39% của tổng vốn vay và 36% đốivới nhúm nghốo Hiện tại giá trị trung bình các khoản vay đã tăngnhng nhìn chung còn thấp (dới 600 USD/khoản ở Ngân hàngnông nghiệp) Theo kết quả trong bảng 7, có đến 55% cáckhoản vay là khoản vay nhỏ, dới 335 USD (tỷ lệ này ở miền bắc

tỷ lệ cao hơn, trên 70%) Có 32% các khoản vay có giá trị trungbình từ 335 USD đến 670 USD và chỉ có 13% là các khoản vay

Trang 5

lớn hơn 670 USD (tỷ lệ này ở miền Nam từ 20% đến 44%) Chiphí giao dịch lớn đối với các mức vay nhỏ thờng là cao và đó làcản trở đối với cả hai phía ngân hàng và nông hộ nhỏ khi tiếpcận vốn vay Tỷ lệ % chi phí giao dịch/lãi của khoản vay tăng từ2% đối với khoản vay trung bình 5 triệu đồng và tăng lên 9%

đối với khoản vay nhỏ 500 ngàn đồng (Trần Thọ Đạt, 2001) Nhỡnchung, số tiền vay được của nhúm hộ nghốo và rất nghốo rất thấp, chỉ khoảng từ1,8 đến 2,0 triệu/năm, trong đú chỉ một phần nhỏ vốn (25%) dành cho sản xuấtnụng lõm thuỷ sản, chủ yếu là để tỏi sản xuất giản đơn

b) Tỡnh hỡnh nguồn thu ngõn sỏch xó khú khăn

Qua kết quả khảo sỏt ở tất cả cỏc vựng trong cả nước cho thấy ngõn sỏchnhiều xó thực sự khú khăn Sự chờnh lệch ngõn sỏch xó rất lớn, nhiều xó chỉ cúngõn sỏch vài chục triệu3, trong khi đú số xó cú ngõn sỏch vài tỷ cũng khụng ớt.Những xó ngõn sỏch lớn, phần lớn do cú họat động dịch vụ và bỏn đất Họat độngbỏn đất diễn ra rất sụi động, nhưng những xó này ngõn sỏch khụng bền vững vỡ khihết đất thỡ ngõn sỏch sẽ lại giảm Tại những xó giàu cú thỡ nhà nước vẫn phải bự bổxung 20-30 % ngõn sỏch xó Với phần lớn cỏc xó trong cả nước, ngõn sỏch xóđược bổ xung từ 50 đến 70 % từ ngõn sỏch cấp trờn Nhiều xó nghốo, nguồn bổxung gần hay tới 100 % từ nguồn cấp trờn Thu của ngõn sỏch cỏc xó thuần nụngcũn khú khăn hơn nhiều những xó cú dịch vụ, cụng nghiệp phỏt triển Tại cỏc xónghốo, nguồn chi thường xuyờn, chủ yếu là lương cụng chức xó, chiếm tới 70 hay

80 % tổng ngõn sỏch Do dõn nghốo nờn ở những địa phương khú khăn cỏc xó

khụng cú nguồn thu, khả năng hoạt động của chớnh quyền cơ sở khú khăn hơn nhiều so với cỏc xó vựng giàu Ngoài khoản trợ cấp trực tiếp của chớnh

quyền cấp trờn, cõn đối ngõn sỏch của nhiều xó vựng nghốo và thuần nụng trụngđợi chủ yếu từ sự đúng gúp của dõn, khụng cú khoản thu thờm từ cỏc nguồn dịch

vụ, từ doanh nghiệp hoặc chuyển đổi đất đai như cỏc xó giầu Vớ dụ, ở Thỏi Bỡnh,kinh phớ thường xuyờn thu của xó nghốo (Hoa Nam) chỉ bằng 4% xó giàu (ĐụngXuõn) trong khi đú mức chi của xó nghốo bằng 70% xó giàu, kinh phớ Nhà nước

bổ sung cho xó nghốo cũng chỉ hơn xó giàu cú 16% Nhỡn chung, sự chờnh lệch cúthể được thấy ở cỏc xó khảo sỏt tại Hải Dương, Hoà Bỡnh, Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Ninh

3 Xó Yến dương Bắc kạn chỉ cú 58 triệu năm 2005 Trong khi đú xó Đụng xuấn-Thỏi bỡnh, ngõn sỏch 1.8 tỷ 2005.

Trang 6

Thuận, Long An Điều này cho thấy nếu các chính sách miễn giảm mà không cóbiện pháp bù nguồn thu ngân sách các xã nghèo, thì họat động của chính quyền cơ

sở sẽ rất khó khăn Nhiều xã nghèo do không có đất để bán, hay đất không có giátrị đã không có các khoản thu để xây dựng và bảo dưỡng trụ sở UBND, các côngtrình công cộng Khi nhà nước miễn giảm các khoản đóng góp như lao động côngích, thuế nông nghiệp, các xã được cân đối bằng các nguồn thu từ thuế ở các lĩnhvực dịch vụ Với những xã có dịch vụ phát triển thì đây là một thuận lợi Nhưngvới những xã không hoặc dịch vụ kèm phát triển thì ngân sách xã mất nguồn thunghiêm trọng

Nhìn chung, các nguồn thu được nhà nước cho phép từ dân (thuế nhà đất,quỹ đất 5%, hoa lợi công sản,…) chỉ đóng góp một phần nhỏ cho chi quản lý Nhànước của xã giầu, nhưng đóng vai trò rất quan trọng đối với xã nghèo Ví dụ xãnghèo như Hoa Nam, nguồn thu này chiếm 20%, trong khi xã giàu như ĐôngXuân chỉ chiếm 3,9% Các khoản đóng góp của dân vì vậy đóng một vai trò quantrọng trong ngân sách của xã, đặc biệt là ở miền núi Ví dụ, tại xã Yến Dương và

Hà Hiệu của huyện Ba Bể - Bắc Kạn, tỷ lệ này lên tới 48-52%

c) Các khoản đóng góp của hộ nông thôn nhiều

Theo báo cáo của các tỉnh gửi về Cục HTX và PTNT, các khoản đóng gópcủa dân năm 2006, tỷ lệ đóng góp thấp nhất như xã Ra Đòn thuộc tỉnh Lâm Đồng,chiếm 0.6 % thu nhập của hộ gia đình và tỷ lệ đóng góp cao nhất như xã HưngLam (Nghệ An) và xã Lợi Hải (Ninh Thuận) lên tới 18 % thu nhập của hộ trungbình trong xã Những khoản thu cao chủ yếu do nông dân phải đóng góp xây dựngđường giao thông (Nghệ An) và công trình thủy lợi (Ninh Thuận) Nếu tính cáckhoản đóng góp thường xuyên của dân, trung bình các địa phương dao động từ 01đến 07 % thu nhập bình quân hộ tùy theo từng xã

Theo số liệu điều tra năm 2007 của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển

NN-NT ở một số xã đại diện cho thấy mức đóng trung bình một hộ khoảng từ 100-300nghìn đồng/hộ/năm, ở tỉnh Quảng Ngãi khoảng 400-500 nghìn đồng/hộ/năm, ởHải Dương khoảng 400-500 nghìn đồng/hộ/năm Đối với các hộ nghèo thì đây

không phải là khoản tiền nhỏ Nhìn chung, người dân ở nông thôn phải đóng góp

rất nhiều khoản:

Trang 7

i) Các khoản đóng góp bắt buộc theo qui định của nhà nước trung ương vàđịa phương (tỉnh, huyện): các quĩ An ninh Quốc phòng, Đền ơn đáp nghĩa, quĩChăm sóc trẻ em (quĩ Trẻ thơ), quĩ Phòng chống thiên tai, giao thông nông thôn Các khoản đóng góp này do UBND xã thu

ii) Các khoản phí trả cho dịch vụ phục vụ sản xuất: Thủy lợi phí đầunguồn, thủy lợi phí nội đồng, dịch vụ Bảo vệ thực vật, phí Phát triển sản xuất, phíChuyển giao khoa học kĩ thuật, phí Diệt chuột, phí quản lí hợp tác xã… Các khoảnphí này về nguyên tắc theo thỏa thuận giữa hộ nông dân và Hợp tác xã và có nơiđịa phương thu Nhưng trên thực tế, các khoản này thường do qui định của hộiđồng nhân dân hay UBND xã, người dân chỉ chấp hành Do việc kinh doanh củacác HTX yếu kém, vì vậy các khoản thu nhiều nơi đã bị lạm dụng để bù vào họatđộng các HTX, kể cả UBND xã Tỷ lệ nộp thủy lợi phí luôn đạt khoảng 90 % cónơi 100 %, nhưng tiền thủy lợi phí thường bị HTX hay UBND xã giữ lại chi vàoviệc khác Tuy nhiên do nhà nước yêu cầu, nên dù hoàn cảnh nào các công ty thủynông cũng vẫn phải tưới và hình thành các khoản nợ ứ đọng dần của ngành thủylợi và ngành điện

iii) Các khoản đóng góp theo qui định của các đoàn thể: (cả lệ phí và quĩ)bao gồm: Người cao tuổi, hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Phụ nữ, Đoànthanh niên, Đảng Các khoản đóng góp này do các đoàn thể thu

iv) Các quĩ đóng góp về nguyên tắc là tự nguyện theo vận động của dòng

họ, thôn, xã, huyện, tỉnh: quĩ Khuyến học, quĩ Xóa nhà tranh tre, ngói hóa, quĩChữ thập đỏ, quĩ Ủng hộ thiên tai, quĩ Xóa đói giảm nghèo, quĩ Y tế giáo dục, phí

Vệ sinh môi trường, quĩ Chất độc màu da cam

Các khoản phí phục vụ sản xuất và một số phí khác (xã Hoa Nam, TháiBình thu quĩ Thiên tai dịch bệnh, quĩ Chăm sóc trẻ em; huyện Tân Thạnh Long Anphần lớn các quĩ …) được thu theo diện tích đất nông nghiệp của các hộ, tạo nên

sự không công bằng giữa nông dân và các tối tượng làm công ăn lương, phi nôngnghiệp Các khoản phí trên tuy là tự nguyện nhưng trong thực tế được thực hiện

theo chỉ tiêu hành chính hoá, gần như bắt buộc dân đóng góp Các khoản chi thực

sự là gánh nặng cho người nghèo ở nông thôn.

Ngoài những khoản đóng góp thường xuyên trên mà hầu như tất cả các cưdân nông thôn đều tham gia đóng góp còn có những khoản đóng góp khác tuỳ theo

Trang 8

địa phương được đặt ra khá tuỳ tiện ví dụ như các khoản phí thu cho học sinh từcấp mẫu giáo trở lên (ngoài tiền học phí và các khoản được phép) tiền xây dựngtrường, tiền trả cho người cấp dưỡng,…) , đặc biệt thực sự rất khó khăn cho cácgia đình có con cái học nghề chuyên nghiệp hoặc học đại học

Điều tra mức sống dân cư năm 2004 cho thấy ở các hộ nông thôn, phần chicho giáo dục tương đương 10,8% chi cho lương thực, thực phẩm trong đó nhữngvùng khó khăn như Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên có mứcchi rất cao khoảng trên 830.000 đến 880.000/hộ/năm Chi cho giáo dục ở một hộnông thôn gấp gần 3 lần so với chi cho y tế và có xu hướng tăng trong thời giangần đây

Từ 2002 đến 2004, mức chi cho giáo dục nông thôn trung bình một hộ tănggần 31% Trong khi nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ và đầu tư trực tiếpcho ngành giáo dục đặc biệt là cho các vùng khó khăn và người nghèo (xây dựngtrường sở, trợ cấp lương giáo viên, cấp không sách giáo khoa, xây dựng cáctrường nội trú, miễn học phí cho con em các hộ nghèo ở cấp tiểu học…) thì đốivới các vùng nông thôn nói chung, đối với các hộ nghèo có con học cấp trung họctrở lên, các khoản đóng góp trên vẫn chưa được miễn giảm Nếu coi đầu tư chođào tạo con người là hướng quan trọng nhất để phát triển thì trở ngại về phí chogiáo dục ở nông thôn là điều không thể chấp nhận được Đó là chưa nói đến mộtthực trạng là một phần lớn học sinh nông thôn sau khi được đào tạo xong không dễdàng tìm được việc làm có thu nhập tốt như học sinh là con em các gia đình ở đôthị Theo kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2004 (VHLSS 2004) gần đây chothấy cho đến năm 2004, 24 % học sinh nông thôn tốt nghiệp cao đẳng, 30% tốtnghiệp đại học, 38 % tốt nghiệp các trường dạy nghề chưa có việc làm Vì vậy, cáckhoản đóng góp này trở thành những khoản đầu tư không đuợc bù đắp cho các hộnông thôn, làm nản lòng họ trong việc tiếp tục chi tiêu cho con cái học hành, nhất

là trẻ em gái

Nhiều loại phí phục vụ sản xuất đã làm tăng thêm giá thành sản xuất caokhiến lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp giảm sút nhất là các vùng thuần nông vànhững vùng chuyên lúa Ở Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ nhiều lao độngnông thôn chuyển ra đô thị hoặc các khu công nghiệp tìm việc làm bổ sung thunhập Chính vì vậy, ở nhiều tỉnh như Thái Bình, Nam Định…, xuất hiện tình trạng

Trang 9

diện tích lúa, hệ số quay vòng đất giảm, nông dân trả lại đất cho xã và không chăm

lo sản xuất trên diện tích đất của mình Vì vậy năng suất lúa một số chững lại, một

số vùng sản xuất nông nghiệp chính như Đồng Bằng sông Hồng, Đồng bằng sôngCửu Long, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ Hệ số quay vòng trên đất canh tác cảnước giảm từ 1.45 lần (1998) xuống 1.37 lần năm 2004 Trong đó Đồng bằngSông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung Bộ giảm mạnhnhất Theo báo cáo của 7 huyện và thành phố Thái Bình, đến cuối năm 2005, toàntỉnh có 6408 hộ nông dân trên 101 xã bỏ ruộng với một diện tích không nhỏ trong

đó có cả diện tích nhận khoán (đất công ích, đất khó giao) và diện tích cơ bản (đấtgiao ổn định sản xuất lâu dài) trong đó nhiều nhất là Đông Hưng (huyện luôn cónăng suất cao nhất tỉnh) có 1939 hộ bỏ ruộng4

Trong các khoản đóng góp về sản xuất, thủy lợi phí là khoản đóng góp quantrọng Chiếm khoảng 70% các khoản đóng góp qua HTX Số liệu điều tra khảo sátnhanh của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn năm

2007, mức thủy lợi phí này khác nhau giữa các vùng tùy thuộc về đặc trưng của hệthống thủy nông địa phương Ví dụ ở Đồng bằng sông Cửu Long, huyện TânThạnh, Long An 40 kg thóc/ha/năm, ở huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận 267

kg thóc/ha/năm, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình 275 kg thóc/ha/năm, huyện Tiên Lãng,Hải Phòng 165 kg thóc/ha/năm, huyện Đông Hưng, Thái Bình 611 kgthóc/ha/năm Ớ các xã miền núi, mức đóng góp thấp hơn do không có hệ thốngthủy lợi Chi phí thủy lợi được chia thành thủy lợi phí nội đồng trả cho các đơn vịdịch vụ thủy lợi tại chỗ của cơ sở và thủy lợi phí đầu nguồn đóng cho công ty thủylợi nhà nước

Nhìn chung, phần chi phí đầu nguồn cao hơn nội đồng nhưng cũng có nơikhông có thủy lợi phí đầu nguồn Tại các vùng hệ thống tuới tiêu hoàn chỉnh nhưĐồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, thủy lợi phí bao gồm cả đầu nguồn và nộiđồng Mức độ thu phí thủy lợi nội đồng rất khác nhau ở các địa phương và do hợptác xã nông nghiệp qui định theo chỉ đạo của hội đồng nhân dân và UBDN xã.Chính vì vậy, các khoản thu này, được coi là thỏa thuận, nhưng chủ yếu do xãquyết định Nhiều HTX kinh doanh kém hiệu quả, đã coi thủy lợi phí thu đượcnhư là cách để duy trì họat động

4 Báo Nông nghiệp số 259 ngày 28 tháng 12 năm 2006.

Trang 10

Về các khoản HTX thu Theo báo cáo của 41 tỉnh thành gửi về năm 2006,trong các khoản HTX thu có khoản chi trả dịch vụ của HTX cung cấp như dịch vụthú y, dịch vụ khoa học kĩ thuật, bảo vệ đồng, dịch vụ bảo vệ thực vật, phí dịch vụthủy lợi, quản lí điều hành HTX, , có khoản HTX được ủy nhiệm thu như thủylợi phí đầu nguồn, một số loại quĩ, Nhìn chung, trong 11/41 tỉnh thành báo cáo,

tỷ lệ thu từ HTX chỉ chiếm dưới 01 % thu nhập hộ gia đình (khoảng 200 nghìnđồng) Khoảng 08/41 tỉnh thành, đóng góp của xã viên vượt 05 % tổng thu nhập

Về mức thu, HTX tại Hà Nội thu thấp nhất (57 nghìn đồng/hộ/năm) và cao nhất làHTX ở Cần Thơ, một triệu 970 nghìn đồng/hộ/năm

Tuy các HTX miền Nam có tỷ lệ đóng góp cao hơn (khoảng 2.5 % thu nhậphộ) so với 0.85 của Tây Bắc và 1.96 % của Đồng bằng sông Hồng nhưng nhìnchung, các HTX miền Nam có vị thế độc lập với chính quyền xã cao hơn, do vậy

xã viên tự nguyện đóng góp và kiểm soát được các khoản thu của HTX Trong khi

đó, tuy tuy mức thu không lớn nhưng đóng góp cho một số HTX dịch vụ nôngnghiệp ở miền Bắc lại là vấn đề cho nhân dân ở một số địa phương Nhiều HTXnông nghiệp chịu sự chỉ đạo của UBND xã và đảng ủy xã và do những người quản

lý HTX đóng cổ phần khống chế, họat động của các HTX này mang tính hình thức

và dựa vào chính quyền để thu các khoản từ dân Vì vậy, người dân không kiểmsoát nổi, thắc mắc về các khoản chi của HTX

e) Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng của người dân nông thôn kém.

Hiện nay, nhà nước đã đầu tư phát triển rộng rãi hệ thống cơ sở hạ tầngnông thôn như điện, đường, thông tin liên lạc, cung cấp nước sạch…Tuy nhiên, sovới người dân đô thị vốn được đầu tư miễn phí các cơ sở hạ tầng trên và đượcphục vụ với chất lượng tốt thì người dân nông thôn vẫn phải đóng góp bổ xungkhoảng 20% chi phí xây dựng để hoàn tất các việc xây dựng tại chỗ…, sau khicông trình thủy lợi, giao thông đã đưa vào sử dụng, nhiều nơi dân tiếp tục phảiđóng góp các khoản duy tu, bảo trì hệ thống bên ngoài phí vận hành

Những khoản đóng góp trên trong hoàn cảnh thu nhập nông dân rất thấpkhiến nhiều vùng có cơ sở hạ tầng chính đã đi qua nhưng người dân không đượchưởng hoặc được hưởng nhưng chất lượng thấp, và tăng gánh nặng tài chính chonông dân Trong thực tế có sự khác biệt trong việc tiếp cận của người dân nôngthôn đối với cơ sở hạ tầng so với người dân thành thị Theo điều tra năm 2004 cho

Trang 11

thấy ở đô thị gần 50% hộ có nước máy riêng trong khi ở nông thôn là 3.6%, 17.3%

số hộ thành thị có máy tính trong đó 27% kết nối Internet trong khi ở nông thônchỉ có 1% hộ có máy tính trong đó chỉ 10% có kết nối Internet Vẫn có tình trạngdân gần hồ chức nước không có nước sinh hoạt, gần nhà máy điện không có điệndùng

d) Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị và công nghiệp còn nhiều bức xúc.

Trong quan hệ đất đai, vấn đề gây nhiều bức xúc trong dân là việc bồi hoàn

để chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị và công nghiệp Tình trạng này diễn

ra rất gay gắt ở các địa phương gần đô thị và phát triển công nghiệp nhanh nhưĐồng Bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ… Trong 5 năm 2001-2005, đất nôngnghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp là 366.440 ha (chiếm 3.89 %đất sản xuất nông nghiệp đang sử dụng), bình quân mỗi năm 73.288 ha Tính riêngnăm 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là 109.031 ha trong đó vùngĐồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là 64.524 ha chiếm 59,2% Đặc biệt, cókhoảng 10-20% tổng số hộ bị thu hồi 100%, 20% bị thu hồi 2/3 và 60-70% bị thuhồi 1/2 Tại Long An và Cần Thơ5, 44% nông hộ cho rằng Nhà nước đối xử bấtcông khi thu hồi đất do giá đền bù quá thấp Nông hộ ở Hoài Đức (Hà Tây) tínhrằng giá đền bù chỉ bằng 80% so với giá đất của khu vực lân cận Thêm vào đó,giá đền bù cho các huyện tại Hà Tây cũng khác nhau Có sự khác biệt lớn giữa giáđền bù đất trước và sau Chỉ thị 188 ban hành năm 2005 Quá trình thu hồi đấtkhông minh bạch và không nhất quán giữa các thời điểm và ở các cấp quản lýkhác nhau Giá đền bù không phản ánh tăng trưởng giá trị của đất nhờ việc chuyểnđổi mục đích sử dụng Trong một vài trường hợp, các bên mua và bên bán luôn tìmcách né tránh giá cố định do nhà nước đặt ra thông qua thương thảo trực tiếp Việcđịnh giá gặp phải vấn đề lớn nhất là chính quyền địa phương sử dụng các biệnpháp phi kinh tế để đẩy nhanh quá trình thu hồi đất Các biện pháp hành chínhtrong thu hồi đất gặp phải sự phản đối và đối khi xảy ra bạo lực đối với nông dân.Các chính sách hỗ trợ như việc định cư cho người dân bị thu hồi đất chưa đượctriển khai một cách đồng bộ Vướng mắc chính trong chuyển đổi đất là giá bồi

5 Nguồn: Industrial and Commercial Land Markets and their Impact on the Poor, M4P/ADB (2006).

Trang 12

hoàn cho dân thấp Giá đất để tính bồi thường do UBND tỉnh ban hành hàng nămtrên cơ sở khung giá các loại đất do Chính phủ quy định nhưng thường thấp hơntới 30-40% mức giá tối đa do chủ yếu tính theo hạng đất cũ cách đây 20 năm.Chênh lệch về giá bồi hoàn với giá chuyển nhượng thực tế quá cao không nhữnggây bức xúc trong dân mà còn gây ra nhiều tiêu cực ở chính quyền địa phương.Tính đến năm 2005, có 12.348 trường hợp khiếu nại tố cáo về bồi thường, giảiphóng mặt bằng trong đó có 1.754 trường hợp tố cáo cán bộ địa phương, chiếm10.03%.6

Bên cạnh đó, người dân sau khi chuyển nhượng đất không có việc làm,không có thu nhập ổn định Các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ ổn địnhsản xuất, hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi nghề và tìm việc làm mới chưa được thựchiện tốt và mức hỗ trợ còn thấp Ngoài ra tình trạng qui hoạch treo diễn ra phổbiến khiến nông dân không yên tâm đầu tư sản xuất và bức xúc trước tình trạngđất bị bỏ hoang kéo dài Hiện có 12 khu công nghiệp, khu chế xuất với diện tíchgần 2000 ha đã thành lập từ 1998 về trước mà chưa lấp đầy 50% Trong khi đó,việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang các khu công nghiệp nhỏ và sản xuất nôngnghiệp tập trung ở nông thôn rất khó khăn Tại Bắc Ninh, qua khảo sát của ViệnChính sách và Chiến lược Phát triển NN-NT, số lao động có việc làm sau khi bịthu hồi đất chỉ chiếm trung bình khoảng 5 đến 6 % Xã cao nhất là 10 % và xãthấp nhất là 1% Mặt khác chính sách đào tạo lao động tỏ ra kém hiệu quả khi cácnhà đầu tư chỉ quan tâm đến việc đào tạo lao động vào làm trong các khu côngnghiệp mà không quan tâm đến các thị trường lao động khác

III Đề xuất chính sách

Những khó khăn, vướng mắc chính ở trên là những thách thức xuất hiệntrong giai đoạn mới của quá trình phát triển kinh tế dưới tác động của quá trìnhcông nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Có tháo gỡ được các khókhăn trên mới có thể khôi phục mức tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng giảmsút trong thời gian gần đây và tạo điều kiện cho phát triển nông thôn Đây cũng lànhững vấn đề bức xúc trong nhân dân gây nên nhiều mâu thuẫn xã hội, các vụkhiếu kiện kéo dài trên qui mô rộng ở nhiều địa phương Các khoản thu từ dânkhông lớn về giá trị kinh tế nhưng khi không công khai với dân sẽ tạo cảm giác

6 Báo cáo Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Ngày đăng: 08/08/2020, 08:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Phân bố thu nhập/năm của hộ nông dân tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Hình 1. Phân bố thu nhập/năm của hộ nông dân tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (Trang 21)
Bảng 6- Cơ cấu thu nhập của các loại hộ tại Hải Dương - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Bảng 6 Cơ cấu thu nhập của các loại hộ tại Hải Dương (Trang 21)
Bảng 7- Hệ số quay vòng sử dụng đất theo vùng từ 1995 đến 2004 - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Bảng 7 Hệ số quay vòng sử dụng đất theo vùng từ 1995 đến 2004 (Trang 22)
Bảng 8- Thu chi ngân sách năm 2006 của một số xã điều tra theo khoản mục thu chi (nghìn đồng) - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Bảng 8 Thu chi ngân sách năm 2006 của một số xã điều tra theo khoản mục thu chi (nghìn đồng) (Trang 22)
Bảng 9- Định mức các khoản chi phí thủy lợi và tổng số tiền thu được của một số địa phương năm 2006 - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Bảng 9 Định mức các khoản chi phí thủy lợi và tổng số tiền thu được của một số địa phương năm 2006 (Trang 23)
Hình 2- Chênh lệch giữa thu từ nội bộ nền kinh tế của xã với tổng chi ngân sách của một số xã năm 2006 - XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOAN SỨC, TIẾP SỨC CHO DÂN
Hình 2 Chênh lệch giữa thu từ nội bộ nền kinh tế của xã với tổng chi ngân sách của một số xã năm 2006 (Trang 24)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w