Tác động của xâm nhập mặn tới sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đời sống nhân dân vùng ĐBSCL Chương 3.. Hình 2: Hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào lòng sông vùng cửaNguồn: Theo Lê Anh T
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xâm nhập mặn tại vùng ĐBSCL đang là một trong những vấn đề cấp bách, nhận đượcnhiều quan tâm từ người dân và chính quyền Xâm nhập mặn diễn ra nhanh, sớm và khốc liệthơn theo từng năm đã và đang có tác động mạnh tới mọi mặt cuộc sống của người dân, gây
ra nhiều khó khăn, bất tiện và thiệt hại to lớn Thậm chí, đầu tháng 3 năm 2020, chính quyền
5 tỉnh trong khu vực (Bến Tre, Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau và Long An) đã phải công
bố tình trạng khẩn cấp thiên tai (cấp 2) và tập trung ứng phó với xâm nhập mặn
Do vị trí địa lý và một số nguyên nhân khác, Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nóiriêng khá nhạy cảm và dễ bị tổn thương do những biến đổi môi trường, khí hậu, mà cụ thể
ở đây là xâm nhập mặn, đặc biệt với những ngành kinh tế có phụ thuộc vào điều kiện khíhậu Hai ngành tại ĐBSCL chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt nhất của hiện tượng xâmnhập mặn là nông nghiệp và thủy sản Để làm rõ hơn những tác động này và tìm kiếmnhững đề xuất mới nhằm ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại của xâm nhập mặn, nhóm lựa chọn
đề tài “Tác động của xâm nhập mặn tới sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đời sống
nhân dân vùng ĐBSCL”.
Do thời gian và kiến thức có hạn nên bài làm của nhóm có thể còn thiếu sót, nhóm hivọng cô Trần Minh Nguyệt – giáo viên hướng dẫn của nhóm – có thể đóng góp ý kiến đểnghiên cứu được hoàn thiện hơn
Ngoài các phần mở đầu, mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo thì bài của nhóm cócấu trúc như sau:
Chương 1 Tổng quan về xâm nhập mặn và kinh tế vùng ĐBSCL
Chương 2 Tác động của xâm nhập mặn tới sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đời sống nhân dân vùng ĐBSCL
Chương 3 Các đề xuất, giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn vùng ĐBSCL
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂM NHẬP MẶN VÀ KINH TẾ VÙNG ĐBSCL 1.1 Tổng quan về xâm nhập mặn
1.1.1 Khái niệm xâm nhập mặn
Nước ngọt là nguồn tài nguyên khan hiếm Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, chỉ có2,5% tổng lượng nước trên trái đất là nước ngọt, phần còn lại là nước mặn Nguồn nướcngọt lớn nhất nằm dưới lòng đất và một phần nước mặn nằm rải rác ở nhiều khu vực trênthế giới Nước ngầm được sử dụng rộng rãi để bổ sung cho nguồn nước mặn nhằm đápứng nhu cầu nước ngày càng tăng Tuy nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thốngnước ngầm ở những vùng ven biển chính là xâm nhập mặn
Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biểnbằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt (Hình 1) Xâmnhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cảhai quá trình tự nhiên và con người gây ra
Hình 1 Sự dịch chuyển của khối nước ngọt vào tầng nước mặn.
(Nguồn: EOE năm 2012)
Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4% xâm nhập sâu vàonội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt Xâm nhập
Trang 3mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều chính quyền địa phương, vấn đề này đã được
nỗ lực giải quyết trong bối cảnh đang diễn ra biến đổi khí hậu như nước biển dâng, tăngnhiệt độ, khai thác nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển, nhữngnguyên nhân này đang làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn
1.1.2 Nguyên nhân của xâm nhập mặn
Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ, thay đổi mục đích sửdụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thốngtầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn [14]
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi
mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi và độ ẩm của đất Lượng mưa có thể tăng hoặcgiảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượngnước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nướcven biển Vì vậy, thông tin về các tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương hoặc khuvực, các quá trình thủy văn và tài nguyên nước ven biển trở nên rất quan trọng
Ảnh hưởng của quá trình thay đổi mục đích sử dụng đất:
Các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể làm thay đổitrực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nước và dòng chảy Do đó, sử dụng đấtcũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn nước ngầm Đối với các cửa sôngtiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến,đặc biệt vào mùa khô Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽmang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn (Hình 2) Nồng
độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng
Trang 4Hình 2: Hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào lòng sông vùng cửa
Nguồn: Theo Lê Anh Tuấn (2008)
1.2 Tổng quan về kinh tế vùng ĐBSCL
1.2.1 Đặc điểm kinh tế vùng ĐBSCL
ĐBSCL (ĐBSCL) là vùng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế
- xã hội của cả nước, có các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầutrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển công nghiệp công nghệ cao,công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch
vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứngdụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
ĐBSCL gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có tổng diện tích 3,94 triệu ha
và dân số 17,5 triệu người, chiếm 12% diện tích tự nhiên và 19% dân số cả nước, là mộttrong những đồng bằng màu mỡ trên thế giới với các điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng thuậnlợi cho phát triển nông nghiệp, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của cả nước Với 1,5triệu ha đất trồng lúa, vùng ĐBSCL luôn giữ vai trò then chốt trong đảm bảo an ninh lươngthực quốc gia, đóng góp 50% sản lượng lương thực, gần 70% kim ngạch xuất khẩu
Trang 5thuỷ sản, 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước (khoảng 7 - 8 triệu tấn/năm, chiếm 1/5sản lượng gạo thương mại toàn cầu) và 65% sản lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước.Hơn nữa, đây còn là vùng có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng với đường biêngiới đất liền với Campuchia Vùng có tiềm năng phát triển kinh tế biển với hơn 700 km
bờ biển, bằng 23% bờ biển cả nước, 360.000 km2 vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế,
có nhiều bãi biển đẹp, cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch, vườn cây, có đến 3 khu dự trữsinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên được công nhận là khu Ramsar của thếgiới Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sức quý giá Với vị trí địa - kinh tế vàđịa - chiến lược do nằm kề tuyến hàng hải Đông - Tây, vùng là một cửa ngõ quan trọng,sôi động Đó là tiềm năng về năng lượng tái tạo lớn như năng lượng gió, năng lượng mặttrời, năng lượng thủy triều…
1.2.2 Những thế mạnh và hạn chế về tự nhiên ảnh hưởng tới kinh tế ĐBSCL
Mạng lưới sông ngòi dày đặc, kênh rạch chằng chịt: nguồn nước dồi dào, thuận lợi cho việc tưới tiêu, khai thác nuôi trồng thủy sản nước ngọt, giao thông vận tải
Sinh vật: thảm thực vật chủ yếu là rừng ngập mặn, về động vật có giá trị hơn cả là
cá và chim, từ đó giúp đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái
Tài nguyên biển hết sức phong phú với nhiều bãi cá và tôm, hơn nửa triệu ha nước mặt nuôi trồng thủy sản ⟹ phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Khoáng sản: chủ yếu là đá vôi, than bùn, dầu khí ở thềm lục địa bước đầu đã được khai thác
- Hạn chế
Có mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau ⟹ nước mặn xâm nhập vào đất liền, làm tăng độ chua và độ mặn trong đất
Trang 6 Phần lớn diện tích là đất mặn và đất phèn, cùng với sự thiếu nước vào mùa khô đã làm cho việc sử dụng và cải tạo đất gặp nhiều khó khăn
Tài nguyên khoáng sản hạn chế, gây trở ngại cho việc phát triển kinh tế
1.3 Tổng quan nghiên cứu trước đây
1.3.1 Nghiên cứu trước đây về tác động của xâm nhập mặn tới kinh tế và đời sống
Mặc dù xâm nhập mặn là một hiện tượng xảy ra thường xuyên (thường theo chu kỳnăm), có tác động lớn tới nền kinh tế và đời sống của người dân, tuy nhiên chưa có nhiềunghiên cứu đề cập tới những ảnh hưởng này Một số nghiên cứu tiêu biểu mà nhóm tácgiả đã tìm được như sau:
Các tác giả Nguyễn Văn Bé, Trần Thị Lệ Hằng, Nguyễn Văn Triển và Văn PhạmĐăng Trí đã nghiên cứu về “Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp,thủy sản huyện Trần Đế, tỉnh Sóc Trăng”, thực hiện bởi phương pháp phỏng vấn cácnông hộ và chính quyền khu vực địa phương Nghiên cứu chỉ ra rằng xâm nhập mặn năm
2016 gây thiệt hại lớn tới sản xuất lúa 02 vụ, tuy nhiên có ảnh hưởng không quá lớn tớingành thủy sản Người dân Trần Đế cũng đang có xu hướng thay đổi nhất định để thíchứng với xâm nhập mặn
Trên tạp chí khoa học và công nghệ thủy lợi số 26 (năm 2015), các tác giả Phạm ThịHoài, Võ Tuấn Anh, Vũ Chí Linh đã công bố đề tài “Đề xuất giải pháp thích ứng chocộng đồng dân cư vùng ven biển Bắc bộ bị ảnh hưởng xâm nhập mặn” Bài viết phân tíchhiện trạng, nguyên nhân của xâm nhập mặn, ảnh hưởng của hiện tượng này tới đời sốngdân cư ven biển Bắc bộ Nhóm tác giả cũng đưa ra các đề xuất giải pháp thích ứng đểgiảm thiểu ảnh hưởng của xâm nhập mặn tới cuộc sống nhận dân
Đáng lưu ý, đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển kinh tế ứngphó với xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL; Thí điểm cho một huyện điển hình” thuộc Chươngtrình KH&CN ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016-2020 do PGS.TS Vũ Thị Mai, Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân làm chủ nhiệm đã đóng góp đáng kể cho lượng thông tin khoa
Trang 7học và xây dựng phương thức phòng chống, giảm thiểu thiệt hại từ xâm nhập mặn Mục tiêu của đề tài này gồm:
Xây dựng cơ sở khoa học cho mô hình kinh tế ứng phó với biến đổi khí hậu
Dựng một số mô hình phát triển kinh tế ứng phó với xâm nhập mặn vùng ĐBSCL
Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình kinh tế thích ứng xâm nhập mặn tại một huyện điển hình vùng ĐBSCL
Xác định điều kiện, quá trình áp dụng mô hình vào các huyện bị ảnh hưởng tương tựNgoài ra, có một số đề tài có phạm vi nghiên cứu nhỏ hơn như: “Nghiên cứu xâm nhậpmặn nước ngầm khu vực ven biển Hà Tĩnh và đề xuất các giải pháp bảo vệ sử dụng hợp lý”(Nguyễn Đức Núi, 2014), “Đánh giá ảnh hưởng của xâm nhập mặn và các yếu tố kinh tế - xãhội đến sản xuất nông nghiệp huyện Vũng Liêm - tỉnh Vĩnh Long” (Nguyễn Quốc Hậu, CaoThảo Quyên, Võ Thanh Phong, Lê Văn Khoa và Võ Quang Minh, 2017),…
1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu
Xâm nhập mặn có quan hệ mật thiết tới các ngành kinh tế phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên, nổi bật ở khu vực ĐBSCL là ngành nông nghiệp và thủy sản Thực tiễn cho thấy, hiệntại tình hình biến đổi khí hậu nói chung và xâm nhập mặn nói riêng diễn ra ngày càngnghiêm trọng, ảnh hưởng tới tài nguyên nước của khu vực Điều kiện khí hậu thay đổi đòihỏi thay đổi trong phương thức, cách thức sản xuất, giống cây, giống con, mùa vụ,…
Vì vậy, việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu nói chung và xâm nhâp mặn nóiriêng là một việc cần được thực hiện thường xuyên, cập nhật để tìm ra giải pháp ứng phó tốtnhất, phát triển bền vững nền kinh tế ĐBSCL và Việt Nam Các số liệu và thực trạng củaxâm nhập mặn đã được đưa ra nhiều trong các báo cáo thường kỳ của Bộ Tài Nguyên và MôiTrường, Cục quản lý tài nguyên nước,… cũng như đã có các nghiên cứu về tác động của xâmnhập mặn tới kinh tế; tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này còn nhỏ lẻ, tập trung vàohuyện/khu vực nhỏ cụ thể, chưa có sự đánh giá tổng thể và chi tiết trên toàn khu vựcĐBSCL Nhận thấy được điều này, nhóm quyết định thực hiện nghiên cứu về tác động củaxâm nhập mặn tới sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đời sống nhân dân vùng ĐBSCL
Trang 8CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA XÂM NHẬP MẶN TỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN VÙNG ĐBSCL
2.1 Tình hình xâm nhập mặn tại ĐBSCL
2.1.1 Vùng hai sông Vàm Cỏ
Hiện trạng xâm nhập mặn vùng hai sông Vàm Cỏ từ đầu mùa khô đến năm 2019, độmặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm 2018 và một số năm gần đây, trích lược một
số trạm chính như dưới đây:
Trên dòng chính sông Vàm Cỏ, tại trạm Cầu Nổi: độ mặn lớn nhất đạt 14,9g/l so với cùng kỳ năm 2018 (9,7g/l) cao hơn 5,2g/l và so với năm 2016 thấp hơn 2g/l
Trên sông Vàm Cỏ Đông, tại trạm Bến Lức: độ mặn lớn nhất đạt 1,8g/l so với cùng
kỳ năm 2018 (0,7g/l) cao hơn 1,1g/l và so với năm 2016 thấp hơn 2g/l
Trên sông Vàm Cỏ Tây, tại trạm Tân An: độ mặn lớn nhất đạt 0,3g/l so với cùng kỳ năm 2018 (0,2g/l) cao hơn 0,1g/l và so với năm 2016 thấp hơn 1, 4g/l
Hình 3: Biểu đồ nồng độ mặn lớn nhất đến ngày 22/1/2019 tại một số trạm điển hình
vùng Hai sông Vàm Cỏ So với cùng kỳ năm 2018 và một số năm gần đây
Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Trang 92.1.2 Vùng cửa sông Cửu Long
Hiện trạng xâm nhập mặn vùng cửa sông Cửu Long từ đầu mùa khô đến năm 2019,
độ mặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm 2018 và một số năm gần đây Trích lượcdiễn biến độ mặn lớn nhất tại một số trạm chính thuộc vùng cửa sông Cửu Long so vớicùng kỳ năm 2018 và năm 2016 như dưới đây:
Tại Vàm Giồng, trên sông Cửa Tiểu: độ mặn lớn nhất đạt 6,5g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 4,8g/l, so với năm 2016 thấp hơn 1,9g/l
Tại Xuân Hòa, trên sông Cửa Tiểu: độ mặn lớn nhất đạt 1,5g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 1,5g/l, so với năm 2016 thấp hơn 2,1g/l
Tại Lộc Thuận, trên sông Cửa Đại: độ mặn lớn nhất đạt 8,7g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 6,8 g/l, so với năm 2016 thấp hơn 4,2g/l
Tại Giao Hoà, trên sông Cửa Đại: độ mặn lớn nhất đạt 4,3g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 3,8g/l, so với năm 2016 thấp hơn 1,8g/l
Tại Sơn Đốc, trên sông Hàm Luông: độ mặn lớn nhất đạt 10,3g/l so với cùng kỳ năm 2018 cao hơn 6,1g/l , so với năm 2016 thấp hơn 5,4g/l
Tại Mỹ Hóa, trên sông Hàm Luông: độ mặn lớn nhất đạt 3,5g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 3,5g/l, so với năm 2016 thấp hơn 1,5g/l
Tại Trà Vinh, trên sông Cổ Chiên: độ mặn lớn nhất đạt 5g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 2g/l, so với năm 2016 thấp hơn 5,5g/l
Tại Láng Thé, trên sông Cổ Chiên: độ mặn lớn nhất đạt 3,5g/l so với cùng kỳ năm
2018 thấp hơn 1,9g/l, so với năm 2016 thấp hơn 5,6g/l
Tại Cầu Quan, trên sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 9,8g/l so với cùng kỳ năm 2018 cao hơn 6,2g/l, so với năm 2016 thấp hơn 1,8g/l
Tại Đường Đức, trên sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 4,4g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 2,1g/l, so với năm 2016 thấp hơn 4,8g/l
Trang 102.1.3 Vùng ven biển Tây
Hình 4 Biểu đồ nồng độ mặn lớn nhất đến ngày 22/1/2019 tại một số trạm điển hình
vùng cửa sông Cửu Long so với năm 2018 và một số năm gần đây
Nguồn: Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam
Hiện trạng xâm nhập mặn vùng ven biển Tây, trên sông Cái Lớn từ đầu mùa khô đếnnăm 2019, độ mặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm 2018 và một số năm gần đây.Trích lược diễn biến độ mặn lớn nhất tại một số trạm điển hình so với cùng kỳ năm 2018
và năm 2016 như dưới đây:
Tại Xẻo Rô, trên sông Cái Lớn: độ mặn lớn nhất đạt 9,3g/l so với cùng kỳ năm
2018 thấp hơn 0,5 g/l, so với năm 2016 thấp hơn 6,5g/l
Tại Gò Quao, trên sông Cái Lớn: độ mặn lớn nhất đến đạt 2,6g/l so với cùng kỳ năm
2018 cao hơn 2 g/l, so với năm 2016 thấp hơn 2,6g/l
Tại Ngã Ba Nước Trong (thuộc tỉnh Hậu Giang), trên sông Cái Lớn: chưa xuất hiện mặn, độ mặn 0,1g/l
Trang 11Hình 5 Biểu đồ nồng độ mặn lớn nhất đến ngày 22/1/2019 tại một số trạm điển hình vùng ven biển Tây trên sông Cái Lớn so với cùng kỳ năm 2018 và
ở mức thiếu hụt so với trung bình nhiều năm và năm 2016 từ 5-20%, mực nước tại Biển
Hồ (Campuchia) ở mức thấp, khả năng bổ sung nước cho ĐBSCL không nhiều
Tình trạng xâm nhập mặn ở ĐBSCL tiếp tục diễn ra gay gắt trong tháng 3, đặc biệt là
từ ngày 11 đến 15 Xâm nhập mặn ở mức tương đương và cao hơn đợt mặn cao điểmgiữa tháng 2 và cùng kỳ tháng 3/2016, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt Sau đótình trạng này có xu thế giảm dần đến cuối tháng 3
Riêng xâm nhập mặn trên các sông Vàm Cỏ, Cái Lớn duy trì ở mức cao tới cuốitháng 4, sau đó có khả năng giảm dần
Trang 12Trong trường hợp cực đoan, thời gian thiếu mưa kéo dài kết hợp với tăng sử dụngnước trên các dòng, nhánh và trữ nước tại các đập khiến tình trạng hạn hán, thiếu nước,xâm nhập mặn kéo dài hơn và trầm trọng hơn.
Phòng Dự báo thủy văn Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ khuyến cáo: Từ ngày 1đến 5, do ảnh hưởng của kỳ triều cường thấp, các địa phương vùng ĐBSCL cần tranh thủtích trữ nước ngọt Đợt cao điểm từ ngày 6 đến 15, các địa phương hạn chế tưới (tướinước tối thiểu) nhằm giảm thiểu thiệt hại sản xuất Đối với diện tích trồng cây ăn trái cógiá trị kinh tế cao, chịu mặn kém, trước khi tưới cần kiểm tra nồng độ mặn
Từ ngày 1 đến 10, xâm nhập mặn trên các sông Nam Bộ giảm dần đến ngày 5 Độmặn cao nhất tại các trạm ở mức xấp xỉ và thấp hơn so với tuần qua
Từ mùng 6 đến mùng 10, xâm nhập mặn có xu thế tăng dần, độ mặn sẽ tăng caotrong ngày 10
Từ 11-15/3, xâm nhập mặn tiếp tục tăng và đạt mức cao nhất từ ngày 11 đến 13, saugiảm chậm Độ mặn cao nhất trong đợt này ở mức tương đương và cao hơn đợt xâm nhậpmặn ngày 10 và 13/2 và cùng kỳ năm 2016
Cụ thể, chiều sâu ranh mặn 1 g/l: Sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây phạm vi xâmnhập mặn 110-130 km; sông Cửu Tiểu, Cửa Đại, Hàm Luông phạm vi xâm nhập mặn từ65-95 km; sông Cổ Chiên phạm vi xâm nhập mặn từ 60-65 km; sông Hậu phạm vi xâmnhập mặn từ 60-67 km; sông Lớn phạm vi xâm nhập mặn từ 55-65 km
Chiều sâu ranh mặn 4 g/l: Sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây phạm vi xâm nhập mặn87-110 km; sông Cửu Tiểu, Cửa Đại phạm vi xâm nhập mặn từ 55-60 km; sông HàmLuông phạm vi xâm nhập mặn từ 68-78 km; sông Cổ Chiên phạm vi xâm nhập mặn từ55-68 km; sông Hậu phạm vi xâm nhập mặn từ 60-67 km; sông Cái Lớn phạm vi xâmnhập mặn từ 50-58 km
Rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn ở ĐBSCL: Cấp 2
Trang 132.2 Tác động của xâm nhập mặn tới ngành nông nghiệp ĐBSCL
2.2.1 Khái quát về ngành nông nghiệp ĐBSCL
Việt Nam phát triển từ gốc từ một nước nông nghiệp vì vậy mà ngành nông nghiệpđóng góp giá trị lớn vào cơ cấu kinh tế của đất nước là điều dễ hiểu Dù cho hiện nay đấtnước đang hướng tới công nghiệp hóa hiện đại hóa khiến nông nghiệp cơ cấu giảm so vớicông nghiệp, dịch vụ nhưng nó vẫn là ngành mũi nhọn và quan trọng của Việt Nam.Đồng bằng sông Cửu Long với các điều kiện về tự nhiên, thổ nhưỡng rất thuận lợicho phát triển nông nghiệp, là một trong những đồng bằng cho sản lượng nông sản lớnnhất khu vực Đông Nam Á và đứng đầu tại Việt Nam
Trong suốt thời gian qua, đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước,đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuấtkhẩu lương thực ra nước ngoài
Bảng 1: Sản lượng lúa cả năm từ 2005-2018
Trang 15Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, sản lượng lúa cả năm của đồng bằng sông CửuLong hầu như là chiếm hơn 50% tổng sản lượng lúa của cả nước Nhờ vậy nên đồng bằngsông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước.
2.2.2 Tác động của xâm nhập mặn tới sản xuất nông nghiệp ĐBSCL
Độ mặn là tổng lượng các chất hòa tan chứa trong 1kg nước, như với nước biển chứakhoảng 35g muối trong 1 lít là 35‰ Độ mặn tiêu chuẩn với nước uống là < 0,25‰.Nước sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hoa màu nếu có độ mặn > 0,14‰ Tuy nhiên, có vài loạihoa màu chịu đựng được nước có độ mặn 0,36‰ Và thông thường trên mức này, thựcvật sẽ có dấu hiệu suy thoái hoặc bị chết Có khoảng 3.500 loài thực vật được xếp vàonhóm halophytes là có thể chịu đựng nước mặn Trong số này, cây Mấm (Avicennia alba)
là cây chịu mặn đứng đầu, thực vật trong rừng ngập mặn Một số loài thực vật trong samạc cũng có thể chịu đựng được nước mặn Còn với lúa thông thường không thể canh táckhi độ mặn của nước vượt quá 4‰
Ở độ mặn 2‰ các giống lúa thông thường bắt đầu có triệu chứng chậm phát triển, tuyvậy vẫn có một số giống lúa cho năng suất khá như giống lúa kháng mặn CSR10 củaAustralia Với nước uống cho gia súc thì yêu cầu nước có độ mặn dưới 1,5‰ Cá nướcngọt có thể sống trong môi trường độ mặn 15‰
Có thể thấy xâm nhập mặn ảnh hưởng rất lớn tới ngành nông nghiệp, trong đó những tác động trực tiếp nhất là:
Làm giảm diện tích đất canh tác: Do tình trạng hạn hán kéo dài kết hợp triều cường,xâm nhập mặn làm cho nhiều diện tích đất canh tác của các huyện ven biển bịnhiễm mặn, hoạt động sản xuất không hiệu quả hoặc mất khả năng canh tác Theomôt nghiên cứu được đăng lên tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, năm
2016, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xâm nhập mặn gây ra thiệt hại lớn đến diệntích đất trồng trong vụ lúa Đông Xuân; trong đó mức thiệt hại 100% diện tích là21,33 ha, mức thiệt hại trên 70% là 19,6 ha và mức thiệt hại từ 30-70% là 7 ha trêntổng số diện tích đất trồng lúa là 47,93 ha
Trang 16mặn khiến cho chất lượng đất và nước sử dụng cho nông nghiệp bị ảnh hưởng rấtnhiều, dẫn đến việc gia tăng dịch bệnh cho vật nuôi, cây trồng, đặc biệt là cây lúa.Nếu dịch bệnh phát sinh với mật độ càng cao, diện tích phân bố rộng sẽ gây thiệt hạimùa màng càng lớn khiến năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp giảm đồngthời gia tăng chi phí sản xuất.
Thường các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ bước vào đượt hạn hán, xâmnhập mặn ở mức cao nhất từ đầu mùa khô và ảnh hưởng nặng nề nhất kể đến là vụ lúaĐông Xuân
Dưới đây là biểu đồ về sản lượng lúa Đông Xuân khu vực đồng bằng sông Cửu Long
300 nghìn tấn mỗi năm từ 1995 đến 2015 Song đến năm 2016 lại giảm hơn 1.000 nghìn
Trang 17tấn so với năm 2015, do xâm nhập mặn vào năm này đạt mốc cao kỉ lục trong lịch sử.Những kịch bản ứng phó với xâm nhập mặn được xây dựng phù hợp với diễn biến thực tếqua trong từng thời điểm, hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất cho người dân Tuy nhiên,khoảng thời gian gần đây là đầu năm 2020, hạn mặn đến sớm hơn dự kiến và kéo dài vớidiễn biến phức tạp, khó lường, có nguy cơ vượt ngưỡng năm 2016.
Chi tiết ảnh hưởng xâm nhập mặn qua các năm:
Năm 1993 – 2001
Nguyên nhân do sự ảnh hưởng thủy triều và lưu lượng nước sông xuống thấp trongmùa khô khiến cho nước biển xâm nhập sâu vào nội địa Lưu lượng nước sông Cửu Longxuống rất thấp trong những năm hạn hán 1993 và 1998, vì thế mà khoảng 1/3 diện tích
Cà Mau bị nhiễm mặn 4‰ không thể canh tác Vào năm 1999, chỉ xét các tỉnh Trà Vinh,Bến Tre, Tiền Giang và Cà Mau đã có đến khoảng 100.000 ha đất canh tác bị nhiễm mặn.Cho đến đầu năm 2001, khi bắt đầu mùa mưa vào tháng 5, một số tỉnh ở đồng bằng sôngCửu Long vẫn bị nước mặn ảnh hưởng rất nhiều (Theo Cục thông tin khoa học và côngnghệ quốc gia)
Mùa khô các năm 2004 – 2005
Độ mặn có khuynh hướng ngày càng tăng Ví dụ khi độ mặn vào tháng 3/2002 tại cùngmột địa điểm thuộc Long An là 0,3‰ thì đến tháng 3/2004 con số này tăng lên thành 1,8‰.Tại cống Cái Xe (rạch Mỹ Xuyên và thị xã Sóc Trăng), ngày 20/2/2005 đo lường được độmặn là 5,9‰ Tại cống Xuân Hoà (Gò Công), vào những năm trước đây độ mặn trong nướcchỉ ở mức 2‰, tuy nhiên trong khoảng thời gian này độ mặn đạt mức 3‰ thậm chí là 5‰.Tính đến ngày 15/5/2005, các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 1.077 nghìn ha lúa hèthu (bằng 92,2% so với cùng kỳ), trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đạt 981 nghìn
ha (bằng 94% so với cùng kỳ) (Theo Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia)
Mùa khô các năm 2009 – 2010
Diện tích đất trồng bị nhiễm mặn ở đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô bình