Hiện nay, sông Nhuệ đang bị bồi lắng và ô nhiễm rất nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ thành phố Hà Nội một phần là do nối với sông Tô Lịch gần Văn Điển, Hà Đông và ảnh hưởng
Trang 1Lời mở đầu Tính cấp thiết của đề tài
Sông Nhuệ là một con sông nhỏ, dài khoảng 76 km, với diện tích lưu vực khoảng 1.075 km2 Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, cấp nước tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài Bên cạnh đó, sông Nhuệ còn có nhiệm
vụ tiều nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và chuyển nước cho sông Đáy tại thành phố Phủ Lý Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá chất lượng nước sông cũng như tác động đến đời sống là vô cùng cần thiết cho công tác quản lý môi trường của sông Nhuệ
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế- xã hội trong lưu vực sông Nhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích kinh tế, góp phần nâng cao đời sống cho người dân, giải quyết việc làm cho một số lượng lớn người dân lao động Song, ngoài những lợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng trong lưu vực ngày càng nghiêm trọng Hiện nay, sông Nhuệ đang bị bồi lắng và ô nhiễm rất nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ thành phố Hà Nội (một phần là do nối với sông Tô Lịch gần Văn Điển), Hà Đông
và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của những người dân sống trong lưu vực lượng nước thải vào sông Nhuệ với hàm lượng DO hầu như không còn nữa đã biến con sông thành “con sông chết” vì tôm cá không thể nào sống ở mức độ đó Vào mùa khô thì dòng sông cạn kiệt, trơ đáy bùn nên nhiều khúc sông không khác gì bãi rác
lô thiên
Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Nhuệ đối với sự phát triển bền vững của thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Nam sông Nhuệ cũng như để có cơ
sở đề xuất các giải pháp quản lý, giải pháp kĩ thuật nhằm cải thiện chất lượng nước
sông Nhuệ, đề tài “Phân tích tác động của ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ
đến sức khỏe con người” đã được thực hiện.
Trang 2Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Môi trường nước sông Nhuệ trên địa bàn Hà Nội và các tác động ô nhiễm môi trường nước đến sức khỏe con người
Cấu trúc: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo bài tiểu luận có
các nội dung chính sau:
Phần 1: Tổng quan
Phần 2: Thực trạng
Phần 3: Giải pháp
Trang 3NỘI DUNG
1 Tổng quan
1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam
Việt Nam có khoảng hơn 2.360 con sông trải dài khắp mọi miền đất nước, trong đó có 109 sông chính Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tuy nhiên việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý đã dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng Đó là suy giảm số lượng và chất lượng nước mặt Nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam ở trong tình trạng thiếu nước mùa hạn hán và nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng
Những hoạt động trong đời sống của con người đã tác động mạnh mẽ đến các quá trình trong chu trình thuỷ văn, gây nên những ảnh hưởng có lợi cũng như bất lợi tới số lượng và chất lượng tài nguyên nước Nhu cầu dùng nước ngày càng tăng cao trong sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự biến đổi thất thường của khí hậu toàn cầu đã làm cho tài nguyên nước ngày càng bị tác động theo chiều hướng xấu đi cả về chất và lượng Do đó, công tác quản lý tài nguyên nước để đảm bảo an ninh về nước cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững đang là một vấn đề nóng bỏng trên khắp thế giới cũng như ở nước ta hiện nay
Hầu hết các sông, hồ lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc đều bị ô nhiễm Phần lớn là lượng nước thải từ sinh hoạt và công nghiệp được đổ thẳng xuống sông, hồ mà không qua xử lý đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các con sông, hồ trong thành phố Trong những năm qua sự gia tăng nhanh dân số
và sự khai thác quá mức tài nguyên nước đã làm suy kiệt nguồn nước và nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm Điều này đã đặt ra những thách thức đối với nguồn nước mặt của Việt Nam Vì lẽ đó cần có những giải pháp tốt cho việc quản lý tài nguyên nước mặt
Có thể thấy Việt Nam cũng giống như các nước trên thế giới đang gặp những vấn đề về nguồn nước Quá trình sinh hoạt, sản xuất kèm theo đó là chất thải từ các khu công nghiệp, nhà máy, nước thải sinh hoạt đã gây ra ảnh hưởng đến chất lượng nước đặc biệt là nước trong các con sông
Trang 41.2 Tình hình nghiên cứu về về môi trường và nguồn nước khu vực sông Nhuệ
Sông Nhuệ nằm giữa đồng bằng Bắc bộ, phía Bắc lưu vực sông Nhuệ là sông Hồng, phía Tây là sông Đáy, phía Nam là sông Châu Giang Sông chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội và hai huyện của tỉnh Hà Nam Diện tích của toàn bộ lưu vực là 107.530 ha, trong đó: Hà Nội chiếm 87.820 ha và tỉnh Hà Nam chiếm 19.710 ha Sông Nhuệ (đoạn chảy qua thành phố Hà Nội) bắt nguồn từ sông Hồng tại cửa cống Liên Mạc - Từ Liêm và chảy qua các quận, huyện gồm: Từ Liêm, Hà Đông, Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam là nguồn cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát nước của thành phố Lưu vực sông Nhuệ có
hệ thống sông ngòi và đầm hồ dày đặc, trong đó bao gồm nhiều sông lớn nhỏ khác nhau Các sông lớn chảy ở phía ngoài như sông Hồng, sông Đáy
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là khu vực dân số tập trung với mật độ cao nhất cả nước, các đoạn sông chảy qua khu dân cư tập trung, đô thị lớn phải gánh chịu lượng nước thải sinh hoạt của hàng chục triệu người Bên cạnh đó, tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các
đô thị, làng nghề, khu – cụm công nghiệp, dịch vụ xả nước thải không qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn cho phép đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước diễn biến phức tạp, tồn tại kéo dài qua nhiều năm, đặc biệt trong những tháng mùa khô
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là 1 trong 3 lưu vực bị đưa vào danh sách có mức độ ô nhiễm cao, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người và xung quanh Tại địa bàn có sông Nhuệ, sông Đáy chảy qua nhiều người dân mắc các loại bệnh liên quan đến nguồn nước ô nhiễm như bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, Tỷ lệ các xã ven sông mắc bệnh cao hơn các xã ở xa nguồn nước
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù chất lượng nước giảm sút cùng với ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Nhuệ đoạn chảy qua Thành phố Hà Nội đã được nêu trong nhiều nghiên cứu,
Trang 5báo cáo, đánh giá tuy nhiên thực tế thì tình trạng nước sông bốc mùi, chuyển thành màu đen vẫn chưa được giải quyết triệt để và còn gây ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân xung quanh, không có nhiều báo cáo chuyên sâu về ảnh hưởng của ô nhiễm nước sông Nhuệ đến sức khỏe người dân Hà Nội
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tài liệu và thống kê số liệu
Nhóm nghiên cứu, thu thập số liệu, tài liệu đã có: từ internet về các nội dung liên quan đến đề tài ở trong nước và thế giới
Thu thập các thông tin, thống kê số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh
tế, xã hội của khu vực
Tổng hợp các hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn lấy mẫu và phân tích mẫu nước sông
Nhóm nghiên cứu dựa trên Luật, Quyết định, Nghị định để làm cơ sở pháp lý nhằm đưa ra giải pháp hạn chế ảnh hưởng của chất lượng nước sông tới sức khỏe, đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân xung quanh
Phương pháp khảo sát
Nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát bằng phiếu online về ảnh hưởng của ô nhiễm sông Tô Lịch (1 nhánh của sông Nhuệ) đến sức khỏe con người
Nội dung chính của phiếu phỏng vấn:
1 Thông tin chung người được phỏng vấn
2 Khoảng cách từ nơi ở đến nguồn nước ô nhiễm sông Tô Lịch
3 Chi phí y tế của các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước Qua khảo sát, thu được 41 kết quả
Phương pháp phân tích định lượng
Thu thập số liệu phiếu khảo sát, phân tích định lượng bằng phần mềm stata
để thu được kết quả về ảnh hưởng của ô nhiễm nước đến sức khỏe con người Kết quả phân tích được nêu ở phần sau
Trang 62 Thực trạng
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ
Chất lượng nước của sông Nhuệ biến đổi theo từng năm, có xu hướng ngày kém hơn do có nhiều nguồn nước thải lớn đổ vào hệ thống Khu vực ô nhiễm nặng nhất trên dòng chính sông Nhuệ là từ sau cống Hà Đông về hạ du
Kết quả giám sát từ năm 2005 đến 2016 do Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện cho thấy, đoạn từ Cầu Diễn đến đập Đồng Quan: hàm lượng COD (nhu cầu hóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh học) đều vượt quá giới hạn B2 của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT (Dùng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự) từ 2,2 đến 9 lần Đặc biệt, chỉ số
DO (ôxy hòa tan trong nước) thấp, giảm mạnh trong những năm gần đây Qua các đợt giám sát đều cho thấy chỉ số DO có giá trị < 1 mg/l; hàm lượng NH4 vượt quá giới hạn B2 từ 0,4 đến 11 lần; hàm lượng vi khuẩn Coliform vượt quá giới hạn B2
từ 1.5 ÷ 30 lần Bên cạnh đó, nước sông có màu đen, có váng, cặn lắng và có mùi hôi tanh nồng nặc Đặc biệt vào mùa khô, không có nguồn nước sông Hồng đổ vào pha loãng cho sông Nhuệ, nước sông Nhuệ càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Vào mùa mưa, tuy nước sông Nhuệ có nguồn bổ sung nhưng các thông số đặc trưng cho ô nhiễm như BOD5, COD, SS, cùng vớỉ các hợp chất dinh dưỡng chứa Nitơ, Phốt pho và Coliform trong nước sông vẫn vượt quá nhiều lần so với tiêu chuẩn quốc gia
Theo báo cáo quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguồn nước ngầm đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Số liệu điều tra tại Hà Nội, thành phố bị ô nhiễm Asen (Thạch tín) nặng nhất, thì tại đây có tới 11.455/39.648 mẫu phân tích hàm lượng As vượt quy chuẩn cho phép (chiếm 28,9%)
Để đánh giá rõ hơn về mức độ ô nhiễm nước sông Nhuệ, một nhóm nghiên cứu Đại học Khoa học Tự nhiên đã tiến hành nghiên cứu đánh giá 12 chỉ tiêu tại 16
vị trí trên sông Kết quả ô nhiễm thể hiện rõ qua các chỉ số, cụ thể như sau:
Trang 7*Chỉ tiêu pH: Giá trị pH đặc trưng cho độ axit/bazơ của nước
Giá trị pH của nước sông Nhuệ thể hiện đặc trưng kiềm nhẹ, dao động trong khoảng từ 7,0 đến 7,4 Tại tất cả các vị trí giá trị pH đều đạt QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) Giá trị pH mùa mưa thấp hơn mùa khô và có giá trị gần với pH trung tính, ngược lại mùa khô giá trị pH mang tính kiềm nhẹ ở hầu hết các điểm quan trắc và thể hiện đặc trưng kiềm nhẹ
*Chỉ tiêu DO: Thể hiện hàm lượng ôxi hòa tan trong nước
Hàm lượng DO tại tất cả các vị trí quan trắc đều thấp hơn quy chuẩn cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 (>4), dao động trong khoảng từ 2,6 đến 3,1 mg/l và chỉ đáp ứng yêu cầu của loại B2 giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu chất lượng nước thấp Mùa mưa hàm lượng DO cao hơn mùa khô
do lưu lượng nước mùa mưa cao hơn, quá trình xáo trộn vùng bề mặt nước tốt hơn mùa khô; đồng thời do quá trình phân huỷ các chất ô nhiễm hữu cơ thấp hơn mùa khô nên hàm lượng DO trong nước có giá trị tốt hơn
* Chỉ tiêu Chất rắn lơ lửng (TSS):
Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) từ vị trí NR1 đến NR4 không vượt mức giới hạn tối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1), còn lại các điểm khác đều vượt vượt mức giới hạn tối đa cho phép, đặc biệt từ vị trí NR5 đến NR8 Nguyên nhân của tình trạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnh của hoạt động sinh hoạt và phát triển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhận nước của sông
Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) mùa mưa thấp hơn mùa khô
* Chỉ tiêu COD:
Hàm lượng COD tại tất cả các vị trí quan trắc đều vượt mức giới hạn tối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) Nguyên nhân của tình trạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnh của hoạt động sinh hoạt và phát triển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhận nước của sông Các vị trí NR1, NR2, NR3 không vượt quy chuẩn cho phép Hàm lượng COD mùa mưa thấp hơn
Trang 8mùa khô tại hầu hết các vị trí, riêng chỉ có vị trí NR15 hàm lượng COD mùa khô thấp hơn mùa mưa
* Chỉ tiêu BOD:
Hàm lượng BOD5 tại vị trí từ NR1 đến NR3 thấp không vượt quy chuẩn, từ vị trí NR4 đến NR16 giá trị BOD5 rất cao vượt quá quy chuẩn cho phép nhiều lần Nguyên nhân của tình trạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnh của hoạt động sinh hoạt và phát triển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhận nước của sông.Hàm lượng BOD5 mùa mưa thấp hơn mùa khô tại hầu hết các vị trí quan trắc, riêng chỉ có vị trí NR15 hàm lượng BOD5 mùa mưa bằng với mùa khô
* Chỉ tiêu NO3 - :
Hàm lượng NO3 - tại tất cả các vị trí quan trắc đều không vượt mức giới hạn tối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) Hàm lượng NO3 -mùa mưa cao hơn -mùa khô tại vị trí NR1, NR2, NR3, NR4, NR5, MNR6 hàm lượng NO3 - mùa khô lại cao hơn mùa mưa tại vị trí NR8 đến NR14
* Chỉ tiêu PO4-:
Hàm lượng PO4- trong nước sông Nhuệ tương đối cao và dao động trong khoảng từ 0,51 đến 3,66 mg/l Tất cả các vị trí quan trắc đều vượt mức giới hạn tối
đa cho phép ở tất cả các loại (A1-B2) Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các công bố trước đây về chất lượng nước sông Nhuệ Theo mùa: Hàm lượng PO4 -mùa khô cao hơn -mùa mưa tại hầu hết các vị trí quan trắc
* Chỉ tiêu Fe:
Hàm lượng Fe tại các vị trí NR1, NR2, NR3 đều đạt quy chuẩn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Các vị trí còn lại vượt mức giới hạn tối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT loại B1, vị trí NR8 vượt 2,2 lần Theo mùa: Hàm lượng Fe mùa mưa thấp hơn mùa khô tại các vị trí NR5 đến NR11, tại các vị trí NR1, NR3, NR4, NR12, NR13, NR15, NR16 hàm lượng Fe trong mẫu nước sông Nhuệ vào mùa mưa cao hơn mùa khô
Trang 9*Chỉ tiêu Ni:
Hàm lượng Ni dao động trong khoảng từ 0,003 đến 0,017 mg/l Tại tất cả các
vị trí quan trắc đều đạt quy chuẩn cho phép Theo mùa: Hàm lượng Ni vào mùa khô cao hơn mùa mưa tại tất cả các vị quan trắc
* Chỉ tiêu Zn:
Hàm lượng Zn dao động trong khoảng 0,02 đến 0,07 mg/l Giá trị Zn tạiccác
vị trí quan trắc được trong tháng 11 năm 2011 đều đạt quy định cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Theo mùa: Hàm lượng Zn mùa khô cao hơn mùa mưa tại các vị trí quan trắc NR1, NR2, NR3, NR4, NR6, NR7, NR8, NR9, NR10, NR12, NR13, NR14, NR16 Vị trí NR5, NR15 hàm lượng Zn vào mùa mưa cao hơn mùa khô
* Chỉ tiêu As:
Hàm lượng As dao động trong khoảng 0,001 đến 0,01 mg/l Giá trị As tại các
vị trí quan trắc được trong tháng 11 năm 2011 đều đạt quy định cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Theo mùa: Hàm lượng As mùa mưa cao hơn mùa khô tại các vị trí NR5, NR6, NR8, NR9, NR10 Tại các vị trí NR2, NR7, NR11, NR12, NR13, NR14, NR16 hàm lượng As vào mùa mưa thấp hơn mùa khô
* Chỉ tiêu C6H5OH:
Hàm lượng Phenol trong các mẫu nước tại phía hạ lưu sau Cầu Diễn có xu hướng cao và cao hơn mức quy định tối đa cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Theo mùa: Hàm lượng C6H5OH vào mùa mưa thấp hơn mùa khô tại các vị trí NR1 đến NR5, NR7 đến NR11, NR15; tại các vị trí còn lại hàm lượng C6H5OH vào mùa mưa cao hơn mùa khô
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ
Nguồn nước sông Nhuệ chịu ảnh hưởng của nguồn nước thải thành phố Hà Nội nên
bị ô nhiễm nghiêm trọng
Trang 10Về hiện trạng chất lượng nước: Trên dọc trục sông Nhuệ có rất nhiều các nguồn
điểm xả thải trực tiếp, Theo số liệu thống kê từ thượng lưu về hạ lưu bao gồm: sông Đăm, sông Cầu Ngà, sông Tô Lịch, Kênh AI-17, kênh Hoà Bình, kênh Xuân La, kênh Phú Đô Tại tất cả các vị trí khảo sát trên dòng chính sông Nhuệ đều xảy ra tình trạng ô nhiễm các chất hữu cơ Theo các số liệu quan trắc vào các tháng 1, 2 và tháng 9 tại vị trí cống Liên Mạc không bị ô nhiễm chất hữu cơ hoặc ô nhiễm nhẹ bởi
lý do cống Liên Mạc là điểm đầu lấy nước vào hệ thống, tại vị trí này nguồn nước sông Nhuệ chính là nguồn nước của dòng chính sông Hồng Kết quả giám sát cho thấy chất lượng nước khá tốt Nguồn nước sông Nhuệ bắt đầu bị ô nhiễm sau điểm nhập lưu của sông Đăm, kênh Xuân La vào sông Nhuệ Đặc biệt khi đến Hà Đông
do ảnh hưởng của nước thải quận Hà Đông, nước thải từ sông Đăm, sông Cầu Ngà, trạm bơm Đồng Bông (tiêu thoát khu vực Mễ Trì, Mỹ Đình) Tình trạng ô nhiễm xảy ra cao đặc biệt tại vị trí Cầu Tó khi đập Thanh Liệt mở cống và hiện tượng ô nhiễm duy trì đến tại vị trí cầu Xém rồi xuống đến cầu Thần, có những tháng sự ô nhiễm xuống tận đập Nhật Tựu Qua vị trí đập Nhật Tựu hàm lượng các chất ô nhiễm giảm dần đi cho đến cuối trục sông
Theo các tài liệu, kết quả điều tra- khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương trong vùng cho thấy nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm nước sông Nhuệ là do các loại nguồn nước thải sau đây:
1 Các khu đô thị và khu dân cư tập trung
2 Các cơ sở sản xuất công nghiệp và làng nghề.
3 Các bệnh viện và cơ sở y tế
4 Nước thải từ khu vực sản xuất nông nghiệp.
- Nước thải sinh hoạt: Lưu vực sông Nhuệ là nơi tập trung hàng loạt các khu đô
thị với mật độ lớn, đó là thành phố Hà Nội và bên cạnh đó là hàng loạt các khu đô thị vệ tinh như: thành phố Ninh Bình, thành phố Phủ Lý, thị trấn Đồng Văn, Duy Tiên v.v Từ các khu đô thị này đã tạo ra nguồn thải nước sinh hoạt và đổ vào sông Nhuệ Theo ước tính sông Nhuệ nhận khoảng 550.000 m3 nước thải chưa được xử lý/ ngày đêm Chỉ tính trung bình mỗi người dân nội thành Hà Nội dùng 0,2 kg bột