1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế môi trường phân tích mô hình liên kết doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu

24 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 320 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhà nghiên cứukinh tế đã tìm kiếm và đưa ra những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với từng điều kiện hoàncảnh để giải quyết vấn đề, trong đó không thể bỏ qua vai trò của liên kết kinh doan

Trang 1

xã hội và môi trường toàn cầu.

Việt Nam của chúng ta đáng tiếc lại là một trong số những quốc gia chịu nhiều ảnhhưởng của biến đổi khí hậu nhất Những chuyên gia kinh tế môi trường nhà nghiên cứukinh tế đã tìm kiếm và đưa ra những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với từng điều kiện hoàncảnh để giải quyết vấn đề, trong đó không thể bỏ qua vai trò của liên kết kinh doanh, nhất làtrong giai đoạn kinh tế mở cửa hội nhập và phát triển đột phá về khoa học – công nghệ.Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm 21 đã thu thập những nghiên cứu trước đây, tuynhiên số lượng còn ít và một vài nghiên cứu chưa sâu và chưa được tường minh Trên cơ sở

đó, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “ Vai trò của liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổikhí hậu” Kết quả của nghiên cứu là bám theo những ưu điểm của các tác giả khác để từ đókiến nghị phương án tối ưu hơn nhằm khắc phục nhược điểm của các nghiên cứu trước

Để đạt được mục tiêu thực hiện đề tài, nhóm 21 đưa ra những nội dung sau:

- Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng về quá trình biến đổi khí hậu cũng như các môhình liên kết kinh doanh ở Việt Nam, qua đó tìm hiểu tác động của liên kết kinh doanh đếnmôi trường và phát triển kinh tế

- Đưa các giải pháp để phát huy hiệu quả ưu điểm của liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG Chương 1: Lý luận chung

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, đầu tư nước ngoài đã tạo ra những lợi ích khá rõ nét và bắtđầu có hiệu ứng lan tỏa đối với những lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua việc giớithiệu công nghệ và bí quyết mới, chuẩn mực quốc tế trong sản xuất và dịch vụ, phát triển kỹnăng của lực lượng lao động cũng như tạo ra việc làm trong các ngành công nghiệp hỗ trợ

và các ngành du lịch

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Chiến lược mới về quản trị liên kết (collaborative governance) đã và đang được pháttriển mạnh trong khoảng 20 năm qua Mô hình quản trị này giúp cho các chủ thể, đặc biệt làcác cơ quan hành chính công có thể cùng liên kết, cùng đồng thuận trong việc ra quyết định.Các nghiên cứu về quản trị liên kết trên thế giới cũng đã tập trung phân tích, xác định cácnhân tố ảnh hưởng tới liên kết nói chung và liên kết kinh doanh (LKKD) trong vùng nóiriêng

- Mattessich và Monsey (1992) đã tổng hợp 133 nghiên cứu về mô hình liên kết trongmột số lĩnh vực (sức khỏe, khoa học xã hội, giáo dục và lĩnh vực công) đã chỉ ra 20 nhân tố

“con” ảnh hưởng tới sự thành công của liên kết và nhóm thành 6 nhóm nhân tố, đó là: môitrường, đặc điểm thành viên tham gia, quá trình/cơ cấu, trao đổi, mục tiêu và nguồn lực

- Thomson và James (2006) đã đề cập tới 13 nhân tố và chia thành 3 nhóm vấn đề tácđộng đến liên kết, đó là: (i) các điều kiện tiền đề (điều kiện khiến cho liên kết có thể xuấthiện và điều kiện khuyến khích các bên tham gia liên kết); (ii) quá trình (thông qua quá trình

mà liên kết xảy ra); và (iii) kết quả đạt được của liên kết Đặc biệt, các tác giả đã nhấn mạnhtới tầm quan trọng của nhóm nhân tố quá trình, bởi theo các tác giả nếu các nhà quản trịcông có cái nhìn thấu đáo về bản chất quá trình liên kết và quản lý quá trình này một cách cóchủ đích thì có thể giúp cho liên kết trở nên hiệu quả Quá trình liên kết gồm 5 thành tốchính, trong đó 2 thành tố liên quan tới cấu trúc (gồm quản trị và hành chính), 2 thành tố liênquan tới vốn xã hội (gồm lợi ích các bên tham gia và các chuẩn mực về lòng tin và sự tươnghỗ) và 1 thành tố là thực thể (sự tự chủ của tổ chức)

Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tế tìm kiếm nhân tố ảnhhưởng đến LKKD Hầu hết các nghiên cứu tìm được sự đồng thuận về nhân tố ảnh hưởngđến liên kết như: động cơ của các bên tham gia liên kết, thể chế liên kết, chính trị và vai tròcủa người lãnh đạo Tuy nhiên, một số các nhân tố khác như: sự tương đồng về kinh tế, vănhóa hay bối cảnh lịch sử, trong một chừng mực nào đó đang có những ý kiến trái chiều

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Những năm gần đây, chủ đề LKKD nói chung và LKKD trong vùng nói riêng ở ViệtNam đã và đang ngày càng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu nàykhá đa dạng về nội dung và cách tiếp cận, và đã đề cập tới một số chủ đề như sau:

Hoạt động liên kết phát triển Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đã được thực hiệntrong những năm gần đây, tuy nhiên, hiệu quả chưa cao Bài viết đề xuất, phân tích các tiêu

Trang 3

chí đánh giá và trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao tác động liên kết phát triển kinh tếVùng Duyên hải Nam Trung Bộ dựa trên cơ sở vận dụng các lý thuyết về phát triển kinh tếvùng và lược khảo các công trình có liên quan Cụ thể là: (1) Nâng cao nhận thức về liên kếtvùng trong phát triển kinh tế; (2) Đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực; (3) Rà soát,chỉnh sửa, cập nhật quy hoạch vùng và địa phương; (4) Hoàn thiện thể chế, chính sách vềđiều phối vùng.

Tương tự như các nghiên cứu quốc tế, các tác giả trong nước khi nghiên cứu về nhân

tố liên kết vùng cũng đã sử dụng cách tiếp cận khá đa dạng Cụ thể:

- Trần Thị Thu Hương và cộng sự (2016) khi phân tích bộ máy vùng và thực trạngphương thức liên kết chính quyền địa phương (LKCQĐP) đã nhấn mạnh 2 nhân tố cản trởLKV ở Việt Nam thời gian qua, đó là: (i) bộ máy LKV vừa thừa, vừa thiếu (có địa phươngtham gia song trùng 2 bộ máy, có địa phương không tham gia bất kỳ bộ máy nào); và (ii)việc tuân thủ quy định liên kết bắt buộc chưa được nghiêm minh

- Hoàng Ngọc Phong và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp phân tích chính sách

và tiến hành điều tra 5 tỉnh/thành ở Việt Nam để đánh giá thực trạng thể chế kinh tế vùng và

cơ chế LKV ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2013

Ngoài ra, một số nghiên cứu của Võ Thị Kim Sa (2013), Võ Hữu Phước (2014),Phạm Thị Vân (2016) cũng nghiên cứu LKV theo cách tiếp cận liên kết thị trường thông qualiên kết giữa các chủ thể sản xuất trong vùng, liên kết cụm và liên kết chuỗi sản xuất

Có nhiều cách thức khác nhau để đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng củamột ngành lên toàn bộ nền kinh tế Phân tích Ma trận hạch toán xã hội (SAM) để tính toáncác liên kết là cách tiếp cận phổ biến được ứng dụng tại nhiều quốc gia Sử dụng SAM ViệtNam năm 2012, bài viết đo lường độ lớn liên kết kinh tế bằng cách tính toán các nhân tử từSAM Từ đó, các ngành có liên kết mạnh được nhận diện nhằm gợi mở các chính sách kinh

tế phù hợp với tình hình hiện tại của nền kinh tế Việt Nam Kết quả cho thấy, các ngành cóliên kết mạnh là ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm và ngành thủy sản Vìvậy, các công cụ và biện pháp chính sách nên ưu tiên vào những ngành này

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu thật sự sâu về cơ chế chính sách liên kếtkinh doanh trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Thứ hai, đối với Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BĐKH, các nghiêncứu đã tập trung làm rõ: các hiện tượng thiên tai, biểu hiện, nguyên nhân và tác động của nótới cộng đồng, từ đó đề xuất giải pháp tổng thể Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu tổng kếtcác vai trò cũng như tác động của liên kết kinh doanh trong ứng phó với BĐKH

Trang 4

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này mang nhiều ý nghĩa quan trọng về lý luận vàthực tiễn.

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu

a Khái niệm:

Theo Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên

và Môi trường, tháng 7 năm 2008, định nghĩa: “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu

so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài,thường là vài thập kỷ, hàng trăm năm hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tựnhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổithành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất”

b Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

- Nguyên nhân biến đổi khí hậu do tự nhiên: Biến đổi khí hậu xảy ra trong thời kỳ địachất đều do các nguyên nhân tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của trái đất, các

vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời

- Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại: Nguyên nhân hàm lượngkhí nhà kính tăng lên là do việc sử dụng nguyên liệu hóa thạch trong các lĩnh vực sản xuất

và tiêu thụ năng lượng của thế giới tăng hơn 30 lần từ năm 1750 Bên cạnh đó, sự suy giảmrừng nhiệt đới, việc sản xuất và sử dụng hóa chất, hoạt động sản xuất nông nghiệp và cáchoạt động khác như đốt, chôn lấp rác thải, cũng làm cho hàm lượng khí nhà kính tăng lên

- Nguyên nhân của nước biển dâng: Giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền

1.2.2 Cơ sở lý luận về liên kết trong kinh doanh

a Khái niệm:

Liên kết kinh doanh là các kết nối giữa DN đa quốc gia và các doanh nghiệp nhỏ vàvừa (DNNVV) trong nước nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ giữa đốitượng thứ nhất sang đối tượng thứ hai UNCTAD Và IFC nhấn mạnh rằng “Liên kết kinhdoanh” là một công cụ để giải quyết hầu hết các vấn đề mà các DNNVV phải đối mặt.Nghiên cứu cũng cho thấy những mối liên kết này đã nâng cao năng suất của các DNNVV

Có thể nói tất cả các bên liên quan trong các mối liên kết kinh doanh đều là những ngườichiến thắng Do đó, liên kết kinh doanh là một khía cạnh bình thường trong đời sống kinhdoanh của các nền kinh tế theo định hướng thị trường

Tóm lại, liên kết kinh doanh là hình thức hợp tác “làm ăn” mà DN thỏa thuận với DN

có sản phẩm/dịch vụ, trong đó DN không mất tiền vốn hoặc nếu phải bỏ tiền thì không mấtnhiều, nhưng DN sẽ phải chia lợi nhuận kinh doanh cho họ Lý do là bởi vì DN đang phảiphụ thuộc với họ Liên kết kinh doanh giúp DN học hỏi được nhiều điều trong giai đoạn đầukinh doanh, nếu sau này DN phát triển được kênh phân phối hiệu quả thì có thể tách riêng đểkinh doanh

b Phân loại:

Trang 5

Trong một số nghiên cứu về liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài với các đốitác trong nước Scott-Kennel & Enderwick, 2005; Glass et al., 2002; Saggi, 2002), các tácgiả đã phân biệt hai loại liên kết: liên kết dọc (vertical linkages) và liên kết ngang(horizontal linkages) Trong đó liên kết dọc là mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp nướcngoài với các nhà cung cấp địa phương (liên kết ngược) và với người tiêu dùng đối với sảnphẩm trung gian hoặc cuối cùng (liên kết xuôi) Liên kết dọc dựa chủ yếu trên các quan hệgiao dịch nhưng cũng bao gồm cả các trợ giúp tự nguyện hay chuyển giao nguồn lực vàcông nghệ cho các đối tác địa phương (Saggi, 2002) Liên kết ngành có liên quan đến cáchoạt động hợp tác giữa các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước dưới dạng liên doanh vàquan hệ mạng lưới giữa các doanh nghiệp (Giroud & ScottKennel, 2006); hay liên kết ngangthể hiện sự tương tác giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp địa phương trong việcsản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cùng một khâu sản xuất (UNCTAD, 2001) Các tác giả nàycũng phân biệt giữa các mối liên kết và hiệu ứng của chúng Hiệu ứng quan trọng nhất đượcgọi là hiệu ứng lan tỏa (spillovers), nảy sinh như tác động phụ từ hoạt động của các công tynước ngoài trong nền kinh tế (thông qua quá trình bắt chước, học tập, mô phỏng của cácdoanh nghiệp trong nước đối với các kỹ năng quản lý, công nghệ, chiến lược kinh doanh củacác doanh nghiệp nước ngoài.

Ở khía cạnh khác, Fujita & Mori (2005) lại cho rằng có hai loại liên kết chủ yếu, tạo

ra xung lực trong tương tác giữa các ngành Loại thứ nhất gọi là liên kết kinh tế linkages), liên quan tới các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ; loại thứ hai

(E-là liên kết kiến thức (K-linkages), bao gồm các hoạt động của con người trong sáng tạo vàchuyển giao kiến thức, từ đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa kiến thức (knowledge spillover effects)

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu, tiến hành thu thậpnhững bài nghiên cứu về liên kết kinh doanh và biến đổi khí hậu và số liệu từ bộNN&PTNN và Tổng cục thống kê để làm tư liệu tiến hành phân tích và tổng hợp tốt nhấtnhững kết quả đã có về vai trò liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên thếgiới và trong nước

Chương 2: Thực trạng về liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu

2.1 Thực trạng về quá trình biến đổi khí hậu

Trong bầu khí quyển của trái đất, các khí nhà kính như hơi nước, carbon dioxide,metan, oxit nitơ và ozone trong khí quyển có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồngngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đóphân tán nhiệt lại cho Trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Khí nhà kính ảnh hưởng mạnh

mẽ đến nhiệt độ Trái đất, nếu không có chúng, nhiệt độ bề mặt Trái đất trung bình sẽ lạnhhơn hiện tại khoảng 33 độ C Bầu không khí đang trở nên nóng hơn, hỗn loạn hơn và khó dựđoán hơn do hiệu ứng tương tác gây ra bởi các khí nhà kính trong các tầng trên của bầu khíquyển Với mỗi mức tăng của carbon, metan hoặc các khí nhà kính khác trong khí quyển,thời tiết ở mỗi địa phương và khí hậu toàn cầu tiếp tục bị làm nóng lên

Theo Tóm tắt khí hậu toàn cầu của NOAA năm 2020, chỉ tính riêng nhiệt độ hàngtháng của tháng 1 năm 2020, nhiệt độ đất và đại dương đã tăng vượt mức trung bình 1.14°C

Trang 6

(2.05°F) trên mức trung bình của thế kỉ 20 Giá trị này chỉ cao hơn 0.02°C (0.04°F) so vớimức nhiệt độ cao thứ hai trong tháng 1 so với mức trung bình được thiết lập năm 2016.Những tháng 1 duy nhất có nhiệt độ đất và đại dương cao hơn mức trung bình 1.0°C (1.8°F)xảy ra vào năm 2016 và năm 2020.

Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất và đại dương ( NOAA)

Đến năm 2020, các mô hình dự án rằng nhiệt độ bề mặt toàn cầu sẽ ấm hơn 0,5°C(0,9°F) so với mức trung bình, bất kể con đường phát thải carbon dioxide nào trên thế giớitheo sau Sự tương đồng về nhiệt độ này bất kể tổng phát thải là một hiện tượng ngắn hạn:

nó phản ánh quán tính cực lớn của các đại dương rộng lớn của Trái đất Khả năng tỏa nhiệtcao của nước có nghĩa là nhiệt độ đại dương không phản ứng tức thì với sự gia tăng nhiệt bịgiữ lại bởi khí nhà kính Tuy nhiên, đến năm 2030, sự mất cân bằng nhiệt gây ra bởi khí nhàkính bắt đầu vượt qua quán tính nhiệt của đại dương và các con đường nhiệt độ dự kiến bắtđầu phân tán, với lượng khí thải carbon không được kiểm soát có thể dẫn đến một số mức độnóng lên vào cuối thế kỷ

Trang 7

LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH THẾ GIỚI (NOAA)

Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nước biển dâng cao Nếu khoảngthời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 1993 -

2003 mức tăng là 3,1mm/năm Tổng cộng, trong 100 năm qua, mực nước biển đã tăng0,31m Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng ở Bắc cực, Nam cực, băng ởGreenland và một số núi băng ở Trung Quốc đang dần bị thu hẹp Chính sự tan chảy của cáclớp băng cùng với sự nóng lên của khí hậu các đại dương toàn cầu (tới độ sâu 3.000m) đãgóp phần làm cho mực nước biển dâng cao Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trungbình sẽ tăng lên khoảng từ 2,0 - 4,5°C và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,18m - 0,59m.Việt Nam là 1 trong 4 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự biến đổi khí hậu và dângcao của nước biển

Những diễn biến của biến đổi khí hậu tại Việt Nam bao gồm các hiện tượng thời tiếtcực đoan đang ngày càng gia tăng về tần suất và thường khó dự đoán Lượng mưa tháng caonhất tăng từ 270 mm trong giai đoạn 1901-1930 lên 281 mm trong giai đoạn 1991-2015,trong khi nhiệt độ tháng cao nhất tăng từ 27,1°C (1901-1930) lên 27,5°C (1991-2015)

Những kỷ lục mới vẫn được thiết lập mỗi năm Các cụm từ “mưa lớn kỷ lục”, “nắngnóng kỷ lục”, “kỷ lục về lũ lụt” đã và đang xuất hiện ngày càng phổ biến trên các phươngtiện thông tin đại chúng ở Việt Nam trong những năm gần đây Năm 2017 được coi là năm

kỷ lục về thảm họa thiên tai tại Việt Nam, với hơn 16 cơn bão, lũ lịch sử trái quy luật.Nhiệt

độ trung bình tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện tại cao hơn từ 0,5 -1,0°C so vớinhiệt độ trung bình của các năm trước theo tính toán dựa trên dữ liệu cập nhật của 30 nămtrở lại đây.Sự thay đổi trong tần suất xuất hiện các cơn bão và áp thấp nhiệt đớingày càng rõrệt Ví dụ, có năm xảy ra tới 18 – 19 cơn lốc và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, nhưng

Trang 8

cũng có năm chỉ xảy ra từ 4-6 cơn lốc và áp thấp nhiệt đới Số cơn bão với sức gió đạt từ cấp

12 trở lên đã tăng nhẹ kể từ năm 1990 đến 2015 Những biến đổi trong nguồn nước (lượngmưa, mực nước sông) trong năm 2018 cũng tăng đáng kể so với mức trung bình của năm

2017 Năm 2018 đồng thời ghi nhận những con số kỉ lục về nhiệt độ trong vòng 46 năm quatại Hà Nội, với nhiệt độ cao nhất có lúc đạt tới 42°C

Nước biển dâng cũng là một trong những hiện tượng điển hình của biến đổi khí hậu ởViệt Nam Số liệu của trạm quốc gia Hòn Dấu ghi nhận được trong vòng 50 năm mực nướcbiển dâng khoảng 20 cm Mực nước biển quan trắc tại các trạm hải văn đạt 2,45 mm/năm và3,34 mm/năm tương ứng trong các giai đoạn 1960-2014 và 1993-2014 Dữ liệu vệ tinh chothấy mực nước biển đã tăng lên 3,5 mm/year (± 0,7 mm) vào năm 2014 so với năm 1993

Bên cạnh đó đầu năm 2020, Việt Nam đã phải hứng chịu đợt hạn hán nghiệm trọngxảy ra ở khu vực Cụ thể, Báo cáo nhận định diễn biến nguồn nước từ tháng 2-7/2020, PhóTổng cục trưởng Tổng cục KTTV Hoàng Đức Cường cho biết: Từ tháng 2-7/2020, khu vựcBắc Bộ tiếp tục thiếu hụt so với trung bình nhiều năm (TBNN), thiếu hụt nhiều vào cáctháng 2-4/2020, đặc biệt trên lưu vực sông Đà (đến các hồ chứa Lai Châu, Sơn La và HòaBình) và trên lưu vực sông Thao, cụ thể như: Lưu vực sông Đà thiếu hụt từ 20-50%; Lưuvực sông Thao thiếu hụt từ 40-70%; Lưu vực sông Lô-Gâm-Chảy thiếu hụt từ 10-20%, riêng

hạ lưu sông Lô thiếu hụt từ 60-90%; Hạ lưu vực sông Hồng thiếu hụt từ 20-30% Mực nướcthấp nhất tại trạm Hà Nội trên sông Hồng có khả năng ở mức 0,2-0,3m, xuất hiện vào cuốitháng 2 hoặc tháng 3/2020

Tại khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên, lượng dòng chảy trên các sông ở Trung Bộ vàkhu vực Tây Nguyên phổ biến ở mức thiếu hụt so với TBNN cùng kỳ từ 25-80%, một sốsông thiếu hụt trên 90% Từ tháng 3-5/2020, tình trạng khô hạn thiếu nước cục bộ ngoàivùng cấp nước của công trình thủy lợi khả năng xảy ra tại các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Thuận,Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên Từ tháng 6-8/2020, tình trạng khô hạn thiếu nước, xâmnhập mặn có khả năng lan rộng tại các tỉnh ven biển Trung Bộ tương đương mùa khô năm

2019 tại các tỉnh từ Quảng Trị đến Khánh Hòa

Tại khu vực Nam Bộ, Tổng cục KTTV nhận định dòng chảy trên sông Mê Công vềĐồng bằng sông Cửu Long trong tháng 2,3/2020 ở mức thiếu hụt so với TBNN và năm 2016khoảng 5-20%, mực nước tại Biển Hồ (Campuchia) ở mức thấp, khả năng bổ sung nước choĐBSCL không nhiều Từ khoảng giữa tháng 3/2020, lưu lượng dòng chảy về trạm Kratie(Campuchia) có xu thế gia tăng do các hồ xả nước theo quy định luật nhiều năm gần đây

2.2 Mô hình liên kết kinh doanh ở Việt Nam

2.2.1 Liên kết dọc

Liên kết dọc là một mô hình kinh doanh, trong đó mục tiêu chính là tạo mối liên kếtgiữa hai hay nhiều thành viên tham gia chuỗi sản xuất ở các cấp khác nhau (giữa các khâutrong chuỗi giá trị) thông qua các hợp đồng được đảm bảo bởi pháp luật Liên kết dọc dựatrên nguyên lý cộng sinh như liên kết giữa nhà cung cấp đầu vào với người sản xuất, liên kếtgiữa nhà sản xuất nguyên liệu với công ty chế biến Phương pháp này có thể được áp dụngtrong nhiều ngành khác nhau

Liên kết chuỗi cung ứng theo chiều dọc có thể được thực hiện ở nhiều mức độ, gồm 3loại sau:

Trang 9

Liên kết ngược: Trong liên kết có một công ty sở hữu các công ty con sản xuất cácyếu tố đầu, linh kiện được sử dụng trong sản xuất Ví dụ: Sony sản xuất ra máy chơi gameconsole Playstation nhưng cũng kiêm luôn studio phát triển game.

Chuyển tiếp liên kết theo chiều dọc trong đó một công ty sở hữu hoặc kiểm soát cáctrung tâm phân phối hoặc nhà bán lẻ của mình Qua đó công ty có thể liên hệ trực tiếp vớikhách hàng ở cuối chuỗi giá trị Ví dụ: Vinamilk có hệ thống phân phối rộng khắp cả nướcthông qua các nhà bán lẻ

Liên kết theo chiều dọc cân bằng: trong đó một công ty sẽ thực hiện tích hợp cả lùi

và tiến bằng việc sở hữu, kiểm soát các trung tâm cung ứng, sản xuất, tiếp thị và hệ thốngbán lẻ của mình Có thể nói Apple là một ví dụ điển hình của một công ty thực hiện tích hợpdọc cân bằng Nó vừa cung cấp phần cứng iPad, iPhone, iPod… vừa tạo ra phần mềm iOS,MacOS, bán dịch vụ và đảm nhận cả khâu phân phối sẩn phẩm Apple gần như bao trọn chomột sản phẩm, điều này làm cho Apple trở thành một đối thủ đáng gờm trong làng côngnghệ

Trong những năm gần đây, mô hình điển hình của liên kết dọc tịa Việt Nam là môhình chuỗi khép kín: từ sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm Mô hình nàyđược áp dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực nông nghiệp Ở đây, doanh nghiệp sẽ đóng vaitrò là nhà đầu tư, tổ chức sản xuất và đưa ra những úng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tớingười nông dân, đồng thời doanh nghiệp cũng đảm bảo đầu ra cho sản phẩm

Một hình thức khá phổ biến khác là hợp đồng bao tiêu (tiêu thụ) sản phẩm giữadoanh nghiệp và người dân Doanh nghiệp đóng vai trò thu mua và tiêu thụ sản phẩm chonông dân, tuy nhiên không đầu tư vốn hoặc tổ chức sản xuất Thực tế tại Việt Nam có mộthiện tượng khá phổ biến, doanh nghiệp thu mua nông sản của các hộ dân nhưng không tiếnhành ký kết hợp đồng từ trước Tuy nhiên, do không có hợp đồng ký kết nên hình thức nàykhông được coi là một hình thức liên kết dọc

Trang 10

Ngoài ra, có thể nhắc đến mô hình khai thác thủy hải sản được liên kết với các doanhnghiệp chế biến sản xuất để xuất khẩu tại Đồng bằng sông Cửu Long Theo Tổng cục Hảiquan, năm 2019 kim ngạch xuất khẩu thủy sản ra thị trường nước ngoài đạt trên 8,54 tỷUSD, riêng xuất khẩu tôm chiếm gần 3,4 tỷ USD mà trọng điểm nuôi tôm tại Việt Nam làĐồng bằng sông Cửu Long Trong những năm gần đây, tỷ lệ chế biến tăng cao trong ngànhthủy sản, khẳng định vị thế và khả năng cạnh tranh của ngành này trên thị trường Trong bốicảnh biến đổi khí hậu, nông dân tại đây đã chuyển dịch sản xuất: từ trồng lúa nước sang nuôitôm, do nhiều vùng đất trũng bị ngập úng, xâm nhập mặn kéo dài khiến cho năng suất trồnglúa sụt giảm Tuy nhiên mô hình nuôi tôm tại khu vực này vẫn gặp nhiều khó khăn: diễn biếtthời tiết bất thường, xâm nhập mặn, bên cạnh đó còn cần rất nhiều vốn đầu tư dẫn đến thấtbại dù chỉ một lần cũng có thể kéo theo hệ lụy lớn Vì vậy vai trò của các nhà doanh nghiệpliên kết là vô cùng quan trọng, họ cần đáp ứng được cơ sở hạ tầng, cung cấp và úng dụngtiến bộ công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm song song với việc đảm bảo đầu ra, thịtrường tiêu thụ.

Mô hình liên kết dọc có lợi thế vì kết hợp được ưu thế, sở trường của các nhân tốtham gia chuỗi liên kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau làm cho chuỗi liên kết trở nên linh hoạthơn Mô hình này cũng giúp các bên tham gia chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm và cơ hội cũngnhư rủi ro Giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong lĩnh vực giới thiệu sảnphẩm, năng lực cung ứng; tạo an tâm cho bên phân phối cũng như người tiêu dùng vì có thểtruy xuất được nguồn gốc cảu sản phẩm Tuy có nhiều ưu điểm được kể trên nhưng mô hìnhnày vẫn tồn tại những hạn chế:

Các chuỗi liên kết này cần nhiều công đoạn và nhân lực, mô hình phức tạp đòi hỏitrình độ quản lý và chi phí quản lý cao trong khi xu hướng hiện nay đang đơn giản hóa, cảitiến ít bước hơn

Sự hợp tác giữa các nhân tố tham gia còn chưa được chặt chẽ do vẫn còn thiếu sự tintưởng lẫn nhau, dẫn đến liên kết không bền vững, ổn định

Các doanh nghiệp chỉ tập trung vào lợi ích của mình, thể hiện sự thiếu trách nhiệmtrong việc đóng góp phát triển xã hội và bảo vệ môi trường xung quanh

2.2.2 Liên kết ngang

Liên kết theo chiều ngang là một chiến lược chuỗi cung ứng của một ngành, qua đócác công ty tìm cách đạt được lợi thế trong cạnh tranh, tăng trưởng lợi nhuận thông qua cáchoạt động tạo ra giá trị tập trung vào một doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp Đây là môhình kinh doanh các công ty mua lại hoặc sáp nhập với các đối thủ trong ngành để đạt đượclợi thế cạnh tranh thông qua các nền kinh tế có quy mô và phạm vi Một ví dụ điển hình làBoeing sáp nhập với McDonnell Douglas tạo ra công ty hàng không vũ trụ lớn nhất thế giới

Tại Việt Nam điển hình của mô hình này là các hợp tác xã (HTX) hay Tổ hợp táckiểu mới Về liên kết trong ngành công nghiệp, liên kết ngang là nhiều hộ các thể tập hợp lạivới nhau thành những tổ chức kinh tế hợp tác – hợp tác xã Các hộ dân cùng nhau sản xuấtvới sự thống nhất về công nghệ, cách thức sản xuất, thu hoạch và chế biến sản phẩm đểtrong cùng một thời gian có thể đưa ra một loại sản phẩm đồng nhất với một khối lượng đủlớn, cung cấp đủ số lượng theo như yêu cầu của người tiêu dùng Trong một tổ chức hợp táccũng có những quy định riêng được đặt ra nhằm bảo đảm hoạt động kinh tế của tổ chức, nếuthành viên nào vi phạm các quy định đó sẽ không đủ điều kiện để tiếp tục tham gia

Trang 11

Tuy nhiên, dựa trên phân tích của các chuyên gia và từ kết quả thực tiễn cho thấy,biến đổi khí hậu khó lường mang đến nhiều hậu quả nặng nề, trong khi sản xuất nông nghiệphiện nay chủ yếu vẫn do các hộ kinh tế thực hiện Điều đó cho thấy các HTX có vai trò rấtquan trọng, đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý cũng như những hướng đi, giải phápgiúp khắc phục tình trạng này; giúp cho HTX được tồn tại và phát triển một cách bền vững

và lâu dài Lấy ví dụ về Đồng bằng sông Cửu Long, để ứng phó với biến đổi khí hậu cácHTX tại đây đã tổ chức bố trí lại mùa vụ, cơ cấu cây trồng, lựa chọn và cung cấp vật tư,phân bón cũng như cây giống sao cho phù hợp với điều kiện của thời tiết Các HTX cũng hỗtrợ thành viên tham gia vào chuỗi giá trị nông sản, dặc biệt là tiến hành nghiên cứu, phântích để tìm ra những giải pháp hiệu quả giúp khắc phục khó khăn một cách nhanh chóngnhất Một trong những khó khăn có thể nói là rất lớn đối với nền nông nghiệp của Đồngbằng sông Cửu Long đó chính là hiện tượng xâm thực, xâm nhập mặn kéo dài Các hộ kinhdoanh phải tìm cách để cung cấp đủ nguồn nước ngọt cho việc tưới tiêu cũng như phải quản

lý đê bao ngăn mặn, bờ vùng, bờ thửa một cách hợp lý nhất

Trong một thời gian dài, liên kết theo chiều ngang được xem là một hình thức hợptác tiên tiến của các nền kinh tế các nước phát triển Trong thực tế, mô hình này đã đem lạinhiều thành tựu tốt như tạo điều kiện cho nhà sản xuất có thông tin nhiều nhất và có thể canthiệp vào nhiều phương diện của nhà cung cấp để đảm bảo nắm rõ cũng như tạo sự ổn địnhtrong hoạt động cung ứng Nó cũng giúp cải thiện đời sống của các hộ nông dân, họ có cơhội tiếp cận tới nhiều ứng dụng khoa học kĩ thuật và có khả năng được kết nối với các doanhnghiệp lớn qua cây cầu nối – hợp tác xã Cũng nhờ có mô hình này mà cơ cấu sản phẩm, đặcbiệt là nông sản được đa dạng hóa, chất lượng và năng suất cũng được nâng cao, do đó cắtgiảm được nhiều loại chi phí dịch vụ và tăng lợi nhuận Tuy vậy mô hình này cũng có nhưngmặt trái cần được khắc phục và loại bỏ:

Các đại lý cạnh tranh không lành mạnh có thể dẫn đến mất hình ảnh và uy tín củacông ty, tạo ra mâu thuẫn

Tạo ra sức ỳ cho chính nhà cung cấp, họ trở nên ít năng động, chậm chạp trong việc

tự đổi mới Nhà cung cấp ỷ lại, quá phụ thuộc kể cả khi không cần thiết

Hiệu quả chưa đạt mức tối ưu, làm giảm động lực và khả năng đổi mới, cạnh tranhcủa các bên tham gia

Tuy vẫn còn những thiếu sót kể trên, nhưng với lợi ích to lớn mà mô hình liên kếttheo chiều ngang vẫn được khuyến khích và ưa chuộng nhiều hơn mô hình liên kết dọc.Quyết định lựa chọn liên kết dọc – ngang sẽ xác định chiến lược hoạt động của tổ chức, xácđịnh động lực cũng như vai trò của các bên liên quan tham gia liên kết Các bên tham giacần xác định được những gì phù hợp với tổ chức kinh tế về mục tiêu, khả năng, cơ hội cũngnhư thách thức để có thể lựa chọn được mô hình kinh doanh một cách thích hợp nhất

2.3 Tác động của liên kết kinh doanh đến môi trường và phát triển kinh tế

Toàn bộ nền kinh tế , sinh kế của người dân Việt Nam đang bị ảnh hưởng nghiêmtrọng bởi biến đổi khi hậu , đặc biệt trong các ngành nông nghiệp và thủy sản tại Đồng bằngSông Cửu Long do nơi đây là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất của biến đổikhí hậu Vì vậy trong bối cảnh đó , việc áp dụng các mô hình liên kết trong hoạt động sảnxuất kinh doanh là cấp thiết và hữu ích Dù liên kết theo hình thức nào thì nó đều có những

Trang 12

tác động tích cực đến kinh tế, môi trường và xã hội; các chủ thể tham gia liên kết (đặc biệt lànông dân) đều đạt được những lợi ích thiết thực.

2.3.1 Tác động đến môi trường

-Thứ nhất, liên kết kinh doang mang đến cơ hội chuyển giao công nghệ , nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm hiệu ứng nhà kính, tăng trưởng xanh, hướng đến phátthải các-bon thấp và phát triển bền vững

Cụ thể như mô hình tổ chức vùng nguyên liệu sản xuất chế biến cá tra thuộc Công ty

cổ phần thủy sản Hùng Vương và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang Điểmnổi bật của mô hình này là doanh nghiệp đóng vai trò là nhà đầu tư cho nông dân, là người

tổ chức sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và bảo đảm thị trường tiêu thụ.Nông dân là người trực tiếp sản xuất, nhận khoán theo định mức chi phí, được hỗ trợ mộtphần chi phí xây dựng cơ bản ban đầu, chi phí lao động và sản xuất trên đất của họ Hay các

mô hình xây dựng mối liên kết giữa nhà nước - DN - nông dân - nhà khoa học từ khâu sảnxuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm Các nhà khoa học sẽ là những người ghiên cứu các giốngvật nuôi, cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái từngvùng, miền; quy trình kỹ thuật canh tác công nghệ cao, công nghệ chế biến bảo quản sau thuhoạch; đưa máy móc, công cụ giải pháp sản xuất phù hợp với từng đối tượng, từng điều kiệnsản xuất để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tạo sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia,trong nước và khu vực Thông qua các doanh nghiệp, HTX, người nông dân sẽ được: trựctiếp đào tạo và hướng dẫn các hộ nông dân có nhu cầu về quy trình sản xuất sạch; hỗ trợcông nghệ, kỹ thuật và giống; ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuấtnông nghiệp Từ đó, ứng dụng những công nghệ tiên tiến thay thế cho các phương tiện lỗithời sẽ giúp giảm đáng kể khí thải nguy hại ra môi trường

- Thứ hai, những hóa chất độc hại gây ô nhiễm môi trường bị hạn chế tối đa sử dụng nhằm để thực phẩm sạch an toàn

Các mô hình liên kết sản xuất với quy trình sản xuất đồng loạt trên tất cả các khâu sẽtạo điều kiện thuận lợi cho việc chọn giống, phân, thuốc một cách đồng bộ, phù hợp đã hạnchế tối đa sử dụng những hóa chất độc hại gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt, đáp ứng nhucầu xuất khẩu, các mô hình liên kết sản xuất phải tuân theo những tiêu chuẩn kỹ thuật khắtkhe nên họ không ngừng tìm kiếm các chủng loại giống chất lượng cao, giá thành phù hợp

để đưa vào sản xuất từ lúa, tôm, cá,… Các vùng nguyên liệu cần bảo đảm các khâu từ sảnxuất, thu hoạch, bảo quản cũng như sử dụng giống phù hợp điều kiện sinh thái của từngvùng và thị trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững Tại nhiều tỉnh, HTX đã vận động

bà con thực hiện mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hướng dẫn sản xuất theo đúngquy trình kỹ thuật, giúp tăng năng suất cây trồng, hạn chế dùng thuốc trừ sâu gây hại vàngười dân có nhận thức rõ hơn về liều lượng thuốc trừ sâu và tác hại mà nó mang lại

- Thứ ba, cải tạo đất

Tại các tỉnh ven biển ĐBSCL, nhiều diện tích đất bị ảnh hưởng mặn, năng suất lúakém hiệu quả nên HTX đã hướng người dân chuyển sang luân canh tôm - lúa Chi phí đầu tưcho lúa trong mô hình lúa tôm chiếm tỷ lệ cao hơn tôm, nhưng lợi nhuận thu về lại thấp hơn

mô hình tôm Nguyên nhân là do ảnh hưởng của thời tiết, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặnlàm diện tích lúa của nông hộ bị thiệt hại khá nhiều, có nông hộ thua lỗ Mặc dù có sự bấtcập về chi phí đầu tư và lợi nhuận từ trồng lúa và nuôi tôm trong mô hình, nhưng nông hộ

Ngày đăng: 07/08/2020, 19:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đến năm 2020, các mô hình dự án rằng nhiệt độ bề mặt toàn cầu sẽ ấm hơn 0,5°C (0,9°F) so với mức trung bình, bất kể con đường phát thải carbon dioxide nào trên thế giới theo sau - tiểu luận kinh tế môi trường phân tích mô hình liên kết doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu
n năm 2020, các mô hình dự án rằng nhiệt độ bề mặt toàn cầu sẽ ấm hơn 0,5°C (0,9°F) so với mức trung bình, bất kể con đường phát thải carbon dioxide nào trên thế giới theo sau (Trang 6)
Trong những năm gần đây, mô hình điển hình của liên kết dọc tịa Việt Nam là mô hình chuỗi khép kín: từ sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm - tiểu luận kinh tế môi trường phân tích mô hình liên kết doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu
rong những năm gần đây, mô hình điển hình của liên kết dọc tịa Việt Nam là mô hình chuỗi khép kín: từ sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm (Trang 9)
Biểu đồ: Tình hình ngành thủy sản tháng 11 năm 2018 - tiểu luận kinh tế môi trường phân tích mô hình liên kết doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu
i ểu đồ: Tình hình ngành thủy sản tháng 11 năm 2018 (Trang 14)
Nhưng từ khi có sự xuất hiện của các mô hình liên kết kinh doanh, những khó khăn đó đã được giải quyết - tiểu luận kinh tế môi trường phân tích mô hình liên kết doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu
h ưng từ khi có sự xuất hiện của các mô hình liên kết kinh doanh, những khó khăn đó đã được giải quyết (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w