1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ NUÔI CẤY TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ TỪ MÔ MỠ NGƯỜI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

88 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 10,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả của MSC từ mô mỡ đã được chứng minh trong liệu pháp tế bào và y học tái tạo như tái tạo cơ tim, da, gan, tụy, xương, sụn, … Nhiều công trình nghiên cứu về nuôi cấy tăng sin

Trang 1

1 Nhận xét bước đầu về nuôi cấy tế bào gốc

trung mô từ mô mỡ người tại Bệnh viện

Trung ương Huế - Nguyễn Duy Thăng,

Phan Thị Thùy Hoa, Chế Thị Cẩm Hà,

Đồng Sĩ Sằng, Trần Ngọc Vũ, Tôn Nữ Trà

Mai, Huỳnh Phước Hạnh

Hoàng Thị Lan Hương, Phạm Trung Hiếu

3 Nghiên c u đặc điểm lâm sàng và cận

lâm sàng ở bệnh nhân bệnh động mạch chi

dưới mạn t nh - Nguyễn Tá Đông, Nguyễn

Lê Rân

4 Nghiên c u c c yếu tố tiên lượng tử

vong ở bệnh nhân tai biến mạch m u não

tại Bệnh viện trung ương Huế cơ sở 2 -

Nguyễn Đức Hoàng, Hà Thúc Khánh, Lê

Anh Tài, Ngô Hữu Hóa, Nguyễn Thị Hiền

5 Đ nh gi tình trạng rối loạn Lipid

m u ở bệnh nhân đ i th o đường

không thừa cân - béo phì - Trần Thừa

Nguyên, Trần Đức Minh, Trần Quang

Nhật, Nguyễn Thị Bạch Oanh

6 Hiệu quả của bụng châm trong điều trị đau

vai g y do tho i hóa cột sống c tại Bệnh

viện Trung ương Huế - Trần Thiện Ân,

Nguyễn Thị Tú Anh, Đoàn Văn Minh

7 Gi trị độ bão hòa oxy vùng tại mô não

trong phẫu thuật van tim - Đặng Thế

Uyên, Võ Đại Quyền, Trương Tuấn Anh,

Lê Nhật Anh, Ngô Thị Trang

8 Nghiên c u mối tương quan giữa độ bão hòa oxy m u tĩnh mạch trung tâm (scvo2) với cung lượng tim ở bệnh nhân chấn

thương sọ não - Nguyễn Viết Quang Hiển

9 Phẫu thuật Soave hậu môn có kết hợp đường bụng điều trị bệnh Hirschsprung -

Hồ Hữu Thiện, Cao Xuân Thạnh

10 Đ nh gi độc t nh ph c đồ xạ - hóa đồng thời b trợ sau m ung thư biểu

mô tuyến dạ dày giai đoạn tiến triển tại

chỗ - Phan Cảnh Duy, Phạm Anh Vũ

11 Nhận xét bước đầu về c c trường hợp ung thư lưỡi được phẫu thuật t i tạo bằng vạt da cơ ngực lớn tại Bệnh viện

Trung ương Huế - Nguyễn Đình Tùng, Nguyễn Văn Phúc, Trần Nhật Huy, Nguyễn Xuân Hùng, Lê Kim Hồng, Trần Ngọc Huy, Phạm Như Hiệp

12 Vỡ thực quản tự ph t - hội ch ng Boerhaave nhân một trường hợp và

t ng hợp y văn - Đặng Ngọc Hùng, Đặng Như Thành

13 Phẫu thuật nội soi tạo hình âm đạo bằng đại tràng sigma điều trị hội ch ng

mayer-rokitansky-kuster-hauser - Trần Tuấn Anh, Phạm Anh Vũ, Nguyễn Minh Thảo, Trần Hoàng Minh, Nguyễn Thị Thanh Thúy

14 U lympho nguyên ph t không Hodgkin xương cùng - B o c o trường hợp lâm

sàng - Võ Bá Tường, Takashi Noda, Huỳnh Nguyên Minh, Đinh Thị Phương Hoài

310

Trang 2

Bệnh viện Trung ương Huế

Trang 3

NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ NUÔI CẤY TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ

TỪ MÔ MỠ NGƯỜI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

Nguyễn Duy Thăng1, Phan Thị Thùy Hoa1, Chế Thị Cẩm Hà2, Đồng Sĩ Sằng1, Trần Ngọc Vũ1, Tôn Nữ Trà Mai1, Huỳnh Phước Hạnh1

Kết luận: Tế bào được nuôi cấy trên môi trường DMEM/F12, 10% FBS, 1% antibiotic/antimycotic thu được

số lượng tế bào đơn nhân cao nhất (4,5 ± 0,4) x 10 5 tế bào/ml và hiệu quả phát triển tế bào đạt trên 85,5%.

Từ khoá: Tế bào gốc trung mô từ mỡ, enzyme collagenase, glucose, nuôi cấy, biệt hoá.

Results: After 20 days of culturing cells, MSC counts are 4.5x10 5 cells/ml on the environment 1 and

5 cells/ml and 70,7% cell growth

Conclusion: The cells cultured on the enviroment DMEM/F12, 10% FBS, 1% antibiotic/antimycotic

have the highest mononuclear cell count: (4.5 ± 0.4) x 10 5

Key words: Adipose-derived mesenchymal stem cells, enzyme collagenase, glucose, in vitro,

differentiate.

“Đây là kết quả của đề tài KHCN cấp Tỉnh được Ngân sách nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế đầu tư” Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ này!

1 Bệnh viện TW Huế

2 Trường Đại học Khoa học Huế - Ngày nhận bài (Received): 25/11/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018; - Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Phan Thị Thùy Hoa

- Email: drhoavn@gmail.com; ĐT: 0905 997 687

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tế bào gốc trung mô (MSC) là quần thể tế bào có

đặc t nh tự làm mới và biệt ho đa dạng trong môi

trường th ch hợp, MSC có thể thu nhận từ rất nhiều

nguồn kh c nhau, trong đó c c nguồn thu nhận ph biến là ở tủy xương, dây rốn Mô mỡ là nguồn MSC

có mặt ở kh p mọi nơi và có một số lợi thế so với

c c nguồn tế bào gốc kh c, có thể thu nhận với số

Trang 4

Bệnh viện Trung ương Huế Nhận xét bước đầu về nuôi cấy tế bào gốc

lượng lớn, ít xâm hại cơ thể, có tính mềm dẻo cao

và khả năng biệt hoá thành tế bào mỡ, tế bào xương,

tế bào cơ, tế bào gan, tế bào thần kinh và các tế bào

nội mô và biểu mô

Hiệu quả của MSC từ mô mỡ đã được chứng

minh trong liệu pháp tế bào và y học tái tạo như tái

tạo cơ tim, da, gan, tụy, xương, sụn, … Nhiều công

trình nghiên cứu về nuôi cấy tăng sinh tế bào gốc

trung mô in vitro cho thấy số lượng MSC trong mỗi

liệu trình ghép tế bào gốc là 109 tế bào/kg thể trọng

Qua những nghiên cứu về nuôi cấy tế bào, nhiều

nhà khoa học đã khẳng định rằng giảm nồng độ FBS

trong môi trường nuôi cấy sẽ giúp MSC tăng cường

thể hiện các đặc tính cần thiết sau cấy ghép và tránh

được sự thải loại khi ghép tế bào với số lượng lớn

Vì vậy, chúng tôi tiến hành thăm dò nuôi cấy tế

bào ở hai môi trường: (1) Môi trường 1 là DMEM/

F12, 10% FBS, 1% antibiotic/antimycotic, (2) Môi

trường 2 là DMEM/F12, 9% FBS, 1% glucose, 1%

antibiotic/antimycotic

Mục tiêu của đề tài: Đánh giá số lượng tế bào

gốc trung mô từ mô mỡ người ở hai môi trường nuôi

cấy khác nhau

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thực

nghiệm

2.2.2 Hoá chất - Dụng cụ

Trypsin-EDTA 0,25%, huyết thanh thai bò

(FBS) (Sigma-Aldrich), antibiotic/antimycotic

1%, Trypan Blue 0,4%, PBS, glucose, DMEM/F12

(Gibco, Life Technologies), collagenase B (Roche),

ethanol 96% (W.S.P), formaldehyde 36%

(Eden-labo), eosin 2% (Theralab), Giemsa May-Grunwald

(Cypress Diagnostics), Oil red-O 0,5% , màng lọc

70µm (Biologix)

2.2.3 Quy trình nghiên cứu

- Hút 5 ml dịch mỡ bụng, quy trình được thực hiện tại khoa Gây mê Hồi sức

- Thủy phân mô mỡ bằng enzyme collagenase

và phân lập tế bào đơn nhân: Tiến hành ủ 5ml mỡ

hút đã xử lý với 5mg collagenase/5ml PBS trong vòng 30 phút trong tủ ấm ở nhiệt độ 37°C, khuấy nhẹ liên tục sau 10 phút Lọc bằng màng lọc 70µm Dịch được lọc cho vào ống falcon 15ml, ly tâm 800 vòng/phút trong 10 phút ở nhiệt độ phòng Loại bỏ dịch nổi, cho thêm 2 ml PBS, ly tâm lần 2 với 800 vòng/phút trong 10 phút ở nhiệt độ phòng Loại bỏ dịch nổi và cho vào 2ml DMEM/F12, 10% FBS, 1% antibiotic/antimycotic

Xác định tế bào sống bằng cách nhuộm Trypan Blue 0,4%, tế bào chết bắt màu xanh dương

- Nuôi cấy sơ cấp và thứ cấp

Tế bào được cho các bình nuôi với mật độ nuôi 50.000 tế bào/cm2, thêm môi trường vừa đủ 3ml và nuôi ở 37°C trong 24h Tiến hành nuôi cấy sơ cấp và cấy chuyền tăng sinh trong hai môi trường nuôi cấy khác nhau, so sánh hiệu quả phát triển tế bào trên hai môi trường nuôi cấy này

- Xác định đặc tính tế bào sau nuôi cấyKiểm tra đặc tính tế bào bằng cách biệt hóa thành tế bào mỡ MSCs được nuôi trong môi trường DMEM/F12, 10% FBS có bổ sung các tác nhân biệt hóa thành tế bào tạo mỡ: 0,5 mM IBMX, 50

μM Indomethacin và 0,5 μM Dexamethasone Sau khoảng 1 - 2 tuần nuôi cấy trong môi trường biệt hóa, tế bào được cố định bằng Formandehyde 10% trong 30 phút và nhuộm với thuốc nhuộm Oil red-O 0,5% ít nhất 60 phút ở nhiệt độ phòng Oil red-O là thuốc nhuộm lipid, khi nhuộm mẫu tế bào cố định, bất kỳ nơi nào có chứa các giọt mỡ, Oil Red-O sẽ hòa tan vào trong đó và làm chúng có màu đỏ

2.3 Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống kê y

Trang 5

Sau khi lọc và ly tâm, tiến hành đếm số lượng

tế bào trên buồng đếm Neubauer, chúng tôi nhận

thấy tuy vẫn còn sự hiện diện một ít tế bào tạp:

hồng cầu, bạch cầu, mỡ, nhưng xuất hiện nhiều tế

bào đơn nhân màu trắng, hình tròn hoặc oval, có

kích thước trung bình và gần bằng nhau, không bắt

màu với Trypan blue Số lượng tế bào chết (bắt

màu xanh tím) là rất ít, chỉ quan sát thấy một vài

tế bào/vi trường

Số lượng tế bào đơn nhân sống đếm được là 7,2

x 106 ± 0,8 x 106 tế bào/ml

3.2 Kết quả nuôi cấy sơ cấp (chọn lọc MSC)

Các tế bào đơn nhân sau khi thu nhận được nuôi

cấy trong hai môi trường:

- Môi trường 1: DMEM/F12, 10% FBS, 1%

Sau 72 giờ, MSC trải ra trên bề mặt bình nuôi, khi tế bào đã có hình dạng đặc trưng, thường là hình thoi Sau 5 - 7 ngày nuôi cấy, MSC hợp dòng, bám đều, trải rộng trên bề mặt bình nuôi và tăng sinh nhanh Sau 10 - 14 ngày nuôi cấy, mật độ tế bào MSC đạt 70 - 80% diện tích bình nuôi, tiến hành cấy chuyền nhằm cung cấp không gian sống và chất dinh dưỡng cho tế bào MSC

Hình 3.1 Kết quả nuôi cấy sơ cấp

A, E Sau 24 giờ nuôi cấy, MSCs bắt đầu bám dính vào bề mặt bình nuôi;

B, F Sau 3 ngày nuôi cấy, MSCs trải dạng hình tam giác, hình sao hoặc đa giác

C, G Sau 7 ngày nuôi cấy, hầu hết MSCs có dạng hình thoi đặc trưng và tăng sinh

D, H Sau 12 ngày nuôi cấy,MSCs đạt mật độ cấy chuyền (70 - 80%)

Có sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng và hiệu quả phát triển tế bào trong nuôi cấy sơ cấp ở hai môi trường nuôi cấy (Bảng 3.1)

Trang 6

Bệnh viện Trung ương Huế Nhận xét bước đầu về nuôi cấy tế bào gốc

Bảng 3.1.Số lượng và hiệu quả phát triển tế bào trong nuôi cấy sơ cấp

ở hai môi trường nuôi cấy khác nhau

Các tiêu chí đánh giá Môi trường 1 Môi trường 2

Tỉ lệ tế bào bám sau 24h nuôi cấy (%) 72,1 ± 2,6 75,4 ± 1,1

Tỉ lệ tế bào trải sau 24h nuôi cấy (%) 2,3 ± 0,9 5,2 ± 1,3

Tỉ lệ tế bào trải sau 3 ngày nuôi cấy (%) 30,5 ± 1,7 32,3 ± 2,3

Tỉ lệ tế bào trải sau 5 ngày nuôi cấy (%) 58,6 ± 2,9 40,7 ± 3,3

Số lượng tế bào thu được sau nuôi cấy

sơ cấp (tế bào/ml) 3,7 x 105± 0,2 x 105 1,8 x 105 ± 0,1 x 105Sau 12 ngày nuôi cấy sơ cấp, tế bào phát triển ở

cả hai môi trường đều đạt trên 70% Cụ thể số lượng

và hiệu quả phát triển tế bào trong nuôi cấy sơ cấp

có sự khác biệt thống kê giữa hai môi trường: (1)

ở môi trường 1, số lượng tế bào thu được sau nuôi

cấy đạt 3,7 x 105 ± 0,2 x 105 tế bào/ml, hiệu quả phát

triển tế bào đạt 84,3 ± 3,1%; (2) ở môi trường 2, số

lượng tế bào thu được sau nuôi cấy đạt 1,8 x 105 ±

0,1 x 105 tế bào/ml, hiệu quả phát triển tế bào đạt

76,7 ± 1,2% Tế bào nuôi cấy ở môi trường 1 cho kết

quả cao hơn môi trường 2

3.3 Kết quả nuôi cấy thứ cấp (cấy chuyền

tăng sinh)

Khi bề mặt bình nuôi không còn diện tích để các tế bào phát triển, cần thiết cấy chuyền để cung cấp không gian và dinh dưỡng cho tế bào phát triển Cấy chuyền

là thao tác để thu nhận các MSC tương đối đồng nhất.Khi vừa được cấy chuyền, MSC vẫn còn dạng tròn và trôi lơ lửng trong môi trường Các tế bào chưa bám vào giá thể nuôi cấy, chúng bị co lại do tác động cắt các cầu nối liên bào của enzyme trypsin/EDTA 0,25%

Sau 24 giờ nuôi cấy, MSC bắt đầu bám dính và trải dạng hình thoi đặc trưng và tăng sinh Sau 4 - 5 ngày, MSC hợp dòng, trải đều trên bề mặt bình nuôi

và tiếp tục tăng sinh mạnh

Hình 3.2 Kết quả cấy chuyền tăng sinh

Trang 7

A, E MSCs bám và trải sau 24 giờ cấy chuyền;

B, F MSCs tăng sinh sau 3 ngày cấy chuyền;

C, G MSCs tăng sinh mạnh sau 5 ngày cấy chuyền;

D, H MSCs đạt mật độ 70 - 80%

Tương tự như quá trình nuôi cấy sơ cấp, có sự khác nhau về số lượng và hiệu quả phát triển tế bào trong nuôi cấy thứ cấp ở hai môi trường nuôi cấy khác nhau (Bảng 3.2)

Bảng 3.2.Số lượng và hiệu quả phát triển tế bào trong nuôi cấy thứ cấp

ở hai môi trường nuôi cấy khác nhau

Các tiêu chí đánh giá Môi trường 1 Môi trường 2

Tỉ lệ tế bào trải sau 3 ngày cấy chuyền lần 1 (%) 40,5 ± 4,9 33,1 ± 4,3

Tỉ lệ tế bào trải sau 5 ngày cấy chuyền lần 1 (%) 65,6 ± 2,9 60,1 ± 3,3

Số lượng tế bào thu được sau cấy chuyền lần 1

(tế bào/ml) 4,5 x 105 ± 0,4 x 105 2,1 x 105 ± 0,1 x 105Sau 8 ngày nuôi cấy thứ cấp, ở môi trường

1 số lượng tế bào thu được sau nuôi cấy đạt 4,5 x

105 ± 0,3 x 105 tế bào/ml, hiệu quả phát triển tế bào

đạt 85,5 ± 3,8% Ở môi trường 2, số lượng tế bào

thu được sau nuôi cấy đạt 2,1 x 105 ± 0,4 x 105 tế

bào/ml, hiệu quả phát triển tế bào đạt 70,7 ± 2,9%

Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu

của Al-Nbaheen (2013) và nhiều nghiên cứu khác

Sau 20 ngày nuôi cấy sơ cấp và thứ cấp cho thấy

nồng độ FBS trong môi trường nuôi cấy có ảnh

hưởng đến sự tăng sinh và phát triển của tế bào Kết

quả có sự khác biệt thống kê giữa hai môi trường: số

lượng tế bào thu được sau nuôi cấy ở môi trường 1

(10% FBS) cao gấp hai lần môi trường 2 (9% FBS,

1% glucose) Do đó, trong nghiên cứu này chúng

tôi kết luận rằng môi trường 1 là môi trường nuôi

cấy tối ưu

FBS rất cần thiết cho việc nuôi cấy tế bào động

vật, nó cung cấp các chất dinh dưỡng, các nhân tố

tăng trưởng, các nhân tố bám dính giúp tế bào bám

nhanh vào bề mặt nuôi cấy, tế bào tăng sinh và duy

trì tiềm năng biệt hóa Vì vậy, khi giảm nồng độ

FBS sẽ ảnh hưởng đến khả năng bám dính và phát

triển của tế bào Tuy nhiên, khi ghép tế bào với số lượng lớn, sự thải loại có thể xảy ra nên cần giảm đi các yếu tố khác loài trong quá trình nuôi cấy tế bào

Vì những lý do đó, mà nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng môi trường nuôi cấy tế bào động vật không dùng huyết thanh hay dùng với liều thấp

Nghiên cứu này chúng tôi tiến hành nuôi cấy tế bào trong môi trường có bổ sung 10% FBS, đây là nồng độ đã được chứng minh là tối ưu trong nhiều nghiên cứu trước đây Đồng thời, với mục đích giảm nồng độ huyết thanh trong nuôi cấy, chúng tôi tiến hành nuôi cấy thử nghiệm trong môi trường có bổ sung 9% FBS, 1% glucose Kết quả sau nuôi cấy

sơ cấp và thứ cấp cho thấy tế bào nuôi cấy trong môi trường 10% FBS có kết quả tốt hơn môi trường giảm nồng độ FBS Theo chúng tôi, glucose chỉ có tác dụng cung cấp năng lượng cho tế bào, đã hỗ trợ cho tốc độ bám và trải của tế bào trong một vài ngày đầu của quá trình nuôi cấy sơ cấp, nhưng việc giảm nồng độ FBS đã làm chậm tốc độ tăng sinh và sự phát triển của tế bào trong suốt quá trình nuôi cấy tiếp theo Thêm vào đó, trong nghiên cứu này nguồn glucose được sử dụng không phải là glucose chuyên

Trang 8

Bệnh viện Trung ương Huế Nhận xét bước đầu về nuôi cấy tế bào gốc

cho nuôi cấy tế bào gốc có thể có ảnh hưởng đến kết

quả sau nuôi cấy

Những sai khác về số lượng MSC thu được giữa

các nghiên cứu khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như: mẫu mô mỡ, nguồn enzyme, tình trạng sức

khỏe của người hiến, thao tác và điều kiện nuôi cấy

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả, như Banas

(2007), đạt 7,7 x 106 tế bào/5g mỡ và Zhang (2011),

đạt 1 x 106 tế bào/g mỡ Tuy nhiên, kết quả chúng

tôi thu được khi nuôi cấy MSC từ mô mỡ đạt 4,5 x

105 tế bào/ml là cao hơn so với các nguồn thu nhận

MSC khác như tủy xương

3.4 Đánh giá khả năng biệt hóa MSC (biệt

hóa MSC thành tế bào tạo mỡ)

Sau 24 giờ khi các tế bào đã bám, tiến hành bổ sung

các chất cảm ứng biệt hóa vào môi trường nuôi cấy

Theo dõi tế bào dưới kính hiển vi đảo ngược từ

24 giờ đến 2 tuần, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi hình dạng của tế bào khi nuôi trong môi trường biệt hóa: tế bào từ dạng thoi dài dần dần co tròn lại Sau 4 - 5 ngày nuôi cấy, xuất hiện các giọt mỡ nhỏ tích tụ trong tế bào chất, các giọt mỡ này góp lại dần dần thành giọt mỡ lớn và chiếm gần hết thể tích tế bào

Dưới kính hiển vi, các giọt mỡ tròn phản chiếu ánh sáng Khi nhuộm với thuốc nhuộm Oil Red-O, chúng bắt màu đỏ Tiến hành nhuộm ở ngày thứ 10 sau khi nuôi trong môi trường biệt hóa

Khi so sánh với MSCs đối chứng (nuôi trong môi trường DMEM/F12, 10% FBS và không có chất cảm ứng biệt hóa), các tế bào không thay đổi hình dạng và không bắt màu thuốc nhuộm Oil Red-O

Hình 3.3 Kết quả biệt hoá MSCs

A MSCs không cảm ứng biệt hóa (đối chứng); B MSCs cảm ứng biệt hóa trước khi nhuộm;

C MSCs sau khi nhuộm Oil Red-O

IV KẾT LUẬN

- Sau 20 ngày nuôi cấy tế bào, số lượng tế bào

thu được 4,5 x 105 tế bào/ml ở môi trường 1 và hiệu

quả phát triển tế bào đạt 85,5% Ở môi trường 2, số

lượng tế bào thu được là 2,2 x 105 tế bào/ml và hiệu quả phát triển tế bào đạt 70,7%

- Bước đầu kết luận môi trường 1 (10% FBS) là môi trường nuôi cấy tối ưu

TÀI LIỆU THAM KHÁO

1 Al-Nbaheen M (2013), “Human stromal

(mesenchymal) stem cells from bone marrow,

adipose tissue and skin exhibit differences

in molecular phenotype and differentiation

potential”, Stem cell reviews 9(1), p 32.

2 Baer P.C and Geiger H (2012),

“Adipose-derived mesenchymal stromal/stem cells:

tissue localization, characterization, and

heterogeneity”, Stem cells international 2012.

3 Banas A., et al (2007), “Adipose tissue‐derived mesenchymal stem cells as a source of human

Trang 9

multipotent mesenchymal stromal cells: from

stromal cells to stem cells and vice versa”,

Transplantation 87(9S), pp S36-S42.

6 Frese L., Dijkman P.E., and Hoerstrup S.P

(2016), “Adipose tissue-derived stem cells in

regenerative medicine”, Transfusion Medicine

and Hemotherapy 43(4), pp 268-274.

7 Hendijani F (2017), “Explant culture:

An advantageous method for isolation of

mesenchymal stem cells from human tissues”,

Cell Proliferation.

8 Kershaw E.E and Flier J.S (2004), “Adipose

tissue as an endocrine organ”, The Journal of

Clinical Endocrinology & Metabolism 89(6),

pp 2548-2556

9 Kim N and Cho S.-G (2013), “Clinical

applications of mesenchymal stem cells”, The

Korean journal of internal medicine 28(4),

pp 387-402

10 Lyahyai J., et al (2012), “Isolation and

characterization of ovine mesenchymal stem

cells derived from peripheral blood”, BMC

veterinary research 8(1), pp 169.

11 Mallam E., et al (2010), “Characterization

of in vitro expanded bone marrow-derived

mesenchymal stem cells from patients with

multiple sclerosis”, Multiple Sclerosis.

12 Mohammadi-Sangcheshmeh A., et al (2013),

“Isolation, characterization, and mesodermic differentiation of stem cells from adipose tissue

of camel (Camelus dromedarius)”, In Vitro Cellular & Developmental Biology-Animal

49(2), pp 147-154

13 Rada T., Reis R.L., and Gomes M.E (2011),

“Distinct stem cells subpopulations isolated from human adipose tissue exhibit different chondrogenic and osteogenic differentiation

potential”, Stem Cell Reviews and Reports 7(1),

16 Zuk P.A., et al (2002), “Human adipose tissue is

a source of multipotent stem cells”, Molecular biology of the cell 13(12), pp 4279-4295.

Trang 10

Mục tiêu: Tìm hiểu tỷ lệ đề kháng insulin ở bệnh nhân COPD.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: ệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điề à

ại khoa Nội tiế ấp, Bệnh viện Trung ương Huế.

Kết quả nghiên cứu: Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 100% bệnh nhân có hút thuốc lá,

19% có tăng huyết áp, 4,8% có ĐTĐ, 52,4% bệnh nhân có dùng corticoid 100% bệnh nhân có ho, khạc đàm, khó thở độ 1 là 23,8%, độ 2 là 38,1%, khó thở độ 3 là 23,8%, độ 4 là 14,3% Tỷ lệ có l ng ngực hình thùng là 52,4%, giảm rì rào phế nang là 76,2% Tỷ lệ có rales rít, rales ngáy, rales ẩm > 60% Tỷ lệ đề kháng Insulin theo chỉ số HOMA là 47,6%, theo chỉ số QUICKI là 57,1%.

Kết luận: Đề kháng insulin tăng cao ở bệnh nhân COPD C n t m soát đề kháng insulin và đái tháo

đường trên các bệnh nhân này.

Từ khóa: Đề kháng insulin, HOMA, QUICKI, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

ABSTRACT

THE RATE OF INSULIN RESISTANCE IN PATIENTS WITH CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE

Hoang Thi Lan Huong1, Pham Trung Hieu1

Chronic obstructive pulmonary disease (COPD) characterized by persistent obstruction of the airways Many studies have shown that COPD is associated with insulin resistance, metabolic syndrome and diabetes

Objective: to investigated the rate of insulin resistance in patients with COPD.

Method: 21 patients with chronic obstructive pulmonary disease was treated and monitored in

Endocri-nology - Neurology - Respiratory Department, Hue Central Hospital.

Results: In patients with chronic obstructive pulmonary disease, 100% of patients had smoking, 19%

had hypertension, 4.8% had diabetes, 52.4% had corticosteroid use 100% of patients with cough, migraine, dyspnea grade 1 was 23.8%, grade 2 was 38.1%, grade 3 was 23.8%, grade 4 was 14.3% The incidence

of chest pain was 52.4%, and alveolar septal defect was 76.2% The rate had rales whiz, snake rales, moisture rales > 60% Insulin resistance by HOMA was 47.6%, by QUICKI index was 57.1%.

1 Bệnh viện TW Huế - Ngày nhận bài (Received): 18/11/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Hoàng Thị Lan Hương

- Email: hglanhuong.hch@gmail.com; ĐT: 0914 046 058

Trang 11

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng gia tăng

trên toàn cầu Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính

của bệnh Vì vậy, tần suất của bệnh phản ảnh thói

quen hút thuốc lá trong cộng đồng với khoảng thời

gian tiềm ẩn từ 20 – 30 năm Đợt bùng phát của bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính quan trọng trong tương lai

có thể xẩy ra ở Châu Á và các vùng khác trên thế giới

do sự tiêu thụ thuốc lá đang gia tăng nhanh chóng [5],

[14], [15] Đây là một bệnh hô hấp diễn biến mạn tính

và cấp tính gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và chất

lượng cuộc sống con người, làm tăng gánh nặng hệ

thống chăm sóc sức khỏe của toàn xã hội [5]

Kháng insulin là tình trạng suy giảm tác dụng

sinh học của insulin, biểu hiện bằng gia tăng nồng

độ insulin máu Kháng insulin bao gồm: Rối loạn

glucose huyết thanh (rối loạn glucose huyết thanh

lúc đói, rối loạn dung nạp glucose hay đái tháo

đường týp 2) Tăng huyết áp (THA) Rối loạn

lipid máu (RLLM) trong đó rõ nét nhất là giảm

HDL-c và tăng triglycerid (TG) Kháng insulin gây

vữa xơ động mạch (VXĐM) Thừa cân, béo phì nhất

là béo phì dạng nam được xem như yếu tố khởi phát kháng insulin Tổn thương cầu thận với sự xuất hiện protein niệu

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa kháng insulin và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hai mục tiêu:

1 Đặc điểm bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

2 Tìm hiểu tỷ lệ kháng insulin trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 21 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị và theo dõi tại khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp, Bệnh viện Trung ương Huế

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo tiêu chuẩn GOLD 2017 tinh chỉnh theo ABCD [16]

Conclusion: Insulin resistance is elevated in COPD patients Insulin resistance and diabetes mellitus

are required screening in these patients.

Key words: insulin resistance, HOMA, QUICKI, COPD

Trang 12

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu tỷ lệ kháng Insulin

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

-Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

-Bệnh nhân không thể đo được chức năng hô hấp

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Cỡ mẫu: lấy mẫu thuận tiện

- Các thông số nghiên cứu

+ Tiền sử : béo phì, tăng huyết áp, ĐTĐ, sử dụng

corticoid trước đó

+ Khám lâm sàng: ho, khó thở, khạc đàm, lồng

ngực hình thùng, rung thanh tăng hoặc giảm, rì rào

phế nang bình thường hoặc giảm, rales ẩm, rales rít,

rales ngáy

+ Cận lâm sàng: bạch cầu máu, tỷ lệ bạch cầu

trung tính, hs-CRP, Interleukin 6, G0, Insulin lúc

đói (I0), Cortison buổi sáng và buổi chiều, đo chức

năng hô hấp, khí máu, điện tâm đồ, Xquang phổi

Kết quả đo được các chỉ tiêu thông khí phổi sẽ

đối chiếu với số lý thuyết theo phương trình hồi quy

áp dụng cho người Việt Nam theo mô hình thống

nhất quốc tế của Nguyễn Đình Hường (1996) [4]

- Đánh giá đề kháng InsulinDựa theo chỉ số HOMA (Homeostatic Model Assessment)

Chỉ số QUICKI (Quantitative Insulin Sensitivity Check Index)

QUICKI = 1/[log(I0) + log(G0)]

Theo Tổ chức Y tế thế giới, đề kháng insulin khi giá trị HOMA, QUICKI ≥ giá trị tứ phân vị cao nhất ở nhóm chứng Tứ phân vị là giá trị được chọn tại vị trí ba phần tư trong dãy các giá trị mà chúng đã được sắp xếp theo thứ tự từ nhỏ đến lớn

- Xử lý số liệu: số liệu nghiên cứu được xử lý và phân tích bằng chương trình phần mềm SPSS 22.0

- Đạo đức nghiên cứu: Các xét nghiệm máu và

đo thông khí hô hấp sử dụng trong nghiên cứu cũng

là những xét nghiệm thường qui trong thực hành lâm sàng để chẩn đoán ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhằm chẩn đoán, điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hằng và cộng

sự cho thấy ở BPTNMT nam giới chiếm tỷ lệ 73,6%

cao hơn so với nữ giới (26,4%) Bệnh nhân có độ

tuổi từ 70 - 79 chiếm tỷ lệ cao nhất 40,0% Tuổi

trung bình của bệnh nhân là 69,4 ± 10,8 [6] Theo

kết quả nghiên cứu của Lương Thị Kiều Diễm

(2008) độ tuổi mắc bệnh 70 - 79 chiếm 44,3% [2]

Về tiền sử bệnh, kết quả của chúng tôi cho thấy:

100% bệnh nhân có hút thuốc lá, 19% có tăng huyết

áp, 4,8% có ĐTĐ, 52,4% bệnh nhân có dùng corticoid

Hút thuốc lá, thuốc lào yếu tố nguy cơ hàng đầu

đã được các tác giả trong nước và trên thế giới đề cập nhiều nhất, đây là yếu tố trực tiếp dẫn tới sự phát triển BPTNM Kết quả của Trần Thị Hằng cho thấy 38 bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào chiếm tỷ lệ cao nhất 69,1%, có 6 bệnh nhân tiếp xúc khói bụi chiếm 10,9%, 7 bệnh nhân có tiền sử hen phế quản nhiều năm chiếm 12,7% Ngoài ra có

4 bệnh nhân không rõ tiền sử bệnh chiếm 16,7% [6] Theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu và cộng sự (2006), đối tượng hút thuốc lá có nguy cơ mắc BPT-NMT gấp 3,5 lần [1]

3.2 Đặc điểm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hằng cho thấy

điều trị các triệu chứng khó thở, RRFN giảm, ran

ở phổi gặp 55/55 bệnh nhân chiếm 100%, ho khạc

đờm gặp 46/55 chiếm 83,6% Đây là những triệu

chứng chính khiến người bệnh đến viện Ngoài ra triệu chứng sốt chiếm 21,8%, đây là yếu tố giúp chẩn đoán đợt bùng phát của BPTNMT, tuy nhiên

có bệnh nhân không sốt có thể do bệnh nhân suy kiệt, sức đề kháng giảm, phản ứng cơ thể không đáp ứng lại được với tình trạng của bệnh Triệu chứng phù chiếm 25,5%, sự xuất hiện phù gợi

ý bệnh nhân có suy tim phải hoặc phù do thiểu dưỡng Dấu hiệu co kéo cơ hô hấp gặp 42/55 bệnh nhân chiếm 76,4% [6]

Trang 14

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu tỷ lệ kháng Insulin

rõ dần điển hình là khó thở khi gắng sức hoặc khi

có đợt bùng phát [14]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ

lệ BPTNMT theo GOLD A là 14,3%, GOLD B là

28,6%, GOLD C là 28,6%, GOLD D là 28,6%

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hằng nhận

thấy bệnh nhân BPTNMT đến điều trị đều ở

giai đoạn II, III, IV trong đó giai đoạn III chiếm

tỷ lệ cao nhất 65,4%, không gặp bệnh nhân nào

giai đoạn I [6] Theo nghiên cứu của Phạm Thái

3.3 Đề kháng Insulin ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bảng 3.4 Tỷ lệ đề kháng Insulin ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chỉ sốGiá trị

(khoảng tứ phân vị) (0,98 – 5,14)1,84 (0,73 – 1,02)0,88

Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải cho thấy

điểm cắt giới hạn của chỉ số HOMA là 2,61 và chỉ

số QUICKI là 0,80 [1] Kết quả của chúng tôi cho

thấy tỷ lệ đề kháng Insulin theo chỉ số HOMA là

47,6%, theo chỉ số QUICKI là 57,1%

Theo Marques-Vidal và cs (2002) khi nghiên

cứu dịch tễ tần suất hội chứng kháng insulin ở vùng

Tây Nam của Pháp, trong một nghiên cứu cắt ngang

trên mẫu 1153 người, hội chứng kháng insulin được

xác định khi chỉ số HOMA > 3,8, tác giả đã xác định

được tần suất hội chứng kháng insulin ở nam cao hơn nữ (23 so với 12%; p <0,001) [19]

- Ascaro và cs (2003) tiến hành nghiên cứu với mục đích xác định phương pháp gián tiếp và đơn giản để thăm dò kháng insulin, tác giả đã chọn giá trị ở vị trí thứ 75 của bách phân vị như là điểm cắt giới hạn để xác định kháng insulin Chỉ số này tương ứng với insulin lúc đói ở mức 12 µU/ml và chỉ số HOMA là 2,6 [11]

- Nguyễn Cửu Lợi (2004) nghiên cứu kháng

Trang 15

insulin, một YTNC của bệnh mạch vành Chỉ

số HOMA cũng được sử dụng để xác định tỷ lệ

kháng insulin Điểm cắt giới hạn của chỉsố HOMA

được xác định theo định nghĩa kháng insulin của

TCYTTG năm 1998: “Được xem là kháng insulin

khi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhất trong

nhóm chứng” Cụ thể điểm cắt giới hạn của chỉ số

HOMA là 4,88, điểm cắt giới hạn của I0 và I0/G0 là

22 và 4,23 [7]

Tác giả Nguyễn Huy Nhật (2009) nghiên cứu trên

35 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tỷ lệ đề

kháng Insulin theo chỉ số HOMA là 60% [8] Kết quả

này cũng tương đồng như kết quả của chúng tôi

Nghiên cứu của Kiran Z và cộng sự ở bệnh nhân

bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cho thấy chỉ số HOMA

trung bình ở bệnh nhân là 2.86 ± 1.09 cao hơn nhóm

chứng có ý nghĩa thống kê 2.01±0.61 [18]

Nghiên cứu của Boyer L và cộng sự (2015) trên

101 nhóm chứng khỏe mạnh, 100 người hút thuốc

lá không có CODP và 100 bệnh nhân COPD Kết

quả cho thấy có sự gia tăng chỉ số HOMA-IR ở

bệnh nhân COPD: 2.2 [1.2–3.1], người hút thuốc lá

không có COPD: 2.0 [1.2–3.1] so với nhóm chứng:

1.5 [1.1–2.4] [12]

- Rabasa-L’horet và cs (2003) đã tìm hiểu tương

quan giữa chỉ số QUICKI và nghiệm pháp kìm giữ

đẳng đường huyết cường insulin trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau liên quan rõ với tình trạng kháng insulin như béo phì, hội chứng buồng trứng đa nang, đái đường týp 2 và rối loạn dung nạp glucose Kết quả cho thấy chỉ số QUICKI có tương quan rõ với nghiệm pháp kìm giữ đẳng đường (r:0,78; p < 0,001) và chỉ số này được xem như mộtdụng cụ đơn giản để ước tính nhạy cảm insulin trong nghiên cứu dịch tễ [20]

Nghiên cứu của Forno E và cộng sự (2015) trên các bệnh nhân hen phế quản, kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa việc đề kháng insulin (đánh giá bằng chỉ số QUICKI) với sự suy giảm chức năng hô hấp (theo FEV1) [13]

IV KẾT LUẬN

Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 100% bệnh nhân có hút thuốc lá, 19% có tăng huyết áp, 4,8% có ĐTĐ, 52,4% bệnh nhân có dùng corticoid 100% bệnh nhân có ho, khạc đàm, khó thở độ 1 là 23,8%, độ 2 là 38,1%, khó thở độ 3 là 23,8%, độ 4

là 14,3% Tỷ lệ có lồng ngực hình thùng là 52,4%, giảm rì rào phế nang là 76,2% Tỷ lệ có rales rít, rales ngáy, rales ẩm > 60% Tỷ lệ đề kháng Insulin theo chỉ số HOMA là 47,6%, theo chỉ số QUICKI

là 57,1%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ngô Quý Châu (2006), “Nghiên cứu dịch tễ học

bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ở một số tỉnh,

thành phố khu vực phía bắc Việt Nam’’, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Y tế

2 Lương Thị Kiều Diễm (2008), “Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng, xquang phổi chuẩn trước và sau

điều trị đợt bùng phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính’’, Luận văn Thạc sĩ Y học, Học viện Quân Y

3 Phạm Thái Dũng (2005), “Đánh giá vai trò điều

trị oxy cao áp trong đợt bùng phát của bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính”, Luận văn thạc sỹ y học,

Học viện Quân Y

4 Nguyễn Đình Hường, Trịnh Bỉnh Duy, Trần Thị

Dung (1996), “Tổng kết 25 năm nghiên cứu thông khí phổi, xây dựng số lý thuyết chức năng phổi người Việt Nam theo mô hình quốc tế”, Viện Lao và bệnh phổi Hà Nội

5 Lê Thanh Hải, Hoàng Khánh, Lê Nhân (2007),

“Nghiên cứu kháng insulin, yếu tố nguy cơ mới của bệnh tai biến mạch máu não”, Luận án Tiến

sĩ, trường Đại học Y Dược Huế

6 Trần Thị Hằng, Hoàng Hà (2011), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đợt bùng phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn”, Tạp chí Khoa học & Công Nghệ, 89(01/2), tr.95 – 99

Trang 16

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu tỷ lệ kháng Insulin

7 Nguyễn Cửu Lợi (2004),“Nghiên cứu sự kháng

Insulin, một yếu tố nguy cơ ở bệnh mạch vành

ở nam giới”, Luận án Tiến sĩ Y khoa, Đại học Y

Dược Huế

8 Nguyễn Huy Nhật (2009), “Nghiên cứu đề kháng

Insulin ở bệnh nhân bệnh phởi tắc nghẽn mạn

tính tại khoa Nội tiết – Thần kinh – Hơ hấp, Bệnh

viện Trung ương Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác

sỹ Nội trú, Đại học Y Dược Huế

9 Phan Thu Phương (2006),“Nghiên cứu dịch tễ

học bệnh phởi tắc nghẽn mãn tính trong dân cư

huyện Lạng Giang, Bắc Giang”, Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ Y tế

10 Trần Hồng Thành (2006), Bệnh phởi tắc nghẽn

mạn tính, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

11 Ascaso J.F., Pardo S., Real J.T et al

(2003),“Di-agnosing insulin resistance by simple

quantita-tive methods in subjects with normal glucose

metabolism”, Diabetes Care 26, pp.3320-3325

12 Boyer L., Chouạd C., Sylvie Bastuji-Garin S et

al (2015), “Aging-Related Systemic

Manifesta-tions in COPD Patients and Cigarette Smokers”,

PLoS One, Mar 18;10(3), pp.e0121539

13 Forno E., Han Y.Y., Muzumdar R.H et al (2015),

“Insulin resistance, metabolic syndrome, and

lung function in U.S adolescents with and

with-out asthma”, J Allergy Clin Immunol, August;

136(2), pp 304–311

14 GOLD (2006), “COPD prevalence in 12 Asia -

Pacific countries and regions; projections based

on the COPD prevalence estimation model”

Re-gional COPD working group Respirology 2003;

8, pp.192 - 8

15 GOLD (2009), “Global strategy for diagnosis, management and prevention of chronic obstructive pulmonary disease” MCR Vision Inc, pp 1 - 88

16 GOLD (2017), “Global initiative for chronic obstructive lung disease”, Pocket guide to COPD diagnosis, management, and prevention

a guide for health care professionals 2017 tion, pp.1-42

edi-17 Gonzalez-Albarran et al (2001),“Correlation tween insulin suppression test and quantitative insulin sensitivity check index in hypertensive and normotensive obese patients”, Diabetes Care 24, pp.1998–2000

be-18 Kiran Z., Majeed N., Zuberi B.F (2015), parison of frequency of insulin resistance in pa-tients with chronic obstructive pulmonary dis-ease with normal controls”, Pak J Med Sc;31(6), pp.1506-1510

“Com-19 Marques-Vidal et al (2002), “Prevalence of lin resistance syndrome in Southwestern France and its relationship with inflammatory and hemo-static markers” Diabetes Care 25, pp.1371-1377

insu-20 Rabasa-Lhoret R., Bastard J.P., Jan V et al (2003),“Modified quantitative insulin sensitiv-ity check index is better correlated to hyperinsu-linemic glucose clamp than other fasting-based index of insulin sensitivity in different insulin-resistant states”, J Clin Endocrinol Metab 88, pp 4917–4923

Trang 17

NGHIÊN C U ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

Ở BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI MẠN T NH

Nguyễn Tá Đông1, Nguyễn Lê Rân2

TÓM TẮT

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) chủ yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, và gây tàn phế Đa số bệnh nhân không có triệu chứng và thường nhập viện khi đã ở giai đoạn nặng của bệnh.

M ục tiêu: Mô tả đặc điểm LS và tổn thương trên SÂ Doppler ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn

tính Khảo sát mối liên quan giữa các YTNC với mức độ nặng của bệnh trên lâm sàng.

Đối tượng và phương pháp: Có 57 bệnh nhân ở Khoa Nội Tim Mạch BV TW Huế được chẩn đoán xác

đ nh BĐMCD mạn tính bằng siêu âm Doppler mạch máu Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2016

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, cắt ngang

Kết quả: - Tỷ lệ triệu chứng đau cách h i 41,6%; đau cả khi nghỉ 43,6%; loét hoại tử 18,8% Lạnh đ u

chi 82,2%; biến đổi màu sắc da 55,4%; tê r n 51,5%; teo cơ 37,6% Bất thường về bắt mạch 94,1%.

Tỷ lệ bn vào viện ở giai đoạn III và IV theo Leriche Fontain là 57,9%.

- Tỷ lệ có huyết khối khá cao, lên đến 43,8%, vôi hóa 23,7% Tỷ lệ tắc mạch cao nhất (39,9%), hẹp

≥ 50% là 81,9% Có mối liên quan giữa các YTNC với mức độ nặng trên LS, giữa hút thuốc lá, tăng cholesterol toàn ph n, LDL-Cholesterol, béo phì và số YTNC với mức độ hẹp ĐM trên siêu âm.

Kết luận: Bệnh nhân bệnh ĐMCDMT vào viện với triệu chứng đa dạng, có khi không có triệu chứng và ở

giai đoạn nặng của bệnh và có mối liên quan giữa các YTNC với mức độ nặng trên LS và siêu âm doppler.

Từ khóa: Bệnh động mạch chi dưới mạn, siêu âm doppler

ABSTRACT

CLINICAL AND SUBCLINICAL CHARACTERISTICS

IN PATIENTS WITH CHRONIC LOWER LIMB ARTERIAL DISEASE

Nguyen Ta Dong 1 , Nguyen Le Ran 2

Chronic lower limb arterial disease mainly affects quality of life, and causes handicapped Most patients are asymptomatic and often go to hospital when they are in severe stages of the disease.

Objectives: To describe clinical characteristics and damages by doppler ultrasound in patients with

chronic lower limb arterial disease Investigation of the relationship between traditional risk factors and severity of disease.

Subjects and methods: 57 patients in the Internal Cardiology Department of Hue Central Hospital were

diagnosed with chronic lower limb arterial disease by Doppler ultrasound From June 2014 to August 2016.

Study design: Description, cross section

1 Bệnh viện TW Huế

2 Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đ c

- Quảng Nam

- Ngày nhận bài (Received): 29/11/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Nguyễn T Đông

- Email: bsdonghue@gmail.com; ĐT: 0989 682 468

Trang 18

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch chi dưới BĐMCD là tình trạng

bệnh lý của các ĐM ở chân trong đó lòng động

mạch bị hẹp lại gây giảm tưới máu cơ và các bộ

phận liên quan (da, thần kinh) phía hạ lưu Bệnh chủ

yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, và

gây tàn phế Đa số bệnh nhân không có triệu chứng

ở các giai đoạn vừa và nhẹ và thường nhập viện khi

đã ở giai đoạn muộn và nặng của bệnh

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này nhằm

hai mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và tổn

thương trên siêu âm Doppler ở bệnh nhân bệnh

động mạch chi dưới mạn tính.(2) Khảo sát mối liên

quan giữa các YTNC với mức độ nặng của bệnh

trên lâm sàng và sieu âm doppler.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Có 57 bệnh nhân ở Khoa Nội Tim mạch, BV TW

Huế được chẩn đoán xác định BĐMCD mạn tính

bằng siêu âm Doppler mạch máu Từ tháng 6/2014

đến tháng 8/2016

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tình trạng BN không thể đưa đi làm siêu âm

Doppler mạch máu được, không có cửa sổ để làm

siêu âm

- Tắc mạch chi dưới cấp tính

- Bệnh nhân đã được điều trị bệnh động mạch chi dưới: can thiệp, phẫu thuật, cắt cụt chi

- Hẹp, tắc động mạch chi dưới do nguyên nhân chèn ép từ bên ngoài, do bệnh lý về máu, bệnh Buerger

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, cắt ngang

Phương tiện nghiên cứu: Máy siêu âm doppler

Siemens Acuson Antares

• Đặc điểm chung : Tuổi, giới, lý do vào viện

• Đặc điểm lâm sàng :

- Các triệu chứng : Đau cách hồi, đau cả khi nghỉ ngơi, loét, hoại tử, tê rần, teo cơ, da biến đổi màu sắc, sờ lạnh đầu chi, bắt mạch bất thường

- Phân độ giai đoạn lâm sàng theo Leriche Fontaine

• Tổn thương động mạch trên siêu âm Doppler:

- Tổn thương thành mạch: Xơ vữa, vôi hóa, huyết khối

- Mức độ hẹp ĐM: Theo phân độ của Cossman

• Các yếu tố nguy cơ: Hút thuốc lá, tăng huyết

áp, ĐTĐ, RLLP, béo phì

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua khảo sát 57 bệnh nhân với 101 chân bị bệnh

và 308 đoạn ĐM hẹp, tắc, chúng tôi thu được một

số kết quả sau:

3.1 Đặc điểm chung, lâm sàng và cận lâm sàng của ĐTNC

Results: Rate of pain was 41.6%; Painful at rest was 43.6%; 18.8% necrotic ulcers Cold legs was

82.2%; change of skin color by 55.4%; Numbness 51.5%; Muscular dystrophy 37.6% Abnormalities of vascular perfusion were 94.1% The proportion of hospitalized patients with Phase III and IV (admitted to Leriche Fontain) was 57.9% The rate of thrombosis is quite high, up to 43.8%, calcificated 23.7% The rate of occlusion was highest (39.9%), narrowing ≥ 50% was 81.9% There was a correlation between LDL-cholesterol, obesity, and hyperlipidemia with ultrasound lesion, and between cigarette smoking, total cholesterol, LDL

Conclusion: Patients with chronic lower limb arterial disease were hospitalized with multiple and

atypical symptomatic, even in severe stages of disease and there were relationships between risk factors with severity of disease on clinic and doppler ultrasound.

Key words: Chronic lower limb arterial disease; doppler ultrasound

Trang 19

Bảng 1: Đặc điểm về tuổi

Tuổi trung bình 77,5 ± 12,0 Tuổi thấp nhất: 52 Tuổi cao nhất: 103

Tỷ lệ bệnh nhân ≥ 60 tuổi là 86% chiếm phần lớn

Bảng 3: Các triệu chứng lâm sàng và tổn thương theo vị trí

Nhóm

Triệu chứng

Số bệnh nhân (n = 57)

Số chân

bị bệnh (n = 101)

Chân phải bệnh (n = 49)

Chân trái bệnh (n = 52)

Trang 20

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

Bảng 5: Tổn thương trên siêu âm doppler

3.2 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ và mối liên quan

Bảng 6: Phân bố bệnh theo yếu tố nguy cơ

Huyết áp tâm trương r= 0,114 < 0,05 r= 0,022 >0,05 Huyết áp trung bình r= 0,044 >0,05 r= 0,038 >0,05

Cholesterol toàn phần r= 0,125 >0,05 r = 0,064 >0,05

Trang 21

LDL-C r = 0,108 p >0,05 >0,05 r = 0,023 p >0,05 >0,05

Số yếu tố nguy cơ r = 0,042 >0,05 r = 0,021 >0,05

Số gói thuốc lá/năm, HbA1C có sự tương quan thuận vừa có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng theo Leriche Fontain

IV BÀN LUẬN

Nhóm tuổi trên 80 chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,4%

và tỷ lệ bệnh nhân 60 tuổi trở lên chiếm đến 86%

cao hơn hẳn so với người dưới 60 tuổi Kết quả này

cũng phù hợp với các nghiên cứu khác đều khẳng

định BĐMCD phổ biến ở người cao tuổi và tuổi

càng cao thì tỉ lệ bệnh càng tăng

Lý do vào viện là đau chân và loét hoại tử không

nhiều, tỷ lệ lần lượt là 35,1% và 21,1%, trong đó chỉ

có 3 trường hợp vào viện vì đau cách hồi Nghiên

cứu của Dương Đức Hoàng: tỷ lệ bệnh nhân vào

viện vì đau chân ở nhóm XVĐM là 30,4% [1]

và theo nghiên cứu của Trần Thị Huyền Ngân

(2011) là 28,3%[2] Theo Olin J.W (2010) thì đau

cách hồi chiếm ưu thế trong những lý do vào viện

của bệnh nhân nhưng có thấp hơn các nghiên cứu

trước đó [9] Tỷ lệ lý do vào viện không phải triệu

chứng của BĐMCD là 43,8%, bệnh nhân được

khám và chẩn đoán có BĐMCD sau khi nhập viện

Theo Trần Thị Huyền Ngân (2011) là 28,3% bệnh

nhân có đau cách hồi [2] Nghiên cứu Hrisch A.T

và cộng sự (2001) thấy rằng triệu chứng đau cách

hồi điển hình không phổ biến, chỉ chiếm 11%[5]

Ngược lại, theo nghiên cứu Olin J.W (2010) cho

thấy đau cách hồi có ở 70 - 80% bệnh nhân [9]

Nghiên cứu của Woo S.Y (2010) tỷ lệ đau cách hồi

là 72,1%[11]

Tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 4 là cao nhất

(31,6%), tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 3 và 4 là

57,9%, tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn I thấp (10,5%)

Xét trên số chân bị bệnh thì tỷ lệ số chân ở giai

đoạn 3 và 4 có thấp hơn (27,7% và 18,85%), tuy

nhiên tỷ lệ từ giai đoạn 2b trở lên vẫn chiếm tỷ lệ cao (74,2%) Theo Lê Quang Thứu (2011), tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 4 là cao nhất với 55,56%

và ở giai đoạn 3 là 33,33%[3] Tỷ lệ huyết khối cũng nhiều chiếm 43,8% số chi bị bệnh Tỷ lệ cao nhất là 12,3% ở động mạch chày sau, kế đến

là 8,4% ở động mạch chày trước và động mạch đùi nông là 8,1% Tỷ lệ vôi hóa chiếm 23,7% số đoạn động mạch, trong đó hay gặp nhất ở ĐM chày sau (6,8%) và ĐM chày trước (6,2%) Theo nghiên cứu của Ismail Anas và cộng sự (2015), vôi hóa thành mạch cũng là phát hiện phổ biến ở BĐMCD[6]

Theo nghiên cứu của Marshall A.P và cộng sự (2015), vôi hóa ĐM chày thường gặp hơn ở bệnh nhân cao tuổi, giới nam, tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, có chỉ số ABI bất thường và BĐMCD có triệu chứng [7] Berger

J S (2013) cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá

và tăng huyết áp đóng góp nhiều nhất làm tăng tỷ

lệ của BĐMNB[4] Paquissi F C (2016), 66,95%

có tăng huyết áp; 13,04% có tiền tăng huyết áp; 6.95% bệnh đái tháo đường tự báo cáo, và 9,56% báo cáo đang hút thuốc, không ai báo cáo lịch sử cá nhân của bệnh mạch máu não hoặc mạch vành[10]

Có một liên kết mạnh mẽ giữa số lượng các yếu

tố nguy cơ và chẩn đoán của BĐMCD, với tất cả những người có BĐMCD thì có ít nhất một yếu tố nguy cơ [8].Gánh nặng yếu tố nguy cơ có liên quan đến tỷ lệ tăng của BĐMCD và có một sự liên quan giữa số lượng các yếu tố nguy cơ và sự phổ biến của BĐMCD

Trang 22

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

V KẾT LUẬN

5.1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

- Tỷ lệ triệu chứng đau cách hồi 41,6%; đau cả khi

nghỉ 43,6%; loét hoại tử 18,8%; Lạnh đầu chi 82,2%;

biến đổi màu sắc da 55,4%; tê rần 51,5%; teo cơ

37,6% Bất thường về bắt mạch 94,1%, ĐM mu chân

86,1% và chày sau 90,1% Tỷ lệ bệnh nhân vào viện

ở giai đoạn III và IV theo Leriche Fontain là 57,9%

- Tổn thương chủ yếu là XVĐM chiếm tỷ

lệ 100% Tỷ lệ huyết khối cũng khá cao, lên đến

43,8%, vôi hóa 23,7% Tỷ lệ tắc mạch cao nhất

(39,9%), hẹp ≥ 50% là 81,9% Hẹp, tắc ĐM chày

trước và chày sau hay gặp nhất

5.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với

mức độ nặng trên lâm sàng và tổn thương trên siêu âm

• Có mối liên quan giữa các YTNC với mức độ nặng trên LS theo Leriche Fontain, giữa hút thuốc lá, tăng cholesterol toàn phần, LDL-Cholesterol, béo phì

và số YTNC với mức độ hẹp ĐM trên siêu âm

• Có sự tương quan thuận giữa số gói thuốc lá/năm, HA tâm trương, glucose máu, HAb1c với mức

độ nặng trên lâm sàng

• Có sự tương quan thuận giữa số gói thuốc lá/năm và tương quan nghịch giữa HDL-Cholesteol với mức độ tổn thương trên siêu âm

• Có sự tương quan thuận giữa mức độ nặng trên

LS và siêu âm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Dương Đức Hoàng (2006), Nghiên cứu đặc điểm

lâm sàng và siêu âm Doppler ở bệnh nhân bệnh

động mạch chi dưới mạn tính, Luận văn Tiến sĩ

y học chuyên ngành Nội khoa, Trường Đại học

Y Hà Nội

2 Trần Thị Huyền Ngân (2011), Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng và siêu âm Doppler ở bệnh nhân

viêm tắc động mạch mạn tính chi dưới, Luận văn

bác sỹ nội trú bệnh viện chuyên ngành Chẩn đoán

hình ảnh, Trường Đại học Y Dược Huế, tr 15

3 Lê Quang Thứu (2011), “Đánh giá kết quả điều trị

bệnh viêm tắc động mạch mạn tính hai chi dưới”,

Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, tr 165-169

4 Berger J S., Hochman Judith, Lobach Iryna,

et al (2013), “Modifiable risk factor burden

and the prevalence of peripheral artery disease

in different vascular territories”, Journal of

Vascular Surgery, 58, pp 673-681

5 Hirsch A T., Criqui M H., Creager M A., et al

(2001), “Peripheral arterial disease detection,

awareness, and treatment in primary care”,

JAMA, 286, pp 1317-134124 [42]

6 Ismail Anas, Saleh M K., Tabari A M., Isyaku

Kabiru (2015), “Clinical and Doppler Ultrasound

Evaluation of Peripheral Arterial Diseases in

Kano, North-Western Nigeria”, Niger Postgrad Med J, 22, pp 217-222 47

7 Marshall A.P., Bian Aihua, Shintani Ayumi (2015), “Association of cardiovascular and biochemical risk factors with tibial artery calcification”, Vascular Medicine, pp 1-6 51

8 Ng E L., Weiland T J., Jelinek G A.,et al (2014), “Prevalence of and risk factors for peripheral arterial disease in older adults in an Australian emergency department”, Vascular, 22(1), pp 1-12 55

9 Olin J W., Sealove B A (2010), “Peripheral artery disease: Current insight into the disease and its diagnosis and management”, Mayo Clin Proc., 85(7), pp 678-692 58

10 Paquissi F C., Cuvinje A B P.,Cuvinje A B (2016), “Prevalence of peripheral arterial disease among adult patients attending outpatient clinic at a General Hospital in South Angola”, Scientifica, 2520973, pp 1-6 60

11 Woo S.Y., Young N.R., Ui J P., et al (2010),

“Prevalence of asymptomatic critical carotid artery stenosis in Korean patients with chronic atherosclerosis lower”, J Korean Med Sci, 25, pp.1167-1170 73

Trang 23

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG

Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ CƠ SỞ 2Nguyễn Đức Hoàng1, Hà Thúc Khánh1, Lê Anh Tài1, Ngô Hữu Hóa1, Nguyễn Thị Hiền1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tử vong bệnh nhân tai biến mạch máu não Xác định các yếu tố tiên lượng tử

vong của nhóm nhồi máu não, xác định các yếu tố tiên lượng tử vong của nhóm xuất huyết não

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả,thực hiện trên 96 bệnh nhân tai biến mạch máu não nhập

viện tại Bệnh viện Trung ương Huế CS 2 từ tháng 01/2017 đến tháng 11/2018

Kết quả: Có 64 ca NMN (66,67%) chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là XHN 28 ca (29,17%) và XHDN 04

ca (4,16%) Tỷ lệ tử vong của nhóm nhồi máu não là: 9,375% (06 ca/64 ca) Tỷ lệ tử vong của nhóm xuất huyết não là: 39,29% (11 ca/28 ca) Tỷ lệ tử vong chung của TBMMN là: 18,48% (17 ca/92 ca)

Kết luận: Các yếu tố tiên lượng tử vong ở nhóm NMN là CT scan có hình ảnh lệch đường giữa>

5mm(p<0,01), điểm Glasgow <8 điểm (p< 0,01), biến chứng viêm phổi (p<0,01) Các yếu tố tiên lượng tử vong ở nhóm XHN với diện tích thể tích XHN > 30 ml(p<0,05), điểm Glasgow< 8 điểm (p<0,01), CT scan

có hình ảnh lệch đường giữa>5mm(p<0,01), tăng thân nhiệt (p<0,01)

Từ khóa: tai biến mạch máu não, tiên lượng, tử vong

ABSTRACT

PREDICTORS OF MORTALITY ON PATIENT WITH STROKE

IN HUE CENTRAL HOSPITAL - BASE 2

Nguyen Duc Hoang 1 , Ha Thuc Khanh 1 , Le Anh Tai 1 , Ngo Huu Hoa 1 , Nguyen Thi Hien 1

Objectives: Identify fatal rate of patient with stroke, identify predictors of death in patient with ischemic

stroke, identify of death in patient with intracerebral hemorrhage

Methods: From January 2017 to November 2018,t he descriptive study was carry out in 96 stroke

patients admitted to Hue Central Hospital - Base 2

Results: We have 64 patients with ischemic stroke(66.67%), 28 patients with intracerebral

hemorrhage(29.17%) and 4 patients with subarachnoid hemorrhage(4.16%) Fatal rate of patient with ischemic stroke is 9,375% Fatal rate of intracerebral hemorrhage is 39.29% Fatal rate of stroke is 18.48%

Conclusions: Predictors of mortality on patient with ischemic stroke are cranial CT demonstrating

midline shift >5mm(p<0.01), Glasgow coma score < 8(p<0.01) and pneumonia(p<0.01) Predictors of motarlity with intracerebral hemorrhage are hematoma volume> 30ml (p<0.05), Glasgow coma score <8 (p<0.01), CT scan demonstrating shift midline >5mm and hypertemperatute of body(p<0.01)

Key words: stroke, predictor, mortality.

1 Bệnh viện TW Huế cơ sở 2 - Ngày nhận bài (Received): 25/11/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Nguyễn Đức Hoàng

- Email: nguyenduchoang1966@gmail.com; ĐT: 0914 091 359

Trang 24

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một trong

các bệnh thường gặp trên lâm sàng Bệnh có tỷ lệ

tử vong cao, để lại nhiều di chứng nặng nề là gánh

nặng cho gia đình và xã hội

Theo thống kê tại Hoa Kỳ [13], TBMMN là

nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba sau các bệnh

tim mạch và ung thư, đứng hàng đầu trong các bệnh

thần kinh về tử vong và di chứng

Ở Việt Nam, trong khoảng thời gian gần đây

tình hình TBMMN đã có nhiều thay đổi theo chiều

hướng khả quan, đặc biệt từ khi đơn vị Trung tâm

đột quỵ lần lượt ra đời Những tiến bộ trong điều

trị nội khoa và hình ảnh học can thiệp ngoại khoa

trong thời gian gần đây đã làm thay đổi tiên lượng ở

những bệnh nhân nhồi máu não (NMN), xuất huyết

não (XHN) và xuất huyết dưới nhện (XHDN) [17]

Tuy nhiên, XHN tự phát mặc dù chỉ chiếm 10-20%

tất cả các trường hợp TBMMN nhưng tỷ lệ tử vong

vẫn còn cao: 37,6% – 52% trong tháng đầu,phần lớn

trong số đó tử vong trong hai ngày đầu; gây tàn phế

nặng nề và là loại TBMMN được đề cập đến nhiều

nhất hiện nay[19]

Theo nghiên cứu các bệnh viện tại TP.HCM[1],

tỷ lệ tử vong ở một số nơi đã giảm khoảng 10 – 12%,

có bệnh viện trong 3 năm vừa qua tỷ lệ tử vong còn

10% Nghiên cứu của Bệnh viện Nhân dân Gia Định

(2009) cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân tử vong do NMN là

15,5%[6], tử vong do XHN là 15,7%[7] Ở khu vực

đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ tử vong bệnh nhân

TBMMN tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp(2003)

là 30,2%, của Bệnh viện đa khoa Trà Vinh(2008) là

32,3%[5] Bệnh viện 103(2009) có tỷ lệ tử vong của

bệnh nhân XHN là 19,8%[2]

Các bệnh viện lớn có đơn vị đột quỵ thì tỷ lệ tử

vong thấp hơn nhiều Ở bệnh nhân TBMMN, vấn

đề tiên lượng sinh mạng luôn luôn được đặt ra cho

các thầy thuốc và cũng là một đòi hỏi của gia đình

bệnh nhân Cùng với việc chẩn đoán, điều trị, phòng

ngừa, tiên lượng mức độ nặng và tử vong TBMMN

cũng rất cần thiết Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài với các mục tiêu sau:

Xác định tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tai biến mạch máu não

Xác định các yếu tố tiên lượng tử vong của nhóm nhồi máu não và nhóm xuất huyết não

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các trường hợp TBMMN được nhập viện Bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2 từ 01/2017 đến tháng 11/2018, thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh

và tiêu chuẩn loại trừ

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân > 15 tuổi Có triệu chứng lâm sàng thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán TBMMN của WHO (1998), CT scan sọ não

Bệnh nhân nặng, xin về được xem là tử vong

Tiêu chuẩn loại trừ

Tiền căn chấn thương sọ não Xuất huyết hay nhồi máu trong u não, lao, bệnh huyết học

Không có hình ảnh CT scan sọ não Chuyển tuyến trên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả Các biến số: Đánh giá các yếu tố nguy cơ TBMMN trên bệnh nhân tử vong và còn sống:

+ Tăng huyết áp tâm thu - tâm trương, đái tháo đường, bệnh tim mạch, NMN thoáng qua

+ Rối loạn Lipid máu

+ Nghiện thuốc lá, nghiện rượu

Đánh giá các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân TBMMN tử vong và còn sống trong giai đoạn cấp:

+ Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt độ, nhịp thở, huyết áp Thang điểm Glasgow khi nhập viện Thang điểm NIHSS

+ Các triệu chứng thần kinh khi nhập viện: liệt nửa người, co giật, dấu màng não, rối loạn cơ vòng, rối loạn phản xạ nuốt, mất ngôn ngữ, phản xạ ánh sáng của đồng tử, kích thước đồng tử, dãn đồng tử

Trang 25

+ CT scan: phân loại NMN – XHN, k ch thước

t n thương, phù não, lệch đường giữa, ép não

thất ECG: nhồi m u cơ tim cấp, rung nhĩ, loạn

nhịp tim kh c

+ Sinh ho : đường huyết, Lipid m u, Natri m u,

Kali m u

+ Biến ch ng: xuất huyết tiêu ho trên, viêm

ph i, suy hô hấp, nhiễm trùng tiểu, sốt

2.3 Thu thập và xử lý số liệu

Phương ph p thu thập số liệu bệnh nhân được

kh m lâm sàng, thực hiện c c cận lâm sàng và x c định c c biến số trong nghiên c u Công cụ thu thập

số liệu: bảng thu thập số liệu, bệnh n

Xử lý số liệu: Phần mềm SPSS 11.5 Gi trị p<

0,05 thì được coi như có sự kh c biệt có ý nghĩa thống kê

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên c u từ th ng 01/2017 đến th ng 11/2018, chúng tôi có 96 bệnh nhân thỏa tiêu

ch chọn mẫu

Bảng 3.1 Các thể tai biến trong nhóm nghiên cứu

Mẫu nghiên c u (n = 96) có 64 ca NMN (66,67%)

chiếm t lệ cao nhất, tiếp theo là XHN 28 ca (29,17%)

và XHKDN 4 ca (4,16%) T lệ tử vong của nhóm

NMN là: 9,375% (06 ca/64 ca) T lệ tử vong của

nhóm XHN là: 39,29% (11 ca/ 28 ca) T lệ tử vong

chung của TBMMN là: 18,48% (17 ca/92 ca)

Nghiên c u của chúng tôi chỉ có 04 ca XHDN

Do mẫu nghiên c u còn khiêm tốn, nên chúng tôi

không đưa vào nghiên c u

Phân tích hồi qui đa biến

Nhóm nhồi máu não

Phân t ch mối tương quan đơn biến giữa 1 biến

phụ thuộc là tình trạng sống tử vong của bệnh nhân

khi xuất viện với c c biến độc lập là c c dữ liệu lâm

sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân, chúng tôi chọn

ra được 18 yếu tố có liên quan đủ ý nghĩa thống kê (p <0,05) để đưa vào phân t ch đa biến bao gồm: nghiện rượu, điểm Glasgow, huyết p, tăng thân nhiệt, rối loạn nhịp thở, liệt nửa người hoàn toàn, rối loạn cơ vòng, dãn đồng tử, co giật, rối loạn phản

xạ nuốt, mất phản xạ nh s ng, phù não, lệch đường giữa trên CT scan, chèn ép não thất, rung nhĩ, xuất huyết dạ dày, viêm ph i, suy hô hấp

Qua phân t ch hồi qui logic đa biến, chúng tôi đã x c định được 03 yếu tố độc lập (p < 0,05) tiên lượng tử vong của bệnh nhân NMN là: điểm Glasgow, hình ảnh lệch đường giữa trên CT scan và biến ch ng viêm ph i

Bảng 3.2 Các biến số liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhồi máu não

Trang 26

Bệnh viện Trung ương Huế

4

Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong

0,05) tiên lượng tử vong là: CT scan não có hình ảnh

lệch đường giữa có p <0,01, điểm Glasgow lúc nhập

viện có p <0,01, biến chứng viêm phổi có p <0,01

Nhóm xuất huyết não

Phân tích mối tương quan đơn biến giữa 1 biến

phụ thuộc là tình trạng sống tử vong của bệnh nhân

khi xuất viện với các biến độc lập là các dữ liệu lâm

sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân, chúng tôi chọn

ra được 22 yếu tố có liên quan đủ ý nghĩa thống kê

(p < 0,05) để đưa vào phân tích đa biến bao gồm:

điểm Glasgow lúc nhập viện, mạch, nhiệt độ, nhịp

thở, liệt nửa người hoàn toàn, dấu màng não, mất ngôn ngữ, rối loạn cơ vòng, dãn đồng tử, co giật lúc nhập viện, rối loạn phản xạ nuốt, tràn máu não thất, phù não, lệch đường giữa, chèn ép não thất, thể tích XHN, rối loạn nhịp tim, tăng đường huyết, rối loạn lipid máu, viêm phổi, suy hô hấp và tăng thân nhiệt Qua phân tích hồi qui logic đa biến, chúng tôi đã xác định được 4 yếu tố độc lập (p< 0,05) tiên lượng

tử vong của bệnh nhân XHN là: thể tích XHN, điểm Glasgow, hình ảnh lệch đường giữa trên CT scan và yếu tố tăng thân nhiệt

Bảng 3.3 Các biến số liên quan đến tử vong ở bệnh nhân xuất huyết não

Bảng 3.4 Kết quả phân tích đường cong ROC của NIHSS cắt ở 21 điểm

Biến số Điểm cắt Độ nhạy Độ đặc hiệu AUCKTC95% p

Biểu đồ 1 Đường cong ROC của điểm số NIHSS

cắt ở 21 điểm lúc vào viện

Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Từ kết quả phân tích mối liên quan đơn biến

chúng tôi tìm được 20 yếu tố có mối liên quan với

tử vong tại bệnh viện (p < 0,05) Sau khi đưa vào ở

mô hình hồi quy đa biến logistic để tìm ra các yếu

tố có giá trị tiên lượng độc lập với kết cục tử vong bệnh viện

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân TBMMN vào viện có thang điểm NIHSS >21 thì tỷ lệ tử vong cao hơn nhóm có thang điểm NIHSS

<21 (p<0,001)

IV BÀN LUẬN 4.1 Nhóm nhồi máu não

Điểm Glasgow ở nhóm NMN, lúc nhập viện: Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, 13 ca với điểm Glasgow < 8 thì tử vong 06 ca (6/13 = 46,15%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến với p< 0,01 Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích hồi qui đa biến thì GCS vẫn giữ được khả năng dự báo tử vong ở mức có ý nghĩa thống kê với p <0,01

Trang 27

Nhiều nghiên cứu khảo sát thang điểm GCS

đến kết quả sống còn lẫn kết quả phục hồi chức

năng, trong đó đa số đều cho rằng GCS có liên

quan đến kết quả Trần Ngọc Tài [10] ghi nhận

điểm Glasgow có liên quan có ý nghĩa thống kê với

kết quả sống còn trên phân tích đơn biến Nghiên

cứu của Bhatia [15] ghi nhận điểm Glasgow trung

bình trong nhóm có kết quả xấu và tốt lần lượt là

6 và 13 điểm, khác biệt có ý nghĩa với p < 0,01

Theo Vemmosghi nhận GCS có liên quan đến kết

quả sống còn trong phân tích đơn biến và đa biến

Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cũng như nhiều

nghiên cứu trong y văn đều cho rằng GCS có liên

quan đến tiên lượng bệnh nhân NMN CT scan ở

nhóm NMN: Trong mẫu nghiên cứu, nhóm bệnh

nhân NMN bán cầu chiếm tỉ lệ 91,5%, nhóm bệnh

nhân NMN hố sau chiếm tỉ lệ 8,5% Các nghiên cứu

khác cũng cho kết quả tương tự Cụ thể như nghiên

cứu của Leonardi – Bee [21] cũng có kết quả tương

tự với tỉ lệ NMN tuần hoàn sau là 11,5%, Vũ Xuân

Tân [11] cũng ghi nhận NMN bán cầu là 90,27%,

hố sau là 9,73% Trong nghiên cứu của chúng tôi,

tỉ lệ bệnh nhân NMN hố sau ở nhóm có kết quả tử

vong và sống lần lượt là 2,9% và 9,2%, sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê với p = 0,216 Nhiều

nghiên cứu trước đây đều đánh giá NMN máu

tuần hoàn sau có tiên lượng xấu, tỉ lệ tử vong cao,

nhưng gần đây có nhiều nghiên cứu ghi nhận NMN

hố sau có tiên lượng tốt, tỉ lệ tử vong thấp Cụ thể

như nghiên cứu của Leonardi – Bee [21] năm 2002

ghi nhận NMN tuần hoàn sau không liên quan có ý

nghĩa với kết quả xấu sau 6 tháng TBMMN Trong

nước có nghiên cứu của Lê Tự Phương Thảo [12]

cũng ghi nhận NMN tuần hoàn sau có dự hậu tương

đối tốt Các dấu hiệu hình ảnh phù não, lệch đường

giữa, chèn ép não thất trên CT scan đều có liên quan

đến tiên lượng tử vong (p<0,01) Tuy nhiên, khi đưa

vào phân tích đa biến, chỉ còn dấu hiệu lệch đường

giữa là có giá trị tiên đoán độc lập khả năng tử vong

của bệnh nhân NMN (p<0,01) Tương tự với nghiên

cứu của Trần Ngọc Tài (p<0,05) [10]

Viêm phổi: trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ

lệ viêm phổi ở nhóm có kết quả tử vong và sống lần lượt là 61,8% và 29,1% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) Khi đưa vào phân tích đa biến, viêm phổi là yếu tố liên quan chặt chẽ đến tiên lượng tử vong (p<0,01) Các nghiên cứu trong nước hầu hết ít khảo sát yếu tố này, các nghiên cứu ngoài nước cũng cho kết quả tương tự như chúng tôi Cụ thể như Johnston[20], tác giả nghiên cứu các biến chứng sau NMN với kết cục tại 3 tháng sau TBMMN (đánh giá bằng thang điểm GCS) thì viêm phổi chiếm 10%, và là một trong những biến chứng nghiêm trọng có liên quan đến kết quả sau khi đưa vào phân tích hồi qui đa biến Arboix [14] ghi nhận biến chứng nhiễm trùng chiếm tỷ lệ 32% trong nhóm kết quả xấu so với 9,6% ở nhóm kết quả tốt, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Dziewas[17] nghiên cứu biến chứng viêm phổi ở bệnh nhân có đặt ống thông mũi dạ dày nuôi ăn đã ghi nhận tỉ lệ viêm phổi ở nhóm có kết quả tốt và xấu lần lượt là 23% và 70% với p <0,01 Như vậy, viêm phổi trong nghiên cứu của chúng tôi là một yếu tố độc lập tiên lượng tử vong ở bệnh nhân NMN (p<0,01)

4.2 Nhóm xuất huyết não

Điểm Glasgow ở nhóm XHN, lúc nhập viện: Thang điểm Glasgow là thang điểm đánh giá hôn

mê được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng Đây là một thang điểm ngắn gọn, đơn giản, dễ sử dụng nhưng

có giá trị đánh giá rất cao Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, thang điểm Glasgow có liên quan chặt chẽ (p<0,01) với tình trạng sống còn của bệnh nhân: bệnh nhân có điểm Glasgow < 8 điểm có tỷ lệ

tử vong lên tới 87% Theo nghiên cứu của Hàn Tiểu Sảo là 70,11%[9], của Trần Công Thắng là 75,4% Theo các tác giả Tuhrim S (1998); Broderick JP (1993) [16]; el Chami B (2000) chia thang điểm hôn

mê thành 2 mức độ: (1) < 8 điểm và (2) > 8 điểm, điểm Glasgow < 8 có giá trị tiên lượng tử vong 30 ngày ở bệnh nhân XHN Hemphill JC (2001) chia thang điểm hôn mê thành 3 mức độ: (1) 3-4 điểm; (2) 5 - 12 điểm và (3) 13 - 15 điểm cho thấy tỷ lệ

Trang 28

Bệnh viện Trung ương Huế Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong

tử vong giữa các nhóm khác biệt có ý nghĩa với

p < 0,01 Thật vậy, GCS lúc nhập viện không chỉ

liên quan đến tình trạng sống còn mà còn là yếu tố

độc lập chặt chẽ nhất đến tiên lượng tử vong của

bệnh nhân XHN CT scan ở nhóm XHN Thể tích ổ

xuất huyết: Trong nghiên cứu chúng tôi, thể tích ổ

xuất huyết ≥ 30 ml chiếm 32,14% (09/28), nghiên

cứu của Mạc Văn Hòa là 31% (46/148), nghiên cứu

của Lê Tự Phương Thảo và CS là 61,2% [7] Rost

NS (2008) [22] nghiên cứu tiên lượng kết quả 90

ngày trên 629 bệnh nhân xuất huyết não tại Hoa Kỳ

có tỷ lệ bệnh nhân có thể tích ổ xuất huyết ≥ 30

ml là 43% Nghiên cứu tiên lượng tử vong XHN

30 ngày của Godoy DA (2006) [19] tại Argentina

có 40% bệnh nhân XHN có thể tích ổ xuất huyết >

30 ml Chúng tôi nhận thấy thể tích là yếu tố liên

quan chặt chẽ (p<0,01) đến tình trạng sống còn của

bệnh nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi, 09 ca

có thể tích xuất huyết≥ 30 ml thì tử vong hết 08 ca

Khi đưa vào phân tích đa biến thì thể tích xuất huyết

là một yếu tố độc lập đến tiên lượng tử vong của

bệnh nhân XHN

Về mức độ lệch đường giữa: Đường giữa bị đẩy

lệch về bên đối diện XHN chứng tỏ hiệu ứng choán

chỗ nhiều do chảy máu nhiều, phù não nhiều Vì

thế, tỷ lệ tử vong càng cao nếu di lệch đường giữa

càng nhiều Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng

cho nhận xét tương tự: mức độ di lệch đường giữa

có liên quan chặt chẽ (p<0,01) đến tình trạng sống

còn của bệnh nhân Đường giữa di lệch> 5mm thì tử

vong 72,73% (8/11 ca) theo nghiên cứu của chúng

tôi Các tác giả khác cũng cho kết quả tương tự:

Nguyễn Minh Hiện 63,5% [2], P.Daverat (76,1%) Khi đưa vào phân tích đa biến thì dấu lệch đường giữa >5mm là một yếu tố độc lập đến tiên lượng tử vong của bệnh nhân XHN với p<0,01 Tăng thân nhiệt: trong thời gian điều trị có liên quan chặt chẽ (p<0,01) với tình trạng sống còn của bệnh nhân Khi đưa vào phân tích đa biến yếu tố này, chúng tôi nhận thấy đây là yếu tố độc lập tiên lượng tử vong trên bệnh nhân XHN (p<0,01) Tác giả Vũ Anh Nhị[8] cũng có nhận định tương tự Tuy nhiên, các tác giả khác như Trần Công Thắng, Nguyễn Minh Hiện [2], Mạc Văn Hòa [3], Nguyễn Cảnh Nam [7], Broderich

JP [16], Goydoy DA [19] ghi nhận tăng thân nhiệt ở bệnh nhân XHN không có giá trị tiên đoán tử vong Điều này có thể do tăng thân nhiệt có thể là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau: rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt, nhiễm trùng hô hấp, nhiễm trùng tiểu, mất nước,…

Trong nghiên cứu của chúng tôi (n=96), bệnh nhân TBMMN vào viện có thang điểm NIHSS

>21 thì tỷ lệ tử vong cao hơn nhóm có thang điểm NIHSS <21 (p<0,001)

V KẾT LUẬN

Các yếu tố tiên lượng tử vong ở nhóm NMN là CT scan có hình ảnh lệch đường giữa> 5mm(p<0,01), điểm Glasgow <8 điểm (p< 0,01), biến chứng viêm phổi (p<0,01) Các yếu tố tiên lượng tử vong ở nhóm XHN với diện tích thể tích XHN > 30 ml(p<0,05), điểm Glasgow< 8 điểm (p<0,01), CT scan có hình ảnh lệch đường giữa>5mm(p<0,01), tăng thân nhiệt (p<0,01)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Hữu Công (2004) Dịch tễ học đột quỵ

Sổ tay đột quỵ NXB TP.HCM, tr.13-16

2 Nguyễn Minh Hiện (2010) Nghiên cứu đặc điểm

lâm sàng chảy máu não tại khoa đột quỵ Bệnh

viện 103 Nội san Hội thần kinh học Việt Nam,

tập 2, tr 41-50

3 Mạc Văn Hòa (2009) “Tiên lượng tử vong ở bệnh

nhân xuất huyết não theo điểm ICH” Luận văn Thạc sĩ Y học Đại học Y Dược TPHCM

4 Hoàng Khánh (2004), Dịch tễ học tai biến mạch máu não Thần kinh học lâm sàng NXB Y học,

tr 159-163

5 Phan Trung Minh (2008).Khảo sát các yếu tố nguy cơ tử vong trên bệnh nhân tai biến mạch

Trang 29

máu não tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh Luận

văn chuyên khoa II Đại học Y Dược TPHCM

6 Phan Văn Mừng, Lê Tự Phương Thảo (2009)

Những yếu tố tiên lượng hậu quả chức năng trên

bệnh nhân nhồi máu não tại BVND Gia Định Y

học TPHCM, tập 13, số 6, tr 5258

7 Nguyễn Cảnh Nam, Lê Thị Phương Thảo (2009)

Những yếu tố tiên lượng hậu qủa tử vong và chức

năng trên bệnh nhân xuất huyết não tại BVND

Gia Định Y học TPHCM, tập 13, số 6, tr.59-63

8 Vũ Anh Nhị, Trần Công Thắng (2004) Các yếu tố

nguy cơ đột quỵ Sổ tay đột quỵ NXB TP.HCM,

tr 92-116

9 Hàn Tiểu Sảo (2000), Một số yếu tố tiên lượng tử

vong sớm trong xuất huyết não, Luận văn thạc sĩ

y khoa, Đại học Y dược TP.HCM

10 Trần Ngọc Tài, Vũ Anh Nhị (2007) Tần suất

tử vong trên bệnh nhân nhồi máu não diện rộng

trên lều Luận văn thạc sĩ y khoa, Đại học Y dược

TP.HCM

11 Vũ Xuân Tân, Vũ Anh Nhị (2007) Yếu tố nguy

cơ và tiên lượng ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu

não cục bộ cấp Luận văn thạc sĩ y khoa, Đại học

Y dược TP.HCM

12 Lê Tự Phương Thảo (2006) Nghiên cứu tương

quan lâm sàng, hình ảnh học, tiên lượng của nhồi

máu não tuần hoàn sau Luận án tiến sĩ y học

Đại học Y Dược TPHCM

13 Adam RD, Victor M, Ropper AH (2005)

“Cerebrovascular disease” Principles of

Neurology Mc Graw Hill, pp 711-716

14 Arboix A, Garcia-Eroles L et al (2003)

“Predicting spontaneous early neurological recovery after acute ischemic stroke” Eur J Neurol, 10(4),pp.429-435

15 Bhatia RS et al (2004).“Predictive Value of routine hematological biochemical parameter on 30-day fatality in acute stroke” Neurol India,52, pp.220-223

16 Broderick JP et al (1993) “Volume of Intracerebebral hemorrhage A powerful and easyto-use predictor of 30-day mortality” Stroke,24, pp.987-993

17 Dziewas R et al (2004) ”Pneumonia in acute stroke patient fed by nasogastric tube” Journal

of Neurology Neurosurgery and Psychiatry,75,

pp 852-856

18 El Chami B et al (2000) “Intracerebral hemorrhage survival: French register data” Neuro Res,22, pp.791-796

19 Godoy DA et al (2006) “Predicting mortality inspontaneous intracerebral hemorrhage: can modification to original score improve the prediction?” Stroke,37, pp.1038-1044

20 Johnston KC et al (2000) “A predictive risk model for outcomes of ischemic stroke” Stroke,31, pp 448-455

21 Leonardi Bee et al (2002) “Blood Pressure and Clinical Outcomes in the International Stroke Trial” Stroke,33, pp.1315

22 Rost NS et al (2008) “Prediction of functional outcome in patient with primary intracerebral hemorrhage: the FUNC score” Stroke,39,

pp 2304-2309

Trang 30

Đ nh gi tình trạng rối loạn lipid m u

Đ NH GI TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN LIPID M U Ở BỆNH NHÂN Đ I TH O ĐƯỜNG

KHÔNG THỪA CÂN- BÉO PHÌTrần Thừa Nguyên1, Trần Đức Minh1, Trần Quang Nhật1, Nguyễn Thị Bạch Oanh1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu (RLLM) ở bệnh nhân ĐTĐ không thừa cân- béo phì tại

BVTW Huế.

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 209

bệnh nhân ĐTĐ không thừa cân- béo phì tại BVTW Huế, từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2018 Tất cả bệnh nhân đều được tiến hành lấy các thông số về tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao Mẫu máu được lấy lúc đói và đưa đi xét nghiệm glucose, bilan lipid tại khoa Sinh hóa, BVTW Huế Xử lý số liệu bằng ph n mềm SPSS 16.0.

Kết quả: N ng độ trung bình của cholesterol là 4,66 ± 1,33; triglyceride là 2,21 ± 1,77; LDL-c là 2,56 ±

1,17; HDL-c là 1,21 ± 0,87 Tỷ lệ RLLM là 85,65%, trong đó, tăng triglyceride chiếm 50,24%, tăng LDL-c chiếm 45,93%, giảm HDL-c chiếm 44,02% và tăng cholesterol chiếm 31,1%.

Kết luận:

Từ khóa: rối loạn lipid máu, đái tháo đường, không thừa cân- béo phì

ABSTRACT

EVALUATION OF DYSLIPIDEMIA IN NON- OVERWEIGHT,

OBESE DIABETIC INDIVIDUALS

Tran Thua Nguyen 1 , Tran Duc Minh 1 , Tran Quang Nhat 1 , Nguyen Thi Bach Oanh 1

Objective: Evaluation of dyslipidemia in non- overweight, obese diabetic individuals at Hue Central

Hospital

Method: This study was conducted in Hue Central Hospital between August, 2017 and December,

individuals Venous blood samples were taken from all the subjects in the morning after fasting overnight The data was analyzed using Statistical Package for the Social Sciences (SPSS) for Windows Version 16.0 (SPSS Inc; Chicago, IL, USA).

Results: The mean ± SD cholesterol was 4,66 ± 1,33; triglyceride was 2,21 ± 1,77; LDL-c was 2,56

± 1,17; HDL-c was 1,21 ± 0,87 The percentage of dyslipidemia was 85.65%, in which, hypertriglyceride accounted for 50,24%, hypercholesterol accounted for 31,1% The high level of serum LDL-cholesterol and

1 Bệnh viện TW Huế - Ngày nhận bài (Received): 2/12/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Trần Thừa Nguyên

- Email: tranthuanguyen23@gmail.com; ĐT: 0903 597 695

Trang 31

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cho đến nay, bệnh đái tháo đường là bệnh phổ

biến trên toàn thế giới Tổ chức Y tế Thế giới

(WHO) gọi bệnh đái tháo đường là “cơn sóng thần

tàn phá sức khỏe toàn cầu” Theo Liên đoàn Đái

tháo đường (ĐTĐ) Quốc tế (IDF), năm 1994 có

110 triệu người mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới

Năm 1995, là 135 triệu người chiếm tỷ lệ 4% dân

số toàn cầu Năm 2000, có 151 triệu người Đến

năm 2015 có 415 triệu người từ độ tuổi 20- 79

mắc bệnh ĐTĐ, trong đó có 193 triệu người chưa

được chẩn đoán Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế đã lên

tiếng báo động, nếu vẫn không có biện pháp ngăn

chặn tiến triển bệnh một cách có hiệu quả thì đến

năm 2040, số người mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế

giới sẽ lên đến 642 triệu người [4]

Rối loạn lipid máu (RLLM) làm tăng nguy

cơ mắc bệnh tim mạch và tăng nguy cơ tử vong

Trong đái tháo đường (ĐTĐ), ba yếu tố: glucose

máu, huyết áp và lipid máu luôn luôn đi song

hành với nhau và có tác dụng tương hỗ với nhau,

nếu bệnh nhân có đồng thời cả 3 yếu tố trên thì

tiên lượng bệnh nặng nề gấp bội phần Trong việc

điều trị ĐTĐ, bên cạnh vấn đề khống chế glucose

máu, kiểm soát huyết áp thì việc điều trị RLLM

cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Việc

phát hiện và điều trị kịp thời RLLM có một ý

nghĩa rất lớn trong việc dự phòng các biến chứng,

kéo dài tuổi thọ bệnh nhân ĐTĐ, cải thiện cuộc

sống, góp phần giảm gánh nặng, hao tổn của gia

đình và xã hội [3]

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng rối loạn lipid

máu ở bệnh nhân ĐTĐ không thừa cân- béo phì

tại BVTW Huế

HDL-cholesterol accounted for 45.93% and the low level of serum HDL-cholesterol accounted for 44.02%.

Conclusion: This study showed obese diabetic individuals have dyslipidemia and more prone to

develop cardiovascular diseases.

Key words: dyslipidemia, diabetic individual, non- overweight, obese

“Đây là kết quả của đề tài KHCN cấp tỉnh được ngân sách nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế đầu tư” Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ này!

II PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Những bệnh nhân

đái tháo đường tuổi trên 35, không thừa cân- béo phì (BMI < 23 vào thời điểm được chọn vào nghiên cứu) tại khoa Nội Tổng hợp- Lão khoa và khoa Nội Nội tiết- Thần kinh-Hô hấp, BVTW Huế, từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2018

Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân đủ các điều

kiện sau:

- Đái tháo đường được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hội Nội tiết và ĐTĐ Việt Nam (2016) [4]

- BMI < 23 (thể trọng không thừa cân- béo phì)

Tiêu chuẩn loại trừ:

Không đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân ĐTĐ có kèm theo:

- BMI ≥ 23

- Có tiền sử bị ĐTĐ thai kỳ

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Đây là phương

pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, với cách chọn mẫu thuận tiện

- Tất cả bệnh nhân đều được tiến hành lấy các thông số về tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao

- Mẫu máu được lấy vào buổi sáng, sau khi nhịn đói qua đêm

- Định lượng glucose, bilan lipid tại khoa Sinh hóa, BVTW Huế

- Tính chỉ số BMIBMI = (Chiều cao)Cân năng (kg)2 (m2)

Bảng 2.1: Phân loại BMI theo chỉ số cơ thể (BMI) của WHO 2000, áp dụng cho Châu Á [4]

Trang 32

Bệnh viện Trung ương Huế Đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Mối liên quan giữa giới tính với tuổi và thể trọng

3.2 Giá trị nồng độ lipid máu

Bảng 3.3 Giá trị nồng độ lipid máu theo giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt về nồng độ các thành phần của lipid máu

Bảng 3.4 Giá trị nồng độ lipid máu theo thể trọng

Trang 33

Bảng 3.5 Giá trị nồng độ lipid máu theo nhóm tuổi

Tiêu chí < 40 (n=16) 40- 59 (n=48) 60- 74 (n=81) ≥ 75 (n=64)Nhóm tuổi pCholesterol 4,63±1,39 4,58±1,72 4,79±1,27 4,55±1,03 >0,05Triglyceride 2,18±1,35 2,57±2,64 2,23±1,56 1,94±1,19 >0,05

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt về nồng độ các thành phần của lipid máu giữa các nhóm tuổi

3.3 Tỷ lệ rối loạn lipid máu

Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ rối loạn lipid máu theo giới tính

Tiêu chí Nam (n=92) Nữ (n=117)Giới tính Tổng (n= 209)

Trang 34

Bệnh viện Trung ương Huế Đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu

III BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thường hội tụ một số yếu

tố nguy cơ (YTNC), trong đó có YTNC thay đổi

được và không thay đổi được Trong các YTNC

có thể thay đổi được thì thừa cân, béo phì, RLLM,

THA là những yếu tố hay gặp, tham gia vào cơ chế

bệnh sinh và tiến triển của bệnh ĐTĐ [2]

Trong nghiên cứu của Trần Văn Trung, Phan

Nam Hùng và cộng sự: tỷ lệ bệnh nhân nam là

78% và đa số là bệnh nhân ≥ 60 tuổi (92%) [9]

Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân

nam chiếm 44%, nữ giới lại chiếm 66% Điều này

phù hợp với tác giả Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006)

tiến hành nghiên cứu về rối loạn lipid máu trên 165

bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại

khoa Nội tiết, bệnh viện Thanh Nhàn: nữ giới chiếm

69,7%, nhiều hơn nam giới Hai nhóm tuổi chiếm

tỷ lệ cao nhất là: ≥ 70 tuổi (44,8%) và nhóm 60- 69

tuổi (29,1%) [1] Giảng Thị Mộng Huyền, Nguyễn

Tuấn Khanh (2016), nghiên cứu trên 300 bệnh nhân

đái tháo đường type 2 đang điều trị nội trú tại bệnh

viện đa khoa Tiền Giang: nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn

nam (65,7% so với 34,3%) [5]

Trong nghiên cứu của Trần Văn Trung, Phan

Nam Hùng và cộng sự: tỷ lệ bệnh nhân có thể trọng

gầy là 44%, thể trọng bình thường là 66% [9] Năm

2017, Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Vinh Quang,

Hoàng Trung Vinh tiến hành nghiên cứu trên 247

bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chẩn đoán lần đầu:

bệnh nhân có thể trọng gầy chiếm 4,86%, thể trọng

bình thường chiếm 43,3% [2] Theo kết quả của

bảng 3.2, tỷ lệ bệnh nhân có thể trọng bình thường

và gầy lần lượt là 86,6% và 13,4%, thì tỷ lệ của

chúng tôi đều cao hơn 2 nhóm tác giả trên

4.2 Đặc điểm rối loạn lipid máu

Bản thân RLLM là biểu hiện rối loạn chuyển hóa

và nếu trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thì ngoài việc gia

tăng tỷ lệ còn mang những nét đặc trưng riêng Theo

lý thuyết cơ bản thì RLLM ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2

cũng như hội chứng chuyển hóa biểu hiện chủ yếu

bởi sự tăng nồng độ triglyceride, giảm HDL-c Tuy vậy, khi đi kèm theo một số YTNC khác như thừa cân, béo phì, THA thì đặc điểm RLLM sẽ có những nét khác biệt và thường là rối loạn thể hỗn hợp [2].Năm 2017, Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Trung Vinh tiến hành nghiên cứu trên

247 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chẩn đoán lần đầu: trong nhóm không thừa cân- béo phì, nồng độ cholesterol là 5,67 ± 1,02; triglyceride là 2,42 ± 1,26; LDL-c là 3,64 ± 1,21; HDL-c là 1,12 ± 0,56 [2]

Vũ Thị Quyến, Hồ Văn Hiệu, Nguyễn Thị Bảo Yến và cs (2014) nghiên cứu trên 150 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 phát hiện lần đầu tại bệnh viện Nội tiết Nghệ An: trong nhóm BMI bình thường: nồng độ trung bình của cholesterol là 6,04 ± 1,47; triglyceride là 3,1 ± 3,14; LDL-c là 3,82 ± 0,86; HDL-c là 1,07 ± 0,39 [7]

Theo bảng 3.3, nồng độ trung bình của cholesterol

là 4,66 ± 1,33; triglyceride là 2,21 ± 1,77; LDL-c là 2,56 ± 1,17; HDL-c là 1,21 ± 0,87 Tất cả giá trị trong nghiên cứu của chúng tôi đều thấp hơn nhóm tác giả trên, ngoại trừ HDL-c

Theo bảng 3.6, tỷ lệ RLLM chung của chúng tôi

là 85,65% Tương đương với tác giả Nguyễn Văn Mừng, Tạ Văn Trầm (2016): 86,1% [6] Giá trị này cao hơn kết quả của Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006): 75,1% [1]; của Giảng Thị Mộng Huyền, Nguyễn Tuấn Khanh (2016): 74,3% [5]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ RLLM chung ở cả giới nam và nữ đều trên 85%, kết quả này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006): Tỷ lệ RLLM ở nữ nhiều hơn nam giới rõ rệt (69,69% so với 30,31%) [1]

Về việc đánh giá rối loạn các thành phần của lipid máu, theo kết quả bảng 3.6 và 3.7: thành phần rối loạn chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là tăng triglyceride (50,24%), tiếp theo là tăng LDL-c (45,93%), giảm HDL-c (44,02%) và tăng cholesterol (31,1%) Kết quả này tương tự với các tác giả sau:

- Giảng Thị Mộng Huyền, Nguyễn Tuấn Khanh

Trang 35

(2016), nghiên cứu trên 300 bệnh nhân đái tháo

đường type 2 đang điều trị nội trú tại Bệnh viện

đa khoa Tiền Giang: tỷ lệ tăng cholesterol, tăng

triglyceride, tăng LDL-c và giảm HDL-c lần lượt

là: 63%; 70,3%; 18,7% và 8% [5]

- Vũ Thị Quyến, Hồ Văn Hiệu, Nguyễn Thị Bảo

Yến và cs (2014) nghiên cứu trên 150 bệnh nhân đái

tháo đường týp 2 phát hiện lần đầu tại Bệnh viện

Nội tiết Nghệ An: Rối loạn thành phần lipid máu:

tăng cholesterol là 30%, tăng triglyceride là 42,7%,

tăng LDL-c là 74% và giảm HDL-c là 21,8% [7]

Tuy nhiên, các tác giả sau lại đưa ra thành phần

lipid máu rối loạn cao nhất là cholesterol sau đó mới

đến triglyceride:

- Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006): tỷ lệ tăng

cholesterol, tăng triglyceride, tăng LDL-c và giảm

HDL-c lần lượt là: 54,5%; 43%; 26,1% và 35,8% [1]

- Trong nghiên cứu của Trần Văn Trung, Phan

Nam Hùng và cộng sự: tỷ lệ bệnh nhân có rối

loạn tăng cholesterol, tăng triglyceride, tăng

LDL-c và giảm HDL-c lần lượt là: 88%; 78%;

70% và 64% [9]

- Nghiên cứu của Đỗ Thị Tính tại Bệnh viện Việt

Tiệp- Hải Phòng trong 5 năm (1997- 2001) trên 1272

bệnh nhân ĐTĐ cho thấy: tăng cholesterol chiếm

41,67%, tăng triglyceride chiếm 38,89%, tăng

LDL-c chiếm 25%, giảm HDL-c chiếm 26,39% [8]

- Nguyễn Văn Mừng, Tạ Văn Trầm (2016): tỷ

lệ tăng cholesterol, tăng triglyceride, tăng LDL-c

và giảm HDL-c lần lượt là: 45,1%; 18%; 9% và

7,4% [6]

- Năm 2017, Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Vinh

Quang, Hoàng Trung Vinh tiến hành nghiên cứu trên

247 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chẩn đoán lần đầu: Tỷ lệ tăng cholesterol, tăng triglyceride, tăng LDL-c và giảm HDL-c lần lượt là: 79,4%; 84,6%; 87,4% và 54,5% [2]

Theo bảng 3.6, tỷ lệ tăng cholesterol trong nhóm bệnh nhân nam là 32,61%; nhóm bệnh nhân

nữ là 29,91%, trong khi đó tỷ lệ tăng triglyceride

ở trên hai nhóm bệnh nhân này lần lượt là 55,43%

và 46,15% Kết quả này tương đương với tác giả

Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006): Loại rối loạn tăng cholesterol, tăng triglyceride chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm bệnh nhân nam cũng như nữ (50%, 40% đối với nam; 56,5%, 44,3% đối với nữ) [1]

Theo bảng 3.8, tỷ lệ RLLM ở nhóm bệnh nhân <

60 tuổi là 87,5%, nhóm ≥ 60 tuổi là 84,8% Tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Văn Mừng, Tạ Văn Trầm (2016): Tỷ lệ RLLM ở nhóm < 60 tuổi là 83,1%, nhóm ≥ 60 tuổi là 89,5% [6] Do vậy, chúng

ta cần quan tâm đến mọi lứa tuổi để phát hiện sớm RLLM, từ đó có biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời

V KẾT LUẬN

Qua tiến hành đánh giá, khảo sát trên 209 bệnh nhân ĐTĐ không thừa cân- béo phì, chúng tôi rút ra một số kết quả sau:

- Nồng độ trung bình của cholesterol là 4,66 ±

1,33; triglyceride là 2,21 ± 1,77; LDL-c là 2,56 ± 1,17; HDL-c là 1,21 ± 0,87

- Tỷ lệ RLLM là 85,65%, trong đó, tăng

triglyceride chiếm 50,24%, tăng LDL-c chiếm 45,93%, giảm HDL-c chiếm 44,02% và tăng cholesterol chiếm 31,1%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006), “Rối loạn lipid

máu ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú

tại khoa Nội tiết, Bệnh viện Thanh Nhàn”, Tạp chí

Y học thực hành- Hội nghị Nội tiết & Đái tháo

đường miền Trung lần thứ V, 548, tr 158- 165.

2 Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng

Trung Vinh (2017), “Đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chẩn

đoán lần đầu”, Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường, 26, tr 211- 216

3 Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam (2016), Thái Hồng Quang, Nguyễn Hải Thủy: “Rối loạn

Trang 36

Bệnh viện Trung ương Huế Đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu

chuyển hóa lipid máu”, Chẩn đoán và điều trị

một số bệnh nội tiết- chuyển hóa, Nhà xuất bản

Y học, Hà Nội, tr 346- 356

4 Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam

(2016), Khuyến cáo về bệnh nội tiết và chuyển

hóa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

5 Giảng Thị Mộng Huyền, Nguyễn Tuấn Khanh

(2016), “Khảo sát tỷ lệ rối loạn lipid máu ở

bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang điều trị

nội trú tại Bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm

2015”, Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường, 21,

tr 493- 495

6 Nguyễn Văn Mừng, Tạ Văn Trầm (2016),

“Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái

tháo đường týp 2 mới phát hiện tại Bệnh viện đa

khoa trung tâm Tiền Giang”, Tạp chí Nội tiết và

Đái tháo đường, 21, tr 504- 509.

7 Vũ Thị Quyến, Hồ Văn Hiệu, Nguyễn Thị

Bảo Yến và cs (2014), “Đánh giá liên quan rối

loạn lipid máu với glucose máu, BMI, vòng

eo, huyết áp, HbA1C trên bệnh nhân đái tháo

đường týp 2 phát hiện lần đầu”, Tạp chí Nội tiết

và Đái tháo đường- Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học- Hội nghị Hội Nội tiết- ĐTĐ- Rối loạn chuyển hóa miền Trung mở rộng lần thứ IX, 21,

tr 124- 131

8 Đỗ Thị Tính, Trần Thị Mai (2006), “Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tiết, Bệnh viện đa khoa Việt Tiệp- Hải

Phòng”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài nghiên cứu khoa học- Đại hội Hội Nội tiết & ĐTĐ Việt Nam lần thứ nhất, tr 263- 273

9 Trần Văn Trung, Phan Nam Hùng, Nguyễn Văn Tâm, Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Bá Hảo (2005),

“Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 không béo phì tại Bệnh viện đa khoa Bình

Định”, Tạp chí Y học thực hành- Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học- Đại hội Hội Nội tiết

& Đái tháo đường quốc gia Việt Nam lần thứ 3,

507- 508, tr 545- 548

Trang 37

HIỆU QUẢ CỦA BỤNG CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU VAI G Y DO THO I HÓA CỘT SỐNG C

TẠI BỆNH VIỆN TRUNG Ư ƠNG HUẾ

Trần Thiện Ân1, Nguyễn Thị Tú Anh1, Đoàn Văn Minh2

TÓM TẮT

Mục đích: Nghiên cứu này nhằm cung cấp thêm bằng chứng liên quan tới hiệu quả lâm sàng của Bụng

châm (một trong số các liệu pháp châm) trong điều tr đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng nhóm tương đương có đối chứng, so sánh kết quả điều

tr giữa nhóm Bụng châm và nhóm châm thông thường trong điều tr đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ

Kết quả: Sau 1 tu n điều tr , tiến triển ở nhóm Bụng châm là tốt hơn nhóm châm thông thường trên cả

3 chỉ tiêu quan sát bao g m: mức độ đau theo VAS, mức độ ảnh hưởng chức năng theo NPQ, sức khỏe tổng quát theo SF-36 Sau 2 tu n điều tr thì tiến triển ở cả 2 nhóm là tương đương

Kết luận: Bụng châm có hiệu quả nhanh hơn và có thể thay thế châm thông thường trong điều tr đau

vai gáy do thoái hóa cột sống cổ.

Từ khóa: Bụng châm, đau vai gáy, thoái hóa cột sống cổ

ABSTRACT

THE CLINICAL EFFICACY OF ABDOMINAL ACUPUNCTURE FOR NECK PAIN CAUSED

BY CERVICAL SPONDYLOSIS AT HUE CENTRAL HOSPITAL

Tran Thien An 1 , Nguyen Thi Tu Anh 1 , Doan Van Minh 2

Objective:

(one of acupuncture therapies) for neck pain caused by cervical spondylosis.

Methods: This research work was a controlled, parellel group comparison trial with randomization for

caused by cervical spondylosis.

Results: After 1 week from baseline, improvements of total three outcomes VAS, NPQ, SF-36 were

greater in abdominal acupuncture group than conventional acupuncture group After 2 weeks from baseline, improvements were parallel in both groups

Conclusions: Abdominal acupuncture was effective faster and could be substituted conventional

acupuncture in treatment for neck pain caused by cervical spondylosis.

Key words: Abdominal acupuncture, neck pain, cervical spondylosis

1 Khoa Y học c truyền, Bệnh viện

Trung ương Huế

2 Khoa Y học c truyền, trường Đại

học Y Dược Huế

- Ngày nhận bài (Received): 12/11/2018; Ngày phản biện (Revised): 3/12/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 25/12/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Trần Thiện Ân

- Email: tranthienanyhct@gmail.com; ĐT: 0985 847 806

Trang 38

Bệnh viện Trung ương Huế Hiệu quả của bụng châm trong điều trị đau vai gáy

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau vai gáy là một hội chứng thường gặp trong

số những hội chứng gây ra do Thoái hóa cột sống

cổ Tuy không gây tử vong nhưng bệnh có tính chất

dai dẳng, ngoài việc gây khó chịu cho bệnh nhân

còn ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, sinh hoạt

của người bệnh dẫn tới giảm năng suất lao động của

bản thân và toàn xã hội [1]

Để điều trị Đau vai gáy bên cạnh việc dùng các

thuốc kháng viêm giảm đau, vận động liệu pháp, vật

lý trị liệu phục hồi chức năng hay là các can thiệp

ngoại khoa thì liệu pháp châm được biết đến như là

một liệu pháp điều trị thay thế rẻ tiền, tiện lợi, an

toàn và hiệu quả [2]

Trong các liệu pháp châm thì Bụng châm đã

được dùng trong thực hành điều trị nhiều chứng

bệnh, đặc biệt là đau và các rối loạn của hệ thần

kinh [3] Đồng thời, qua thực hành lâm sàng điều

trị Đau vai gáy tại khoa Y học cổ truyền bệnh viện

Trung ương Huế, chúng tôi nhận thấy Bụng châm

không những có tư thế châm rất thuận lợi ít gây tai

biến vùng chẩm mà còn mang lại hiệu quả giảm đau

khá nhanh so với phương pháp châm sử dụng các

huyệt truyền thống

Nhằm mục đích cung cấp thêm bằng chứng liên

quan tới hiệu quả của Bụng châm trong điều trị đau

vai gáy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục

tiêu: Đánh giá hiệu quả của bụng châm trong điều

trị đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm tất cả bệnh nhân Đau vai gáy do thoái

hóa cột sống cổ vào điều trị tại khoa Y học cổ truyền

Bệnh viện Trung ương Huế từ 04/2017 đến hết

tháng 09/2018

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là Đau

vai gáy do Thoái hóa cột sống cổ có lâm sàng là hội

chứng cột sống cổ và hội chứng rễ thần kinh cổ; cận

lâm sàng Xquang cột sống cổ có hình ảnh thoái hóa cột sống

- Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS (thang 10 điểm) từ 3 điểm trở lên

- Không có tiền sử Bụng châm

- Tình nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có tiền sử chấn thương vùng cột sống cổ gây tổn thương xương và đĩa đệm; Đau vai gáy không phải do Thoái hóa cột sống cổ; Đau vai gáy có mắc các bệnh lý ác tính kèm theo

- Bệnh nhân có các chống chỉ định của liệu pháp châm hoặc có sử dụng các liệu pháp châm để điều trị Đau vai gáy trong vòng 4 tuần trước thời điểm nghiên cứu

- Bệnh nhân là phụ nữ có thai hoặc cho con bú

- Bệnh nhân không có khả năng để hoàn thành bảng câu hỏi nghiên cứu; từ chối tham gia nghiên cứu; không tuân thủ điều trị

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng giữa Bụng châm (nhóm nghiên cứu, nhóm B) và Thể châm (nhóm đối chứng, nhóm T)

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Bệnh nhân đáp ứng điều kiện nghiên cứu được phân một cách ngẫu nhiên vào nhóm Bụng châm (nhóm B) hoặc Thể châm (nhóm T) theo tỷ lệ 1:1 bằng phần mềm xếp ngẫu nhiên cho thử nghiệm ngẫu nhiên tương đương nhóm [4]

2.2.3 Phương pháp can thiệp

Nhóm nghiên cứu được áp dụng phương pháp Bụng châm, một kỹ thuật châm chỉ tác động vào các huyệt vùng bụng để điều trị bệnh được nghiên cứu và phát triển bởi Tiến sĩ Zhiyun Bo [3] theo công thức huyệt: Trung quản, Hạ quản, Khí hải, Quan nguyên, Thương khúc, Hoạt nhục môn.Nhóm đối chứng được áp dụng phương pháp châm theo phác đồ chuẩn của Quy trình kỹ thuật điện châm điều trị đau vai gáy do Bộ Y tế ban hành [5]

Trang 39

Cả 2 nhóm đều được châm liên tục trong vòng 2

tuần với tổng số lần châm là 14 lần

2.2.4 Đánh giá kết quả

Đánh giá mức độ đau vai gáy và hiệu quả giảm

đau dựa vào thang điểm đau VAS Thang điểm đau

VAS được cho điểm từ 0 (tương đương với không

đau) tới 10 (tương đương với đau không chịu nổi)

[6] VAS được ghi nhận tại thời điểm ngay trước

khi điều trị (T0) và 1 tuần (T7), 2 tuần (T14) sau điều

trị Ngoài ra VAS còn được sử dụng như là một

tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân vào nghiên cứu với

những bệnh nhân được chọn phải có VAS từ 3 điểm

trở lên

Đánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như mức độ

cải thiện chức năng sinh hoạt dựa vào bộ câu hỏi

Northwick Park Neck Pain Questionnaire (NPQ)

NPQ được dùng để đánh giá ảnh hưởng chức năng

sinh hoạt của bệnh nhân đau vai gáy bao gồm 9 câu

hỏi: cường độ đau, đau và giấc ngủ, dị cảm tay về

đêm, thời gian kéo dài các triệu chứng, mang xách

đồ vật, đọc sách hoặc xem tivi, làm việc nhà, tham

gia các hoạt động xã hội, lái xe hơi Mỗi câu trả lời

được cho điểm từ 0 - 4 Tổng điểm thu được có giá

trị tối đa là 36 Ở đây chúng tôi bỏ câu hỏi số 9 là

câu hỏi về chức năng lái xe cho phù hợp với điều

kiện kinh tế của người Việt Nam đa phần là chưa

có ô tô riêng Điểm NPQ được quy đổi thành thang

điểm 100 theo công thức NPQs = S/32x100 (trong

đó NPQs là điểm ảnh hưởng chức năng sinh hoạt

NPQ, S là tổng điểm của các câu trả lời), điểm càng

cao thì tương đương với hạn chế chức năng càng

nhiều [7] Đối với cả 2 nhóm, điểm NPQ được ghi

nhận tại thời điểm ngay trước khi can thiệp (T0) và

1 tuần (T7), 2 tuần (T14) sau can thiệp

Đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát theo

thang điểm Short Form 36 Health Survey (SF-36)

SF-36 là bộ câu hỏi dùng để đánh giá tình trạng

sức khỏe tổng quát bao gồm cả thể chất và tinh

thần của bệnh nhân, điểm SF-36 được quy đổi

thành thang điểm 100 theo công thức SF-36s =

(S-36)/113x100 (trong đó SF-36s là điểm sức khỏe

tổng quát theo SF-36, S là tổng điểm thu được của các câu trả lời) với điểm càng cao tương ứng với sức khỏe của người được khảo sát càng tốt [7] Đối với cả 2 nhóm, điểm SF-36 được ghi nhận tại thời điểm ngay trước khi can thiệp (T0) và 1 tuần (T7),

2 tuần (T14) sau can thiệp

Đánh mức độ tín nhiệm điều trị ở cả 2 nhóm, sử dụng thang điểm đo lường mức độ tín nhiệm được nghiên cứu và phát triển bởi Borkovec và Nau [8] Thang tín nhiệm được cho điểm từ 0 đến 6 điểm trên thang điểm Likert, với điểm càng cao thì mức độ tín nhiệm càng cao [9] Điểm tín nhiệm được ghi nhận tại thời điểm bắt đầu điều trị (T0) và 1 tuần (T7), 2 tuần (T14) sau điều trị

2.2.5 Xử lý số liệu

Các kết quả thu được trong nghiên cứu được phân tích, xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học, sử dụng phần mềm SPSS 20.0

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều hoàn toàn tự nguyện

- Tất cả bệnh nhân đều được theo dõi sát trong quá trình nghiên cứu Những bệnh nhân từ chối hoặc

từ bỏ không tham gia nghiên cứu, bệnh nhân sau đợt điều trị 2 tuần mà không có đáp ứng tốt đều được hội chẩn, tư vấn liệu trình điều trị khác phù hợp

- Nghiên cứu cũng đã được hội đồng Khoa học

và Đạo đức của Bệnh viện Trung ương Huế xét duyệt, cho phép thực hiện

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2017 đến hết tháng 9/2018, có tất cả 90 bệnh nhân đau vai gáy đến khám và điều trị tại khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Trung ương Huế Trong đó có 72 bệnh nhân

đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu, được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm B (nhóm Bụng châm, n = 36) hoặc nhóm T (nhóm Thể châm, n = 36) Tất cả 72 bệnh nhân đều theo đuổi hết liệu trình điều trị trong

2 tuần Kết thúc đợt điều trị, thu được các kết quả như sau

Trang 40

Bệnh viện Trung ương Huế Hiệu quả của bụng châm trong điều trị đau vai gáy

3.1 Một số đặc điểm chung

Bảng 1 Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Đặc điểm nhóm nghiên cứu (n = 72) Chung Nhóm B (n = 36) Nhóm T (n = 36) p

Tuổi, trung bình năm (SD) 63,8 (17,9) 64,1 (18,5) 63,5 (17,6) >0,05

Kiểu đau vai gáy, n (%)

- Đau lan lên vùng chẩm 25 (34,4) 13 (35,1) 12 (33,3) >0,05

3.2 Đánh giá kết quả điều trị

3.2.1 Cải thiện về mức độ đau theo VAS sau điều trị ở 2 nhóm

Bảng 2 Điểm đau theo VAS của 2 nhóm trước và sau điều trị

3.2.2 Mức cải thiện chức năng sinh hoạt theo NPQ sau điều trị ở cả 2 nhóm

Bảng 3 NPQ của 2 nhóm trước và sau điều trị

3.2.3 Mức cải thiện về sức khỏe tổng quát theo SF-36 sau điều trị ở 2 nhóm

Bảng 4 SF-36 của 2 nhóm trước và sau điều trị

Ngày đăng: 07/08/2020, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w