LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Sự tham gia của người dân vào Chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, Tp.. Khen thưởng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THANH THẢO
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO CHƯƠNG TRÌNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI NGUỒN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG 13 QUẬN 11 TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
KHOA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO CHƯƠNG TRÌNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI NGUỒN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG 13 QUẬN 11 TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số : 8340404
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH CÔNG KHẢI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Sự tham gia của người dân vào Chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, Tp Hồ Chí Minh” là nghiên cứu do tôi tự thực hiện, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Đinh Công Khải
Các tham khảo trong luận văn được trích dẫn rõ tên tác giả, tên công trình Các số liệu do tôi thu thập thực tế trên địa bàn nghiên cứu, có tính trung thực và độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Học viên thực hiện
Nguyễn Thanh Thảo
Trang 4CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.4 Kinh nghiệm phân loại chất thải rắn sinh hoạt một số nước trên thế giới và thực trạng quản lý, phân loại chất thải rắn tại Việt Nam 13 2.4.1 Kinh nghiệm phân loại chất thải rắn sinh hoạt một số nước trên thế giới 13 2.4.2 Hiện trạng quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 15
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 53.3 Nghiên cứu chính thức 22
3.3.2 Công cụ thu thập thông tin, bảng hỏi 23
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đặc điểm địa bàn và dân cư Phường 13 Quận 11 25 4.1.2 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và tình hình thực hiện chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn phường
25
4.1.2.1 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường 25 4.1.2.2 Tình hình thực hiện chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn phường
25
4.2.2 Sự tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tiếng Việt
CTR Chất thải rắn CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt CTRSHTN Chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn UBND Ủy ban nhân dân
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
ĐTN Đoàn thanh niên CCB Cựu chiến binh UB.MTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc LHPN Liên hiệp phụ nữ
TM&MT Tài nguyên và môi trường BĐH KP Ban điều hành khu phố
Trang 7Hình 4.1 Tỷ lệ người dân biết đến chương trình phân loại CTRSHTN 31 Hình 4.2 Tỷ lệ người dân biết đến chương trình phân loại CTRSHTN qua các hình thức
32
Hình 4.3 Tỷ lệ người dân được mời tham gia họp tổ dân phố 32 Hình 4.4 Tỷ lệ người dân được triển khai cách thức thực hiện phân loại CTRSH
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện phân loại rác tại nguồn ở TPHCM năm 2016 17
Bảng 4.4 Kết quả khảo sát về trình độ học vấn 28 Bảng 4.5 Kết quả khảo sát về nghề nghiệp 29 Bảng 4.6 Kết quả khảo sát về sở hữu thiết bị thu gom, phân loại rác 29 Bảng 4.7 Kết quả khảo sát về lượng rác thải hộ dân thải ra hằng ngày 30 Bảng 4.8 Kết quả khảo sát tham gia lực lượng tuyên truyền viên và trách nhiệm của cá nhân
Trang 9DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 4.1 Việc tuyên truyền, phổ biến chương trình phân loại CTRSHTN 33 Hộp 4.2 Khen thưởng người dân thực hiện chương trình phân loại CTRSHTN 41
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tiêu đề: Sự tham gia của người dân vào Chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, Tp Hồ Chí Minh
Tóm tắt:
Thành phố Hồ Chí Minh, đô thị lớn của Việt Nam, đang trên đà phát triển không ngừng trên lĩnh vực tất các các lĩnh vực của đời sống Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa cũng đang dẫn đến những hậu quả và một trong những vấn đề đó là môi trường Nguyên nhân là do quản lý chất thải rắn chưa hiệu quả và thiếu tính bền vững Chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được triển khai nhằm quản lý chất thải rắn, đảm bảo tính bền vững cho môi trường
Để đảm bảo tính bền vững trong quá trình quản lý chất thải rắn, bên cạnh những vấn
đề kinh tế - tài chính, kỹ thuật, thể chế - chính sách thì yếu tố “tham gia của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có những giải pháp hiệu quả cho quá trình quản lý chất thải rắn nói chung
Đề tài đã triển khai khảo sát về các mức độ tham gia của người dân thông qua 151 phiếu khảo sát Qua đó đề tài đã sử dụng lý thuyết về sự tham gia để đánh giá các mức độ tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13, Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó
đề xuất, khuyến nghị những giải pháp nhằm phát huy sự tham gia của người dân vào chương trình này, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
Từ khóa: Sự tham gia của người dân, phân loại rác thải
Trang 10The research distributed 151 questionnaires to analyze Citizen Participation
in solid waste sorting program at source Thereby, the research used the theory of participation to evaluate the level of Citizen Participation in The Solid Waste Treatment Program At Source in Ward 13, District 11, HCMC Since then, the research proposed and recommended solutions to promote Citizen Participation in this program, aiming at the overall sustainable development of the city
Keywords: Citizen Participation, Waste Treatment.
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề:
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ Cùng với sự gia tăng về quy mô và số lượng các ngành nghề sản xuất, sự hình thành các khu dân cư tập trung, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu và năng lượng cũng ngày càng tăng Sự gia tăng đó đã tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ này là việc thải ra một lượng lớn chất thải vào môi trường, đặc biệt là chất thải rắn như chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại,
Theo báo cáo tháng 8 năm 2018 về xử lý chất thải rắn của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, hằng ngày, thành phố Hồ Chí Minh thải ra khoảng trên 10.000 tấn chất thải rắn/ngày trong đó khoảng 8.000 - 8.500 tấn chất thải rắn sinh hoạt/ngày đêm, khoảng 1.500 - 2.000 tấn chất thải rắn xây dựng/ngày đêm và sẽ còn tiếp tục tăng từ 7% - 15% mỗi năm Vì vậy, nếu chất thải không được phân loại, tăng tỷ lệ chất thải tái chế, sẽ là áp lực rất lớn cho hoạt động xử lý chất thải Nếu tiếp tục đem chất thải chôn lấp như hiện nay thì các bãi tiếp nhận sẽ không còn khả năng tiếp nhận trong khi đó nhà máy xử lý chất thải thành sản phẩm có lợi cho môi trường thì thiếu nguyên liệu sản xuất Hiện nay, tại các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha, đã và đang áp dụng khá thành công chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn nhằm giảm thiểu khối lượng chất thải rắn phát sinh và giúp cho công tác xử lý chất thải rắn phát triển (tái sinh, tái chế, làm phân bón,…) Đây được xem là chương trình tiên tiến và hiệu quả nhất từ trước đến nay Tại Việt Nam, trong những năm qua, cũng đang thực hiện thí điểm chương trình này ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh nhưng kết quả còn
ở mức khiêm tốn, sự tham gia của người dân trong việc tự giác thực hiện việc phân loại tại nguồn chưa cao, các tổ chức chính trị xã hội chưa thật sự năng động trong việc tuyên truyền nâng cao ý thức và hình thành thói quen của người dân
Trang 12Chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn ở Quận 11 được triển khai từ năm 2017 trong đó thí điểm tổ chức tại 01/16 phường của quận và từ tháng 01 năm 2018 Ủy ban nhân dân Quận 11 chọn 4 phường để tiếp tục thí điểm thực hiện chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trong đó có Phường 13 Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh Rút kinh nghiệm từ việc triển khai thực hiện thí điểm tại 01 phường của quận, chính quyền và đoàn thể Phường 13 đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn, triển khai truyền thông bằng nhiều hình thức, tuy nhiên đến tháng 12 năm 2018 thì triển khai chương trình đạt hiệu quả chưa cao, ý thức tham gia của người dân chưa cao, hiệu quả lan tỏa chương trình không đồng đều Nguyên nhân chủ yếu do thói quen của cộng đồng, người dân chưa có ý thức tự giác và chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt; các tổ chức chính trị đoàn thể, trưởng các khu phố, tổ dân phố và cộng tác viên tuyên truyền chưa thật sự sâu sát, năng động trong công tác tuyên truyền, tổ chức phân loại chất thải rắn chưa đồng bộ từ trên xuống việc phân loại chất thải rắn chủ yếu tập trung ở người dân trong khi đó các đơn vị thu gom rác chưa thực hiện phân loại và thiếu cơ sở hạ tầng để thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế; không có chế tài xử phạt đối với hành vi không thực hiện phân loại rác hoặc khen thưởng đối với người thực hiện tốt, thiếu mô hình điển hình để nhân rộng, bên cạnh đó cũng do sau khi kết thúc thí điểm chương trình thì toàn bộ chi phí thực hiện việc phân loại
do người dân chi, Do đó, vấn đề tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt cần phải được quan tâm và có phương pháp thích hợp phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, vì thế việc thực hiện đề tài “Sự tham gia của người dân vào Chương trìnhiphân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, Tp Hồ Chí Minh” là cần thiết
1 2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng mức độ tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt
- Đề xuất giải pháp thu hút người dân tham gia vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt
Trang 131 3 Câu hỏi nghiên cứu:
Người dân tham gia vào thực hiện chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn hiện nay như thế nào? Thực trạng và nguyên nhân?
Giải pháp nào để tăng cường sự tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Phường 13, Quận 11, Tp Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát: là những người dân trên địa bàn Phường 13, Quận 11,
Tp Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Phường 13 Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh
+ Về thời gian: Từ tháng 01/2019 đến tháng 6/2019
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp (định tính và định lượng), với trình tự các bước như sau:
- Tham khảo ý kiến đóng góp của các chuyên gia để xây dựng, hiệu chỉnh bảng hỏi khảo sát đưa vào nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng
- Tiến hành lấy phiếu khảo sát ý kiến của người dân tại Phường 13 Quận 11
để đánh giá thực trạng việc tham gia của người dân trong chương trình phân loại CTRSHTN
Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách thu thập thông tin trực tiếp thông qua cách phát bảng câu hỏi cho các đối tượng nghiên cứu và có những trao đổi, giải thích cần thiết cho người được khảo sát Sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện
Sau đó sẽ sử dụng công cụ phân tích thống kê mô tả nhằm đánh giá mức độ tham gia của người dân
1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm có 05 Chương với các nội dung như sau:
Trang 14Chương 1: Giới thiệu đề tài: Trình bày lý do tác giả chọn đề tài, bối cảnh
nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày tổng quan về cơ
sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm về sự tham gia của người dân và các nghiên cứu có liên quan rút ra mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách
chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Trình bày phân tích, diễn giải kết quả thu
thập được từ cuộc khảo sát
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, kiến
nghị những giải pháp gia tăng sự tham gia của người dân đối với chương trình phân loại CTRSHTN; đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn
Trang 15CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Về sự tham gia (Participation):
Tham gia là sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lực của các chương trình phát triển (Cohen và Uphoff, 1977)
Sự tham gia cũng là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ (Florin vàiWandersman, 1990)
Tổ chức Y tế Thế giới (ICE, 2001) cho rằng sự tham gia có thể là một yếu tố nguồn cho sự hiểu biết rõ hơn của một vấn đề tác động đến quyết định và môi trường sống của cá nhân trong khu vực Tuy nhiên, Van de Valde và cộng sự (2010) lại cho rằng sự tham gia là quá trình tham gia trong một hoạt động của cuộc sống hoặc là quá trình trải qua các hoạt động theo sự thấu hiểu vấn đề mà trong thực tế khu vực họ đang sống
2.1.2 Sự tham gia của người dân
Sự tham gia của người dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào hoạt động, mức độ… mà người dân tham gia Theo Florin và Wandersman (1990) cho rằng sự tham gia của ngườiidân là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ
Choguilli (1996) cho rằng sự tham gia của người dân không chỉ là một phương tiện để người dân có thể tác động đến các quyết định trên chính trường về các vấn đề ảnh hưởng đến họ mà còn là một phương tiện để đạt được lợi ích cộng đồng, cá nhân thông qua các sáng kiến hỗ trợ lẫn nhau và có thể với sự trợ giúp từ bên ngoài là chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ
Harding và cộng sự (2009) đã phân tích khái niệm “sự tham gia của cộng đồng” theo hai thuật ngữ thành phần “sự tham gia” và “cộng đồng” “Sự tham gia”
Trang 16đặc biệt trong lĩnh vực môi trường được hiểu là quá trình đối thoại giữa cộng đồng
và người ra quyết định, giữa một bên là cá nhân, nhóm tổ chức và một bên là “nhóm chính quyền” trong việc thảo luận và ra các quyết định môi trường Thuật ngữ
“cộng đồng” bao gồm tất cả các chủ thể đóng góp hay bị ảnh hưởng bởi quyết định môi trường, bao gồm những người hoạch định chính sách, chuyên gia, doanh nhân, các cá nhân thụ hưởng, tổ chức dân sự và nhóm người dân Như vậy, cộng đồng được hiểu là một khái niệm có nội hàm khá rộng, bao gồm tất cả các thành viên cùng sinh sống trong một khu vực địa lý, có những đặc điểm chung về lối sống và các điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa, chính trị
Sách Institute for Social Participation and Health Issues Centre của La Trobe University (2011) cho rằng sự tham gia của xã hội được xem là quá trình tham gia của người tiêu dùng, xuất phát từ người tiêu dùng kết nối hòa nhập với xã hội và các hoạt động dựa trên lợi ích của người tiêu dùng Theo nội dung của sự tham gia xã hội, ba thành phần trung tâm trong mô tả về sự tham gia của xã hội cho phép mọi người dân được thực hiện các mức đo trong sự tham gia xã hội để tự đánh giá; các yếu tố có liên quan đến các khái niệm về lợi ích xã hội, hòa nhập xã hội và quyền con người của cá nhân để thực hiện các mức đo tự xác định của sự tham gia trong tất cả các khía cạnh của xã hội và trách nhiệm của xã hội để cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc các hoạt động được đề xuất
Theo Scand (2013) thì khái niệm về sự tham gia của xã hội có tính tương đồng và tương quan với sự tham gia và đồng thời liên quan đến khái niệm về các vấn đề của tham gia xã hội, hòa nhập xã hội hoặc các hoạt động của xã hội
Cuối cùng, sự tham gia của người dân đóng một vai trò quan trọng trong quản lý công, sự tham gia của xã hội chủ yếu tập trung vào mức độ tham gia của người dân đó như thế nào vào các hoạt động cung cấp và có tương tác như thế nào với người khác trong xã hội hoặc trong cộng đồng sinh sống Sự tham gia của người dân còn được nhấn mạnh rằng là sự tham gia có thể nhìn thấy trên một hoạt động liên tục từ tương đối thụ động đến rất tích cực và cho rằng sự tham gia của người dân có thể được trên cơ sở tự nguyện hoặc là bắt buộc
Trang 172.2 Mức độ tham gia của người dân
Theo nghiên cứu của Arntein (1969, 1971) thì sự tham gia của người dân có
08 mức độ có xu hướng mở rộng dần của quyền lực công dân trong việc định đoạt sản phẩm cuối cùng: từ việc tham gia bị thay thế bởi người nắm giữ quyền lực tới việc công dân được trao quyền quản lý đầy đủ; cụ thể:
(5) Động viên – khen thưởng Có sự chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa các bên có liên quan Các bên có trách nhiệm trong việc lên kế hoạch và ra quyết định trong quá trình thực hiện công việc Người dân thể hiện quyền lực bằng cách bầu ra một ủy ban để thực hiện chương trình hoặc những ý kiến đóng góp của người dân được lắng nghe và ghi nhận
(6) Hợp tác – người dân và nhà cầm quyền cùng phối hợp và cả hai đều phải
có trách nhiệm về việc lên kế hoạch, ra quyết định
(7) Ủy quyền Người dân nắm đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định cao hơn các bên có liên quan khác thông qua việc đàm phán Do có quyền cao hơn nên người dân phải chịu trách nhiệm trong các quyết định của mình
(8) Người dân kiểm soát, có quyền ra quyết định Đến giai đoạn này, người dân khởi xướng công việc nhằm giải quyết nhu cầu của họ, đồng thời huy động nguồn lực để thực hiện dự án Ở nấc thang này, người dân thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý một chương trình
Trang 18Ở nấc thang dưới cùng, người dân không tham gia vào bất cứ hoạt động nào của chương trình, đây chỉ là bước vận động để có thể lôi kéo, thu hút người dân tham gia vào chương trình mà chắc chắn tại bước này họ sẽ nhận được lợi ích Ở ba nấc thang tiếp theo, mặc dù chỉ là hình thức, nhưng người dân đã nhận thức được lợi ích từ chương trình, từ đó từng bước tham gia vào các hoạt động: Từ cung cấp thông tin một chiều thông qua khảo sát của chính quyền đến việc tham vấn, đưa ra các ý kiến về vấn đề tại địa phương Ở ba nấc thang cao nhất, người dân thực sự là chủ thể của chương trình, từ việc hợp tác đến ủy quyền thực hiện và trực tiếp quản
lý Thang đo này được mô tả như sau:
Hình 2.1 Thangiđo về sự thamigia của ngườiidân theo Arntein
Nguồn: Arntein (1969, 1971)
Theo nghiên cứu của Andre và Lanmafankpotin (2012), tùy vào nhận thức, văn hóa và điều kiện địa lý của từng vùng khác nhau mà mức độ tham gia của người dân vào công việc phát triển cộng đồng thể hiện ở các mức độ khác nhau và được chia thành 6 mức độ theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao như sau:
Cungicấp thôngitin
Thamigia mang tính hình thức
Liệuipháp
Vận động Không thamigia
Sự thamigia của ngườiidân Người dân quản lý
Trang 19(1) Tham gia thụ động (Passive Participation): Tham gia một cách bị động, thực hiện theo sự chỉ bảo, không chủ động tham gia vào quá trình ra quyết định
(2) Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributor): Người dân tham gia trả lời các câu hỏi điều tra, không tham gia vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin
(3) Tham gia như nhà tư vấn (Participationias consultans): Người dân được tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề
(4) Tham gia trong việc thực hiện (Participationiin Implemetation): Người dân lập nhóm để thực hiện chương trình nhưng không tham gia ra quyết định
(5) Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participationiin decision – marking): Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và tham gia vào quá trình ra quyết định
(6) Tham gia tự nguyện (self – mobilization): Người dân thực hiện, không có
sự hỗ trợ, định hướng từ bên ngoài
Hình 2.2 Những mứciđộ thamigia của người dânitheo Andreivà Lanmafankpotin
Nguồn: Andre và Lanmafankpotin (năm 2012)
Thamigia thôngiqua việc cungicấp thông tin
Thamigia như nhàitư
Trang 20Hoặc theo Dower (1996) chia mức độ tham gia của người dân thành 5 cấp độ
từ thấp đến cao, mức độ càng cao thì vai trò, trách nhiệm của cộng đồng càng được đòi hỏi nhiều hơn Được mô tả như sau:
Hình 2.3 Những mứciđộ thamigia của ngườiidân theo Dower
Nguồn: Dower (năm 1996)
(1) Thông tin: Đây là bước thúc đẩy sự tham gia, có vai trò cung cấp các thông tin cho những bên liên quan, tuy nhiên chỉ mang tính một chiều và chưa có sự phản hồi từ phía các bên có liên quan
(2) Tư vấn: Ở giai đoạn này, thông tin được cung cấp cho các bên có liên quan thông các việc tổ chức họp khu dân cư, khảo sát ý kiến của cộng đồng và người đứng ra tổ chức sẽ lắng nghe ý kiến, khó khăn và nhu cầu của cộng đồng Nhưng giai đoạn này chỉ mang tính chất tham khảo, người dân không được tham gia vào quá trình ra quyết định
(3) Tham gia: Người dân tham gia thụ động với động cơ vật chất, theo hợp đồng hoặc chức năng
(4) Hợp tác: Ở giai đoạn này, quyền lực được chia cho cả người dân và chính quyền, cả hai đều phải có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và quyết định
(5) Trao quyền: Người dân tự xác định các vấn đề, tìm tòi các giải pháp, chính sách nhằm giải quyết vấn đề Các tác nhân bên ngoài chỉ giữ vai trò xúc tác,
hỗ trợ năng lực cho người dân
TraoiquyềnHợpitác Thamigia
Tưivấn Thôngitin
Trang 21Theo ADB (2013), thì bên cạnh những lợi ích về mặt quản lý, sự tham gia có thể có nhiều lợi ích khác nhau như sau: Nâng cao tính bền vững về mặt chương trình và khả năng thu hồi chi phí; tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn lực, khuyến khích cộng đồng đóng góp lao động và vật chất, các lợi ích có thể được phân chia bình đẳng hơn, mặc dù vẫn có nguy cơ tước đoạt bởi các lợi ích cục bộ;
có thể giảm thiểu những rào cản thông tin giữa các cơ quan chính phủ và nhân dân, đem lại những thông tin phản hồi hữu ích của người sử dụng dịch vụ công cộng; có thể giúp làm tăng việc sử dụng hàng hóa công cộng; một số thiết kế công cộng được phát triển trong quá trình thiết kế và thực hiện dự án có thể tiếp tục phát huy tác dụng, ngay cả sau khi dự án đã được hoàn thành; nâng cao khả năng thiết kế dự án bằng cách cho phép những người thiết kế dự án sử dụng tối đa kiến thức về điều kiện kỹ thuật của địa phương và những điều kiện khác, làm cho dự án thích nghi với
tổ chức xã hội; tránh được những hậu quả xấu của việc không tham khảo ý kiến của những người thụ hưởng dự án
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước
Xét về góc độ lý luận, nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra các phương diện của khái niệm “quản lý rác thải” và “quản lý rác thải bền vững” Những nghiên cứu này đều chỉ ra sự cần thiết của một tiếp cận tổng hợp và có tính
hệ thống đối với hoạt động rác thải (Hoffman & Muller, 2001; Seadon, 2010) Các nghiên cứu đã phân tích thực trạng quản lý rác thải chưa hiệu quả tại các nước đang phát triển, như sự xuất hiện của nhiều bãi rác lộ thiên, lượng rác thải ngày càng tăng
do đô thị hóa và gia tăng dân số nhưng quá trình thực hiện chưa hiệu quả nên số rác thải không được thu gom hết Bên cạnh đó, công tác xử lý rác thải còn chưa khoa học, gây ảnh hưởng ô nhiễm môi trường và cộng đồng dân cư Nhiều nhóm giải pháp đã được đưa ra để giải quyết những khó khăn, thách thức trên Tác giả Ozkan (2010) nhấn mạnh giải pháp từ cộng đồng và đề cao vai trò của các hộ gia đình với
tư cách là chủ thể thải rác, trong đó vai trò của người dân là chủ động tham gia chứ không phải bị động thực hiện do chịu sự quản lý của pháp luật Còn theo Joseph (2006); Lin và cộng sự (2010) thì sự tham gia của cộng đồng là con đường chính
Trang 22cho quản lý rác thải bền vững và đóng một vai trò quan trọng trong quản lý xung đột môi trường thu hẹp khoảng cách giữa chính phủ và nhân dân Công dân được thông tin tốt hơn và sống trong một cộng đồng/gia đình có các hành vi thân thiện với môi trường hơn có xu hướng tham gia quản lý chất thải bền vững hơn
Tại Việt Nam, quản lý rác thải là một vấn đề quan tâm của người nghiên cứu
và các nhà quản lý, hoạch định chính sách, môi trường Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Thanh và cộng sự (2010) đánh giá thực trạng quản lý rác thải tại Việt Nam và chỉ ra những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý rác thải, do công nghiệp hóa tăng nhanh và đô thị hóa không kiểm soát, rác thải rắn không được phân loại tại nguồn thải rác, bãi rác Dựa trên những vấn đề phát sinh trong quản lý rác thải tại đô thị, một số tác giả đề ra các giải pháp khắc phục, như phân loại rác tại nguồn, nâng cao ý thức cộng đồng, cải thiện các chính sách, thể chế xử phạt đối với các hành vi không thân thiện với môi trường (Ngô Kim Chi và Phạm Quốc Long, 2011; Nguyễn Đức Khiển và cộng sự, 2010) Những nghiên cứu này cũng chỉ ra vai trò quan trọng của cộng đồng và nhóm dân cư có trình độ nhận thức, kỹ năng tập huấn
Nghiên cứu của Phùng Khánh Chuyên và Ngô Văn Thụy Cẩm (2010) xây dựng mô hình PLRTN trong trường học tại thành phố Đà Nẵng Các kết quả chính bao gồm khối lượng và thành phần chất thải rắn trong trường học, hiện trạng quản
lý và thu gom rác trong trường học, đánh giá kiến thức và nhận thức của học sinh về rác thải và phân loại rác tại nguồn Bài báo đã thiết kế một số hình thức tuyên truyền dựa trên nhu cầu của học sinh như đĩa CD, tờ rơi, cẩm nang và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến kiến thức, nhận thức và hành động của học sinh Dựa vào các kết quả trên, bài báo xây dựng mô hình PLRTN tại trường học
Nghiên cứu của Ngô Đức Tuấn (2018) về “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy: (1) các nhân tố về thái độ và nhận thức của người dân về hành động thiết thực và nhận thức về việc cần tăng cường các thông tin tuyên truyền và được lắng nghe ý kiến có tương quan dương với hành vi thực sự của người dân trong công tác phân loại tại nguồn; và (2) quan ngại của người dân về
Trang 23thời gian - kinh phí cũng như những ý kiến của người thân có sức ảnh hưởng nếu tiêu cực sẽ có tương quan âm với hành vi thực sự của người dân trong công tác phân loại tại nguồn
2.4 Kinh nghiệm phân loại chất thải rắn sinh hoạt một số nước trên thế giới và thực trạng quản lý, phân loại chất thải rắn tại Việt Nam
2.4.1 Kinh nghiệm phân loại chất thải rắn sinh hoạt một số nước trên thế giới
Ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra là vấn đề đáng quan tâm bởi nó không những gây mất mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Do đó, việc quản lý chất thải rắn là việc cần thiết Tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân
số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó mà lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ở mỗi nước là khác nhau Theo xu hướng chung của thế giới thì khu vực có mức độ đô thị hóa càng cao, mức sống của người dân càng cao thì khu vực đó lượng chất thải phát sinh càng nhiều Trên thế giới đã áp dụng nhiều cách xử lý rác thải khác nhau như: công nghệ sử dụng nhiệt, sinh học, Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế thường kéo theo mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tính theo đầu người tăng lên, chi phí quản lý rác thải tăng cao, nhất là ở quốc gia đang phát triển có thể lên đến 50% ngân sách Sự thành công của việc phân loại chất thải rắn ở các nước trên thế giới là kết quả của 3 yếu tố có liên quan mật thiết với nhau:
(1) Sự tham gia của cộng đồng: Công tác thu gom và xử lý rác thải nói riêng, công tác bảo vệ môi trường nói chung chỉ được giải quyết một cách ổn thỏa khi có
sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng Sự tham gia thể hiện ở việc xác định các vấn đề, các biện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề môi trường do rác thải gây ra Sự tham gia của cộng đồng còn có nghĩa là tăng quyền làm chủ và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho mọi người được quyền sống trong môi trường trong lành, sạch đẹp và được hưởng các lợi ích
do môi trường đem lại Để làm được việc này, các nước trên thế giới đã trải qua quá trình kiên trì vận động, tuyên truyền và thậm chí cưỡng chế người dân tiến hành phân loại rác thải tại nguồn
Trang 24Nhiều nước đã đưa vào chương trình giáo dục phổ thông kiến thức về môi trường, về thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt Trong đó, đặc biệt là việc sử dụng phương pháp giáo dục trẻ em thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại các trường tiểu học Bên cạnh chương trình bài giảng, các thầy cô giáo có rất nhiều tranh vẽ và giáo cụ trực quan về trẻ em tham gia thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt trên đường phố, tại gia đình Chính vì vậy, khi các em lớn, ra đời, việc giữ gìn vệ sinh, vứt rác đúng chỗ, đúng thùng phân loại không chỉ là ý thức mà còn là thói quen hàng ngày Các chuyên gia nước ngoài đều khẳng định đây là chương trình giáo dục tuyên truyền hiệu quả nhất, bền vững nhất và không thể thiếu trong các trường học
(2) Sự đầu tư thỏa đáng của nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải sinh hoạt để đủ năng lực tiếp nhận, tiếp tục phân loại và tái chế rác thải đã được phân loại sơ bộ tại nguồn được các nước quan tâm, đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của chương trình phân loại CTRSHTN
(3) Xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, có nhiệt tình, nhiệt tâm trong việc tình nguyện khuyến cáo, vận động cộng đồng thu gom, phân loại rác thải tại nguồn
Ở Đức, tất cả các bang, các khu đô thị, dân cư đều có các cơ quan, công ty khuyến cáo, tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói chung và đặc biệt là vấn đề thu gom, phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt Họ xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau như: Sáng tạo ra thùng phân loại rác với màu sắc, ký hiệu rõ rệt, đẹp, hấp dẫn, dễ phân biệt; áp phích, tờ rơi, thùng, túi đựng các loại rác thải được trình bày tùy vào đối tượng tuyên truyền; sử dụng vật liệu chứa rác thải thu gom, phân loại theo mẫu mã, màu sắc, in chữ đồng nhất ở mỗi vùng, địa phương…
Có thể nói, sự thành công của chương trình phân loại CTRSHTN ở các nước trên thế giới đều có đặc điểm là chương trình được xây dựng chung và thực hiện đồng bộ từ chính phủ trung ương đến các tỉnh thành địa phương trong sự kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan hành chính quản lý nhà nước Các văn bản pháp quy được chuẩn bị đầy đủ và chuyên nghiệp; có sự hỗ trợ từ trung ương đến địa phương;
Trang 25người dân có trình độ dân trí cao và hợp tác tốt với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước do đối thoại minh bạch; các tổ chức phi chính phủ và xã hội hoạt động mạnh và đồng bộ; chí phí cho chương trình
2.4.2 Hiện trạng quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đô thị hóa và dân số tăng nhanh là nguyên nhân chính dẫn đến lượng rác thải ngày càng tăng Tại các khu đô thị lớn, tập trung dân cư nhiều nhưng vấn đề quản lý chưa chặt chẽ thì mức độ ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra thường cao hơn gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép Khối lượng CTR phát sinh đã tăng nhanh chóng về số lượng với thành phần ngày càng phức tạp gây khó khăn cho công tác thu gom, xử lý Ước tính lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị trên toàn quốc tăng 10%
- 16% mỗi năm, chiếm phần lớn trong tổng lượng CTR phát sinh ở các đô thị Chỉ
số phát sinh chất thải cũng gia tăng theo cấp độ đô thị, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… Công tác thu gom CTR đã được quan tâm, tuy nhiên do năng lực thu gom còn hạn chế, ý thức của người dân chưa cao, việc phân loại tại nguồn mới thực hiện thí điểm, chưa được áp dụng rộng rãi Tỷ lệ xử lý CTR đô thị cũng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Phần lớn CTR thông thường vẫn được đổ thải và chôn lấp tại các bãi chôn lấp
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017, cả nước có khoảng
660 bãi chôn lấp CTR sinh hoạt (chưa thống kê đầy đủ các bãi chôn lấp nhỏ rải rác
ở các xã) với tổng diện tích 4.900 ha, trong đó có 203 bãi chôn lấp hợp vệ sinh Công tác quản lý, xử lý CTR ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa được chú trọng Điều này dẫn đến khối lượng CTR phải chôn lấp cao, tại một số khu vực, chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất của con người
Trang 26* Công tác phân loại chất thải rắn tại Việt Nam
Đối với rác thải sinh hoạt đô thị: Công tác phân loại CTRSHTN tại được thực hiện thí điểm ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng từ nhiều năm trước Tuy nhiên, một số chương trình mới dừng lại ở mức thí điểm, ở phạm vi hẹp, chưa được triển khai nhân rộng Riêng tại thành phố
Hồ Chí Minh, chương trình phân loại rác đã được triển khai thí điểm nhiều lần và gần đây đã được nhân rộng đồng loạt tại 24 quận, huyện trên địa bàn thành phố Báo cáo của Sở TN&MT thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, chương trình đã có kết quả khá tốt và có sức lan tỏa mạnh mẽ
Đối với rác thải sinh hoạt nông thôn: Việc phân loại CTRSH nông thôn được tiến hành ngay tại hộ gia đình đối với một số loại chấ ithải như giấy, các tông, kim loại (để bán), thức ăn thừa, lá cải, su hào,… (sử dụng cho chăn nuôi) Các CTRSH khác không sử dụng được hầu hết không được phân loại mà để lẫn lộn, bao gồm cả các loại rác có khả năng phân hủy và khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh, cành cây, lá cây, hoa quả ôi thối, xác động vật chết…
* Một số nguyên nhân khiến chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn ở Việt Nam hiện nay chưa thành công:
Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn được thực hiện với quy mô riêng lẻ (mới chỉ thực hiện thí điểm ở quy mô quận/phường ở Hà Nội, Tp.HCM và
Đà Nẵng), thiếu sự chỉ đạo đồng bộ từ Trung ương (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Mỗi địa phương thực hiện thí điểm có những chính sách khác nhau, chưa có sự hỗ trợ từ địa phương
Thiếu cơ sở vật chất, tài chính và thiếu nguồn nhân lực thực hiện; đồng thời chưa đưa ra được các điển hình, cách cách làm hay để nhân rộng
Thiếu cán bộ (kỹ thuật, kinh tế, xã hội) đủ năng lực để xây dựng chương trình và kế hoạch thực hiện Thiếu cơ sở hạ tầng thu gom, vận chuyển, tái chế và xử
lý
Trang 27Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội chưa đủ năng lực trong công tác tuyên
truyền và vận động một cách sâu rộng và lâu dài thực hiện Chương trình PLCTRSHTN
Chưa đánh giá hết vai trò và ảnh hưởng (tốt và xấu) của lực lượng thu gom rác dân lập và đội ngũ thu gom “ve chai”
Trong các chương trình thí điểm, toàn bộ kinh phí thực hiện (kinh phí tuyên truyền, nhãn dán sticker, hỗ trợ cộng tác viên,…) đều do ngân sách địa phương hoặc
dự án chi trả nên sau khi kết thúc chương trình thí điểm, ngân sách địa phương khó
bù đắp được
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện phân loại rác tại nguồn ở TPHCM năm 2016
Đơn vị Số hộ tham gia Tỷ lệ đạt được (%)
Quận Bình Thạnh 100 + 01 khu chung cư 80
Nguồn: Sở TN&MT Tp Hồ Chí Minh, 2017
2.5 Đề xuất khung phân tích
Chương trình phân loại CTRSHTN triển khai tại khu vực đô thị được thực hiện bởi người dân và sự tác động của các bên có liên quan như chính quyền, đội thu gom rác, đội tuyên truyền viên… Do đó, đặc điểm của cộng đồng dân cư và mối quan hệ giữa các bên có liên quan ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tham gia của người dân
Từ nền tảng lý thuyết, các nghiên cứu đi trước cũng như các quy định sự tham gia của người dân, tác giả đưa ra khung phân tích của đề tài dựa trên mô hình
lý thuyết của Dower (1996) Cụ thể:
Trang 28sở đó, tác giả đề xuất khung phân tích của bài nghiên cứu
- Quy ước cộng đồng, tự tổ chức quản lý
SỰ THAMiGIA CỦA NGƯỜI
DÂN VÀO CHƯƠNG TRÌNH
PHÂN LOẠI CTRSHTN
Trang 29CHƯƠNG 3 PHƯƠNGiPHÁP NGHIÊNiCỨU
3.1 Quyitrình nghiênicứu
Quy trình nghiên cứu của đềitài sử dụng phươngipháp nghiên cứu hỗihợp và được thựcihiện qua hai giai đoạn: nghiênicứu sơibộ và nghiênicứu chínhithức Quy trình nghiênicứu của đề tài được tóm tắt qua sơ đồ sau:
Hình 3.1 Quyitrình nghiênicứu Nguồn: Tác giả tự vẽ
3.2 Nghiênicứu sơibộ
Nghiênicứu sơibộ (nghiên cứu định tính) được tiến hành nhằm điều chỉnh bảng hỏi trong khung phân tích
Để thực hiện theo quy trình, trước tiên cần tìm hiểu và nghiên cứu các nguồn
dữ liệu, đọc và tìm hiểu các báo cáo của Sở TN&MT TP.HCM, UBND các cấp, các bài báo, các nghiên cứu trước đây để có thêm tư liệu Tiếp đến tác giả phỏng vấn trực tiếp 6 cá nhân đang làm việc và sinh sống trên địa bàn Phường 13, Quận 11, TP.HCM, gồm: 01 Phó chủ tịch UBND phường, 01 cán bộ Địa chính – Môi trường
& Đô thị, 04 trưởng ban điều hành khu phố Trong buổi thảo luận, tác giả ghi nhận các ý kiến về các mức độ tham gia của người dân, sắp xếp các thông tin, xây dựng bảng hỏi cho phù hợp với điều kiện thực tế cần nghiên cứu
Nghiên cứuicác khái niệm và
lýithuyết
Tìm hiểuicác nghiên cứu trước đây
Xây dựng
mô hình nghiên cứu
Xác định mẫu nghiên cứu
Thu thập
dữ liệu
Phân tích dữ liệu
Giải thích kết quả, viết báo cáo
Trang 30Kết quả, qua nghiên cứu định tính, những người được phỏng vấn đều cho rằng các mức độ tham gia của người dân vào chương trình phân loại CTRSHTN theo đề xuất của tác giả là phù hợp với thực tế tại địa bàn Phường 13, Quận 11, Tp.HCM
+ Bảng câu hỏi:
Bảng hỏi nội dung gồm có 2 phần như sau:
Phần 1: Thông tin cá nhân, để phân nhóm đối tượng khảo sát: độ tuổi, giới tính, dân tộc, trìnhiđộ họcivấn, nghềinghiệp, lượng rác thải ra trong ngày và sở hữu các thiết bị thu gom rác
Phần 2: Bao gồm 35 câu hỏi định lượng, trong đó chia thành 5 cấpiđộ tham gia của ngườiidân (Phụ lục 1) Theo kếtiquả nghiênicứu địnhitính sau khi thảoiluận, bảng hỏi được hiệuichỉnh như sau:
Mức độ Thông tin: Gồm 8 câu hỏi
khai trên địaibàn phường không?
nào?
nghe thông tin về chương trình phân loại CTRSHTN không?
không?
Câu 5: Ông/Bà có cho rằng phân loại CTRSH tại nhà/tại nguồn trước khi
chuyểnigiao cho đơn vị thuigom là đúng đắn, là cần thiết?
quan trọng để bảoivệ môiitrường?
lý đúng cách sẽ gâyira ô nhiễm môiitrường?
phân loại CTRSHTN?
Trang 31Mức độ Tham vấn: Gồm 4 câu hỏi
trình phâniloại CTRSHTN?
Câu 2: Ông/Bà có tham gia phản ánh, đề xuất thông tin, những khó khăn của
mình trong việc thựcihiện chươngitrình phâniloại CTRSHTN không?
Câu 4: Ông/Bà phản ánh, đề xuất những ý kiến trên cho ai
Mức độ Tham gia: gồm 6 câu hỏi
của phường để tuyênitruyền, vậniđộng người dân nơi khu vực mình sinh sống tham gia chương trình phân loại CTRSHTN?
trong vậniđộng, tuyênitruyền ngườiidân thựcihiện phâniloại CTRSH?
trước khi chuyểnigiao cho đơn vị thuigom không?
khi chuyển giao cho đơn vị thuigom nếu được trang bị thùng rác phân loại CTRSH?
có thể tái chế để đạt được lợi ích kinh tế?
hơn nếu được khen thưởng?
Mức độ Hợp tác: Gồm 4 câu hỏi
Câu 1: Theo Ông/Bà, người dân có quyền được giám sát việc triển khai,
thựcihiện chươngitrình phâniloại CTRSHTN?
Câu 2: Ông/Bà có thường xuyên nhìn thấy hộ gia đình lân cận thực hiện
phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nhà/tại nguồn trước khi chuyển giao cho đơn vị thu gom?
thựcihiện phân loạiirác, Ông/Bà thường làm gì?
Trang 32Câu 4: Ông/Bà đánh giá như thế nào về hoạt động phân loại CTRSH của
đơn vị thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường?
Mức độ Trao quyền: gồm 4 câu hỏi
Câu 1: Tại khu vực Ông/Bà sinh sống có xây dựng quy ước cộng đồng về
phân loại CTRSHTN không?
Câu 2: Theo Ông/bà thì người dân sẽ được quyết định các vấn đề liên quan
đến thực hiện chương trình phân loại CTRSHTN không?
Câu 3: Ông/Bà được quyền đề nghị biểu dương, khen thưởng những hộ gia
đình thực hiện tốt chương trình phân loại CTRSHTN?
Câu 4: Ông/Bà có thể kiểm soát việc phân loại CTRSHTN trước khi chuyển
giao cho đơn vị thu gom?
Ngoài ra, để đánh giá việc tham gia của người dân vào chương trình Phân loại CTRSHTN, tác giả còn đưa ra 2 câu hỏi về khó khăn của người dân và giải pháp để người dân tích cực tham gia chương trình phân loại CTRSHTN:
phâniloại CTRSHTN ?
tích cực hơn vào hoạt động phâniloại CTRSHTN?
3.3 Nghiênicứu chínhithức
Nghiênicứu chínhithức được thựcihiện thôngiqua phươngipháp địnhilượng dùng kỹithuật thuithập thôngitin trực tiếp bằng bảng hỏi gửi trực tiếp đến các cá nhân
3.3.1 Chọnimẫu
Có nhiều phươngipháp chọnimẫu, được chia thành hai nhóm chính bao gồm: (1) phươngipháp chọnimẫu theo xác suất, thường gọi là chọnimẫu ngẫu nhiên; và (2) các phươngipháp chọnimẫu không theo xác suất, còn gọi là phi xác suất hay không ngẫu nhiên Trong nghiên cứu này, tácigiả sử dụng phươngipháp chọnimẫu phi xácisuất với hìnhithức chọnimẫu thuận tiện Lý do chọn phươngipháp này là vì người trảilời dễ tiếpicận, họ sẵnisàng trảilời phiếu điềuitra cũng như ít tốn kém về
Trang 33thờiigian và chiiphí để thuithập thôngitin cần nghiênicứu Kíchithước mẫu sẽ phụ thuộc vào việc ta muốn gì từ dữiliệu thuithập được và mối quanihệ ta muốn thiết lập (Kumar, 2005) Vấn đề nghiênicứu càng đaidạng, phứcitạp thì mẫu nghiênicứu càng lớn Một nguyênitắc chung khác nữa là mẫuicàng lớn thì độ chínhixác của các kết quả nghiênicứu càng cao Tuy nhiên, trên thựcitế việc lựa chọn kíchithước mẫu còn phụithuộc vào một yếuitố hết sức quanitrọng là năngilực và thờiigian mà nhà nghiên cứu có thể có được
Theo NguyễniĐìnhiThọ (2003), kíchithước mẫu tùyithuộc vào phươngipháp ước lượng được sửidụng, với phươngipháp ước lượng ML thì kíchithước mẫu từ
100 đến 200, hoặc kíchithước mẫu tới hạn phải là 200 Nghiênicứu này, tácigiả chọn kíchithước mẫu là 150; với thờiigian và năngilực hiện có của tácigiả thì việc thuithập cỡ mẫu như trên là có thể thựcihiện được Để đạt kíchithước mẫu mong muốn và đảmibảo mẫu có khảinăng đạiidiện cho tổngithể chung, tácigiả tiến hành điềuitra, phỏngivấn trực tiếp 175 hộ giaiđình trên 49 tổidân phố (phát ra 175 phiếu nhằm dựiphòng cho những trườngihợp khôngitrả lời hoặc trảilời không đầy đủ)
Ngoài ra, tác giả còn thiết kế bảng hỏi để khảo sát 15/15 đội thu gom rác dân lập, qua khảo sát nhằm nắm được mức độ tham gia thực hiện chương trình phân loại
CTRSHTN của các đội thu gom rác thải
3.3.2 Côngicụ thu thập thôngitin, bảngihỏi
Bảngihỏi tự trảilời được sửidụng để thuithập thôngitin cần nghiênicứu trong
đề tài này Việc sửidụng bảngihỏi để thuithập thôngitin cần nghiênicứu có những lợi ích sau: tiếtikiệm chiiphí, thờiigian, nguồn nhânilực và đảmibảo được tính bảoimật cho người trả lời (Kumar, 2005) Ngoài ra, việc sử dụng bảngihỏi cho phép chúng ta
có thể có được những thôngitin cần thiết từ số lượng lớn người trả lời một cách nhanh chóng và hiệu quả Bảng hỏi được gửi đến các đối tượng nghiên cứu là người dân trên địa bàn Phường 13, Quận 11, TP.HCM được cấu trúc thành 2 phần (1) thôngitin về đốiitượng được khảo sát (2) nội dung các câu hỏi khảo sát
Về thiết kế bảng hỏi gồm ba bước:
Trang 34Bước 1: Dựa vào thang đo của Dower (năm 1996) và Quyết định 44/2018/QĐ-UBND ngày 14 tháng 11 năm 2018 của UBND TP.HCM để tạo bảng hỏi ban đầu
Bước 2: Bảngihỏi baniđầu được thamikhảo ýikiến của giáoiviên hướngidẫn
và một số đốiitượng khảoisát để điềuichỉnh lại cho phùihợp, dễihiểu
Bước 3: Bảngihỏi được hoànichỉnh và tiếnihành khảoisát
3.3.3 Quáitrình thuithập thôngitin
Bảngihỏi được gửi trựcitiếp đến từng đốiitượng khảoisát, trên bảngihỏi thể hiện camikết chỉ sửidụng các thôngitin cho mụciđích nghiênicứu của đềitài và bảo mật thôngitin cho người trảilời Ngoài ra, bảngihỏi cũng ghi rõ địaichỉ thư điệnitử của tácigiả với mụciđích nếu người trảilời có nhuicầu muốn biết kếtiquả của cuộc khảoisát thì tácigiả sẽ gửi kếtiquả cuộc khảoisát này đến cho họ
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Tác giả thu nhận bảng hỏi (bảng hỏi gồm 35 câu hỏi), kiểm tra những phiếu không hợp lệ Đồng thời, tiến hành làm sạch thông tin, mã hóa các thông tin cần thiết trong bảng hỏi, nhập liệu và phân tích dữ liệu (thống kê mô tả) bằng phần mềm SPSS
Tóm tắt Chương 3
Chương 3 trình bày phươngipháp tiến hành nghiênicứu gồm hai bước là: nghiênicứu sơibộ và nghiênicứu chínhithức Nghiênicứu sơibộ được thựcihiện bằng phươngipháp địnhitính thông qua tìm hiểu và nghiênicứu các báo cáo; phỏng vấn các chuyên gia Nghiênicứu chínhithức được thực hiện bằng nghiênicứu định lượng thông qua côngicụ thống kê môitả trong phần mềm SPSS
Trang 35CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm địa bàn và dân cư Phường 13 Quận 11
Phường 13 có diện tích tự nhiên là 18,46 ha, bao gồm 9 tuyến đường và 37 tuyến hẻm, giáp ranh với phường 11, phường 12 và phường 15; chia thành 4 khu phố với 49 tổ dân phố Dân số toàn phường tính đến cuối năm 2018 là 13.934 người, dân tộc Hoa chiếm 47,6% với 3.125 hộ Mật độ dân cư trung bình là 75.164 người/km2; số người trong độ tuổi lao động trung bình là 9.761 người Đa số người dân sống bằng nghề kinh doanh buôn bán, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ
4.1.2 Công tác quản lý CTRSH và tình hình thực hiện chương trình phân loại CTRSHTN trên địa bàn phường
4.1.2.1 Công tác quản lý CTRSH trên địa bàn phường
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân phường về công tác quản lý nhà nước đối với lực lượng thu gom rác dân lập (2019), hiện nay trên địa bàn phường có 15 đường dây rác dân lập thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Đối với công tác quản lý CTR, phường phân công 01 lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường và 01 công chức Địa chính – Môi trường và đô thị chịu trách nhiệm tham mưu trực tiếp Đa số (14/15) đường dây rác sử dụng xe lôi, xe kéo khá thô sơ để chuyên chở rác thải về nơi tập trung rác (bô rác Tân Hóa và Xí nghiệp vận chuyển
số 2) Thời gian thu gom rác được ấn định từ 19g00 ngày hôm trước đến 7g00 sáng hôm sau, tuy nhiên hầu như các đường dây rác vẫn chưa chấp hành đúng khung giờ quy định vì vậy trên một số tuyến đường vào buổi sáng rác thải sinh hoạt vẫn còn rất nhiều tại các gốc cây, các khu vực công cộng
4.1.2.2 Tình hình thực hiện chương trình phân loại CTRSHTN trên địa bàn phường
Năm 2018, Ủy ban nhân dân phường 13 được chọn là một trong 4 phường thực hiện thí điểm chương trình phân loại CTRSHTN Ủy ban nhân dân phường đã xây dựng và triển khai kế hoạch đến các ban ngành, đoàn thể, ban điều hành 4 khu phố, 49 tổ dân phố; xây dựng lực lượng tuyên truyền viên gồm 70 người và phân
Trang 36thành 04 nhóm để vận động, tuyên truyền; phát hơn 3 triệu nhãn dán sitcker phân loại rác và tờ bướm đến người dân Tổ chức buổi phát động, các hội thi tìm hiểu về chương trình phân loại CTRSHTN Nhìn chung, qua một năm thực hiện chương trình, người dân đã biết đến chương trình, tuy nhiên tỷ lệ thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt chưa cao (khoảng 15% người dân thực hiện phân loại chất thải sinh hoạt), do ý thức tự giác tham gia của người dân chưa cao, đa phần còn thờ ơ và không có ý thức bảo vệ môi trường; chưa áp dụng được biện pháp chế tài đối với người dân không thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt do thiếu nhân sự và hướng dẫn của pháp luật; chưa có sự đồng bộ từ khâu thu gom, vận chuyển, tiếp nhận và
xử lý rác thải sau khi được phân loại; bên cạnh đó, mặc dù Ủy ban nhân dân phường
có phối hợp với các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền nhưng chưa được thường xuyên và sâu rộng; các đường dây thu gom rác thải dân lập khó thực hiện chuyển đổi phương tiện thu gom do lãi suất vay vốn còn khá cao
4.2 Kết quả nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập từ người dân trên địa bàn Phường 13 Quận 11 Tp Hồ Chí Minh trong thời gian 30 ngày Để đạt được kích thước mẫu đề ra, 175 phiếu khảo sát đã được gửi đi, bản thân tác giả là người trực tiếp khảo sát Trong số 175 phiếu phát ra, thu về 168 phiếu, trong số phiếu thu về có 17 phiếu bị loại do thiếu thông tin còn lại 151 phiếu đạt yêu cầu được nhập liệu làm cơ sở để phân tích dữ liệu Phần này sẽ tiến hành phân tích thống kê mô tả các dữ liệu được khảo sát
4.2.1 Thông tin chung
Trang 37Dưới 25 tuổi chiếm tỷ lệ 15,2%, từ 26 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ 30,5%, từ 45 đến 65 tuổi chiếm tỷ lệ 45,7% và trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ 8,6% Độ tuổi của tổng mẫu đa dạng trong đó độ tuổi từ 26 đến 65 tuổi chiếm đa số, điều này phù hợp với đặc điểm địa bàn dân cư Tuy nhiên chương trình phân loại CTRSHTN cần phải cơ
sự tham gia của tất cả các thế hệ do đó qua tổng mẫu khảo sát sẽ giúp cho việc đánh giá và đề ra các biện pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia theo từng nhóm tuổi khác nhau
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu khảo sát, 2019
Trong 151 quan sát thì nam chiếm tỷ lệ 30,5% và nữ chiếm tỷ lệ 69,5%, kết quả này cho thấy với 151 quan sát lấy ngẫu nhiên tại địa bàn phường thì số lượng
nữ nhiều hơn nam Đây là số liệu phù hợp với thời điểm thực hiện khảo sát (trong giờ hành chính), thực tế tại địa bàn khảo sát đối tượng nữ tham gia chương trình phân loại CTRSHTN nhiều hơn đối tượng nam
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu khảo sát, 2019
Dân tộc Kinh chiếm đa số (67,5%), dân tộc Hoa chiếm 32,5%, không có thành phần dân tộc khác tham gia cho ý kiến khảo sát Kết quả này phù hợp với đặc điểm dân số của Phường 13 Quận 11, Tp Hồ Chí Minh và người dân tộc Hoa sống tập trung nhiều tại địa bàn Khu phố 1, 2; nhận thấy có sự tham gia cho ý kiến của
Trang 38các dân tộc khác nhau giúp cho việc xây dựng các phương pháp tiếp cận nhằm nâng cao việc tham gia của người dân tốt hơn
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu khảo sát, 2019
Trong tổng mẫu khảo sát, học vấn thấp nhất là biết đọc, biết viết và cao nhất
là trên đại học Trong đó, học vấn cao đẳng/đại học chiếm tỷ lệ cao với 25,5%; trung học cơ sở (cấp II) chiếm 24,5%; phổ thông trung học (cấp III) chiếm 21,9%; trung cấp/đào tạo nghề chiếm 11,3%; biết đọc, biết viết chiếm 6,6%; tiểu học (cấp I) chiếm 6%; trên đại học chiếm 4,6% Nhìn chung, đối tượng được khảo sát có trình
độ học vấn phù hợp cho việc thu thập thông tin và không đòi hỏi phải có trình độ cao; các đối tượng được khảo sát ở các trình độ khác nhau sẽ giúp cho việc hoạch định các giải pháp cho từng đối tượng
- Về nghề nghiệp
Đối tượng khảo sát là nội trợ/lao động tự do chiếm tỷ lệ cao nhất 41,7%; Làm việc ở tổ chức/doanh nghiệp/tư nhân chiếm 17,2%; Sinh viên chiếm 15,2%; Cán bộ, công chức/viên chức/quân đội/công an chiếm 13,9%; Hưu trí chiếm 11,9% Kết quả khảo sát cho thấy sự đa dạng trong nghề nghiệp của đối tượng được khảo sát, không thiên lệch đối tượng nào và do việc khảo sát được tiến hành xuyên suốt
Trang 39nhưng đa số là trong giờ hành chính nên đối tượng được khảo sát đa số làm nghề nội trợ/lao động tự do
Bảng 4.5 Kết quả khảo sát về nghề nghiệp Giá
trị
lượng
Tỉ lệ (%)
Số phiếu
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu khảo sát, 2019
- Về sở hữu thiết bị thu gom, phân loại rác
Kết quả khảo sát cho thấy, đa số đối tượng được khảo sát có trang bị thùng rác nhựa để thực hiện thu gom, phân loại rác (chiếm 50,3%), có 5,3% không có sở hữu các thiết bị thu gom và bỏ trực tiếp ra đường Bên cạnh đó, có 26,5% người sử dụng bịch/bao nilon để thu gom, phân loại rác; 17,9% người sử dụng giỏ/sọt tre để thực hiện thu gom, phân loại rác Từ kết quả trên cho thấy hiện nay người dân đã có
ý thức thực hiện thu gom và không bỏ rác ra đường, tuy nhiên vẫn còn tình trạng vứt rác ra đường và không thực hiện phân loại CTRSHTN (số liệu khảo sát của UBND Phường 13 Quận 11 còn 27/3.125 hộ dân (0,86%) không ký hợp đồng thu gom rác với đơn vị thu gom rác)