Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.” Trong giáo trình này, chúng ta sẽ đi sâu tìm hi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- -BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: Luật và chính sách môi trường
ĐỀ TÀI: Chính sách môi trường của Việt Nam
Thái Nguyên
1
Trang 2PH N 1: L I M Đ U Ầ Ờ Ở Ầ 2
2.1 Chính sách môi tr ườ ng là gì 3
2.2 Chính sách c a Vi t Nam v tài nguyên, môi tr ủ ệ ề ườ ng và phát tri n ể
b n v ng ề ữ 4 2.3 Ti p c n h th ng trong phân tích chính sách v tài nguyên và môi ế ậ ệ ố ề
tr ườ 7 ng
2.3.1 Quy trình xây d ng chính sách v tài nguyên và môi tr ự ề ườ 7 ng 2.3.2 H th ng chính sách v s d ng, b o v tài nguyên và môi tr ệ ố ề ử ụ ả ệ ườ 8 ng 2.3.3 H th ng qu n lý, th c thi chính sách v tài nguyên và môi tr ệ ố ả ự ề ườ 8 ng 2.3.4 Tác đ ng c a chính sách đ n tài nguyên và môi tr ộ ủ ế ườ 9 ng
2.3.4.1 Đối tượng chịu tác động 9 2.3.4.2 Phương thức tác động 9
2.3.5 Các v n đ c b n c nphân tích v th ch chính sách tài nguyên và môi ấ ề ơ ả ầ ề ể ế
tr ườ 10 ng
2.4 Th nghi m phân tích v chính sách trong s d ng tài nguyên theo ử ệ ề ử ụ cách ti p c n h ế ậ ệ th ng ố 10
2.4.1 S b phân tích v chính sách trong s d ng tài nguyên r ng Tây ơ ộ ề ử ụ ừ ở Nguyên
10 2.4.2 S b phân tích chính sách trong s d ng tài nguyên khoáng s n than đá ơ ộ ử ụ ả cuả Vi t Nam ệ 11
TÀI LI U THAM KH O Ệ Ả 13
2
Trang 3PH N 1: M Đ U Ầ Ở Ầ
Trong hai ngày 07-08/7/2009, hội thảo “Chính sách môi trường trong bối cảnh phát triển ở Việt Nam” đã diễn ra tại Tp.HCM, do tổ chức phi lợi nhuận Trung tâm Con người và thiên nhiên (PanNature) tổ chức Đây là chương trình nằm trong dự án nâng cao năng lực giám sát thực thi pháp luật và chính sách bảo
vệ môi trường tại Việt Nam, do Quỹ Ford (Hoa Kỳ) tài trợ giai đoạn 2008 - 2010 “Không thể có sự hài hòa về lợi ích giữa bảo tồn và phát triển, giữa phát triển
và tăng trưởng kinh tế với chính sách bảo vệ môi trường ở góc độ tổng thể, các nhà hoạch định chính sách luôn luôn phải cân nhắc về vấn đề môi trường Song trên thực tế, vì lợi ích cục bộ, trước mắt, người ta đã phải đánh đổi tất cả để có được sự phát triển nhanh, sự tăng trưởng nhanh chóng Và vì vậy, vai trò phản biện
xã hội là đóng góp vào chính sách môi trường của quốc gia”, GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, Chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội phát biểu
Theo GS Trân, thế hệ con cháu của chúng ta sẽ phải gánh chịu mọi hậu quả, vì chính sách bảo vệ môi trường đã không tương xứng, hài hòa với các chính sách phát triển kinh tế xã hội hiện tại Ông cho rằng, trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước thời gian vừa qua, con người đã quá chú trọng đến việc thu hút đầu tư, chạy theo lợi nhuận trước mắt và những lợi ích cục bộ mà quên rằng, chính con người đã phá vỡ môi trường thiên nhiên, môi trường sống của mình, nên
đã phải trả một cái giá quá đắt Đó là: rừng trống đồi trọc, sạt lở đồi, núi, đất; xâm ngập mặn, ô nhiễm nguồn nước; lũ lụt gia tăng,
Từ các vấn đề nêu trên, rõ ràng là nước ta cần phải có đường lối chính sách đúng đắn hơn, thực tế hơn về môi trường, cũng như gia tăng sự nỗ lực sửa chữa sai lầm về môi trường đã phạm phải Sự thách thức này đặt ra cho chúng ta một vấn đề
cơ bản nhất là làm thế nào để tạo ra các nền kinh tế phát triển cùng với sự bảo vệ
và phục hồi môi trường Qúa trình này đang được tiến triển và có nhiều giải pháp hữu hiệu
3
Trang 4PHẦN 2: CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
2.1 Chính sách môi trường là gì
"Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định".
Ở Việt Nam, chính sách nói chung và chính sách môi trường nói riêng vẫn có hai cách hiểu Một cách hiểu cho rằng, chính sách là đường lối, là các chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, có vai trò quan trọng trọng phát triển đất
nước, do đó, nó nằm trên luật và chi phối nội dung cũng như quá trình ban hành các luật và bộ luật.
Một cách hiểu khác cho rằng, chính sách cụ thể hoá pháp luật, trong đó chính
sách môi trường cụ thể hóa Luật Bảo vệ môi trường và các Công ước quốc tế về môi trường Mỗi cấp quản lý hành chính có những chính sách môi trường riêng
Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương
Dù được hiểu theo cả hai cách trên, thì t heo Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường năm
2005, nội dung chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định như sau:
“Điều 5 Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường
1. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
2. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường.
3. Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
4. Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực
bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
5. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm.
6. Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ t ài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.
4
Trang 57. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
8. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
9. Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.”
Trong giáo trình này, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu về chính sách môi trường tại Việt Nam với tư cách là những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về môi trường Nội dung về chính sách môi trường cụ thể hóa pháp luật về môi trường sẽ được bổ sung vào thời điểm thích hợp
2.2 Chính sách của Việt Nam về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững
Từ năm 1986, khi khởi đầu công cuộc đổi mới đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản mang tính chiến lược và khung pháp lý về phát triển bền vững, trong đó có nhiều chính sách liên quan trực tiếp đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 được Đại hội lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất
nước ta là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng nhanh kinh tế đi
đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Quan điểm
phát triển bền vững này được tái khẳng định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ X
của Đảng (năm 2006): Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Một trong những nhiệm vụ chủ yếu mà Nghị quyết này đã xác định là chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, thực hiện các nguyên tắc của thị trường, hình thành đồng bộ các loại thị trường và hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm của nước ta
Năm 2004, Việt Nam đã ban hành một văn kiện rất quan trọng, đó là “Định hướng
chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt
Nam) Như vậy sau hơn 12 năm, kể từ Hội nghị Thượng đỉn h Trái đất về Môi trường và Phát triển được tổ chức tại Braxin với việc thông qua
Trang 6Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) của Thế giới về phát triển bền vững, Việt Nam đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp Quốc gia, thể hiện rõ sự cam kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế
Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên, quan điểm về phát triển bền
vững đã hình thành ở Việt Nam khá sớm với sự ra đời vào năm 199 1 bản “Kế
hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 -2000” Bản kế hoạch này đã dần được triển khai thực hiện và đem lại hiệu quả tích
cực, có thể xem đó như là bước khởi đầu của quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam
Trong Chỉ thị số 36 CT/TW của Bộ Chính trị năm 1998 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định rằng bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng
để đảm bảo phát triển bền vững
Vào cuối năm 2004, Nghị quyết số 41/NQTW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã làm sáng
tỏ hơn những chính sách đảm bảo phát triển bền vững với những mục tiêu khá cụ thể như: Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng, các hệ sinh thái bị suy thoái nặng; Xây dựng nước Việt Nam có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh
tế, thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Những định hướng đường lối, chính sách ở tầm vĩ mô dẫn ra ở trên là tiền đề, là cơ
sở để các Bộ, Ngành ở Trung ương, các cơ quan chính quyền địa phương xây dựng
và ban hành các chính sách chi tiết hơn, cụ thể hơn, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng ngành và địa phương
Cho đến nay, riêng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở các dạng khác nhau: Luật, Nghị định, Pháp lệnh, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị… do Chính phủ, các Bộ ngành, UBND các tỉnh, thành ban hành Ở Việt Nam, các quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển tài nguyên và môi trường đã ban hành như Luật Bảo vệ môi trường 1993, 2005; Luật Bảo vệ và phát triển rừng 1991, 2004; Luật Khoáng sản 1996, 2005; Luật Dầu khí 1993; Luật tài nguyên nước 1998, Luật đất đai 1993, 1998, 2001 v.v… và các văn bản dưới luật cũng thể hiện đường lối chính sách trong lĩnh vực này, là phương thức, biện pháp chuyển tải đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống xã hội Vì vậy việc phân định ranh giới một cách 108
Trang 7rạch ròi giữa chính sách và luật pháp là việc không đơn giản.
Mặt khác, cũng có thể thấy rõ rằng, trong các văn bản Luật về tài nguyên và môi trường, ngoài phần chủ yếu tập trung vào các điều khoản để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân và các tổ chức nhằm tạo ra trật tự, kỷ cương trong bảo vệ môi trường, khai thác sử dụng tài nguyên, còn đưa ra những chính sách cụ thể trong lĩnh vực này Ví dụ trong Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có điều 5 trình bày riêng về chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó nhấn mạnh các chính sách về sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩ m thân thiện với môi trường Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái và các chính sách khác
Tại một số điều khác của Luật Bảo vệ Môi trường cũng có những khoản đề cập đến chính sách ở tầm vĩ mô Tại điều 33 khẳng định rằng tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường được Nhà nước ưu đãi về thuế, hỗ trợ v ốn, đất đai để xây dựng cơ
sở sản xuất
Tại điều 31 nêu rõ: Nhà nước khuyến khích phát triển các mô hình sinh thái đối với thôn, ấp, làng, bản, khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, khu du lịch và các loại hình cảnh quan thiên nhiên khác để tạo ra sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên
Cũng vậy, trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 có nhiều điều khoản thuộc về chính sách ở tầm vĩ mô nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng như: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, vật
tư vào việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác chế biến lâm sản; Nhà nước có chính sách điều hoà, huy động, thu hút các nguồn vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước để đầu tư xây dựng rừng phòng hộ ổn định lâu dài; Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ tổ chức, cá nhân nhận gây trồng rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc, có chính sách hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc gây trồng rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm v.v…
Đối với tài nguyên khoáng sản, tại điều 48 Luật Khoáng sản năm 1996 về Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản từ khoáng sản trong nước đã ghi
rõ Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư đối với các dự án chế biến khoáng sản thành nguyên liệu tinh, chế biến tại chỗ, đáp ứng
Trang 8nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Điều 5 của Luật Khoáng sản sửa đổi, bổ sung năm 2005 trình bày Chính sách của Nhà nước về khoáng sản, trong đó nhấn mạnh Nhà nước đầu tư cho việc điều tra
cơ bản địa chất về tài ngu yên khoáng sản phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ Nhà nước có chính sách đầu tư thăm dò đối với một số loại khoáng sản quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Nhà nước có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư khai thác và chế biến khoáng sản ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, dự án có
áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, đảm bảo môi trường, chế biến, làm ra sản phẩm có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội cao Hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô
Như vậy, qua những dẫn liệu trên có thể thấy rằng ở Việt Nam các chính sách tầm
vĩ mô là cơ sở, là tiền đề để xây dựng các quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường và trong mỗi văn bản pháp luật đều t hể hiện các chính sách cụ thể, đối với lĩnh vực này
Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường cho đến nay đã có hàng trăm văn bản liên quan đến chính sách bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững Tài nguyên và môi trường là đối tượng chịu tác động đồng thời của nhiều chính sách cấp Trung ương và địa phương, theo các chiều khác nhau Chính sách quyết định
xu thế và tính bền vững của tài nguyên và môi trường, Trong phần này, phương pháp tiếp cận hệ thống được vận dụng để phân tích, đánh giá chính sách của Việt Nam trong sử dụng bền vững về tài nguyên và môi trường
2.3 Tiếp cận hệ thống trong phân tích chính sách về tài nguyên và môi trường
2.3.1 Quy trình xây dựng chính sách về tài nguyên và môi trường
Việc xây dựng các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và bảo vệ, sử dụng tài nguyên và môi trường nói riêng ở Việt Nam thường bắt đầu bằng xác định đường lối chính sách chung và kết thúc bằng việc lập ra các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn để triển khai các chính sách đó vào thực tiễn theo sơ đồ tóm tắt dưới đây
Trang 9Đường lối
Chính sách
Chiến lược
Quy hoạch
Kế hoạch
Hình 3 Hệ thống kế hoạch hóa của Việt Nam
Đường lối, chính sách: Xác định các định hướng tổng quát Các mục tiêu chiến
lược, các nhiệm vụ chủ yếu, các chỉ tiêu phát triển ở tầm vĩ mô về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững
Chiến lược: Chú trọng phân tích tính hợp lý, tính khả thi của các định hướng phát
triển trong bối cảnh kinh tế- xã hội của đất nước
Quy hoạch: Xây dựng bản luận chứng khoa học về tổ chức không gian lãnh thổ
trong khung thời gian tương ứng, các giải pháp thực hiện
Kế hoạch: Xác định các bước, các giai đoạn, tiến trình theo thời gian nhằm thực
hiện các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ (về bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên…)
2.3.2 Hệ thống chính sách về sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường
Hiện tại Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ở tầm vĩ mô và các văn bản pháp
lý liên quan đến sử dụng, bảo vệ tài nguyên và phát triển bền vững ở các cấp độ khác nhau, từ Trung ương đến địa phương, giữa chúng có mối liên quan trực tiếp theo hệ thống dọc, đồng thời cũng được phát triển, bổ sung và cụ thể hoá theo hệ thống ngang (xem hình 1)
2.3.3 Hệ thống quản lý, thực thi chính sách về tài nguyên và môi trường
Trong một Nhà nước pháp quyền, hoạt động của các cơ quan Nhà nước được xây dựng và tổ chức trên cơ sở và trong khuôn khổ các quy định của pháp
Trang 10luật Hệ thống quản lý nhà nước hiện hành cũng là hệ thống quản lý, thực thi các chính sách về tài nguyên và môi trường Ngoài ra, do tính đặc thù của tài nguyên
và môi trường: phân bố trên diện rộng, là tài sản chung mà mỗi công dân đều có quyền được hưởng và có trách nhiệm bảo vệ, đồng thời phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước, vì vậy, ngoài các cơ quan Nhà nước, cộng đồng cư dâ n các xã, thôn, làng, ấp, buôn, sóc có thể tham gia vào việc quản lý tài nguyên và môi trường Họ cũng chính là bộ phận trực tiếp tham gia vào việc thực thi các chính sách về tài nguyên và môi trường
Như vậy, việc phân tích chính sách trong sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường có thể theo cách tiếp cận hệ thống từ trên xuống theo cấp quản lý, từ chính sách vĩ mô đến vi mô, đồ ng thời dùng cơ chế phản hồi từ dưới lên trong quá trình thực hiện chính sách, để có cơ sở điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn
và mang tính khả thi hơn
2.3.4 Tác động của chính sách đến tài nguyên và môi trường
2.3.4.1 Đối tượng chịu tác động
Đối tượng chịu tác động của hệ thống chính sách cần được phân tích, đánh giá trước hết là các dạng tài nguyên cơ bản bao gồm tài nguyên không tái tạo như khoáng sản ; tài nguyên tái tạo được như nước, rừng, hệ động thực vật,
đa dạng sinh học ; tài nguyên có khả năng tái tạo như đất Các thành phần môi trường chịu tác động nhiều nhất của hệ thống chính sách là đất, nước, không khí…
2.3.4.2 Phương thức tác động
Mỗi dạng tài nguyên, mỗi thành phần môi trường đều đồng thời chịu tác động của nhiều chính sách, theo nhiều chiều khác nhau, theo các mức độ và phương thức khác nhau Đó có thể là tác động trực tiếp, gián tiếp, tích luỹ hoặc cộng hưởng