Vấn đề mà nhiều quốc gia đều nhận thấy và đặt ra đó là chuyển từ một nền giáo dục nặng về trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học sang một nền giáo dục giúp phát triển năng lực, thúc đ
Trang 1ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM LÀ TẤT YẾU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC HIỆN NAY A.MỞ ĐẦU
Thế giới đang trải qua cuộc cách mạng 4.0 với sự thay đổi về công nghệ thông tin, kĩ thuật, …Cùng với đó là sự vận động phát triển của giáo dục để phù hợp với thực tế Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài các xu hướng phát triển
đó Sự phát triển của đất nước trong công cuộc “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mà Đảng và nhân dân ta đã xác định thì điều cần thiết nhất là phải nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực thực sự có chất lượng, bồi dưỡng nhân tài Để thực hiện được mục tiêu ấy, trước hết phải biết nuôi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực ngay từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành và trong suốtcuộc đời của mỗi cá nhân về các mặt trí lực, tâm lực, thể lực, các phẩm chất đạođức – nhân cách công dân, trình độ học vấn, chuyên môn hoá và văn hoá Thực hiện mục tiêu này là nhiệm vụ của ngành Giáo dục - Đào tạo mà lực lượng quantrọng là đội ngũ giáo viên có chất lượng Chất lượng của đội ngũ GV, đó là chấtlượng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chất lượng nghề nghiệp, Chất lượng của đội ngũ GV được quyết định bởi chất lượng đào tạo ban đầu và quá trình tự học, rèn luyện và tự bồi dưỡng của GV trong quá trình công tác
Trong mỗi giai đoạn mỗi thời kì giáo dục lại có những thay đổi để phù hợp vớithực tế xã hội giúp đào tạo ra những con người mới tự tin năng động sáng tạo Một trong những yêu cầu để chuẩn bị cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cảithiện nguồn vốn con người để có thể đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng liên tục thay đổi trong môi trường lao động mới Điều này đặt ra cho giáo dục
Trang 2và đào tạo sứ mệnh to lớn là chuẩn bị đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Vấn đề mà nhiều quốc gia đều nhận thấy và đặt ra đó là chuyển từ một nền giáo dục nặng về trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học sang một nền giáo dục giúp phát triển năng lực, thúc đẩy đổi mới và sáng tạo cho người học, đáp ứng những yêu cầu đặt ra cho công dân trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Vì vậy việc đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là tất yếu.
B ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM LÀ TẤT YẾU
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN N AY
I THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân
Số cơ sở GD tăng ở tất cả các cấphọc, trong đó riêng ĐH tăng cao nhất với tỉ
lệ 2.19 lần từ năm 2001 đến 2012;
Trung tâm GDTX tăng 1,32 lần từ 2001-2012; trung tâm ngoại ngữ tăng 2.74 lần từ 2004-2012
Tỷ lệ trẻ học mẫu giáo và học sinh phổ thông có xu hướng tăng
Tỷ lệ dân số biết chữ tăng, trong độ tuổi từ 15-19 tăng từ 96.5% lên 98.1%
Tính đến 2012 có 59 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
Đã hoàn thành mục tiêu phổ cập GD THCS vào 2010
Cơ sở vật chất – kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm
và có bước hiện đại hoá Tuy nhiên, cơ chế tài chính và cơ sở vật chất giáo dục còn lạc hậu Đến năm 2012, số phòng học mới đáp ứng được 65.5% yêucầu, còn 48.850 phòng học chưa được đầu tư,
Nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất cho trường học tại các địa phương cần số vốn khoảng 234.000 tỷ đồng
Trang 3 Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển,
có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người”
và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối
Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới,
là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp
Trang 4 Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng,chưa xác định rõ phương châm.
Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập
Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành
cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo - quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích
II NGUYÊN NHÂN
1 Về phía người dạy
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nângcao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp
Trang 5 Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, sốthời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế
Đời sống của người Thầy còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương , các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều
2 Về phía người học
- Khả năng tự học tự rèn luyện chưa cao, thiếu sự tích cực chủ động sáng tạo
- Học sinh, sinh viên còn ỷ lại chưa có thói quen tự nghiên cứu tìm tỏi học hỏi
3 Về chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo cần cập nhật hơn, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới học sinh học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn
Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học sinh
III XU HƯỚNG QUỐC TẾ VÀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1 Vai trò của giáo dục phổ thông
Giáo dục phổ thông (GDPT) có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đốivới ngành giáo dục nói riêng cũng như đối với nền kinh tế quốc dân nói chung,nhất là trong giai đoạn các quốc gia cần nhiều lực lượng lao động có chất lượngcao, phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hoá (CNH) và hiện đại hoá (HĐH) Bìnhluận về vai trò và vị trí của GDPT trong thời kì mới, GS Võ Tòng Xuân nhận
Trang 6xét: :“ Trong một nền kinh tế toàn cầu của thị trường tự do không ngừng cạnhtranh mãnh liệt, một lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ chất lượng cao làyếu tố sống còn của một nền kinh tế quốc gia để thu hút đầu tư nước ngoài vào tạonên việc làm và của cải cho đất nước Vì thế chất lượng GDPT bắt đầu từ tiểu họcngày càng được công nhận là cơ sở quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và đượccoi như công cụ để đạt được những mục tiêu phát triển khác Các tổ chức phát triểnquốc tế đã và đang tài trợ mạnh cho GDPT tại các nước nghèo chậm tiến vì họcông nhận hai vai trò của GDPT:vừa là yếu tố nhằm tăng trưởng kinh tế, vừa là yếu
tố giúp giảm đói nghèo.”
Trong hệ thống GD quốc dân, GDPT chiếm một vai trò hết sức to lớn
Kỹ năng và kiến thức được truyền đạt trong giai đoạn GDPT giúp cho mọi côngdân tham gia đắc lực nhất vào các hoạt động xã hội, kinh tế, và chính trị trong cộngđồng của họ GDPT cũng được xem như là một quyền con người giúp họ thoátkhỏi dốt nát và giảm thiểu những tác dụng tệ hại của nghèo nàn đặc biệt liên quanđến sức khoẻ và dinh dưỡng (Webster, 2000) Trong một nền kinh tế toàn cầu củathị trường tự do không ngừng cạnh tranh mãnh liệt, một lực lượng lao động đượcđào tạo ở trình độ chất lượng cao là yếu tố sống còn của một nền kinh tế quốc gia
để thu hút đầu tư nước ngoài vào tạo nên việc làm và của cải cho đất nước Vì thếchất lượng GDPT bắt đầu từ tiểu học ngày càng được công nhận là cơ sở quantrọng cho sự tăng trưởng kinh tế và được coi như công cụ để đạt được những mụctiêu phát triển khác Các tổ chức phát triển quốc tế đã và đang tài trợ mạnh choGDPT tại các nước nghèo chậm tiến vì họ công nhận hai vai trò của GDPT vừa làyếu tố trong tăng trưởng kinh tế vừa là trong sự giảm nghèo.”
Sự nung nóng lại nhiệt tình về giáo dục đã huy động cả thế giới qui tụ vềtham dự Hội nghị“Giáo dục cho mọi người” họp tại Jomtien, Thailand, năm 1990,
đã khẳng định tầm quan trọng và sự tác động của GDPT Cam kết Jomtien 1990
Trang 7được 155 quốc gia, 20 tổ chức liên quốc gia, và 150 tổ chức phi chính phủ ký kếttạo điều kiện cho mọi người được học (WCEFA, 1990)
Chính phủ các nước đã tích cực tham gia thực hiện cam kết Jomtien 1990bằng những chương trình quốc gia cải cách GDPT Tích cực nhất có lẽ là các chínhphủ Âu châu, vừa cải tiến GDPT chính trong quốc gia của họ, vừa tài trợ cho nhiềunước chậm tiến hoạch định chương trình cải tiến GDPT ở đấy
Tại châu Á, Tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước thànhviên Tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế các nước Châu á- Thái Bình Dương(APEC) lần thứ 2 “Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ 21” tại Singapore tháng4-2000 đã thừa nhận rằng: “Giáo dục sẽ nhanh chóng trở thành nhân tố quan trọngảnh hưởng tới sự vững mạnh về kinh tế cũng như xã hội của các nước thành viên”.Các nước trong khu vực cũng đã có những bước đi tích cực để thực hiện tinh thầntuyên bố trên “ Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, các nền kinh tế Đông Á nhậnthấy được tầm quan trọng của GDPT nên đã ưu tiên đầu tư cao nhất cho giáo dụcphổ thông”
Rõ ràng, GDPT phát triển đã tác động rất to lớn vào việc phát triển kinhtế- xã hội Kinh tế phát triển tiếp tục làm cơ sở vững chắc cho văn hóa, xã hội vàkinh tế phát triển thịnh vượng Gần đây tại Diễn đàn toàn cầu do READ , GS Eric
A Hanushek ( Đại học Stanford University) trong báo cáo Kết quả học tập và sựtăng trưởng kinh tế cũng đã phân tích và nhấn mạnh mối quan hệ và sự tương tácgiữa kết quả GD và sự tăng trưởng kinh tế của xã hội
Giáo dục phổ thông có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối vớingành giáo dục nói riêng và đối với nền kinh tế quốc dân nói chung Các nước cóthành tựu to lớn về kinh tế - xã hội (như Ai-len, Singapore, Hàn Quốc, ) đều coiphát triển giáo dục là ưu tiên hàng đầu để nhanh chóng phát triển đất nước Thủtướng của Singapore vào thập kỉ 90, Lý Quang Diệu, đã tuyên bố: Cạnh tranh quốc
tế thực chất là cạnh tranh giáo dục, phát triển giáo dục nói chung và GDPT nói
Trang 8riêng là phát triển nguồn nhân lực của quốc gia Hàn Quốc coi đầu tư cho giáo dục
và khoa học - công nghệ là con đường đưa đất nước đứng vào hàng ngũ các nướcphát triển nhất Malaysia đang hướng tới một nền giáo dục tiên tiến trình độ quốc
tế Chính vì vậy, việc phát triển giáo dục phổ thông – trong đó có phát triển CTGDPT - phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội của một đấtnước và quốc tế trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, do CT GDPT vừa mang tính ổnđịnh ở từng giai đoạn, vừa luôn vận động, đổi mới Trong quá trình phát triển CTGDPT Việt Nam, việc tìm hiểu các thông tin về xây dựng CT GDPT của các nước
có nền giáo dục phát triển cao và các nước có những đặc điểm văn hóa, xã hộitương đồng với Việt Nam là một yêu cầu tất yếu và cần được thực hiện trong suốtquá trình xây dựng và triển khai chương trình
2 Vai trò của giáo dục Tiểu học.
- Bậc tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Là bậc học
dành chủ yếu cho trẻ em trong độ tuổi từ 6 -11 tuổi
- Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học nên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách Những gì thuộc về tri thức, kỹ năng về hành vi và lòng nhân ái được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ bám theo suốt cuộc đời mỗi em Nếu
ở tiểu học đặt nền móng vững chắc và đúng hướng, thì các lớp sau chỉ là củng cố
và phát triển các tố chất ở trẻ Chính vì lẽ đó mà ở bất cứ nước nào cũng coi trọng giáo dục tiểu học và đòi hỏi ở mỗi chuẩn mực chứa đựng những yếu tố khoa học, tính phổ cập, tính nhân văn, tính thời đại và tính dân tộc Dạy học ở bậc tiểu học là không chỉ nắm vững con đương cách thức của sự hình thành trí tuệ và nhân cách
mà còn phải biết “ Dạy chữ” trong mục tiêu “Dạy người”
- Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được xem là nền tảng
Cũng như xây một ngôi nhà, cái nền có chắc ngôi nhà mới vững Cái nền không cứng, chắp vá ngôi nhà ắt xộc xệch Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học như Bác Hồ đã ví
Trang 9như búp trên cành cần được nâng niu, săn sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt Trong nhiều năm trở lại đây, giáo dục tiểu học ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng, ngày càng củng cố được niềm tin trong mỗi gia đình và toàn xã hội bởi
sự đầu tư của ngành, sự đổi mới về nội dung chương trình, về phương pháp dạy học, về yêu cầu chuẩn giáo viên v.v…
3 Xu hướng quốc tế về đổi mới và phát triển chương trình giáo dục phổ thông
Trong đổi mới GDPT, vấn đề đổi mới chương trình luôn là tâm điểm, nó chi phối
và có tác động to lớn đến nhiều yếu tố khác của toàn bộ hệ thống GDPT Chương trình GD ở đây được hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất, bao gồm các thành tố: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp, Hình thức tổ chức dạy học và Kiểm tra đánh giá kết quả học tập Qua CT có thể thấy rõ xu thế đổi mới của GDPT các nước Đổi mới CT buộc việc bồi dưỡng và đào tạo giáo viên phải thay đổi; từ việc quản lý và quản trị nhà trường đến yêu cầu đẩy mạnh nâng cao trang thiết bị, cơ sở vật chất cũng phải thay đổi… Chính vì thế trong phạm vi chuyên đề này , chúng tôi tập trung tổng quan về xu thế quốc tế về phát triển CTGDPT là chính
Tổng quan dựa trên những tư liệu và kết quả nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về các vấn đề liên quan đến phát triển CT Cụ thể, gồm:
- Hệ thống giáo dục quốc dân
- Nền tảng triết lý và tư tưởng trong xây dựng CTGD
- Chu kì đổi mới CTGD và lí do thay đổi
- Các cách tiếp cận phát triển CT
- Một số vấn đề cơ bản về CTGDPT như:
+ Mục tiêu GD: Giới thiệu mục tiêu chung và mục tiêu từng cấp học (nếu có); nhận xét về cách phát biểu mục tiêu (chú ý về những biểu đạt về năng lực)
+ Chuẩn: Cấu trúc của chuẩn, cách biểu đạt chuẩn
+ Cấu trúc khung: Các lĩnh vực môn học; Các mạch nội dung lớn, cách bố trí từ lớp 1 – 12 Nêu rõ về các lĩnh vực học tập, môn học tích hợp; mô tả về hoạt động
Trang 10giáo dục; thời lượng phân bố cho từng môn học, hoạt động GD; xem xét sự thể hiện các môn, lĩnh vực tích hợp trong suốt các cấp học, lớp học; mức độ tích hợp; cấu trúc các nội dung học ở THPT
+ Xu thế tích hợp và phân hoá thể hiện trong CT: chú ý đến cách tổ chức các môn học tích hợp ở TH, THCS; cách thức phân hoá ở THPT
+ Quy trình xây dựng CT: chú ý về cách thức tổ chức thí điểm; cách thức tổ chức thực hiện CT, vấn đề phân cấp quản lí CT; kế hoạch GD; cách biên soạn SGK và các nguồn học liệu khác
+ Các điều kiện triển khai CT: Đào tạo đội ngũ CBQL và GV; Điều kiện CSVC vàTBDH, kinh phí, ngân sách,…
- Nhận xét, đánh giá: Những điểm có thể kế thừa, những gì khó khăn khi vậndụng trong điều kiện của VN
- Đề xuất vận dụng cho việc xây dựng CT GDPT của VN: Về hệ thống GD,mục tiêu, cách tiếp cận, tích hợp, phân hoá, quy trình XD, phân cấp, điều kiện thựchiện,…
Trong đổi mới GDPT, vấn đề đổi mới chương trình luôn là tâm điểm, nó chiphối và có tác động to lớn đến nhiều yếu tố khác của toàn hệ thống GDPT Chươngtrình GD được hiểu đầy đủ nhất bao gồm các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra kết quả học tập
Một số vấn đề cơ bản về CTGDPT:
- Mục tiêu GD; giới thiệu mục tiêu chung và mục tiêu từng cấp học
- Chuẩn; Cấu trúc của chuẩn, cách biểu đạt chuẩn
- Cấu trúc khung; các lĩnh vực môn học; các mạch nội dung lớn
- Xu thế tích hợp và phân hóa; tích hợp chủ yếu là tích hợp ở các môn khoa học tựnhiên và tích hợp ở các môn khoa học xã hội đối với dạy học phân hóa đó là một
xu thế tất yếu của thế giới cũng như của Việt Nam Phân hóa được thực hiện qua 2
Trang 11hình thức phân ban và tự chọn Đối với dạy học phân ban học sinh có thể học theomôn, theo cùng một lĩnh vực, nhóm môn, ngành Đối với dạy học phân ban có mộtkhoảng thời gian chúng ta bàn luận rất nhiều nên giữ hay bỏ trường chuyên, lớpchọn và rồi chúng ta đã bỏ loại hình trường này Đối với dạy học tự chọn là HSđược chọn học một số môn học, nhóm môn học được đưa ra trong dạy học, tự chọnlại có thể có các hình thức tự chọn khác nhau:
- Hình thức tín chỉ; HS được chọn các môn học hoặc modul thuộc các môn sao cho
đủ số tín chỉ quy định
- Chọn các môn thuộc các lĩnh vực khác nhau
- Chọn các môn học tùy ý theo danh sách các môn học được đưa ra
- Học một số môn học bắt buộc và một số môn tự chọn
Tổ chức dạy phân hóa đặc biệt ở cấp PT hình thức phân ban chỉ được một số ítquốc gia áp dụng, trong khi hình thức tự chọn là xu thế phổ biến hơn Dạy họcphân hóa được thực hiện theo nguyên tắc phân hóa sâu dần Cụ thể ở cấp Tiểu họcthường quy định HS học các môn học bắt buộc, đồng thời có một số hoạt động,chủ đề tự chọn, các hoạt động, chủ đề tự chọn này tích hợp các kĩ năng, kiến thứccủa các môn học bắt buộc Ở cấp THCS học sinh học các môn học bắt buộc, đồngthời có một số môn chủ đề tự chọn nhiều hơn cấp Tiểu học Ở cấp THPT đượcphân hóa sâu hơn, nhằm tới việc đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, xu hướngnghề nghiệp của từng học sinh Phân luồng trong giáo dục cũng là một hình thứcphân hóa Đa số phân luồng sau THCS và sau THPT một bộ phận đáng kể học sinhtheo học các trường nghề một số tiếp tục học lên cấp học cao hơn
Chính vì vậy đổi mới căn bản toàn diện giáo dục nói chung và đổi mới giáo dụcTiểu học là tất yếu và hợp với xu thế phát triển của thế giới
IV ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC
1 Cơ sở lí luận
Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thế kỷ của trí tuệ và cạnh
Trang 12tranh thị trường, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và xu thế toàn cầu hoá
vv Đất nước ta đang tiến lên con đường CNH-HĐH, với những ý tưởng caođẹp là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” nhnghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra
Điều đó đặt ra những yêu cầu to lớn, cấp bách về nguồn lực, đặc biệt làchất lượng nguồn lực con người Đó là chất lượng toàn diện con người ViệtNam về: Phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ,thể lực và kỹnăng nghề nghiệp của con người Việt Nam Nền kinh tế trí thức của ViệtNam có đạt được hiệu quả hay không, Tương lai đất nước, tiền đồ của dân tộc
ta có được phồn vinh, thịnh vượng hay không, có sánh vai được với các nướctiên tiến trên thế giới hay không là tuỳ thuộc phần lớn vào chất lượng đào tạothế hệ trẻ Việt Nam ngày nay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường
Giáo dục- đào tạo ở Việt Nam , đã được Đảng và nhà nước ta đặt lên vịtrí là:” Quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục- đào tạo là đầu tư cho pháttriển”(Nghị quyết TW 2 khoá VIII ) Muốn cho nền kinh tế tri thức phát triểnvững vàng thì giáo dục- đào tạo có vai trò quyết định rất to lớn Nghị quyếtTW2 khoá VIII của Đảng, văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và hộinghị TW 6 khoá IX đã khẳng định:”phát triển giáo dục- đào tạo là một trongnhững động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiêp CNH-HĐH đất nước, là điềukiện để phát triển con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững.”
Đứng trước nhiệm vụ cao cả và nặng nề như vậy, ngành giáo dục- đào tạocần tập trung sức lực, trí lực, tài lực nhằm tìm ra biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học- giáo dục trang bị kiến thức khoa học cần thiết và năng lựcsáng tạo cho học sinh Vì vậy hơn bao giờ hết người làm giáo dục trong giai đoạn hiện nay một mặt phải thường xuyên nâng cao chất lượng, mặt khác phải
Trang 13chú trọng đặc biệt đến hoạt động dạy học theo CTTH mới ở trường tiểu học, phảikhông ngừng
học tập, đúc rút kinh nghiệm, đổi mới cải tiến các biện pháp quản lý hoạt
động dạy học, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể củađơn vị Trong hệ thống giáo dục quốc dân , giáo viên bậc tiểu
học có đặc thù riêng bởi mỗi giáo viên chủ nhiệm một lớp và dạy đủ cả 9
môn học( chương trình 33 tuần, 6 môn học CTTH mới)
Mục tiêu và nhiệm vụ của trường tiểu học nêu rất cụ thể tại điều 27 Luật
Giáo dục là:”Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở banđầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
2 Cơ sở pháp lí của việc đổi mới
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Nghị định số404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêchuẩn Đề án đổi mới Chương trình, SGK giáo dục phổ thông
về dạy người, chưa coi trọng hướng nghiệp
- Giáo dục tích hợp và phân hóa chưa thực hiện đúng và đủ; các môn học đượcthiết kế chủ yếu theo kiến thức các lĩnh vực khoa học, chưa thật sự coi trọng về yêucầu sư phạm; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơbản, còn nhiều kiến thức hàn lâm chưa thực sự thiết thực, chưa coi trọng kĩ năng
Trang 14thực hành, kĩ năng vận dụng kiến thức, chưa đáp được mục tiêu giáo dục đạo đức,lối sống.
- Hình thức dạy học chủ yếu là dạy trên lớp, chưa coi trọng các hoạt động xã hội,hoạt động trải nghiệm Phương pháp giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục nhìnchung còn lạc hậu chưa chú trọng dạy các học và phát huy tính chủ động, khả năngsáng tạo của học sinh
- Trong thiết kế chương trình chưa đảm bảo tính liên thông trong từng môn học.Còn hạn chế trong việc phát huy vai trò tự chủ của nhà trường và tích cực, sáng tạocủa giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục; chưa đáp ứng tốt yêucầu giáo dục của các vùng khó khăn, chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện chương trìnhcòn thiếu tính hệ thống
4 Những yếu tố cơ bản trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
Để đổi mới và phát triển giáo dục phổ thông nói chung và CTGD nói riêng các nước thường dựa trên 03 căn cứ chính sau đây:
Xu thế quốc tế về đổi mới giáo dục phổ thông
Hiện trạng của nền GD nước nhà và bối cảnh đổi mới
Yêu cầu của đất nước, dân tộc thông qua các văn kiện của các cấp/ tổ chức lãnh đạo quốc gia
Vấn đề đổi mới GDPT Việt Nam đã được đặt ra từ Đại hội Đảng CSVN lần thứ XI
năm 2011 Sau đó được cụ thể hóa bằng Nghị quyết 29/TW8 ( 2013) mang tên:“Về đổi mới cản bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội hập quốc tế” Tiếp theo là Nghị quyết 88/2014/QH13 về Đổi mới CT và SGK giáo
dục phổ thông của Quốc Hội 13 ( 2014) và Quyết định 404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ( 2015)
Định hướng chung của việc đổi mới căn bản toàn diện GD-ĐT nói chung cũng như
CT và SGK phổ thông nói riêng có thể tóm tắt một số điểm quan trọng sau đây: